1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý Môi trường Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

89 459 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả của Đồ án “Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và đề xuất giải phá

Trang 1

và những chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn hết sức quý báu trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Th.S Tô Thúy Nga đã ân cần giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình lựa chọn, thực hiện và hoàn thành

Đồ án tốt nghiệp

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo các cơ sở y tế cũng như tập thể cán bộ, các y, bác sỹ, hộ lý, nhân viên tại các cơ sở y tế huyện Sơn Dương

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện Đồ án tốt nghiệp

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới bố mẹ và tất cả những bạn bè đã ở bên, động viên và giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn trong quá trình thực hiện Đồ án tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Phan Anh Giáp

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả của Đồ án “Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

và đề xuất giải pháp phù hợp” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả và

tài liệu tham khảo của đồ án là hoàn toàn trung thực, khách quan

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Sinh viên thực hiện

Phan Anh Giáp

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế 3

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến chất thải rắn y tế 3

1.1.2 Phân loại chất thải y tế 3

1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế 4

1.2 Cơ sở pháp lý liên quan tới chất thải rắn y tế 6

1.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế 8

1.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 8

1.3.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại tỉnh Tuyên Quang 10

1.4 Tổng quan về mạng lưới cơ sở y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 11

1.4.1 Các cơ sở y tế tuyến huyện 12

1.4.2 Các cơ sở y tế tuyến xã 14

1.5 Kết luận chung 15

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Phạm vi nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 16

2.3.1 Phương pháp thu thập, kế thừa, phân tích và tổng hợp tài liệu 16

2.3.2 Phương pháp chuyên gia 17

2.3.3 Phương pháp điều tra xã hội học 17

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19

3.1 Đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế 19

3.1.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế 19

3.1.2 Khối lượng, thành phần chất thải rắn tại các cơ sở y tế huyện Sơn Dương 21

Trang 4

3.2 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn

huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 28

3.2.1 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế tuyến huyện 28

3.2.2 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại Trạm y tế thị trấn Sơn Dương, xã Tân Trào và xã Phúc Ứng 36

3.2.3 Tổng kết chung về hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 37

3.3 Đánh giá nhận thức và ý thức thực hành quản lý chất thải rắn y tế 42

3.3.1 Cán bộ, nhân viên tại các cơ sở y tế 42

3.3.2 Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 43

3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế 44

3.4.1 Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương 44

3.4.2 Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên 44

3.4.3 Phòng khám Đa khoa khu vực Tân Trào và Trạm y tế xã Tân Trào 46

3.4.4 Trạm y tế thị trấn Sơn Dương và Trạm y tế xã Phúc Ứng 47

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 52

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thông tin các cơ sở y tế tuyến huyện trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh

Tuyên Quang 12

Bảng 1.2 Thông tin các cơ sở y tế tuyến xã trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 14

Bảng 2.1 Kết quả phiếu điều tra tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương 18

Bảng 3.1 Nguồn thải từ các hoạt động khám chữa bệnh của cơ sở y tế tuyến huyện 19

Bảng 3.2 Thành phần chất thải rắn y tế nguy hại của Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương 23

Bảng 3.3 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương và Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên 25

Bảng 3.4 Thành phần, khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương 25

Bảng 3.5 Khối lượng chất thải rắn tại các cơ sở y tế tuyến xã 27

Bảng 3.6 Công tác vận chuyển chất thải rắn y tế tại ba cơ sở y tế tuyến huyện 32

Bảng 3.7 Thông số cơ bản của lò đốt rác Chuwastar kiểu FE-15 33

Bảng 3.8 Tổng hợp công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế huyện Sơn Dương 38

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Tỷ lệ khối lượng chất thải rắn phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương 22 Hình 3.2 Tỷ lệ khối lượng chất thải rắn phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên 22 Hình 3.3 Diễn biến khối lượng chất thải rắn y tế qua các năm của Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương 24 Hình 3.4 Diễn biến khối lượng chất thải rắn y tế qua các năm của Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên 24 Hình 3.5 Thành phần chất thải rắn y tế tại 3 Trạm y tế huyện Sơn Dương 28 Hình 3.6 Sơ đồ vị trí đặt thùng rác tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên 29 Hình 3.7 Tỷ lệ phân loại và sử dụng mã màu sắc bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa 43 Hình 3.8 Đề xuất vị trí đặt thùng rác tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên 45

Trang 8

40 tấn là CTRYT nguy hại Trong thành phần CTR tại BV có chất thải nhiễm khuẩn, chất thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh, đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh từ BV tới các vùng xung quanh, dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùng BV và tỷ lệ bệnh tật của cộng đồng dân cư sống trong vùng tiếp giáp

Trên địa bàn huyện Sơn Dương có 03 cơ sở y tế tuyến huyện (tuyến 3), 33 Trạm y tế (TYT) tuyến xã (tuyến 4) các cơ sở y tế khác hàng ngày tiếp nhận nhiều bệnh nhân thăm khám, điều trị nên lượng CTYT phát sinh là tương đối lớn Mặc dù các cơ sở y tế tuyến huyện mới được đầu tư các lò đốt nhưng hầu hết đạt được kết quả không mong muốn như: Lò đốt nhiều khí thải không đạt quy chuẩn cho phép, chi phí cung cấp nhiên liệu, vận hành cao Trong khi đó nhiều TYT phải tự chôn lấp với kĩ thuật sơ sài hoặc nhân viên y tế của trạm phải tự vận chuyển chất thải rắn y tế (CTRYT) nguy hại đến cơ sở tuyến huyện để xử lý

Đứng trước tình hình trên, đề tài “Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

và đề xuất giải pháp phù hợp” được thực hiện với mục đích đánh giá hiện trạng

công tác quản lý và đề xuất các giải pháp hiệu quả cao trong quản lý CTRYT

2 Mục tiêu đề tài

Đánh giá hiện trạng quản lý CTRYT tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT tại các cơ sở y tế

3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra tình hình phát sinh CTRYT tại các cơ sở y tế trên địa bàn nghiên

cứu: Nguồn phát sinh, khối lượng và thành phần CTRYT

- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý CTRYT: Đánh giá công tác phân loại, thu gom; vận chuyển; lưu giữ; xử lý và tình hình các hồ sơ liên quan đến quản lý CTR của các cơ sở y tế;

Trang 9

+ Nhận thức và đánh giá của bác sỹ, y tá tại BV và TYT;

+ Nhận thức của bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân;

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT tại các cơ

sở y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Trang 10

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến chất thải rắn y tế

Theo Điều 3, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 Quy định về quản lý CTYT:

CTYT là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm CTYT nguy hại, CTYT thông thường và nước thải y tế [2]

CTYT nguy hại là CTYT chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm [2]

Quản lý CTYT là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện [2]

Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế [2]

Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế [2]

Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y

tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế [2]

Cơ sở y tế bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ Phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); cơ sở y tế dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học [2]

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

- Theo hệ thống phân loại của tổ chức Y tế thế giới (WHO):

+ Chất thải thông thường: Đó là các chất thải không độc hại, về bản chất tương tự như rác thải sinh hoạt (Bộ Y tế, 2009)

Trang 11

+ Dược liệu: Dư thừa, quá hạn sử dụng

- Theo hệ thống phân loại của Việt Nam: Tại Việt Nam, các chất thải BV được phân loại tuỳ theo nguồn gốc, đặc tính của từng loại Chất thải BV của Việt Nam được phân thành 4 loại:

- Phế thải sinh hoạt: Có nguồn gốc từ khu nhà bếp, khu hành chính phòng bệnh nhân, hàng quán trong BV,

- Phế thải chứa các vi trùng gây bệnh: Có nguồn gốc từ các ca phẫu thuật, từ quá trình xét nghiệm, hoạt động khám chữa bệnh

- Phế thải bị nhiễm bẩn: Các chất thải sau khi dùng cho bệnh nhân, các đồ dùng của y bác sĩ sau phẫu thuật, từ quá trình lau rửa sàn nhà, bùn cặn nạo vét từcác

hệ thống cống rãnh, từ điều trị khám chữa bệnh và vệ sinh công cộng

- Phế thải đặc biệt: Là các loại chất thải độc hại hơn các loại trên như các kim loại nặng, chất phóng xạ, hoá chất, dược phẩm quá hạn sửdụng từphòng chiếu chụp X quang, kho dược liệu và hoá chất (bộ Y tế, 2003)

1.1.3 Ảnh hư ởng của chất thải y tế

 Ảnh hưởng của CTYT đến môi trường: CTYT có thể tác động xấu tới tất

cả các khía cạnh môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí Mặt khác,

xử lý CTYT không đúng phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên

Trang 12

5

- Đối với môi trường đất: Quản lý CTYT không đúng quy trình và việc tiêu hủy CTYT tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn

- Đối với môi trường không khí: CTYT từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí Bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất phát sinh trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển, CTYT có thể phát tán vào không khí Trong khâu xử lý, đặc biệt

là với các lò đốt CTYT quy mô nhỏ, không có thiết bị xử lý khí thải có thể phát sinh

ra các chất khí độc hại như bụi, khí axit, Dioxin và Furan, kim loại nặng

- Đối với môi trường nước: Tác động của CTYT đối với các nguồn nước có thể so sánh với nước thải sinh hoạt Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa Salmonella, Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại, chất hữu cơ, kim loại nặng Do đó, nếu không được xử lý triệt

để trước khi xả thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A cho những người sử dụng các nguồn nước này

 Ảnh hưởng của CTYT đến sức khỏe con người: Ngày nay, các BV được

cho là môi trường có nguy cơ rủi ro cho sức khỏe con người CTYT có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người như: Lây bệnh qua đường máu cho nhân viên y tế, đặc biệt là sự cố thương tích do chất thải sắc nhọn Dạng phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu của nhân viên y tế trong quá trình thực hiện quản lý chất thải là bị thương do các kim tiêm lây nhiễm

- Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn: Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV

- Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm: CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh

Trang 13

6

sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B có thể xâm nhập vào

cơ thể người thông qua các hình thức: qua da: (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Việc quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong BV

- Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm: Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể Một số ví dụ về ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm như thủy ngân, chất khử trùng, dư lượng hóa chất sử dụng tại phòng xét nghiệm, dư lượng dược phẩm trong các chất thải có chứa dược phẩm

- Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào: Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu Một số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là: Chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da

1.2 Cơ sở pháp lý liên quan tới chất thải rắn y tế

Hiện nay, các vấn đề liên quan đến quản lý CTRYT đã được quy định tương đối chặt chẽ tại nhiều văn bản điển hình gồm: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, Nghị định số 179/2013/NĐ-CP, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT và các văn bản có liên quan khác của địa phương Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về bảo vệ môi trường đối với BV

và cơ sở y tế (Điều 72) yêu cầu rõ ràng: “Phân loại chất thải rắn y tế tại nguồn; thực hiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý CTRYT bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường” (Khoản b, Điều 72)

Trang 14

7

Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu: Trong Nghị định này gồm quy định Điều kiện được cấp Giấy phép xử lý chất thải nguy hại trong đó có các cơ sở y tế (Điều 9) và Quản lý chất thải từ hoạt động y tế (Điều 49)

Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ

về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: Nghị định này đưa ra mức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả đối với trường hợp: Không có đủ phương tiện, thiết bị thu gom, lưu giữ, phân loại CTR tại nguồn (Điều 12); Vi phạm các quy định về vệ sinh nơi công cộng; thu gom, vận chuyển, chôn lấp, thải rác thải sinh hoạt và CTR thông thường (Điều 20); Vận chuyển nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường; Vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường đối với chủ nguồn thải chất thải nguy hại (Điều 21)

Quyết định số 194/QĐ-UBND ngày 30/06/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt Kế hoạch quản lý CTYT tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2015 – 2020 Trong bản Kế hoạch này đã đưa ra hiện trạng quản lý CTYT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang và đề xuất Kế hoạch cải thiện phù hợp với các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại: Tại Thông tư đã quy định cụ thể về công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTYT nguy hại tại Điều 24 Thông tư này

Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường trong đó có các cơ sở y tế

Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm

2015 Quy định về quản lý CTYT: Đây có thể coi là kim chỉ Nam của các cơ sở y tế trong công tác quản lý CTYT Trong Thông tư này quy định chi tiết về việc phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, giảm thiểu, tái chế CTYT và những Quy định về chế độ báo cáo, hồ sơ quản lý và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan

Trang 15

 KẾT LUẬN: Hiện nay, các quy định về quản lý CTYT nói chung và

CTRYT nói riêng tương đối đầy đủ, giúp cho các cơ sở y tế thực hiện tốt hơn việc quản lý chất thải, đặc biệt là các CTYT nguy hại Tuy nhiên việc thực hiện nhiệm

vụ bảo vệ môi trường của ngành y tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức: Việc đầu

tư kinh phí, trang thiết bị, giải pháp về công nghệ cho các hoạt động bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu; hầu hết các cơ sở chưa có cán bộ chuyên trách

về lĩnh vực này, chưa được thường xuyên đào tạo, tập huấn công tác chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực cán bộ tại địa phương chưa đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm

vụ được giao do vậy còn gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai các hoạt động tại

cơ sở Bên cạnh đó ý thức bảo vệ môi trường của nhân viên y tế và cộng đồng vẫn còn hạn chế Đặc biệt, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT có hiệu lực kể từ ngày 01/04/2016 (thay thế Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT) với nhiều nội dung thay đổi nên Thông tư này mới được phổ biến ở các cơ sở tuyến Trung Ương hoặc tuyến tỉnh, còn các cơ sở y tế địa phương tuyến huyện, tuyến xã thì hầu hết chưa được phổ biến

1.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế

1.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định trong khu vực và quốc tế Tuy nhiên điều này cũng làm nảy sinh nhiều thách thức đối với môi trường, đặc biệt tại những khu đô thị lớn chiếm 24% dân số cả nước Năm

2010, khu vực này phát sinh khoảng 60% tổng lượng chất thải của cả nước Lượng rác thải này đang trở thành mối nguy hại lớn của xã hội (Bảng 1.1)

Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009 - 2010,

Trang 16

9

tổng lượng CTRYT trong toàn quốc khoảng 100 – 140 tấn/ngày, trong đó có 16 - 30

tấn/ngày là CTRYT nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong

đó CTRYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày CTRYT phát sinh

ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như:

Gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản

phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận

nhiều hơn với dịch vụ y tế

Năm 2010, cả nước hiện có 1.087 BV (trong đó 1.023 BV Nhà Nước, 64 BV

tư nhân) với tổng số hơn 140.000 giường bệnh Ngoài ra còn có hơn 10.000 TYT

xã, hàng chục ngàn Phòng khám tư nhân, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, sản xuất dược

phẩm, sinh phẩm y tế Ước tính mỗi ngày cả nước thải ra 500 tấn rác thải y tế Năm

2010, đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTRYT ra ngoài bán, tái chế trái phép

thành các vật dụng thường ngày Việc tái sửdụng các găng tay cao su, các vật liệu

nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người trực tiếp tham gia như các

nhân viên thu gom, những người thu mua và những người tái chế phế liệu Bộ Y tế

sẽ có hướng dẫn cho phép tái chế và tái sử dụng một số CTYT thông thường theo

quy trình kiểm soát các vật liệu nhằm hạn chế tối đa lượng chất thải phải xử lý, tiết

kiệm nguyên liệu (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)

- Xu hướng xử lý CTYT:

Ở Việt Nam, việc xử lý chất thải chủ yếu do các công ty môi trường đô thị

(URENCO) thực hiện Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ chất

thải sinh hoạt, bao gồm cả chất thải sinh hoạt gia đình, chất thải văn phòng, đồng

thời cũng là cơ quan chịu trách nhiệm xử lý cả chất thải công nghiệp và y tế trong

hầu hết các trường hợp Về mặt lý thuyết, mặc dù các cơ sở công nghiệp và y tế

phải tự chịu trách nhiệm trong việc xử lý các chất thải do chính cơ sở đó thải ra,

trong khi Chính phủ đóng vai trò là người xây dựng, thực thi và cưỡng chế các quy

định, văn bản quy phạm pháp luật liên quan Song trên thực tế, Việt Nam chưa thực

sự triển khai theo mô hình này

Qua thực tế kiểm tra, Bộ Y tế đã đưa ra 6 bất cập còn tồn tại các BV trong vấn vấn đề quản lý chất thải đó là:

Trang 17

10

+ Việc phân loại CTR còn chưa đúng quy định;

+ Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu và chưa đồng

bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn;

+ Xử lý và tiêu hủy chất thải gặp nhiều khó khăn;

+ Thiếu các cơ sở tái chế chất thải;

+ Thiếu nguồn kinh phí đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống xử lý CTR và nước thải BV;

+ Vấn đề quản lý CTYT thông thường có thể tái chế còn bất cập: Một số BV lơi lỏng công tác quản lý giám sát để nhân viên hợp đồng cung cấp rác thải y tế cho các cơ sở tái chế tư nhân chưa qua xử lý

1.3.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại tỉnh Tuyên Quang

a) Các nguồn phát sinh chất thải rắn y tế

Chất thải nguy hại phát sinh từ các cơ sở y tế bao gồm: Chất thải lây nhiễm (sắc nhọn, không sắc nhọn, lây nhiễm cao, mô bệnh phẩm); chất thải hóa học thường gặp trong y tế như dược phẩm bị hỏng hoặc quá hạn, hóa chất khử trùng, hóa chất chứa kim loại nặng và các bình chứa áp suất

Năm 2014 tổng lượng CTYT phát sinh một ngày trên toàn tỉnh Tuyên Quang

là 2.459kg/ngày, trong đó có 1.974kg/ngày là chất thải thông thường (bao gồm chât thải sinh hoạt và chất thải có thế tái chế), 410 kg/ngày là CTYT nguy hại (bao gồm chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải hóa học), cả các BV tư nhân

b) Vận chuyển chất thải rắn y tế

Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, Công ty cổ phần Dịch vụ môi trường và Quản lý đô thị Tuyên Quang chịu trách nhiệm vận chuyển chất thải thông thường Công ty có đăng ký giấy phép hành nghề, có phương tiện vận chuyển chuyên dụng, đúng quy cách

Chất thải nguy hại đang được xử lý tại BV nên chưa phát sinh hoạt động vận chuyển chất thải nguy hại

Trang 18

là các ống thủy tinh không đốt triệt để nên tạo khối lượng tro lò đốt lớn Bên cạnh đó, chi phí vận hành cho mỗi mẻ đốt rác là quá cao gây khó khăn cho ngân sách hoạt động của các BV, đặc biệt là các BV tuyến huyện nghèo

Các chất thải được phép tái chế như nhựa không lây nhiễm hay nhựa được khử trùng cho hết lây nhiễm thường được các cơ sở y tế bán cho cơ sở thu mua tái chế

- Tiêu hủy CTRYT:

Hiện tại, với các BV không có hệ thống xử lý CTR thì nơi tiếp nhận xử lý CTR là các bãi rác địa phương Đối với các BV có lò đốt, tro lò đốt được đem chôn lấp ngay tại BV hoặc được chuyển tới các bãi rác thải tập trung của địa phương để

xử lý như các loại rác thải thông thường

Hầu hết các BV trong tỉnh đều bán rác thải tái chế cho các cơ sở thu mua trong địa bàn, nhưng các cơ sở này đều chưa đảm bảo yêu cầu về tư cách pháp nhân

1.4 Tổng quan về mạng lưới cơ sở y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Huyện Sơn Dương có một Trung tâm y tế; một Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) huyện; một BVĐK khu vực và ba Phòng khám Đa khoa (PKĐK) khu vực phục vụ cho người dân tại các xã cách xa trung tâm huyện Sơn Dương; 33 TYT phân bố tại

32 xã và thị trấn Sơn Dương Các cơ sở y tế nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu

Trang 19

12

khám chữa bệnh của các đối tượng sinh sống tại địa phương với 172.828 bệnh nhân được khám và điều trị (năm 2014) Tính đến nay, chỉ BVĐK huyện Sơn Dương có công suất sử dụng giường bệnh trên 100%, các cơ sở y tế còn lại đều không vượt quá 100%

Trong công tác bảo vệ môi trường, các cơ sở y tế đã được đầu tư trang thiết

bị phục vụ cho công tác quản lý CTR như trang bị lò đốt rác thải cho các cơ sở tuyến huyện, thùng chứa rác có mã màu với số lượng tùy thuộc vào quy mô mỗi cơ

sở Tuy nhiên, nhiều cơ sở chưa được trang bị đầy đủ trang thiết bị, không có cán bộ chuyên môn mà chỉ là cán bộ kiêm nhiệm phụ trách quản lý chất thải, công tác đào tạo tập huấn cán bộ còn rất ít khiến cho việc quản lý chất thải tại các cơ sở còn kém hiệu quả, địa phương chưa có chính sách nhằm kiểm soát, thúc đẩy công tác quản lý chất thải của các cơ sở y tế.

1.4.1 Các cơ sở y tế tuyến huyện

Các cơ sở y tế tuyến huyện được nghiên cứu gồm: BVĐK Sơn Dương, BVĐK khu vực Kim Xuyên và PKĐK khu vực Tân Trào

Bảng 1.1 Thông tin các cơ sở y tế tuyến huyện trên địa bàn huyện Sơn Dương

tỉnh Tuyên Quang

Dương

BVĐK khu vực Kim Xuyên

PKĐK khu vực Tân Trào

Địa chỉ

Tổ dân phố Quyết Thắng, thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Thôn Kim Xuyên,

xã Hồng Lạc, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Thành lập

Năm 2006 (Theo Quyết định

số UBND)

74/2006/QĐ-Năm 2006 (Theo Quyết định

số UBND)

74/2006/QĐ-Năm 2009

Diện tích (m2)

TYT xã Tân Trào)

Khoa

+ Khoa dược + Khoa khám bệnh

+ Khoa dược + Khoa nội – nhi –

+ Khoa dược + Khoa ngoại

Trang 20

13

+ Khoa cấp cứa gây mê hồi sức + Khoa nội + Khoa ngoại + Khoa phụ sản + Khoa nhi + Khoa đông y + Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn

lây + Khoa ngoại – sản

– sản + Khoa nội – nhi – lây + Khoa ngoại

Sơn Dương

BVĐK khu vực Kim Xuyên

PKĐK khu vực Tân Trào

Ban lãnh đạo + 1 Giám đốc

+ 2 Phó Giám đốc

+ 1 Giám đốc + 2 Phó Giám đốc

1 trưởng PKĐK

45.228 người/năm

15.000 người/năm

(Nguồn: Các cơ sở y tế, 2016)

Qua quá trình điều tra thực địa cho thấy chỉ BVĐK Sơn Dương có Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn (thành lập tháng 12/2014) giữ nhiệm vụ giám sát, tổ chức điều hành các hoạt động quản lý chất thải và chịu trách nhiệm trực tiếp trước ban lãnh đạo BV Các đối tượng chính trong BV, Phòng khám có liên quan đến công tác quản lý CTR gồm:

+ Trưởng khoa: Chịu trách nhiệm giám sát công tác phân loại, lưu giữ tạm thời chất thải phát sinh trong khoa, đồng thời đảm bảo các nhân viên trong khoa đều

có kiến thức về quy trình phân loại, thu gom và lưu giữ CTYT

+ Trưởng phòng điều dưỡng: Phối hợp với khoa phòng chống nhiễm khuẩn (nếu có) tổ chức đào tạo, tập huấn đối với nhân viên điều dưỡng, hộ lý về quy trình

Trang 21

14

phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý CTYT

+ Hộ lý: Là đối tượng trực tiếp thu gom, lưu giữ và xử lý CTYT, đồng thời đảm bảo các thùng chứa CTRYT được đặt đúng vị trí cũng như hợp vệ sinh

1.4.2 Các cơ sở y tế tuyến xã

Các cơ sở y tế tuyến huyện được nghiên cứu gồm: TYT thị trấn Sơn Dương,

xã Tân Trào và xã Phúc Ứng

Bảng 1.2 Thông tin các cơ sở y tế tuyến xã trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Thông tin TYT thị trấn

Sơn Dương

TYT xã Phúc Ứng

TYT xã Tân Trào

Địa chỉ

Thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Thôn Đá Ngựa,

xã Phúc Ứng, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Phòng

+ Phòng khám bệnh + Phòng trực cấp cứu

+ Phòng sơ cấp cứu + Phòng dược + Phòng hành chính

+ Phòng khám bệnh, tiêm + Phòng trực cấp cứu

+ Phòng sơ cấp cứu

+ Phòng dược + Phòng hành chính

+ Phòng kho bếp + Phòng đông y – y tế học đường + Phòng đẻ

+ Phòng khám bệnh

+ Phòng bảo hiểm y tế + Phòng cấp thuốc

+ Phòng truyền thông dân số + Phòng hành chính tổng hợp

(Nguồn: Các cơ sở y tế, 2016)

Trang 22

15

Tại các TYT, do quy mô nhỏ nên đối tượng phụ trách công tác quản lý và xử

lý CTYT là cán bộ điều dưỡng hoặc y sỹ Đặc biệt, do TYT xã Tân Trào được hợp nhất với PKĐK khu vực Tân Trào nên có 1 hộ lý chịu trách nhiệm thu gom, lưu giữ

và xử lý CTYT, đồng thời đảm bảo các thùng chứa CTRYT được đặt đúng vị trí cũng như hợp vệ sinh

1.5 Kết luận chung

Hiện nay, công tác quản lý CTYT nói chung và CTRYT nói riêng là quan trọng, được quy định tại nhiều văn bản nhưng việc thực hiện còn nhiều bất cập, đặc biệt đối với các cơ sở y tế địa phương

Sơn Dương là một huyện miền núi, cùng với tiến trình phát triển của huyện, các hoạt động y tế cũng như công tác quản lý CTYT đã và đang dần được quan tâm Tuy nhiên các vấn đề trong phân loại, xử lý CTRYT còn nhiều khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng được quy định

Vì vậy, vấn đề cần giải quyết trong Đồ án này là đánh giá hiện trạng quản lý CTRYT tại các cơ sở y tế đại diện của huyện Sơn Dương, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp cho các cơ sở

Trang 23

+ Tuyến xã: TYT thị trấn Sơn Dương; TYT xã Phúc Ứng

- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian

2 tháng từ 01/04/2016 đến 01/06/2016

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập, kế thừa, phân tích và tổng hợp tài liệu

Thu thập các tài liệu liên quan, các văn bản, sách báo, tạp chí, … Từ đó sử dụng các thuật toán thống kê, tính toán, lập biểu đồ, tổng hợp và đưa ra nhận xét chung về hiện trạng môi trường, công tác quản lý CTRYT tại một số cơ sở y tế trên địa bàn nghiên cứu

- Thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập các tài liệu về hiện trạng phát sinh và công tác quản lý CTRYT trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Khi thu thập số liệu sơ cấp, cần đánh giá độ đáng tin cậy của dữ liệu thông qua việc kiểm định tính xác thực của số liệu, dữ liệu, tham khảo nhiều nguồn thông tin khách

quan Các tài liệu chính trong phương pháp này gồm: Báo cáo công tác quản lý CTYT của các cơ sở y tế; Luận văn Thạc sĩ ”Đánh giá thực trạng quản lý CTRYT của BV cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang” (Nguyễn Thị Hương Giang, 2015); Luận văn Thạc sĩ “Chuyển biến về kinh tế - xã hội huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2010)” (Nguyễn Thị Thu Trang,

Trang 24

- Phân tích, tổng hợp: Sau khi thu thập tài liệu, số liệu, tác giả tiến hành phân tích các nguồn tài liệu và nội dung thu thập được Từ đó tổng hợp tài liệu bao gồm:

Bổ sung những tài liệu thiếu sót trong nội dung đối với Đồ án; sử dụng tài liệu một cách có chọn lọc

2.3.2 Phương pháp chuyên gia

Tham vấn những chuyên gia có hiểu biết nhất định tại thời điểm nghiên cứu

để có thể tìm hiểu, đánh giá khách quan về các vấn đề nghiên cứu Tác giả đã tham khảo ý kiến của Giảng viên hướng dẫn, Cố vấn học tập, Cán bộ Phòng Tài nguyên

và Môi trường huyện Sơn Dương và Cán bộ chịu trách nhiệm trực tiếp trong công tác quản lý CTYT tại các cơ sở

2.3.3 Phương pháp điều tra xã hội học

 Phương pháp sử dụng phiếu điều tra:

Xây dựng mẫu phiếu điều tra những đối tượng nghiên cứu, tập trung những thông tin cần thiết để phục vụ nghiên cứu, tổng hợp những thông tin đó thành những câu hỏi Tác giả xây dựng 3 mẫu phiếu điều tra (thông tin chi tiết tại Phụ lục 1) đối với 03 đối tượng, thông tin thu thập phiếu điều tra như sau:

 Mẫu phiếu điều tra (1) Bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân;

 Mẫu phiếu điều tra (2): Bác sỹ, y tá trong BV;

 Mẫu phiếu điều tra (3): Cán bộ quản lý môi trường của các cơ sở y tế

Trang 25

18

Bảng 2.1 Kết quả phiếu điều tra tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương

Cơ sở

Cán bộ phụ trách quản lý chất thải tại cơ sở

Cán bộ trong

cơ sở

Bệnh nhân/

người nhà bệnh nhân

lý CTRYT

 Phương pháp phỏng vấn: Bên cạnh việc sử dụng phiếu điều tra, cần kết

hợp phỏng vấn trực tiếp các đối tượng để có nguồn thông tin cụ thể và đa dạng (nội dung các câu hỏi tại Phiếu thu thập thông tin chung của cơ sở y tế tại Phụ lục 1) Ngoài ra, tác giả đưa ra rất nhiều câu hỏi khác nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu như: Một số câu hỏi liên quan đến chuyên ngành y tế và CTRYT, từ đó giúp tác giả hiểu hơn về hoạt động tại các Khoa, Phòng hoặc những câu hỏi đối với bệnh nhân (tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp này để hoàn thiện phiếu điều tra bệnh nhân)

 Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu sẽ được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel để tính toán, lập bảng biểu, biểu đồ

Trang 26

19

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế

CTRYT có đặc điểm rất đa dạng về thành phần với nguồn phát sinh chủ yếu

từ hoạt động khám chữa bệnh và sinh hoạt tại các cơ sở y tế Để đánh giá công tác quản lý CTRYT, trước hết cần tìm hiểu và đánh giá hiện trạng phát sinh CTRYT với nội dung chính gồm: Nguồn gốc phát sinh, khối lượng và thành phần CTRYT

3.1.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế

CTR tại các cơ sở y tế tuyến huyện chủ yếu phát sinh từ các hoạt động khám chữa bệnh và hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân và cán bộ, nhân viên của cơ sở y tế

 CTR phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh: Hoạt động khám chữa

bệnh là nguồn phát sinh CTRYT, đặc biệt chủ yếu là CTRYT nguy hại Nguồn phát

sinh CTRYT tại các cơ sở tuyến huyện được thể hiện tại Bảng 3.1

Bảng 3.1 Nguồn thải từ các hoạt động khám chữa bệnh của cơ sở y tế tuyến huyện

Khoa điều trị Gạc, bông dính máu, mủ tự hoại, tổ chức hoại tử đã cắt

lọc, bơm kim tiêm, ống thuốc, thuốc thừa

Phòng mổ Bông nhiễm khuẩn, mủ, tổ chức hoại tử, các phần cắt bỏ

của cơ thể, thuốc, kim tiêm, bơm tiêm

Phòng khám Bệnh phẩm, mủ, các tổ chức hoại tử, bông băng, gạc, dụng

cụ, quần áo nhiễm khuẩn

Xét nghiệm huyết học Chai lọ hoá chất, kim tiêm đã qua sử dụng

Xét nghiệm vi sinh,

hoá sinh

Bệnh phẩm, phân, chai lọ đựng hoá chất

Khoa dược Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn hoặc

không còn sử dụng

Hành chính Giấy báo, túi, hộp nhựa, bút

(Nguồn: Điều tra thực tế và [11], 2016)

Trang 27

20

Đối với các cơ sở y tế tuyến xã, CTRYT chủ yếu phát sinh tại Phòng tiêm (bơm kim tiêm, chai, lọ, vỏ thuốc, dây nhựa truyền dịch) và các chất thải từ công tác hành chính gồm giấy, túi, bút

 CTR phát sinh từ hoạt động sinh hoạt:

- Tại các cơ sở tuyến huyện:

Các bệnh nhân đến khám bệnh, điều trị tại BV, nhất là các bệnh nhân điều trị nội trú và người nhà của họ sẽ làm phát sinh một lượng CTR sinh hoạt tương đối lớn, vì mọi hoạt động sinh hoạt của các bệnh nhân nội trú thường diễn ra tại BV Người nhà đưa bệnh nhân đến khám chữa bệnh hoặc đến thăm nom, chăm sóc bệnh nhân cũng đồng thời thải ra BV một lượng CTR sinh hoạt

Hoạt động sinh hoạt văn Phòng của Phòng hành chính, các Phòng chức năng trong các cơ sở y tế làm phát sinh một lượng CTR sinh hoạt tương tự như các văn phòng, cơ quan, công sở khác

BVĐK huyện Sơn Dương có căng tin trong khuôn viên BV nên các hoạt động ăn uống, mua bán trao đổi hàng hóa của bệnh nhân và người nhà tại các căng tin này cũng làm phát sinh một lượng lớn CTR sinh hoạt

Bên cạnh các hoạt động chuyên môn, do đặc thù công việc của ngành y tế, các BV luôn cần có người trực để đối phó với những trường hợp cấp cứu khẩn cấp,

vì thế tại các BV hàng ngày đều có y bác sỹ, cán bộ ở lại trực cơ quan Sinh hoạt của họ sẽ làm phát sinh một lượng chất thải sinh hoạt tương tự như khi ngày của họ tại đây cũng làm phát sinh một lượng CTR sinh hoạt, nhưng tải lượng phát sinh trung bình sẽ ít hơn

- Tại các TYT (tuyến xã):

CTR sinh hoạt từ công tác hành chính, sinh hoạt của cán bộ, nhân viên y tế

và bệnh nhân lưu trú trong thời gian ngắn tại TYT như: Giấy báo, túi ni lông, thức

ăn thừa, …

Ngoài ra còn có một lượng nhỏ chất thải khác như bùn, đất đá, cành, lá cây, thậm chí là các hoạt động phát sinh trong quá trình quét dọn, làm vệ sinh khuôn viên cơ sở, cắt tỉa cây xanh

Trang 28

21

3.1.2 Khối lượng, thành phần chất thải rắn tại các cơ sở y tế huyện Sơn Dương

Với mục đích tạo thuận lợi trong quá trình nghiên cứu và trình bày nội dung

về khối lượng, thành phần CTR tại các cơ sở y tế, tác giả nhóm những cơ sở có sự tương đồng về quy mô, tính chất, phân tuyến bao gồm: BVĐK huyện Sơn Dương

và BVĐK khu vực Kim Xuyên; PKĐK khu vực Tân Trào và TYT xã Tân Trào ; TYT xã Phúc ứng và TYT thị trấn Sơn Dương

a) Khối lượng, thành phần chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương và Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên

 BVĐK huyện Sơn Dương:

BVĐK huyện Sơn Dương là cơ sở có quy mô lớn nhất trong huyện nên lượng phát sinh CTR cũng lớn hơn so với các cơ sở y tế khác

Tính đến hết năm 2015, lượng CTR trung bình của BVĐK huyện Sơn Dương

là 183,52kg/ngày tương ứng với 1,15kg/giường/ngày, trong đó có 130,45kg/ngày CTR sinh hoạt (chiếm 71,08%); 6,28kg/ngày CTRYT thông thường có thể tái chế (chiếm 3,42%); 46,84kg/ngày CTRYT nguy hại (chiếm 25,5%) [3] Kết quả điều tra phỏng vấn cho thấy khối lượng CTRYT nhiều nhất tại Khoa phụ sản (rau thai, bông băng thấm máu, …) và Khoa cấp cứu gây mê hồi sức (bông nhiễm khuẩn, kim tiêm, bơm tiêm, thuốc, phần cắt bỏ của cơ thể, tổ chức hoại tử) (Hình 3.1)

 BVĐK khu vực Kim Xuyên:

Cách trung tâm huyện Sơn Dương 60km, BVĐK khu vực Kim Xuyên là BV khu vực phục vụ người dân các xã xung quanh như xã Hào Phú, Đại Phú, Hồng Lạc

và BV này có quy mô nhỏ hơn so với BVĐK huyện Sơn Dương

Với số giường thực tế là 80 giường, BVĐK khu vực Kim Xuyên có lượng CTR bình quân trong năm 2015 là 77,87kg/ngày (0,97kg/giường/ngày) và khối lượng CTR sinh hoạt, CTRYT thông thường có thể tái chế, CTRYT nguy hại phát sinh mỗi ngày lần lượt là 53,34kg; 10,64kg; 13,89kg [4] Do chỉ là BV khu vực với quy mô giường bệnh cũng như số lượt khám chữa bệnh còn chưa cao nên khối lượng CTR sinh hoạt của BVĐK khu vực Kim Xuyên nhỏ hơn BVĐK huyện Sơn Dương (105,65kg/ngày) (Hình 3.2.)

Trang 29

22

Hình 3.1 Tỷ lệ khối lượng chất thải rắn phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương

Hình 3.2 Tỷ lệ khối lượng chất thải rắn phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên

Trang 30

cơ thể, hóa chất độc hại (Bảng 3.2)

Bảng 3.2 Thành phần chất thải rắn y tế nguy hại của Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương

(kg/năm) Tỷ lệ (%)

3 Bóng đèn huỳnh quang và các loại thủy

4 Bao bì cứng bằng nhựa thải có chứa hoặc

(Nguồn: Số liệu thống kê của Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương, 2015)

 Diễn biến phát sinh CTRYT:

Trong giai đoạn năm 2013 – 2015, khối lượng CTRYT bình quân mỗi năm của BVĐK huyện Sơn Dương tăng hơn 25.410kg và tăng 5.590kg đối với BVĐK khu vực Kim Xuyên (Hình 3.3 và Hình 3.4)

Trang 31

24

Hình 3.3 Diễn biến khối lượng chất thải rắn y tế qua các năm của Bệnh viện

Đa khoa huyện Sơn Dương

Hình 3.4 Diễn biến khối lượng chất thải rắn y tế qua các năm của Bệnh viện

Đa khoa khu vực Kim Xuyên

Hiện nay khối lượng CTR của hai BV trên đều tăng so với những năm trước Theo kết quả khảo sát thực tế khối lượng các giường bệnh, BVĐK huyện Sơn Dương có khối lượng bình quân CTR mỗi ngày là 184kg (1,17kg/giường/ngày); của BVĐK khu vực Kim Xuyên là 80kg (1kg/giường/ngày) Đặc biệt, BVĐK huyện Sơn Dương có số lượng CTRYT tăng cao so với năm 2012 Nguyên nhân chính do huyện đang trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa –

CTRYT thông thường CTRYT nguy hại

CTRYT thông thường CTRYT nguy hại Đơn vị: Nghìn kg

Đơn vị: Nghìn kg

Trang 32

25

hiện đại hóa, dân số gia tăng cũng như điều kiện sống ngày càng được cải thiện nên

số lượng người thăm khám, điều trị tăng, đồng nghĩa với lượng CTR phát sinh sẽ nhiều hơn (tỷ lệ sử dụng giường bệnh của BVĐK Sơn Dương là 139% cho thấy lượng người điều trị cao gây quá tải cho BV)

Bảng 3.3 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương

và Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên

Dương

BVĐK khu vực Kim Xuyên

CTRYT thông thường

CTRYT nguy hại

(Nguồn: Số liệu điều tra thực tế, 2016)

 Về thành phần CTRYT, mặc dù có quy mô chênh lệch nhưng hai BV có

sự tương đồng về thành phần CTRYT BVĐK huyện Sơn Dương có khối lượng CTRYT lây nhiễm không sắc nhọn và nguy cơ lây nhiễm cao (chủ yếu từ Phòng xét nghiệm) , CTRYT thông thường nhiều hơn BVĐK khu vực Kim Xuyên do chênh lệch về số lượng người thăm khám, điều trị Thành phần, khối lượng CTRYT chi tiết của hai BV được thể hiện trong Bảng 3.4

Bảng 3.4 Thành phần, khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại tại Bệnh viện Đa khoa huyện

Lây nhiễm không sắc nhọn và nguy cơ lây nhiễm cao

Chất thải giải phẫu

Tổng lượng chất thải hóa học nguy hại

Tổng lượng chất thải phóng

xạ

Tổng lượng bình chứa

áp suất

CTRYT thông thường

BVĐK

huyện 66.983 3.909 13.188 0 0 0 36 bình 47.617

Trang 33

PKĐK khu vực Tân Trào có lượng CTR phát sinh bình quân 14kg/ngày (0,93kg/giường/ngày), trong đó có 10kg/ngày CTRYT thông thường và 4kg/ngày đối với CTRYT nguy hại

Theo đồng chí Viên Thị Cam – hộ lý PKĐK khu vực Tân Trào, từ năm 2010 đến nay Phòng khám có khối lượng CTR tăng theo từng năm, tuy nhiên tốc độ gia tăng lượng CTR không lớn Điều này có thể được lý giải do số lượng dân cư các xã trong khu vực còn thấp và điều kiện sống của đồng bào cũng như điều kiện hạ tầng giao thông (Phòng khám cách trung tâm huyện Sơn Dương 12km) đã được cải thiện nên nhiều bộ phận người dân trong khu vực có xu hướng khám và điều trị tại BVĐK huyện Sơn Dương

c) Khối lượng, thành phần phát sinh chất thải rắn tại các Trạm y tế huyện Sơn Dương

Các TYT là cơ sở y tế đầu tiên tiếp xúc với người dân và thường xuyên tương tác với nhân dân Ba TYT nghiên cứu gồm: TYT thị trấn Sơn Dương, xã Tân Trào và xã Phúc Ứng có những đặc điểm chung sau:

- Các TYT có quy mô về cơ sở hạ tầng và nhân lực nhỏ hơn BV và PKĐK;

Trang 34

27

- Hoạt động chủ yếu tại các TYT là tiêm chủng, khám ngoại trú hoặc điều trị tạm thời và cấp giấy giới thiệu cho đối tượng có nhu cầu chuyển lên tuyến trên Ngoài ra, TYT thị trấn Sơn Dương còn điều trị cắt cơn tạm thời các đối tượng nghiện ma túy trước khi chuyển đi nơi khác

- Số lượng nhân sự của 3 TYT không quá 7 người với vai trò, nhiệm vụ thống nhất theo quy định

Kết quả thống kê lượng CTRYT tại các cơ sở y tế tuyến xã qua quá trình điều tra, phỏng vấn trực tiếp cán bộ của cơ sở được tổng hợp tại Bảng 3.5

Bảng 3.5 Khối lượng chất thải rắn tại các cơ sở y tế tuyến xã

CTRYT nguy hại

CTRYT thông thường

CTRYT nguy hại

CTRYT thông thường

CTRYT nguy hại

1 Ngày 0,5 – 0,8 < 0,2 0,3 – 0,6 < 0,2 0,8 – 1,2 < 0,5

1 Năm 180 – 288 < 72 108 – 216 < 72 288 – 432 < 180

(Nguồn: Kết quả thống kê từ các TYT, 2016)

Tổng lượng CTRYT của TYT thị trấn Sơn Dương và xã Tân Trào ít hơn so với xã Phúc Ứng Xã Phúc Ứng cách trung tâm huyện Sơn Dương 11km với hơn 8.700 người dân sinh sống và mỗi ngày phục vụ trung bình 48 lượt thăm khám, điều trị nên lượng CTRYT phát sinh lớn nhất Có số dân là 15.287 người (gấp hơn 1,7 lần so với xã Phúc Ứng) nhưng thị trấn Sơn Dương có BVĐK huyện Sơn Dương nên số lượt thăm khám và khối lượng CTRYT phát sinh tại TYT thị trấn Sơn Dương ít hơn xã Phúc Ứng (do người dân phần lớn điều trị ở BVĐK huyện Sơn Dương) CTRYT của TYT xã Tân Trào ít nhất do xã Tân Trào chỉ có 5.017 người, đặc biệt TYT ở đây được lồng ghép với PKĐK khu vực Tân Trào nên việc thăm khám, điều trị chủ yếu diễn ra ở PKĐK khu vực này

CTRYT thông thường tại các TYT chủ yếu gồm: Vỏ thuốc, vỏ kim tiêm, giấy

Trang 35

28

vụn, túi nilon, chất thải hữu cơ CTRYT nguy hại phần lớn là bông băng, kim tiêm, chai lọ chứa thuốc, hóa chất Theo Bảng tổng hợp trên có thể thấy ba TYT đều có khối lượng CTRYT thông thường lớn hơn so với CTRYT nguy hại do hoạt động chủ yếu ở đây là hoạt động thăm khám và công tác hành chính

Hình 3.5 Thành phần chất thải rắn y tế tại ba Trạm y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương

3.2 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Đánh giá công tác quản lý CTRYT là nội dung quan trọng và đây cũng là một trong những nội dung chính của Đồ án Tác giả cũng nhóm các cơ sở cùng tuyến với nhau để nghiên cứu, trình bày hiện trạng quản lý CTRYT với nội dung gồm: Công tác phân loại và thu gom; Lưu giữ; Vận chuyển; Xử lý CTRYT

3.2.1 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế tuyến huyện

a) Công tác phân loại, thu gom chất thải rắn y tế

CTRYT tại ba cơ sở y tế được phân loại, thu gom ngay tại nguồn góp phần làm tăng hiệu quả quản lý và giảm thiểu các vấn đề tiêu cực phát sinh trong quá trình vận chuyển CTRYT

Hàng ngày, CTRYT được thu gom hai lần và hộ lý tiếp nhận rác từ nhân viên

vệ sinh môi trường vào 8 giờ 30 phút và 15 giờ (đối với BVĐK huyện Sơn Dương);

Trang 36

+ Thùng màu vàng: Chứa xi lanh, dây truyền, vỏ đựng nước cất, dung môi, lưỡi dao mổ, panh kéo gãy, mảnh thủy tinh vỡ, bông băng, gạc, găng tay, sonde (ống thông), thùng nước tiểu, kim tiêm đã được đóng nắp kim (không được đựng trong hộp chống thủng màu vàng) Thùng màu vàng có biểu tượng cảnh bảo về chất thải có chứa chất gây bệnh ở bên ngoài

+ Thùng màu xanh: Đựng rác thải sinh hoạt

+ Thùng màu trắng: Vỏ hộp, chai truyền sạch, giấy tái chế

Tại BVĐK khu vực Kim Xuyên, mỗi Khoa đều có ít nhất 1 thùng màu vàng,

1 thùng màu xanh có thể tích 5 lít Ngoài ra, do tính chất đặc trưng nên Phòng đẻ được trang bị thêm 1 thùng màu vàng 5 lít và hành lang BV được đặt 6 thùng màu xanh thể tích 20 lít Các vị trí đặt thùng rác của BV được đặt như sau:

Phòng xét

nghiệm

Phòng siêu âm

Phòng dược

Phòng cấp cứu

Phòng trực

Phòng

mổ Hội

y tế

Phòng khám 02

Phòng thu viện phí

Phòng khám 01

Hình 3.6 Sơ đồ vị trí đặt thùng rác tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên

Trang 37

30

Dựa vào sơ đồ trên có thể thấy rằng dãy nhà đầu tiên (gồm Phòng X quang; Phòng bảo hiểm y tế; Phòng khám 02; Phòng thu viện phí và Phòng khám 01) không được đặt thùng rác Điều này gây bất lợi cho người dân do đây là nơi đầu tiên tiếp xúc với người dân, tập trung đông người đến khám bệnh

BVĐK huyện Sơn Dương có 94 thùng rác lớn nhỏ khác nhau Các Phòng phẫu thuật và thủ thuật đều có 3 thùng (1 thùng màu vàng, 1 thùng màu xanh và 1 thùng màu trắng 5 lít) Trên xe tiêm luôn được bố trí 3 thùng rác màu vàng loại nhỏ

2 – 3 lít Trước mỗi Khoa và trên hành lang được trang bị 12 thùng rác màu xanh có bánh xe (20 lít và 60 lít) để thuận lợi cho công tác thu gom, vận chuyển CTRYT

Với quy mô nhỏ nhất trong ba cơ sở tuyến huyện, PKĐK khu vực Tân Trào

có duy nhất 4 thùng màu vàng 5 lít đặt tại Phòng X – Ray, cấp cứu và xét nghiệm 4 thùng màu xanh 20 lít đặt tại các Khoa Phòng và hành lang (trong đó có 2 thùng có bánh xe), tại Phòng tiêm được trang bị hộp chống thủng màu vàng và 1 thùng xanh

5 lít Mặc dù Phòng khám được xây dựng, trang bị cơ sở hạ tầng, kĩ thuật khá đầy

đủ như Phòng xét nghiệm, X-Ray, tế bào máu, … nhưng phần lớn các Phòng này không sử dụng nên lượng CTR gần như không có, nên các thùng rác chỉ được trang

bị để đặt tại những vị trí, Khoa Phòng thường xuyên sử dụng Số lượng các thùng rác về cơ bản đáp ứng được tốc độ phát sinh nhưng việc bố trí chưa được hợp lý như dãy nhà đầu tiên không được trang bị thùng rác ngoài hành lang gây bất lợi cho người dân khi đi khám

b) Lưu giữ chất thải rắn y tế

- BVĐK huyện Sơn Dương:

+ BV đã có nhà lưu giữ CTYT nguy hại với diện tích 12m2 với tường kiên cố bao quanh, có mái che, nền được xây cao nhằm hạn chế khả năng bị ngập, tránh được nước mưa chảy tràn từ bên ngoài vào

+ Hiện nay, BV chưa có nhà lưu giữ CTYT thông thường CTRYT thông thường được lưu giữ ngoài trời trên xe đẩy rác có thể tích 400 lít không được che đậy hợp vệ sinh môi trường, đặc biệt khi trời mưa sẽ làm bốc mùi và rò rỉ nước hoặc chảy tràn CTRYT thông thường tái chế của BV được lưu giữ trong nhà kho thuộc khu nhà Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn

Trang 38

31

+ Thời gian lưu giữ: 2 – 3 ngày đối với CTRYT nguy hại, CTRYT thông thường không tái chế được lưu giữ không quá 1 ngày CTRYT thông thường tái chế giao cho Đoàn thanh niên BV quản lý, lưu giữ khoảng 1 tuần hoặc đến thời điểm đủ khối lượng để bán cho đơn vị bên ngoài

- BVĐK khu vực Kim Xuyên:

+ Nhà lưu giữ CTYT nguy hại của BV có diện tích 12m2

, có mái che, nền được xây cao nhưng tường không bao quanh nên dễ có khả năng nước mưa chảy vào CTRYT thông thường được lưu giữ tại hố rác đặt bên cạnh lò đốt không được che chắn nên có khả năng gây ảnh hưởng đến nguồn nước, đất, không khí trong những ngày nắng cũng như ngày mưa

+ Thời gian lưu giữ: 2 – 3 ngày tùy vào khối lượng CTRYT phát sinh của BV

- PKĐK khu vực Tân Trào:

+ Phòng khám có nhà lưu giữ CTRYT nguy hại của BV có diện tích 12m2,

có mái che và được xây tường bao quanh cao khoảng 150cm Tại thời điểm khảo sát thực địa, nhà lưu giữ có CTRYT nguy hại (không được bọc kín trong túi) và phần lớn là CTR không cháy hết

+ CTRYT thông thường được lưu giữ tại hố rác của Phòng khám (đường kính 2m, chiều sâu 4m) đặt sát phía sau dãy nhà bếp, không được che đậy cẩn thận gây mất vệ sinh môi trường

+ Thời gian lưu giữ: 2 ngày đối với CTRYT thông thường và 1 tuần đối với CTRYT nguy hại

c) Vận chuyển chất thải rắn y tế

CTRYT được phân loại, thu gom tại chỗ ở các Phòng Khoa sau đó nhân viên

vệ sinh hoặc hộ lý vận chuyển tới nhà lưu giữ Công tác vận chuyển CTRYT tại ba

cơ sở y tế cụ thể như sau:

Trang 39

32

Bảng 3.6 Công tác vận chuyển chất thải rắn y tế tại ba cơ sở y tế tuyến huyện

Đặc điểm BVĐK huyện Sơn

Dương

BVĐK khu vực Kim Xuyên

PKĐK khu vực Tân Trào

Phương tiện vận

chuyển trong

khuôn viên BV

+ 1 xe đẩy rác (400 lít)

+ 2 thùng xanh có bánh xe

2 thùng xanh có bánh xe (20 lít)

2 thùng xanh có bánh xe (20 lít)

Nguồn nhân lực

6 nhân viên vệ sinh của Công ty TNHH Nhung Bích

Thời gian tiếp

nhận CTRYT 8 giờ 30 và 15 giờ 17 giờ 30 phút 17 giờ 30 phút

(Nguồn: Điều tra thực tế, 2016)

 Vận chuyển CTRYT ra ngoài khuôn viên BVĐK huyện Sơn Dương:

- CTRYT thông thường không tái chế, CTR sinh hoạt được nhân viên Công

ty Môi trường đô thị Tuyên Quang chi nhánh huyện Sơn Dương vận chuyển ra xe chuyên dụng vào 8 giờ và 17 giờ hàng ngày BV làm hợp đồng thu gom, vận chuyển rác với Ban quản lý công trình đô thị huyện Sơn Dương thực hiện ngày 01

tháng 04 năm 2007 với đơn giá: 300.000đ/tháng

- CTRYT thông thường tái chế do Đoàn thanh niên BV quản lý, lưu giữ khoảng 1 tuần hoặc đến thời điểm đủ khối lượng sẽ bàn giao bán cho đơn vị bên ngoài vận chuyển về nơi xử lý

Công tác vận chuyển CTRYT ra ngoài khuôn viên của BVĐK huyện Sơn Dương hiện nay vẫn chưa hoàn toàn tốt, đặc biệt trong những ngày lượng CTRYT thông thường quá tải, các túi rác chồng chất, quá trình vận chuyển ra ngoài khuôn viên dễ bị rơi vãi, rò rỉ nước rác

d) Xử lý chất thải rắn y tế

Đối với CTRYT nguy hại: Cả BVĐK huyện Sơn Dương và BVĐK khu

vực Kim Xuyên đều được đầu tư lò đốt CTRYT nguy hại không khói Chuwastar kiểu FE-15 công nghệ Nhật Bản vào năm 2009 đảm Thông tin cơ bản về phương pháp sử dụng lò đốt rác này như sau:

Trang 40

33

- Cách vận hành và công suất vận hành: Lò đốt này có hai buồng cháy

không ngăn cách cùng các thiết bị điều khiển nhiệt độ trong quá trình đốt để chất thải có thể cháy được hoàn toàn và triệt để nhất

Tại buồng đốt cấp 1 (có nhiệt độ 700 – 1000oC), CTR được làm khô và cháy bước đầu, sau đó CTR sẽ được đưa vào buồng đốt cấp 2 với nhiệt độ khoảng 1050 –

1200oC Tại đây CTR được đốt cháy toàn bộ và đảm bảo mầm bệnh bị tiêu hủy và không để chất thải độc hại thoát ra ngoài Vỏ lò đốt được làm mát bằng một lớp nước bên ngoài Lớp nước này có tác dụng hâm nóng không khí trước khi vào buồng đốt Hơi nước của lớp này còn có tác dụng lọc khói và bụi, tránh để khói thải độc hại thoát ra ngoài lò và giúp quá trình xử lý đạt hiệu suất cao, tiết kiệm nhiên liệu Thông số cơ bản của lò đốt rác được thể hiện ở Bảng 3.7

Bảng 3.7 Thông số cơ bản của lò đốt rác Chuwastar kiểu FE-15

+ Khí thải trong lò đốt trước khi thải ra môi trường được làm mát với nhiệt

độ dưới 250oC Như vậy có thể ngăn ngừa hoàn toàn khí thải dioxin và furan (C4H4O) thoát ra ngoài

+ Lò đốt có hệ thống dẫn khí cung cấp đều khắp bên trong giúp cho phạm vi đốt cháy đồng đều, hạn chế tro bụi bay ra ngoài

Ngày đăng: 14/05/2017, 10:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Tỷ lệ khối lượng chất thải rắn phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 3.1. Tỷ lệ khối lượng chất thải rắn phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương (Trang 29)
Hình 3.6. Sơ đồ vị trí đặt thùng rác tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 3.6. Sơ đồ vị trí đặt thùng rác tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên (Trang 36)
Phụ lục 4: Hình ảnh thực tế tại các cơ sở y tế - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
h ụ lục 4: Hình ảnh thực tế tại các cơ sở y tế (Trang 81)
Hình 3. Xe đẩy rác (400 lít) của bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 3. Xe đẩy rác (400 lít) của bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương (Trang 82)
Hình 4. Lò đốt rác Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên và Trạm y tế xã Phúc Ứng - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 4. Lò đốt rác Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên và Trạm y tế xã Phúc Ứng (Trang 82)
Hình 6. Sổ bàn giao chất thải y tế thông thường của Bệnh viện Đa khoa Sơn Dương - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 6. Sổ bàn giao chất thải y tế thông thường của Bệnh viện Đa khoa Sơn Dương (Trang 83)
Hình 5. Sổ bàn giao chất thải tái chế của Bệnh viện Đa khoa Sơn Dương - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 5. Sổ bàn giao chất thải tái chế của Bệnh viện Đa khoa Sơn Dương (Trang 83)
Hình 7. Sổ theo dõi rác thải và nhật ký vận hành, bảo hành, bảo trì lò đốt rác của Bệnh - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 7. Sổ theo dõi rác thải và nhật ký vận hành, bảo hành, bảo trì lò đốt rác của Bệnh (Trang 84)
Hình 8. Sổ theo dõi hoạt động máy đốt rác Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 8. Sổ theo dõi hoạt động máy đốt rác Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương (Trang 84)
Hình 9. Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 9. Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (Trang 85)
Hình 11. Khảo sát thực địa - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 11. Khảo sát thực địa (Trang 86)
Hình 12. Khảo sát ý kiến cán bộ công tác tại cơ sở y tế - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 12. Khảo sát ý kiến cán bộ công tác tại cơ sở y tế (Trang 87)
Hình 14. Khảo sát ý kiến cán bộ công tác tại cơ sở y tế - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 14. Khảo sát ý kiến cán bộ công tác tại cơ sở y tế (Trang 88)
Hình 16. Khảo sát ý kiến bệnh nhân  (Bệnh nhân: Nguyễn Thị Nga – Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên) - Quản lý Môi trường  Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 16. Khảo sát ý kiến bệnh nhân (Bệnh nhân: Nguyễn Thị Nga – Bệnh viện Đa khoa khu vực Kim Xuyên) (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w