1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH tư DUY ĐƯỜNG lối đổi mới của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM từ năm 1979 đến năm 1986

15 3,7K 35

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 77,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng cộng sản Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng Tháng tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ( nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới.

Trang 1

Quá trình hình thành tư duy đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam “1979 -1986”

Đảng cộng sản Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng Tháng tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ( nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới Hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đang phát triển hết sức tốt đẹp, chúng ta đã và đang thu được những thắng lợi to lớn trên nhiều lĩnh vực Kinh té ngày càng phát triển, chính trị ngày càng ổn định Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao Cội nguồn của thắng lợi đó do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân quan trọng hàng đầu là Đảng ta đã xác định được đường lối đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng với đòi hỏi thực tế khách quan đặt ra và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước đi đúng hướng Đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam không phải hình thành ngay một lúc mà

nó trải qua quá trình hình thành lâu dài và ngày càng hoàn chỉnh hơn

Từ cuối năm 1970 của thế kỷ XX, nước ta lâm vào khủng hoảng kinh

tế - xã hội kéo dài trong nhiều năm Trong khi đó cuộc cách mạng khoa học cồng nghệ trên thế giới phát triển mạnh mẽ làm cho các nước phụ thuộc vào nhau, các nước nghèo dễ mất độc lập tự chủ, chủ nghĩa tư bản điều chỉnh thích nghi với điều kiện mới Các nước xã hội chủ nghĩa đang đứng trước khó khăn về kinh tế, chính trị mất ổn định, đã chủ trương cải cách, cải tổ Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ đang điên cuồng chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng trên thế giới, trong đó Việt Nam được

Trang 2

coi là một trọng điểm, và chúng triển khai quyết liệt Trước những đòi hỏi bức súc của đời sống kinh tế xã hội, với xu thế phát triển của thời đại, lại ảnh hưởng của các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là xu thế muốn vượt ra khỏi khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới thông qua quá trình biến đổi có tính cách mạng của công cuộc cải tổ, cải cách mở cửa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới, nhất là tư duy của của Đảng ta

Tư duy đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam bắt đầu từ hội nghị Trung ương lần thứ 6 khoá IV (tháng 8/1979), Hội nghị chuyên bàn về những vấn đề kinh tế cấp bách và sản xuất hàng tiêu dùng hội nghị này đã

mở đầu cho quá trình đổi mới, là bước đột phá hình thành nên đường lối đổi mới Nghị quyết nêu nên ba vấn đề rất quan trọng đó là:

Thứ nhất: Sử dụng thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế tập thể để phát triển sản xuất

Thứ hai: Nghị quyết nêu nên đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Thứ ba: Dưới chủ nghĩa xã hội phải quan tâm tới lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế ( lợi ích người lao động)

Mục đích làm cho sản xuất bung ra, nghị quyết này mang tính chất đột phá,

nó hé mở đưới chủ nghĩa xã hội phải chấp nhận kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chấp nhận hạch toán kinh doanh, quan tâm tới lợi ích người lao động

Thực hiện chủ trương này nhiều địa phương, nhiều ngành đã mạnh dạn tiến hành những cuộc thử nghiệm, tìm tòi cách làm ăn mới nhằm khai thác tối đa mọi tiềm năng kinh tế, phát triển sản xuất, cải tiến lưu thông, phân phối, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Nghị quyết Trưng ương lần thứ 6 (8/ 1979) như luồng sinh mới thổi vào cuộc sống xã hội Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến tích cực

Trang 3

Sau nghị quyết hội nghị Trung ương 6 khoá IV, chỉ thị 100 CT/TƯ của Ban bí Thư Trung ương (1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã ra đời Đây là sự đổi mới hết sức quan trọng về tư duy trong việc cải cách một phần mô hình hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam Nhưng để chỉ thị 100, đó là cả cuộc quá trình thử nghiệm, tìm tòi của Đảng: Từ trong khó khăn của cuộc sống nông dân ở một số địa phương đã tự tìm lối thoát, thảo gỡ khó khăn Từ đầu năm 1979 một số nơi đã xuất hiện hình thức khoán hộ, cho xã viên mượn đất, khuyến khích xã viên khai hoang phục hoá, có hợp tác xã tiến hành cho “ khoán chui”, cũng có địa phương, cấp uỷ chủ động ra nghị quyết chỉ đạo thực hiện khoán Thực tiễn cho chúng

ta thấy rằng ở những nơi khoán chui đưa lại hiệu quả tốt, năng xuất tăng lên đáng kể, nông phấn khởi hăng hái lao động sản xuất Trước tình hình trên, ngày 22 tháng 10 năm1980 Ban Bí thư Trung ương đã ra thông báo số 22 khảng định ưu điểm của hình thức khoán và cho phép các địa phương khoán sản phẩm đối với cây lúa Điều đó chứng tỏ, Đảng ta nhận thức rõ vai trò của khoán trong nông nghiệp Chính điều này Đảng ta đang tìm kíêm để đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, nhưng Đảng ta rất thận trọng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tìm ra lối thoát, thúc đẩy nông nghiệp phát triển Đến tháng 12/1980, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 9 khoá IV, bước đầu đánh giá kết quả của khoán thí điểm đối với cây lúa, thấy rõ khả năng phát triển của nông nghiệp nông thôn, chỉ ra nhiệm vụ phát triển nông nghiệp trong thời gian tới đó là: Tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu là phát triển nông nghiệp Đặc biệt là thực hiện tốt biện pháp cơ bản có tính chất quyết định là đổi mới chế độ và chính sách quản lý kinh tế theo phương hướng phát huy đầy đủ quyền tự chủ của các cơ sở và mở rộng việc thực hiện các hình thức khoán sản phẩm đến hợp tác xã Ngày 31/10/1981 Ban Bí thư ra chỉ thị 100 thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động

Trang 4

trong hợp tác xã nông nghiệp Thực hiện chỉ thị 100 trong nông nghiệp, tốc

độ tăng trưởng của nông nghiệp thời kỳ năm 1981 đến năm 1985 tăng lên rõ rệt so với thời kỳ 1976 -1980 Nhờ vậy đời sống nông dân được cải thiện một bước Tuy nhiên, quá trình thực hiện chủ trương đó cũng bộc lộ một số hạn chế đòi hỏi Đảng ta tiếp tục tìm tòi đổi mới hơn nữa trong lĩnh vực nông nghiệp

Trong lĩnh vực công nghiệp, ngày21/11/1981, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 25- CP về một số chủ trương và biện pháp phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh Đây là tư duy đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng, Quyết định nêu rõ: Cần lấy kế hoạch làm chính, đồng thời sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá, thị trường, kinh doanh có lãi Quyết định còn cho phép các xí nghiệp quốc doanh có nhiều nguồng cân đối và kế hoặch ba phần ( Phần giao cho nhà nước, phần tự làm đảm bảo đời sống, và phần sản phẩm phụ)

Có thể nói, trong điều kiện vật tư thiếu thốn, quyết định 25/ CP đã giúp các

cơ sở khôi phục được khả năng sản xuất, giải quyết thêm công ăn việc làm cho công nhân viên chức làm cho hoạt động xí nghiệp trở lại bình thường

Trên lĩnh vực lưu thông, phân phối, Ngày 23/6/1980, Bộ chính trị ra nghị quyết 26 NQ- TW về cải tiến công tác phân phối lưu thông nhằm khuyến khích phát triển lưu thông tiền tệ phù hợp và phân phối hợp lý, tạo những tiền đề cần thiết từng bước xoá bỏ chế độ cung cấp tem phiếu

Nhìn một cách toàn diện, thời kỳ (1979 -1981) là thời kỳ Đảng ta có nhiều cố gắng trong tìm tòi đổi mới từng lĩnh vực riêng lẻ, chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế, điều đó nói lên yêu cầu đổi mới ở nước ta xuất phát từ vấn đề kinh tế, những chủ trương biện pháp đổi mới thời kỳ này là những giải pháp mang tính tình thế, nhằm tháo gỡ những khó khăn trước mắt Quá trình thực hiện bước đầu đạt một số thành tựu quan trọng, nhưng dần dần đã bộc lộ rõ

Trang 5

sự hạn chế của những chủ trương đổi mới đó, làm cho sản xuất chững lại Điều đó chứng tỏ những tìm tòi đổi mới của Đảng trong thời kỳ này chưa giải đáp được những yêu cầu mà thực tiễn đặt ra, chưa giải quyết được những vấn đề khó khăn trong đời sống kinh té xã hội Quá trình đổi mới từng phần không gắn bó các lĩnh vực khác với nhau, chưa làm chuyển biến mọi mặt của đất nước Thực tiễn trên cho thấy, muốn đổi mới có hiệu quả và đạt được vững chắc phải đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải

có hình thức, bước đi, cách làm phù hợp Mặc dù còn bộc lộ những hạn chế nhất định, nhưng những quan điểm của thời kỳ tiền đổi mới (1979 -1981), có

ý nghĩa rất quan trọng, nó đã giải quyết đựơc những vấn đề nóng bỏng, cấp bách có tính chất tình thế vượt qua những khó khăn thử thách trước mắt và

mở ra một hướng đi đúng đắn trong tư duy đổi mới của Đảng ta sau này

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng ta (3/1982) đã đánh giá một cách đúng đắn những thành tựu có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời chỉ ra những tồn tại yếu kém mà chúng ta cần phải khắc phục Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, đất nước ta đang đứng trước nhiều vấn đề gay gắt, cần phải tháo gỡ, (sản xuất phát triển chậm, trong khi dân số tăng nhanh, thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được nhu cầu tiêu dùng trong xã hội, vải mặc và hàng tiêu dùng thiết yếu đều thiếu, chênh lệch giữa thu và chi, giữa xuất khẩu và nhập khẩu còn lớn) Đại hội đã đề ra những nội dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là: “Tập trung sức phát triển mạnh vào nông nghiệp, coi công nghịêp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công nông nghiệp hợp lý”[1;62,63]

Trang 6

Tại Đại hội Đảng ta cũng xác định nền kinh tế nước ta hiện nay còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế: trong một thời gian nhất định, ở miền Bắc

có ba thành phần kinh tế ( Quốc doanh, tập thể, và cá thể, công tư hợp doanh, cá thể và tư bản tư nhân) Như vậy trong nhận thức của Đảng về thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế là một thực tế khách quan, nhưng trong chỉ đạo, tổ chức thực tiễn Đảng ta đã mắc phải tư tưởng chủ quan nóng vội, đốt cháy giai đoạn Do vậy sau Đại hội V vẫn chủ trương muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể Mặt khác nghị quyết đại hội V là bước phát triển mới tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Đại hội V khảng định thời kỳ quá độ là lâu dài, trong đó có biện pháp, mục tiêu cho từng giai đoạn Trong giai đoạn đầu, Đại hội có nêu mục tiêu của chặng đường đầu tiên Tóm lại tư duy mới của Đảng hé mở trong Đại hội V là:

- Xác định lại thời kỳ quá độ

- Nhận thưc được ưu tiên phát triển nền kinh tế nước ta

- Xác định trong thời kỳ quá độ cách mạng nước ta có hai nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Sau Đại hội V của Đảng, Đảng ta có 11 Hội nghi Trung ương, nhưng phần lớn các hội nghị đều tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (12/1982) bàn về phương hướng phát triển kinh tế ( từ năm 1983- 1985) về phân phối lưu thông, về cấp huyện Hội nghị Trung ương 5 (12/1983) bàn về phương hướng nhiệm vụ năm 1984

và chủ trương chấn chỉnh mặt trận phân phối lưu thông Hội nghị Trung ương 6 (7/1984) bàn về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Hội nghị Trung ương 6 đã quyết định những vấn đề quan trọng, Hội nghị khảng định phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, cơ chế quản lý thích hợp, sẽ thúc đẩy phát triển

Trang 7

sản xuất, ổn định tình hình kinh tế xã hội, giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các đơn vị cơ sở, chấn chỉnh một bước tổ chức quản lý kinh tế

Thực hiện nghị quyết Trung ương 3,4,5 nhất là Nghị quyết Trung ương 6 đã tạo được nhiều chuyển biến quan trọng Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn cả trong sản xuất, phân phối, lưu thông, làm cho đời sống kinh tế

-xã hội đứng trước những khó khăn nghiêm trọng ( Giá cả leo thang, lạm phát

có xu hướng gia tăng) Đứng trước tình hình trên đòi hỏi Đảng phải tiếp tục tìm tòi đổi mới đề ra những chủ trương, chính sách mang tính đồng bộ, triệt

để hơn đưa cách mạng vượt qua những khó khăn trước mắt

Hội nghị Trung ương tám (6/ 1985), bàn về giấ, lương, tiền, đã khảng định: Dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện đúng chế độ tập trung dân chủ, hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Nội dung chính của hội nghị là: Giải quyết vấn đề giá, lương, tiền, trên cơ sở phải thực hiện được cơ chế một giá, xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật, xoá bỏ những khoản bù lỗ bất hợp lý Thực hiện xoá bỏ triệt để cơ chế cũ, nhanh chóng chuyển sang cơ chế mới Đây được coi là bước đột phá nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển Đó chính là cách tiếp cận với cơ chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, dứt bỏ cơ chế quản lý kinh tế cũ đã tồn tại trong nhiều năm ở nước ta Sự thật là những tư tưởng của Hội nghị Trung ương tám khi tổ chức thực hiện lại không được quán triệt một cách sâu sắc, khi thực hiện lại thiếu đầy đủ so với chủ trương, do vậy kết quả không thành công như mong muốn, dẫn đến đời sống, kinh tế - xã hội đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, sản xuất, phân phối, lưu thông bị rối loạn Việc thực hiện cơ chế một giá do nhà nước quy định, trong khi lương trả cho công nhân viên chức tăng 10 lần, làm cho giá cả thị trường tăng đột biến Đứng trước tình hình bức súc của thực tiễn, nhu cầu đổi mới toàn diện đồng bộ là hết sức cần thiết

Trang 8

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) Đảng ta quyết định đổi mới toàn diện, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Tại Đại hội đã xác định những quan điểm chỉ đạo sự nghiệp đổi mới:

Một là: Đổi mới là một đòi hỏi của đất nươc, là xu thế của thời đại,

đổi mới là tất yếu khách quan, có ý nghĩa sống còn đối với cách mạng nước

ta Công cuộc đổi mới do những nhân tố bên trong và bên ngoài đòi hỏi, trong đó nhân tố bên trong giữ vai trò quyết định, nhân tố bên ngoài là quan trọng, nhằm thúc đẩy quá trình đổi mới ở nước ta phát triển nhanh hơn, chỉ

có đổi mới chúng ta mới phát triển được

Hai là: Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu đã dành

được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã xác định, trái lại, chính là sự bổ sung phát triển, làm phong phú những thành tựu ta đã đạt được và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn, đưa nghị quyết vào cuộc sống Đổi mới bao hàm cả sự nhận thức lại, có kế thừa, phát triển những thành tựu, kinh nghiệm của quá khứ Đây vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài mạng tính chất chiến lược trong mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng và Nhà nước ta

Ba là: Đổi mới phải toàn diện đồng bộ và triệt để nhưng phải có hình

thức và bước đi cách làm thích hợp, biết lựa chọn có trọng tâm trọng điểm Xuất phát từ tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Đảng ta chủ trương lấy đổi mới kinh té là trọng tâm, lấy ổn định chính trị xã hội làm tiền

đề Đồng thời với đổi mới kinnh tế phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt hơn quyền làm chủ năng động sáng tạo của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Hai quá trình ( đổi mới kinh tế và chính trị

có quan hệ mật thiết với nhau, làm điều kiện tiền đề cho nhau phát triển

Trang 9

Trên cơ sở phân tích đặc điểm tình hình thế giới, trong nước và nhiệm vụ chủ yếu của chặng đường đầu tiên Đại hội VI của Đảng xác định:

“ Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo”[2; 42] Đại hội VI xác định như vậy, phản ánh đúng thực trạng của đất nước, một trong những nhiệm vụ đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân là phải bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, bao gồm ổn định cả sản xuất, ổn định phân phối lưu thông, ổn định đời sống vật chất và tinh thần, thực hiện công bằng xã hội Với nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát đã thể hiện được mối quan hệ giữa ổn định và phát triển gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình vận động biến đổi tiến lên.Ổn định

để phát triển và phát triển mới ổn định được Trên cơ sở ổn định, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội Tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa

Xuất phát từ nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát, Đại hội xác định những mục tiêu cụ thể về kinh tế xã hội trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là: “ Sản xuất đủ hàng tiêu dùng và có tích luỹ; tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh” [2; 215] Các mục tiêu trên có liên quan chặt chẽ, tác động chi phối lẫn nhau, thực hiện thắng lợi những mục tiêu đó là cái mốc đánh dấu kết thúc chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ

Trang 10

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ tổng quát,nhiệm vụ những năm còn lại của chặng đường đầu tiên, Đại hội xác định những nhiệm vụ cụ thể:

Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình kinh tế về lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, nhằm đảm bảo nhu cầu lương thực của toàn xã hội và có dự trữ Đáp ứng nhu cầu của nhân dân về hàng tiêu dùng thiết yếu Đồng thời tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, tăng nhanh kim nghạch xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu nhập khẩu máy móc, vật

tư và những hàng hoá thiết yếu

Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Tăng cường kinh tế xã hội chủ nghĩa trên ba mặt chế độ

sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối, làm cho kinh tế quốc doanh phát huy được vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể giữ vai trò nền tảng trong nền kinh tế quốc dân, chi phối và phát huy khả năng của các thành phần kinh tế khác

Đổi mới cơ chế quản lý nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị kinh

tế và quần chúng lao động hăng hái phát triển sản xuất, nâng cao năng xuất chất lượng và hiệu quả kinh tế Kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đúng nguyên tắc tập trung dân chủ

Giải quyết tốt những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông nhằm giải phóng năng lực sản xuất Tập trung sức bảo đảm vật tưu, cải tiến các chính sách, mở rộng giao lưu hàng hoá, bãi bỏ các biện pháp cấm đoán chia

Ngày đăng: 14/05/2017, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w