1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị Sáu

24 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 260,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị SáuSKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị SáuSKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị SáuSKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị SáuSKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị SáuSKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị SáuSKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị SáuSKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị SáuSKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị SáuSKKN Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị Sáu

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với các môn học khác (Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử, Địa lí, Đạođức, ) môn Toán được dạy trong trường Tiểu học đã đóng góp một phần quantrọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh

Môn Toán được dạy ở trường Tiểu học là môn học thống nhất, không chiathành phân môn Nội dung của nó bao gồm các mạch kiến thức là: Số học, Đạilượng và đo đại lương, Các yếu tố hình học, Yếu tố thống kê, Giải toán có lờivăn Trong chương trình dạy học toán các mạch kiến thức này được sắp xếp xen

kẽ nhau, quan hệ gắn bó với nhau làm cho môn Toán trở thành môn học có tínhtích hợp cao, phù hợp với nhận thức của học sinh Tiểu học

Các bài toán có lời văn dành cho học sinh Tiểu học trong chương trình lànhững vấn để trong thực tế cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạngkhác nhau của cùng một phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) đến những dạng toánkết hợp của hai hay nhiều phép tính Vì vậy, giải các bài toán có lời văn là dịp

để học sinh vận dụng một cách tổng hợp các tri thức và kĩ năng giải toán vớikiến thức cuộc sống

Việc dạy giải toán là một trong những vấn đề được coi trọng vì nó đượcxem là hoạt động nhằm mục đích: Củng cố, vận dụng những kiến thức tổng hợpthành kĩ năng, kĩ xảo và phát triển tư duy cho học sinh Các em được làm quenvới giải toán có lời văn ngay từ lớp 1 nhưng mới ở dạng toán đơn Trong chươngtrình giải toán ở lớp 3 các em được học giải bài toán bằng hai phép tính bao gồmnhiều kiến thức tổng hợp Đây là nền tảng cho các em giải các bài toán yêu cầucao hơn có từ hai lời giải trở lên Để làm tốt loại toán này đòi hỏi các em khảnăng tư duy “Phân tích – tổng hợp” Nếu học sinh không hiểu được đề bài sẽkhông giải được bài toán Trong thực tế lớp tôi chủ nhiệm vẫn còn nhiều họcsinh lúng túng trong quá trình giải toán có lời văn Tôi nhận thấy trong các kiếnthức Toán ở chương trình thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là khó nhấtvới học sinh dân tộc thiểu số Bởi vì, đối tượng học sinh dân tộc thiểu số vốn từ,vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạnchế nên khi giải toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác.Với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bàinhưng không thể trả lời hoặc lí giải tại sao các em lại có được phép tính nhưvậy? Các em thật sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số em chưa biếttóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biếttổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt chưa rõ ràng,…

Là giáo viên giảng dạy ở lớp 3, tôi thấy năng lực giải toán có lời văn củahọc sinh dân tộc thiểu số còn bị hạn chế bởi một số nguyên nhân chính như sau:

Do các em ngại và chưa có thói quen đọc kĩ đề bài, phân tích các yếu tốngôn ngữ để nắm được nội dung bài toán

Trang 2

Do kiến thức thực tế còn quá ít ỏi, nên nhiều học sinh dân tộc thiểu sốkhông nhận thấy những điều vô lí trong những kết quả sai của mình

Do khả năng tư duy lôgic chưa tốt, đôi khi do không biết bắt đầu từ đâu,nên con đường đến đáp số nhiều khi chỉ là một sự ước đoán, mò mẫm

Một phần nữa là do tính vội vàng, hấp tấp, muốn khám phá nhanh đáp sốbài toán Việc giúp học sinh dân tộc thiểu số khắc phục những hạn chế và nhữngnguyên nhân nêu trên khi học toán có lời văn là một trong những vấn đề cầnđược coi trọng nhằm củng cố và vận dụng những khái niệm, kĩ năng, kĩ xảo đãđược hình thành Phát triển tư duy lôgic của học sinh

Để góp phần nâng cao chất lượng học Toán và rèn kĩ năng giải toán có lờivăn cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3, xuất phát từ trong quá trình giảng dạy

và giáo dục học sinh với ý thức lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp, bản thântôi luôn suy nghĩ và trăn trở, không ngừng tích lũy kinh nghiệm về nâng caochất lượng dạy học giải toán cho học sinh lớp 3 Đó chính là lí do tôi chọn đề tài

“Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở trường TH Võ Thị Sáu”.

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Nghiên cứu đề tài giúp học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số nắm được quy trìnhgiải toán có lời văn, biết phân tích đề bài, biết cách giải, tìm ra đáp số đúng củabài toán có lời văn nhằm nâng cao kĩ năng giải toán cho học sinh để các em cóthể nắm chắc, giải thành thạo những bài toán có lời văn ở lớp 3 góp phần dạyhọc mạch toán có lời văn nói riêng và dạy học toán nói chung đạt chất lượng cao

Nhiệm vụ của đề tài là điều tra cơ bản có số liệu cụ thể về số học sinh giảitoán có lời văn còn khó khăn Lập kế hoạch, biện pháp phù hợp để giúp học sinh

có kĩ năng giải toán tốt hơn và bồi dưỡng nâng cao cho học sinh năng khiếu.Kiểm tra kết quả đạt được trong từng tháng của học sinh để có kế hoạch giúp đỡ,uốn nắn kịp thời Học hỏi đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu đúc rút kinh nghiệmqua giảng dạy để nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân

3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3

4 Giới hạn của đề tài

Học sinh dân tộc thiểu số lớp 3B trong trường Tiểu học Võ Thị Sáu nămhọc 2016 – 2017

Nội dung môn Toán bao gồm 5 mạch kiến thức lớn, tôi đi sâu vào nghiêncứu phần: “Giải toán có lời văn” Các bài toán trong chương trình lớp 3

5 Phương pháp nghiên cứu

a) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 3

Đọc tài liệu: Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Tiểu học chu kì III(2003 – 2007); tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 3; sách giáoviên; sách giáo khoa Toán

Phương pháp điều tra, thống kê

Phương pháp giảng giải - minh họa

Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng

Phương pháp quan sát (thăm lớp, dự giờ)

Phương pháp thử nghiệm (tổ chức hội vui học tập)

Phương pháp mô hình hóa kết quả thu được (biểu bảng)

II PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

Căn cứ vào chương trình Giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (Quyết định số16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.Căn cứ vào chương trình chuẩn hiện nay do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

và chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt đối với môn Toán lớp 3 Căn cứ vào nhiệm

vụ năm học 2016 – 2017, thực hiện chỉ đạo của PGD&ĐT Krông Ana Trongchương trình Giáo dục Tiểu học hiện nay, môn Toán cùng với các môn học kháctrong trường Tiểu học có những vai trò góp phần quan trọng đào tạo nên nhữngcon người phát triển toàn diện Toán học là môn khoa học tự nhiên có tính lôgic

và tính chính xác cao, nó là chìa khóa mở ra sự phát triển của các bộ môn khoahọc khác Trong đó mạch kiến thức giải toán có lời văn là dạng toán dùng ngônngữ đưa ra các dữ kiện và những yếu tố cần tìm trong một văn cảnh, ta vẫn hay

quen gọi là bài toán đố Bài toán có lời văn bao gồm nhiều loại toán khác nhau:

toán đơn, toán hợp, toán điển hình Ngay từ lớp 1 các em đã làm quen với cáchgiải bài toán có lời văn, tuy nhiên ở dạng rất đơn giản Đó là những bài toán đơn

về “thêm”, “bớt”, “nhiều hơn”, “ít hơn” Lên lớp 3 các em bắt đầu làm quen vàgiải các bài toán hợp Cho nên giải toán ở lớp 3 là nền tảng quan trong cho các

em học giải toán ở lớp 4, 5

Giải toán có lời văn là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạymôn Toán ở bậc Tiểu học Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơvới nội dung của số học, các đại lượng cơ bản và các yếu tố hình học có trongchương trình Toán 3 Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọngthể hiện ở các điểm sau:

Trang 4

Các khái niệm và các quy tắc về Toán trong sách giáo khoa nói chung đều

được giảng dạy thông qua giải toán Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận

dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán Đồng thời qua việc giải toán của

học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót

của các em về kiến thức, kĩ năng và tư duy để giúp các em phát huy hoặc khắc

phục

Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện

thông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với thực tế sẽ hình

thành, rèn luyện những kĩ năng cần thiết trong đời sống hàng ngày, giúp các em

biết vận dụng vào thực tiễn

Việc giải toán góp phần quan trọng vào rèn luyện cho học sinh năng lực tư

duy và những đức tính tốt của con người lao động mới Khi giải một bài toán, tư

duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì các em cần phân biệt cái gì

đã cho và cái gì cần tìm, thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện giữa cái đã

cho và cái phải tìm Suy luận, nêu nên những phán đoán, rút ra những kết luận,

thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyết vấn đề đặt ra, Hoạt động trí

tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý trí vượt khó khăn,

đức tính cẩn thận, chu đáo làm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ,

thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng

tạo,

2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Trường thuộc địa bàn của xã có nhiều khó khăn, học sinh dân tộc thiểu số

của lớp tôi chiếm 100% trong đó đa số các em tiếp thu kiến thức còn nhiều hạn

chế; kĩ năng nghe, nói, đọc, viết rất chậm Học sinh dân tộc thiểu số khó nhớ,

mau quên, nhiều em chưa nắm được các dạng toán, các phép tính cộng, trừ,

nhân, chia thực hiện rất chậm Đặc biệt về giải toán có lời văn đa số các em còn

yếu, nhất là viết câu lời giải rất lúng túng dẫn đến chất lượng giải toán có lời văn

của các em rất thấp, điều đó đã ảnh hưởng đến kết quả chung của môn Toán, cụ

thể:

Khảo sát chất lượng đầu năm học 2016 – 2017 về kĩ năng giải toán của 31

học sinh lớp 3B và thu được kết quả như sau:

cách giải

Bên cạnh đó cha mẹ các em phần lớn nằm trong diện lao động nghèo,

hoàn cảnh khó khăn và diện xóa đói giảm nghèo lại nhiều Vì thế, cha mẹ chưa

hoặc không quan tâm, chăm lo đến việc học hành cho con em mình Cá biệt còn

có trường hợp học sinh theo cha mẹ đi làm lò gạch, đi nhặt điều, đi mót cà phê,

… làm gián đoạn việc học tập của các em, gây ảnh hưởng đến độ liên tục của

bài học trong chương trình, các em không tiếp thu được bài, hổng kiến thức Đã

khiến cho nhiều học sinh không tích cực trong các hoạt động học tập Nhiều cha

Trang 5

mẹ học sinh không hoặc chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em

mình, chưa tạo điều kiện tốt để các em đến lớp cũng như nhắc nhở các em họcbài, đọc bài ở nhà

Một số học sinh chưa thực sự hiếu học, hay quên đồ dùng học tập, chưachuẩn bị bài đầy đủ trước khi đến lớp Nhất là với môn Toán, số lượng học sinhkhó khăn còn nhiều, chất lượng học tập chưa cao, có những học sinh không hiểuđược đề bài toán dẫn đến giải bài toán sai, chưa biết tập trung vào những dữ kiệntrọng tâm của đề toán, không chịu phân tích đề toán khi đọc đề,… Các em họcsinh khó khăn vừa nhận biết mặt chữ vừa đánh vần để tìm hiểu bài toán, chưaxác định được yêu cầu và chưa nắm được cách giải bài toán có lời văn Một sốhọc sinh chưa theo kịp yêu cầu kiến thức, kĩ năng của môn học Các em chưahiểu hết tầm quan trọng của việc giải các bài toán, mà các em chỉ chú ý đến việclàm cho xong bài tập Chưa nắm được nội dung của bài toán, chưa tích cực, chủđộng phân tích, tìm hiểu đề bài, tóm tắt bài toán,… Vì kĩ năng đọc thành thạocủa các em chưa cao nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động,chậm, dẫn đến kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh dân tộc thiểu số cònyếu Do đó, giáo viên khó khăn, vất vả và mất nhiều thời gian để nghiên cứuphương pháp dạy học cũng như biện pháp rèn cho học sinh Đồ dùng dạy họcmôn Toán còn hạn chế Giáo viên mất nhiều thời gian đầu tư vào đồ dùng dạyhọc tự làm

Khi các em học giải các bài toán có lời văn hay gặp nhiều lúng túng, cókhi bị “bế tắc” không tìm ra cách giải Các em chỉ quen giải những bài toán đơn

và bài toán mà dữ kiện cho biết cụ thể Khi gặp bài toán mà dữ kiện bị che dấubởi một yếu tố ngôn ngữ nào đó là các em gặp nhiều khó khăn Khả năng suyluận của các em còn nhiều hạn chế Các em hay lo lắng khi gặp bài toán có lờivăn với quan điểm bài toán có lời văn là bài toán khó Cụ thể về học sinh giảitoán có lời văn chưa tốt là do:

Các em hấp tấp, vội vàng, không đọc kĩ đề bài chưa nắm vững các dữ kiệnbài cho, dạng bài đã làm

Học sinh chưa biết cách phân tích đề, tóm tắt bài toán dẫn đến chưa biếtcách giải bài toán

Học sinh biết cách giải nhưng kĩ năng tính toán kém dẫn đến kết quả sai.Các em chưa hiểu rõ bản chất bài toán dẫn đến lúng túng khi đặt câu lờigiải cho phép tính và đặt lời giải sai

Có học sinh không nắm vững các dạng toán dẫn đến sợ học toán có lờivăn với quan niệm là khó

Một số em còn hạn chế về cách diễn đạt, hiểu ý nhưng không diễn đạtđược

Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3 nhằm kế thừa giải toán có lời văn ởlớp 1, 2 mở rộng, phát triển nội dung giải toán phù hợp với sự phát triển nhận

Trang 6

thức của học sinh lớp 3 Thời lượng dành cho bài toán giải có lời văn chiếmtương đối nhiều trong tổng quỹ thời gian dành cho môn toán.

Trong giải toán có lời văn ở Tiểu học nói chung và giải toán có lời văncho học sinh lớp 3 nói riêng, học sinh phải tư duy một các linh hoạt, áp dụngđược tất cả các kiến thức, kĩ năng đã có vào giải toán, vào các tình huống khácnhau Trong nhiều trường hợp các em phải biết vận dụng những dữ kiện, điềukiện chưa được nêu ra một các rõ ràng Học sinh phải tự linh động trong giảitoán, phát huy tích cực, chủ động khi làm bài Vì vậy, mạch kiến thức giải toán

có lời văn đóng vai trò quan trọng trong nội dung chương trình Toán 3

Chính vì thế nhiều khi hướng dẫn các em tìm lời giải vất vả hơn so vớidạy các em thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số của bài toán Việc đặt lờigiải trở nên khó khăn với học sinh vì các em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưahiểu được đề, chưa trả lời các câu hỏi khi giáo viên nêu “Bài toán cho biết gì?” Đến khi giải thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giải,

… Học sinh còn hạn chế về kĩ năng giải toán có lời văn như: Chưa đọc kĩ đề bàihoặc đọc nhưng không hiểu đề bài toán, chưa biết tóm tắt bài toán, không biếtlựa chọn phép tính để giải, viết lời giải sai, viết phép tính và tính sai kết quả,chưa viết đúng đơn vị của bài toán,…

Từ thực trạng trên, để việc dạy học sinh dân tộc thiểu số giải toán có lờivăn đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có hứng thú trong học tập, nângcao chất lượng giải toán có lời văn thì trước hết phải dạy cho các em nắm đượcphương pháp cơ bản để giải một bài toán: Học sinh đọc kĩ đề bài, phân tích bàitoán, tự tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc tóm tắt bằng sơ đồ đoạnthẳng Học sinh nắm chắc được các dạng toán cơ bản hay những dạng toán

“gốc” ở lớp 3 đầu học kì I như: Tìm một trong các phần bằng nhau của một số,Gấp một số lên nhiều lần, Giảm đi một số lần,… Học sinh biết trình bày bài giảitheo thứ tự: Lời giải – phép tính – đáp số

Từ đó học sinh biết giải và trình bày bài giải các dạng toán giải bằng haiphép tính: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị Bài toán giải bằng hai phép tínhliên quan đến hình học,…

Khi học sinh bắt đầu học về giải bài toán bằng hai phép tính giáo viênphải khắc sâu nội dung bài toán để học sinh biết khi nào thì giải bài toán bằngmột phép tính, khi nào giải bài toán bằng hai phép tính

Bên cạnh đó giáo viên phải kịp thời và kiên trì giúp học sinh nắm đượccác dạng toán, phải sửa chữa sai lầm của học sinh một cách chu đáo Giáo viênluôn thay đổi các hình thức luyện tập giải toán để gây hứng thú học tập cho họcsinh Tìm ra biện pháp giúp học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng cơ bản củacác dạng toán giải có lời văn ở lớp 3

3 Nội dung và hình thức của giải pháp

3.1 Mục tiêu của giải pháp

Trang 7

Mục đích nhằm nâng cao chất lượng học toán cho học sinh nói chung vàrèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh tộc dộc thiểu số lớp 3 nói riênggiúp các em nắm chức và giải tốt bài toán có lời văn, giúp giáo viên cùng họcsinh đáp ứng được mục tiêu giảng dạy và học tập hiện nay, tạo điều kiện thuậnlợi cho học sinh học tốt môn toán ở các lớp trên.

3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp

Biện pháp 1: Xây dựng nề nếp lớp học

Song song với việc điều tra, phân loại đối tượng học sinh, lập kế hoạchphấn đấu bồi dưỡng cho các em, tôi tiến hành xây dựng nề nếp học tập cho họcsinh Sắp xếp chỗ ngồi cho hợp lí, phù hợp với từng em

Hướng dẫn học sinh cách học nhóm có hiệu quả, phân công các nhómkèm cặp lẫn nhau, học sinh năng khiếu giúp học sinh khó khăn, tạo thói quentrao đổi học tập cùng nhau

Xây dựng quy ước giữa cô và trò, yêu cầu học sinh thực hiện nghiêm túc(giờ nào việc ấy) Học sinh tự giác nghe giảng, học bài và làm bài đầy đủ

Biện pháp 2: Quy trình giải toán có lời văn

Nghiên cứu kĩ đầu bài: Trước hết cần đọc cẩn thận đề toán, suy nghĩ về ýnghĩa bài toán, nội dung bài toán, đặc biệt chú ý đến câu hỏi bài toán Khôngnên vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề toán

Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và diễn đạt nội dung bài toánbằng ngôn ngữ, tóm tắt điều kiện bài toán hoặc minh họa bằng sơ đồ hình vẽ

Lập kế hoạch giải toán: học sinh phải suy nghĩ xem để trả lời câu hỏi củabài toán phải thực hiện phép tính gì? Suy nghĩ xem từ số đã cho và điều kiện củabài toán có thể biết gì? Có thể làm tính gì? Phép tính đó có thể giúp trả lời câuhỏi của bài toán không? Trên các cơ sở đó, suy nghĩ để thiết lập trình tự giảitoán

Thực hiện phép tính theo trình tự đã thiết lập để tìm đáp số Mỗi khi thựchiện phép tính cần kiểm tra đã tính đúng chưa? Phép tính được thực hiện có dựatrên cơ sở đúng đắn không?

Giải xong bài toán, khi cần thiết, cần thử xem đáp số tìm được có trả lờiđúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các điều kiện của bài toán không?

Biện pháp 3: Hướng dẫn các bước giải toán

Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán

Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từkhoá quan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn

từ thông thường như: “gấp đôi”, “31 ,41 ”, “tất cả”…

Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì tôi hướng dẫncho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm,

Trang 8

sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đặt câu hỏi đàm thoại: “Bài toán

cho gì? Bài toán hỏi gì?” và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán,…

Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phương phápgiảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh họa để các em tìm hiểu, nhận xét nộidung, yêu cầu của đề toán Qua đó học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán vàdựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bàitoán rồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập

Bước 2: Tìm cách giải bài toán

* Chọn phép tính giải thích hợp

Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái

phải tìm, cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “phép chia” nếu

bài toán yêu cầu “tìm 31,14 ” Chọn “tính trừ” nếu “bớt” hoặc “tìm phần còn lại” hay là “lấy ra” Chọn “phép nhân” nếu “gấp đôi, gấp ba” …

Ví dụ: Một đội công nhân phải sửa quãng đường dài 1215m, đội đã sửađược31 quãng đường Hỏi đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường

nữa? (Bài 2/ SGK- 119).

Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái

đã cho và cái phải tìm Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câuhỏi gợi ý như:

+ Bài toán cho biết gì? (Một đội công nhân phải sửa quãng đường dài 1215m.)

+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (đã sửa được 13 quãng đường.)

+ Bài toán hỏi gì? (Đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường nữa?)

+ Muốn biết đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường nữa

trước hết phải tìm gì trước? Nêu cách tìm? (Tìm số mét đường đã sửa: 1215 : 3)

+ Sau khi tìm được số mét đường đã sửa ta tiếp tục tìm gì? (Tìm số mét đường còn phải sửa)

+ Nêu cách tìm? (Lấy tổng số mét đường phải sửa trừ đi số đã sửa).

* Đặt câu lời giải thích hợp

Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước vô cùngquan trọng và khó nhất đối với học sinh khó khăn trong học tập Chính vì vậy,việc hướng dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khănlớn đối với người dạy Tùy từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các cáchhướng dẫn sau:

Trang 9

- Cách 1: (Đối với bài toán đơn) Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt

từ đầu “hỏi” và thay từ “mấy” hay “bao nhiêu” bằng từ “số” rồi thêm từ “là” để

có câu lời giải

Ví dụ: May 6 bộ quần áo hết 18m vải Hỏi may mỗi bộ quần áo hết mấymét vải?

Các em tìm được câu lời giải “May mỗi bộ quần áo hết số mét vải là:”

- Cách 2: (Đối với bài toán hợp) Lời giải thứ nhất dựa vào cái cần tìm

đầu tiên trong bài toán, tìm cái gì trả lời cái đó Lời giải thứ hai dựa vào câu hỏi

trong bài toán

Ví du: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơnthùng thứ nhất 6 lít dầu Hỏi cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu?

+ Muốn biết cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu trước tiên em phải

tìm gì? (Tìm thùng thứ hai đựng được bao nhiêu lít dầu)

Vậy: Cái cần tìm đầu tiên là số lít dầu đựng trong thùng thứ hai nên câu

lời giải là: “Số lít dầu đựng trong thùng thứ hai là:” hoặc “Thùng thứ hai đựng

được số lít dầu là:”

Tóm lại: Tuỳ từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các

em cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp Trong một bài toán, học sinh cóthể có nhiều cách đặt lời giải khác nhau Song trong khi giảng dạy, ở mỗi mộtdạng bài cụ thể tôi cho các em suy nghĩ, thảo luận theo bàn, nhóm để tìm ra cáccâu lời giải đúng và hay nhất phù hợp với câu hỏi của bài toán đó Tuy nhiên cần

hướng dẫn học sinh lựa chọn cách giải (ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với các em)

và phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình

Bước 3: Trình bày bài giải

Như chúng ta đã biết, các dạng toán có lời văn, học sinh đã phải tự viếtcâu lời giải, phép tính, đáp số, thậm chí cả tóm tắt nữa

Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoahọc, đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học Muốn thực hiện yêucầu này trước tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hướngdẫn, quy định

Đầu tiên là tên bài (Viết sát lề bên trái có gạch chân), tiếp đó ghi bài giải Từ: “Bài giải” ghi ở giữa trang vở (có gạch chân), câu lời giải ghi cách ô lỗi

khoảng 1 -> 2 ô vuông (tùy câu lời giải ngắn hoặc dài), chữ ở đầu câu viết hoa, ởcuối câu có dấu hai chấm (:), phép tính viết lùi vào so với lời giải khoảng 2 -> 3

ô vuông, cuối phép tính là đơn vị tính được viết trong dấu ngoặc đơn Phần đáp

số ghi lệch sang phần vở bên phải và dấu hai chấm rồi mới viết kết quả và đơn

vị tính (không phải viết dấu ngoặc đơn nữa).

Biện pháp 4: Hướng dẫn giải các dạng toán cơ bản

Trang 10

Để dạy học sinh cách giải toán thì trước tiên tôi lựa chọn phương phápgiải toán phù hợp với từng dạng toán khác nhau

1 Hướng dẫn dùng sơ đồ đoạn thẳng vào giải bài toán liên quan đến nhiều hơn, ít hơn, gấp một số lên nhiều lần, giảm đi một số lần, tìm một phần mấy của một số,…

Tôi hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để minh họa giữanhững điều đã cho và những điều cần tìm trong bài toán Thiết lập được mốiquan hệ giữa các dữ kiện trong bài toán Đó chính là dùng đoạn thẳng để biểudiễn, thay thế cho một số, 1 vật, 1 giá trị, 1 đại lượng nào đó trong bài toán

Ví dụ 1: Lớp 3A có 38 học sinh Lớp 3B có ít hơn lớp 3A 6 học sinh Hỏi

cả hai lớp có bao nhiêu học sinh?

Hướng dẫn học sinh đọc bài toán, phân tích và tóm tắt bằng sơ đồ đoạnthẳng:

Nhìn vào sơ đồ đoạn thẳng trên ta thấy: Lớp 3A có 38 học sinh Lớp 3B

có ít hơn 6 học sinh Bài toán yêu cầu tìm số học sinh cả hai lớp

Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải bài toán: Muốn tìm số học sinh của cảhai lớp ta làm như thế nào? (Lấy số học sinh của lớp 3A cộng với số học sinhcủa lớp 3B)

Khi đã biết số học sinh của lớp 3A rồi ta phải đi tìm gì? (Ta phải tìm được

Trang 11

Số học sinh lớp 3B là:

38 – 6 = 32 (học sinh)

Cả hai lớp có số học sinh là:

38 + 32 = 70 (học sinh) Đáp số: 70 học sinh

Lưu ý: Đây là bài toán liên quan đến dạng toán về ít hơn

Ví dụ 2: (SGK/Tr.103) Một cửa hàng buổi sáng bán được 432l dầu, buổi

chiều bán được gấp đôi buổi sáng Hỏi cả hai buổi bán được bao nhiêu lít dầu?

Học sinh đọc bài toán, phân tích và tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:

432l

Buổi sáng:

? l

Buổi chiều:

+ Muốn biết cả hai buổi bán được bao nhiêu lít dầu trước tiên em phải tìm

gì? (Tìm số dầu bán trong buổi chiều).

+ Muốn tìm số dầu bán trong buổi chiều ta làm như thế nào? (Lấy số dầu bán trong buổi sáng nhân 2).

Ví dụ 3: (SGK/Tr.76) Minh có một quyển truyện dày 132 trang, Minh đãđọc được 41 quyển truyện đó Hỏi Minh còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thìxong quyển truyện?

Hướng dẫn học sinh đọc bài toán, phân tích và tóm tắt bằng sơ đồ:

132 trang

Đã đọc ? trang

+ Muốn biết Minh còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì trước tiên ta phải

làm gì? (Tìm xem Minh đã đọc được bao nhiêu trang truyện).

Trang 12

+ Muốn tìm số trang Minh đã đọc ta lấy số trang truyện chia cho 4.

Lưu ý: Đây là bài toán liên quan đến tìm một phần mấy của một số

(Muốn tìm một phần mấy của một số ta lấy số đó chia cho số phần)

Như vậy sử dụng sơ đồ đoạn thẳng vào giải toán là phương pháp đem lạihiệu quả cao Nhiều bài toán phức tạp nhưng sau khi hướng dẫn học sinh phântích đề bài và tóm tắt được bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng thì bài toán lại trởthành đơn giản Dùng sơ đồ đoạn thẳng vào giải toán giúp học sinh có khả năngphân tích, tổng hợp, phát triển tư duy và sáng tạo

2 Hướng dẫn giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị

Để làm tốt các bài toán liên quan đến rút về đơn vị thì học sinh phải nắmđược cách giải bài toán Đầu tiên phải đi tìm giá trị của một đơn vị (thực hiệnbằng phép tính chia) Trong bài toán bao giờ cũng có hai đơn vị đo là hai danh

số Cần cho học sinh xác định được một đơn vị cần tìm trong bài toán chính làđơn vị lớn bao hàm đơn vị còn lại

Ví dụ: Có 35l mật ong chia đều vào 7 can Hỏi 2 can có mấy lít mật ong?

Đơn vị đo trong bài là lít và can thì đơn vị can lớn hơn đơn vị lít vì mộtcan thường chứa nhiều lít Vì vậy một đơn vị cần tìm là một can

Hay: Có 24 viên thuốc đựng đều trong 4 vỉ Hỏi 3 vỉ thuốc có bao nhiêuviên thuốc?

Ta thấy đơn vị vỉ lớn hơn đơn vị viên thuốc vì một vỉ thuốc thường chứanhiều viên thuốc nên một đơn vị cần tìm là một vỉ

Bài toán liên quan đến rút về đơn vị có hai dạng:

Dạng 1:

+ Tìm giá trị một đơn vị (Thực hiện tính chia)

+ Tìm giá trị của nhiều đơn vị (Lấy giá trị của một đơn vị nhân với số đơn

Ngày đăng: 14/05/2017, 10:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w