1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu

28 870 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 256,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị SáuSKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị SáuSKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị SáuSKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị SáuSKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị SáuSKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị SáuSKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị SáuSKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị SáuSKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị SáuSKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị SáuSKKN Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐÀU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Non sông Việt Nam có trởnên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vaivới các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở cônghọc tập của các em” Thực hiện lời dạy đó của Người, thế hệ trẻ đã và đang ra sứchọc tập, phấn đấu để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và từng bước sánhvai với các cường quốc năm châu trên thế giới Quá trình học tập, phấn đấu của thế

hệ trẻ là một quá trình phát triển lâu dài Để sau này trở thành những chủ nhân gópphần dựng xây đất nước thì mỗi cá nhân phải có sự rèn luyện và nỗ lực ngay từđầu Sự phát triển của mỗi cá nhân có sự đóng góp quan trọng của người thầy,người cô, đặc biệt là lúc bắt đầu bước vào tuổi đi học

Trong xu thế phát triển của đất nước hiện nay, từ những thay đổi quan trọng

về kinh tế, xã hội, đòi hỏi giáo dục phải nâng cao chất lượng giảng dạy Để nângcao chất lượng giảng dạy, mỗi giáo viên phải không ngừng học tập và trao dồi kiếnthức nhằm tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp để truyền thụ cho học sinh

Ở trường tiểu học môn Tiếng Việt có nhiệm vụ vô vùng quantrọng đó là hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho họcsinh Kỹ năng đọc là một trong số công cụ sử dụng trong học tập và trong giaotiếp Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát,trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điềumình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Có đọc đúngthì mới viết đúng, mới hiểu được nội dung mình vừa đọc Chính vìthế kỹ năng đọc có một vị trí quan trọng không thiếu được trong chương trìnhmôn Tiếng Việt ở bậc tiểu học

Cùng với kỹ năng viết, kỹ năng đọc có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các emcái chìa khóa để vận dụng chữ viết trong học tập Khi biết đọc, biết viết các em cóđiều kiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách thamkhảo, ,từ đó có điều kiện học tốt các môn học học khác có trong chương trình

Đặc biệt đối với học sinh lớp 1 - lớp đầu cấp - các em bắt đầulàm quen với: Nghe, nói, đọc, viết Và kỹ năng đọc rất quan trọng, nếu kỹ năng đọcđược rèn luyện tốt, hình thành tốt ở các em nó sẽ giúp các em đọc tốt suốt cả cuộcđời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học,hiểu được nghĩa của tiếng, từ, câu, đoạn văn, bài văn mình vừa đọc, hiểu được cáclệnh các yêu cầu trong các môn học khác Mặt khác ở lớp Một các em được tập đọcthành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp trên các em nắm bắtđược những yêu cầu cao hơn của môn Tiếng Việt, sẽ học vững vàng,học tốt hơn Và các em sẽ ham học, tích cực trong học tập hơn Việc dạy đọc ởlớp 1 cũng quan trọng bởi từ chỗ các em còn phải đọc đánh vần

Trang 2

từng tiếng đến việc đọc thông thạo được một văn bản là việctương đối khó với các em mà mục tiêu của giờ dạy Tiếng Việt làphải hướng đến giáo dục học sinh yêu tiếng Việt từ đó cảm nhận

sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong mônhọc Thế nhưng hiện nay, ở trường tiểu học, mặt âm thanh củangôn ngữ, đặc biệt ngữ điệu chưa được chú ý đúng mức Đó là mộttrong những lý do mà học sinh của chúng ta đọc và nói còn saidấu thanh, sai ngữ nghĩa Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề tài “

Một vài kinh nghiệm rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp Một dân tộc thiếu

số ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu”

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu: Thực hiện đề tài này với mục đích nâng cao khả năng đọc đúng vàtìm ra biện pháp hữu hiệu khắc phục, giải quyết triệt để lỗi phát âm sai tiếng Việtcủa học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số Từ đó góp phần nâng cao chuyên môn nghiệp

vụ cho bản thân, nâng cao chất lượng đọc của học sinh nhất là đọc hiểu tiếng Việt,dần dần nâng cao chất lượng môn học tiếng Việt của học sinh lớp 1 dân tộc thiểu

số, góp phần đưa chất lượng giáo dục ngày một tốt hơn

Nhiệm vụ của đề tài: Tìm ra được biện pháp giúp học sinh đọc đúng, biết sửasai trong quá trình phát âm tiếng Việt để học tốt môn Tiếng Việt Khắc phục đượcnhững lỗi mà học sinh thường mắc phải để mỗi giáo viên có hướng rèn luyện, bồidưỡng hiệu quả việc phát âm tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số khi bắt đầubước vào lớp đầu cấp

3 Đối tượng nghiên cứu

Một vài kinh nghiệm rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp Một dân tộcthiếu số ở trường tiểu học Võ Thị Sáu

4 Giới hạn của đề tài

Học sinh lớp 1A, Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, xã Ea Bông, huyện KrôngAna, tỉnh Đắk Lắk năm học 2016 – 2017 ( từ tháng 9/2016 đến tháng 3/2017)

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp trải nghiệm thực tế

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp thống kê, tổng hợp

II PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

Trang 3

Như chúng ta đã biết “Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất của loàingười ” (Lê Nin) “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng ”(Mác).

Ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện tâm trạng, tình cảm Chức năng quantrọng của ngôn ngữ đã quy định sự cần thiết nghiên cứu sâu sắc kỹ năng đọc trongphân môn Tiếng Việt và trong hệ thống giáo dục nhà trường Có đọc thông thì mớiviết thạo, mới hiểu được nội dung mình vừa đọc Học sinh lớp một chỉ hoàn thànhchương trình khi các em biết đọc chữ

Chúng ta đều nhận thức sâu sắc rằng, môn Tiếng Việt ở tiểu học rèn luyệncho học sinh cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết song mục tiêu của việc dạy và họcTiếng Việt ở lớp một là đem lại cho các em kỹ năng đọc đúng, viết đúng Ngoài racòn làm giàu vốn từ, biết nói đúng các mẫu câu ngắn và tạo cho các em sự hamthích thơ văn Đây là điều kiện chuẩn bị để các em học tốt hơn môn Tiếng Việt ởcác lớp trên Khả năng nhận thức, tư duy, tưởng tượng, tình cảm, trí nhớ và nhâncách học sinh đang được hình thành Học sinh lớp Một hồn nhiên, ngây thơ, trongsáng, hiếu động, tò mò, thích hoạt động, thích khám phá, hay bắt chước Vì vậy sựphát triển nhân cách của học sinh Tiểu học phụ thuộc phần lớn vào quá trình dạyhọc và giáo dục của thầy, cô giáo trong nhà trường Nghe, nói, đọc, viết là bốn kĩnăng cơ bản của môn Tiếng Việt, để đạt các yêu cầu so với chuẩn kiến thức kĩ năngtheo quyết định số 16/2006/ QĐ- BGD& ĐT ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2006.Rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh lớp Một góp phần giúp các em hiểu, cảm thụvăn học, rèn luyện tình cảm đạo đức, ý chí, ý thức, hành động đúng cho trẻ, pháttriển khả năng học tập các môn học khác là điều kiện phát triển toàn diện cho họcsinh Tiểu học trong giai đoạn hiện nay Nhân cách học sinh Tiểu học phát triểnđúng đắn hay lệch lạc phụ thuộc vào quá trình giáo dục của người thầy mà trong đóphương tiện chủ yếu là nghe, nói, đọc, viết có được trong quá trình học tập Dạyđọc đặc biệt là chú trọng việc rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộcthiểu số, đòi hỏi người thầy phải phát âm chuẩn và có phương pháp dạy học phùhợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học Ngày nay với sự phát triển tiến

bộ của khoa học, xã hội, giáo dục cần đáp ứng nhu cầu ham hiểu biết của học sinh

Tiểu học và tăng cường giáo dục đạo đức, nhân cách, rèn kỹ năng sống cho trẻ

Trường tiểu học Võ Thị Sáu có 97,5% học sinh dân tộc thiểu số Các em gặpkhông ít khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt, học tập đó là: thiếu điều kiện học tập,quá trình học không liên tục, kiến thức nắm không vững chắc, thiếu động cơ họctập Biết đọc, biết viết là mục tiêu số một ở học sinh Tiểu học Vốn tiếng Việt là rấtcần thiết trước khi học chữ Không biết hoặc biết ít tiếng Việt là trở ngại lớn nhấtcho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số Tập nói tiếng Việt là nhiệm vụ đầu tiên với các

em Học sinh dân tộc cần có vốn tiếng Việt trước để học chữ Bộ giáo dục đã cónhiều văn bản chỉ đạo như công văn 9832/ BGD&ĐT - GDTH ngày 1 tháng 9 năm

2006, công văn 9890/ BGD&ĐT – GDTH ngày 17 tháng 9 năm 2007 về việchướng dẫn nội dung, phương pháp giáo dục cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.Ngày 9 tháng 8 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội nghị "Triển khai

Trang 4

các phương án tăng cường tiếng Việt (lớp 1) cho học sinh dân tộc thiểu số " Tạihội nghị, xuất phát từ những quan điểm, lý luận giáo dục và cách tiếp cận gắn vớiđặc điểm học sinh dân tộc các vùng miền, năm phương án về chủ đề này đã đượctrình bày, và trao đổi ý kiến rộng rãi Đó là: Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáotrước tuổi đến trường (Vụ GD Mầm non) Dạy tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻtrong chương trình song ngữ Ê- đê - Việt (Vụ GD Dân tộc) Nghiên cứu thửnghiệm giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ (Trung tâm Nghiên cứu GD dântộc) Dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 1(Nhómtăng cường năng lực dạy và học- Dự án PEDC) Dạy học lớp 1 cho học sinh dân

tộc chưa biết nói tiếng Việt (Trung tâm Công nghệ GD) Công văn số 8114/

BGD&ĐT- GDTH V/v nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu sốban hành ngày 15 tháng 9 năm 2009

2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

a Thuận lơi, khó khăn

* Thuận lợi

Về giáo viên

Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo các cấp về chuyên môn đã

tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn bồi dưỡng cho giáo viên, cung cấp đầy đủtài liệu, phương tiện giảng dạy

Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao giảng, dự giờhàng tháng, tổ chức những buổi họp chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút ranhững ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy

Một số giáo viên trong trường có tay nghề vững, lâu năm trong công tác, cónhiều kinh nghiệm, có tinh thần trách nhiệm cao và sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp

về chuyên môn cũng như cách tháo gỡ những khó khăn khi gặp các trường hợp họcsinh khó khăn về học tập cũng như phẩm chất

Bản thân có kinh nghiệm dạy lớp 1

Đa số các em học sinh được làm quen tiếng Việt ngay sau khi tuyển sinh vàolớp Một

Trang 5

100% học sinh được học 8 buổi / tuần

* Khó khăn

Về nhà trường: Cơ sở vật chất chưa đáp ứng với nhu cầu giảng dạy

Về giáo viên: Năng lực không đồng đều, số giáo viên là người dân tộc thiểu

số trong khối chiếm 75%

Tranh ảnh minh họa có sẵn cho môn Tiếng Việt còn hạn chế Giáo viên cònmất thời gian đầu tư vào làm đồ dùng dạy học

Về học sinh

Năm học 2016 – 2017, học sinh dân tộc thiểu số không được cấp phát đầy đủsách vở nên một số em đi học còn thiếu sách vở, đồ dùng học tập Trong lớp có85% học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số, tỉ lệ học sinh con hộ nghèo 45% Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều Bên cạnh những em phát triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em khó khăn về thể chất, bé nhỏ hơn so vớicác bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên sau, chậmtiến Một số em chưa biết cách cầm bút, chưa nhớ các chữ cái, không có khả năngghi nhớ Một số em chưa có ý thức trong học tập và không muốn đi học

Do đặc trưng người dân tộc Ê- đê các em chủ yếu phát âm sai ở dấu thanh,một số phụ âm đầu như p / ph ; r/d và vần như êch/ êt; eo/oe,…

Đa số các em con nhà nông nên chưa được cha mẹ quan tâm đúng mức đếnviệc học tập, chưa tạo điều kiện tốt để kèm cặp con em mình học bài, đọc bài ởnhà

Trong quá trình truyền thụ kiến thức một số học sinh hay nghỉ học, tiếp thubài chậm cộng với số học sinh lưu ban của năm học trước, số học sinh ham chơikhông học bài làm cho giáo viên lớp một vốn đã khó khăn nay lại càng khó khănhơn

b Các nguyên nhân, các yếu tố tác động

Trong những năm gần đây nhờ sự quan tâm chỉ đạo sát sao của PhòngGD&ĐT, sự quan tâm phối hợp của địa phương, sự chỉ đạo linh hoạt của Ban lãnhđạo nhà trường, sự nỗ lực của các anh chị em giáo viên và sự hợp tác của cha mẹhọc sinh đã tạo nên nguồn động lực lớn thúc đẩy việc dạy và học ngày càng đi vàokhuôn khổ, nề nếp đối với thầy và trò

Bên cạnh đó việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ở một số giáo viên cònhạn chế, bởi:

Một vài đồng chí giáo viên tuổi cao, một số giáo viên là người dân tộc thiểu

số khả năng ứng dụng công nghệ thông tin hạn chế

Trang 6

Một vài giáo viên chưa biết vận dụng các nguyên tắc dạy học môn TiếngViệt trong thực hành giảng dạy

Việc chuẩn bị bài và lập kế hoạch bài dạy chưa cụ thể, vận dụng phươngpháp dạy học chưa linh hoạt, chưa đảm bảo quy trình và đặc trưng bộ môn

Việc hướng dẫn học sinh sửa sai chưa kịp thời, chưa tỉ mỉ, chưa quan tâmđến việc học tập và sử dụng tiếng phổ thông cho các em ở tại gia đình và trongcộng đồng Việc sử dụng đồ dùng, thiết bị trong quá trình dạy của thầy và học củatrò chưa hiệu quả

Một số giáo viên chưa đầu tư về chuyên môn

Một số giáo viên chưa coi trọng việc đọc mẫu nên phát âm (đọc mẫu) chưađúng với chuẩn Một số giáo viên còn phát âm theo ngôn ngữ địa phương các vùngmiền của mình nên rất khó khăn khi rèn đọc tiếng Việt cho học sinh

Trang 7

Một số giáo viên chưa chú ý đến việc đổi mới phương pháp, hình thức tổchức dạy học làm thế nào để các đối tượng học sinh nắm được kiến thức biết đọc ,biết viết

Nguyên nhân là do giáo viên phải dạy nhiều môn, một số giáo viên tuổi caonên chưa theo kịp sự đổi mới, chưa chịu khó tìm tòi những phương pháp dạy họchữu hiệu trong giảng dạy Vì thế chưa tạo hứng thú lôi cuốn được sự tập trung chú

ý nghe giảng của học sinh Bên cạnh đó tiếng Việt lại là ngôn ngữ thứ hai của các

em học sinh dân tộc thiểu số, đây là kiến thức mới mẻ đối với các em

c Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra

Năm học 2016 – 2017, tôi được phân công dạy lớp 1A và trực tiếp giảng dạymôn Tiếng Việt Khả năng học tập của các em chưa đồng đều, có em đọc viết rấttốt nhưng vẫn có em chỉ biết đánh vần, có em chưa biết đọc Tuy nhiên với các emhọc sinh lớp Một dân tộc thiểu số thì tiếng Việt là môn học mà các em gặp rấtnhiều khó khăn Cho nên, khi dạy môn Tiếng Việt nhất là trong thời gian đầu năm,các em rất lúng túng khi sử dụng đồ dùng học tập và tham gia đọc, viết bài Thực tếcho ta thấy việc giúp học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số học tốt tiếng Việt là việc làmcần thiết Rèn phát âm tiếng Việt là nhiệm vụ rất quan trọng đối với giáo viên Tiểuhọc Do đó, vấn đề dạy rèn phát âm tiếng Việt hiện nay đang được quan tâm, chútrọng Có nhiều chuyên đề, phương pháp đặt ra nhằm nâng cao chất lượng phát âmtiếng Việt, chất lượng đọc cho sinh lớp 1 Đối với học sinh dân tộc thiểu số, tiếngViệt không phải là ngôn ngữ duy nhất để các em tiếp thu kiến thức và nhận biết thếgiới xung quanh, các em đến trường với một ngôn ngữ hoàn toàn khác ngôn ngữthường sử dụng tiếng mẹ đẻ, bởi vậy tiếng mẹ đẻ ảnh hưởng nhiều đến quá trìnhhọc tiếng Việt của trẻ Một số giáo viên chưa chú ý đến việc rèn phát âm cho họcsinh, chưa thấy được tầm quan trọng của việc đọc đúng, đọc tốt có tác dụng caotrong quá trình dạy học và chưa hiểu hết tầm quan trọng của môn học Tiếng Việttrong hệ thống giáo dục quốc dân Một số giáo viên thì đã thực hiện tuy nhiên việcthực hiện chưa đúng cách, chưa phù hợp với thực tế dẫn đến hiệu quả đạt đượcchưa cao Đa số học sinh mặc dù đã được học qua trường mầm non nhưng chưanắm được 29 chữ cái Một số em gia đình khó khăn cha mẹ đi làm xa không quantâm nhắc nhở các em học tập Một số em gia đình không hòa thuận, bố mẹ khôngchung sống với nhau nữa phải ở với ông bà nên thiếu sự giúp đỡ, an ủi khi học tập.Một số em hay nghỉ học theo cha mẹ đi làm nên tiếp thu kiến thức không liền mạnhdẫn đến không đọc, viết được Một số em do tuổi lớn, khó khăn về học khả năngtiếp thu bài hạn chế Nhận thức được sự cần thiết của việc nghe, nói, đọc, viết tiếngViệt đối với các em học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số, tôi đã tìm tòi đổi mới hình thức

tổ chức, đổi mới phương pháp dạy học với mục đích nâng cao kĩ năng đọc đúngnhằm nâng cao hiệu quả học môn tiếng Việt đối với học sinh dân tộc thiểu số

Việc học tiếng Việt với học sinh dân tộc thiểu số đặc biệt là học sinh lớp 1chủ yếu học qua các hoạt động ở trường Ở nhà, các em ít được giao tiếp bằng tiếng

Trang 8

Việt bởi lẽ vốn tiếng Việt của bố mẹ, anh, chị và những người sống xung quanh các

em còn hạn chế Chính vì vậy các em không được tiếp cận vốn tiếng Việt do ngườithân mang lại cho nên việc dạy học tiếng Việt đối với học sinh lớp 1 càng khó khănđối với các thầy, cô giáo, những người tâm huyết với nghề dạy trẻ nhất là nhữngngười đang trực tiếp tham gia giảng dạy trong vùng dân tộc thiểu số Bên cạnh đómột số gia đình còn cho con em nghỉ học đi nương đi rẫy trong dịp mùa màng Một

số em ít được cha mẹ quan tâm nhắc nhở các em đi học, còn đổ lỗi và đẩy tráchnhiệm cho giáo viên Việc đi học không đều cũng ảnh hưởng đến việc học tập củacác em Lớp học có nhiều đối tượng khác nhau, việc phân chia kiến thức trong mộttiết học còn nhiều khó khăn và hạn chế

Đặc biệt ở lớp tôi dạy với 85% là học sinh dân tộc thiểu số, hoàn cảnh giađình nhiều em gặp không ít khó khăn do đó các em đi học còn thiếu thốn nhiều thứ

cụ thể có em chưa có sách vở, có em chưa có bộ quần áo đồng phục, có em đến lớpquên bút, quên chì, quên bảng con Thậm chí có em còn không có cặp đựng sách

mà chỉ đựng sách vở bằng chiếc túi ni lông nên việc mất đồ dùng học tập xảy rathường xuyên,… Do ảnh hưởng của tiếng mẹ nên đa số các em tiếp thu bài chưatốt, khả năng ghi nhớ chậm Do đó việc dạy học tiếng Việt cho các em lại càng khóhơn

3 Nội dung và hình thức của giải pháp

a Mục tiêu của giải pháp

Việc rèn kĩ năng đọc đúng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là việclàm cấp bách nhằm giúp các em học tốt môn Tiếng Việt Thông qua đó phát triểncác kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho các em Giúp học sinh hiểu nội dung kiến thức

được học, mở rộng vốn từ, khắc sâu kiến thức, nắm chắc âm vần vừa học, biết vận

dụng vào từng trường hợp cụ thể Từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn TiếngViệt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số, biết sử dụng tiếng phổ thông vào trongcuộc sống hằng ngày, giúp các em hòa nhập với cộng đồng Đó cũng là giúp các

em có kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sống tốt trong cuộc sống hằng ngày

b Nôi dung và cách thức thực hiện giải pháp

Để giúp học sinh rèn luyện và phát triển kỹ năng đọc đúng tôi đã áp dụngnhững biện pháp sau:

Giải pháp thứ nhất Nắm bắt thực trạng của lớp

Mặc dù đã được nhận bàn giao học sinh mẫu giáo 5 tuổi ở cuối năm họctrước, xong khi được phân công chủ nhiệm lớp, tôi tiến hành tìm hiểu để biết rõ sốhọc sinh trong lớp đi học Mẫu Giáo chuyên cần và số học sinh đi học chưa chuyêncần Tìm hiểu nguyên nhân, lý do vì sao học sinh đó đi học không chuyên cần và

Trang 9

kiểm tra sự nắm bắt, nhận diện chữ cái các em đã học ở Mẫu Giáo bởi vì đối vớihọc sinh dân tộc thiểu số qua thời gian nghỉ hè các em lại quên hết những gì đãđược học trong năm học trước, kết quả điều tra như sau:

Tổng số học sinh lớp 1A : 30 học sinh

Kết quả khảo sát nhận diện chữ cái

Học sinh không biết chữ cái nào : 7 em

Biết 2 – 5 chữ cái : 3 em

Biết 6 – 10 chữ cái : 9 em

Nhận biết hết bảng chữ cái : 8 em

Nhận biết âm hai chữ cái : 3 em

Như vậy tỉ lệ học sinh nhận diện một cách chắc chắn chính xác bảng chữ cáicòn thấp dẫn đến kết quả học tập còn gặp nhiều khó khăn

Một trong những lý do dễ thấy là vì các em còn quá nhỏ, chưa có ý thức tựgiác trong học tập Vì vậy giáo viên chúng ta phải biết được đặc điểm của từng đốitượng, khả năng tiếp thu của từng em để phát huy tính tích cực ham học cho họcsinh Tổ chức tiết dạy sao cho các em luôn cảm thấy nhẹ nhàng, vui tươi và các em

sẽ thích học

Giải pháp thứ hai Nắm bắt đặc điểm cá nhân và lập kế hoạch giúp đỡ

Sự tiếp thu của các em khác nhau tuỳ thuộc vào thể trạng và khả năng tiếpthu của từng em vì vậy chúng ta cần phải nắm rõ đặc điểm tâm lí,…của các em để

có những phương pháp hình thức dạy học phù hợp Ví dụ em Nguyễn Đình Hoàngtiếp thu bài thì chậm mà bắt chước thì nhanh thích gì thì em thường hay bắt chước

và thường làm đi làm lại hành động đó nhiều lần Còn em Y En Kơ Bkrông thì tínhtình rất thất thường có lúc vui thì tham gia học, có khi cả buổi chỉ ngồi trong lớp

mà không tham gia hoạt động học cùng các bạn Còn Y Li Kô Bkrông có tiếp thuđược bài nhưng lại mau quên Việc tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý qua thực tế giaotiếp với các em, tôi luôn nắm bắt đặc điểm tâm lý của từng em để xây dựng kếhoạch cá nhân, phát triển các mặt tích cực, tạo nhiều tình huống giúp các em tự bộc

lộ khả năng nhận thức của mình một cách thích thú khi vào các tiết học

Ở lớp có 30 học sinh nhưng trình độ tiếp thu của các em rất khác nhau

Ví dụ : Y Câu Êban, Nguyễn Đình Hoàng thích thì học không thích thì thôi,

nhận thức rất chậm suốt buổi em chỉ loay hoay với quyển sách và hộp chữ nhưnglại không nhận biết được mặt chữ cái và chỉ biết lặp lại theo lời của cô Vì vậy cần

có kế hoạch dạy cho em vừa thao tác trên đồ dùng bộ đồ dùng tiếng Việt, vừa nhậnbiết được chữ cái ( âm), biết phát âm theo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng Tôiluôn phải chú ý trong quá trình dạy em, theo dõi mức độ hợp tác của em xem em

Trang 10

gặp khó khăn trong vấn đề nào hay về tâm lý thất thường của em, ghi chép mức độtiến bộ của em.

Và những học sinh khác trong lớp, tôi cũng có những kế hoạch giáo dục cánhân cụ thể cho từng em và được theo dõi liên tục từng tháng để nắm được sự pháttriển của từng em qua sổ theo dõi cá nhân, … Khi đó, tôi sẽ có những phương pháp,biện pháp phù hợp hơn

Giải pháp thứ ba Biện pháp tác động giáo dục

Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành họp cha mẹ học sinh đầu năm học, thôngqua buổi họp tôi đề nghị và yêu cầu các bậc cha mẹ học sinh trang bị đầy đủ sách

vở, đồ dùng cần thiết phục vụ cho môn học và thường xuyên nhắc nhở việc học bàiđọc bài ở nhà của con em mình, đồng thời hướng dẫn phụ huynh cơ bản về cáchđọc, cách phát âm chữ cái, cách đánh vần vần, đánh vần tiếng …để phụ huynhnắm rõ cách dạy học hỗ trợ giáo viên kèm cặp con em mình ở nhà

Tham mưu với nhà trường mua sắm đầy đủ tài liệu tham khảo, đồ dùng dạyhọc, tự làm thêm tranh ảnh mô hình, sưu tầm thêm những mô hình vật thật để tiếtdạy vui, sinh động Mượn đồ dùng học tập, sách giáo khoa cho học sinh có hoàncảnh khó khăn Đồng thời tăng cường vận dụng ứng dụng công nghệ thông tintrong dạy học, qua những hình ảnh động cũng góp phần gây hứng thú giúp các emhưng phấn trong luyện đọc

Xây dựng đôi bạn cùng tiến, em có năng khiếu giúp em còn khó khăn tronghọc tập

Phát động các phong trào thi đua có tổng kết khen thưởng bằng những vậtthật

Sắp xếp chỗ ngồi đảm bảo thuận tiện cho việc học tập của các em như em cónăng khiếu ngồi bên em còn khó khăn trong học tập để bạn có năng khiếu sẽ giúpbạn còn khó khăn trong học tập khi chỉ chữ đọc bài, giúp bạn đánh vần, đọc tiếng

và giúp bạn trong thao tác cài chữ để ghép vần, ghép tiếng

Giải pháp thứ tư Giúp học sinh nắm vững các âm, vần

Ngay từ đầu năm, sau khi phân loại học sinh, tiến hành bồi dưỡng, luyện tậpcho học sinh theo các mức năng khiếu, khó khăn Đối với các học sinh còn khókhăn trong học tập, các em chưa nhận diện được mặt chữ cái hoặc chưa nhớ đủ 29chữ cái đơn giản, tôi dành nhiều thời gian để bồi dưỡng cho đối tượng này, ôn vàdạy lại 29 chữ cái cơ bản cho các em bắt đầu học lại những nét cơ bản

* Đối với phần học các nét chữ cơ bản

Trang 11

Ngay sau những buổi học đầu tiên ổn định tổ chức nề nếp cho học sinh, tôicho các em làm quen với các nét chữ cơ bản Tôi dạy thật kỹ, thật tỉ mỉ tên gọi vàcách viết các nét chữ đó Để giúp các em dễ hiểu và dễ nhớ những nét cơ bản đó tôi

đã chia các nét chữ cơ bản đó theo tên gọi và cấu tạo gần giống nhau của các nétchữ đó thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và so sánh Dựa vào các nét chữ

cơ bản đã học mà các em phân biệt được các chữ cái, kể cả các chữ cái có hìnhdạng, cấu tạo giống nhau hoặc gần giống nhau

- Các nét chữ cơ bản quen thuộc

Dạy về các nét cơ bản, tôi đã sắp xếp, phân chia các nét cơ bản thành các

nhóm để khi đọc học sinh ít nhầm lẫn và dễ dàng nhận biết

nét móc hai đầu có thắt ở giữa

+ Nhóm nét khuyết: nét khuyết trên

nét khuyết dưới

+ Nhóm nét thắt: nét thắt

nét móc hai đầu có thắt ở giữa

Khi các em đã học thuộc tên các nét cơ bản, tôi cùng các em phân chia các

chữ cái theo nhóm các chữ cái đồng dạng để dễ dàng luyện đọc

- Các chữ viết thường

+ Nhóm 1: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c, o, ô, ơ, e, ê, x.gồm 7 chữ cái)

Trang 12

+ Nhóm 2: Những chữ cái có nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc(hoặc nét thẳng): a, â, ă, d, đ, q (gồm 6 chữ cái)

+ Nhóm 3: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, t, u, u, p, n, m(gồm 7 chữ cái)

+ Nhóm 4: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét khuyết (hoặc nét cong)phối hợp với nét móc: l, h, k, b, y, g (gồm 6 chữ cái)

+ Nhóm 5: Nhóm các chữ cái có nét móc phối hợp với nét cong: r, v, s(gồm 3 chữ cái)

Giai đoạn này tôi hướng dẫn các em phân tích từng nét chữ cơ bản trong từngchữ cái và nếu chữ cái đó có cùng một tên gọi song có nhiều chữ viết khác nhaunhư chữ a, chữ g thì tiến hành phân tích cho học sinh hiểu và hướng dẫn học sinhcách nhận dạng để các em không bị lúng túng khi gặp các chữ này

Ví dụ:

Âm: a – a ; g – g

+ Âm a (âm a in thường) gồm hai nét: nét cong kín và nét sổ thẳng;

+ Âm a (âm a viết thường) cũng gồm hai nét đó là nét cong kín và nét mócdưới

+ Âm g (âm g in thường) gồm: nét cong kín và nét móc dưới;

Trang 13

+ Âm g (âm g viết thường) cũng gồm nét cong kín và nét khuyết dưới.

Vì vậy, khi các em đã nắm các nét chữ cơ bản thật kỹ và tỉ mỉ sẽ giúp các

em phân tích được cấu tạo của các âm, từ đó các em dễ phân biệt được sự khácnhau về cấu tạo lẫn tên gọi của bốn âm quen thuộc sau: d; b; p; q

Trang 14

g – gh

* Phần học vần

Sang giai đoạn học vần, học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làmquen với các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhậnbiết các kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng

Để giúp trẻ học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen nhận diện, phântích cấu tạo của vần, nhận biết vị trí các âm trong vần

Ví dụ : Bài 72: et – êt

Việc đầu tiên tôi yêu cầu học sinh tìm trong bộ đồ dùng tiếng Việt rồi ghépvần et Sau đó cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần et: vần et gồm 2 âm, âm eđứng trước và âm t đứng sau Nếu em nào ghép chưa đúng thì ghép lại và nêu vị trí

âm trong vần: âm e đứng trước, âm t đứng sau

Việc thứ hai là đánh vần vần et, tôi gọi 1 em đánh vần rồi nêu cách đánhvần âm e đứng trước ta đọc e trước, âm t đứng sau ta đọc t sau : e – t – et

Việc thứ ba là đọc trơn vần et

Với cách dạy trên tôi đã tạo cho các em kỹ năng phân tích, nhận diện vàghép vần từ đó các em có kĩ năng đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng vàthành thạo Khi đã nắm được cấu tạo của vần thì các em sẽ vận dụng để đọc các từngữ và câu ứng dụng Lúc này tôi tiến hành đưa ra câu hỏi gợi mở giúp các emnhận biết và đọc tiếng mới cụ thể như muốn có tiếng tét, ta thêm âm và dấu thanhgì? ( ta thêm âm t và dấu thanh sắc) Dựa vào đó học sinh ghép tiếng tét rồi phântích cấu tạo và đọc đúng hơn

Để khắc sâu kiến thức giúp các em nắm một cách chắc chắn các vần thì taphải cho các em so sánh vần vừa học và vần đã học Cụ thể tôi yêu cầu các em sosánh vần et với vần ơt Qua việc so sánh học sinh nhận ra âm giống nhau là âm t ởcuối, khác nhau là âm e và âm o đứng ở đầu Rồi so sánh cả hai vần trong bài đanghọc et – êt Nhận biết được sự giống và khác nhau các em sẽ phát âm đúng hơn và

có kĩ năng so sánh đối chiếu, khắc sâu các vần trong phân môn Học vần

VD: dạy vần uôt, ươt trong bài 74 trang 150, sách giáo khoa tiếng Việt 1, tập

1 có từ chuột nhắt

Sau khi học sinh nắm vững vần uôt, nhìn và đọc được vần uôt một cách chắcchắn Tôi giới thiệu tranh chú chuột nhắt và giúp học sinh nhận biết: Âm gì đứngtrước vần uôt (âm ch) thanh gì ở dưới vần uôt(thanh nặng), vậy ta có thể ghép vàđánh vần : chờ - uôt - chuốt - nặng - chuột, đọc trơn : chuột, ghép từ chuột nhắt.Trong trường hợp này các em hay nhầm lẫn về cách đọc giữa tiếng chuột với tiếngchuốt( tiếng có dấu thanh nặng với dấu thanh sắc) Lúc này, tôi hướng dẫn cụ thể

và kĩ càng hơn về cách phát âm giữa môi và lưỡi (tiếng chuột có dấu thanh nặngnên khi phát âm luồng hơi đi ra thường nhẹ hơn với tiếng chuốt)

Ngày đăng: 14/05/2017, 10:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w