Năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và bước lên vũ đài chính trị, gánh vác sứ mệnh lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kể từ đó cho đến nay, cách mạng nước ta đã làm nên những chiến công rạng rỡ, viết tiếp những trang sử vàng chói lọi của dân tộc và góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trang 1TÍNH ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ TỊCH
HỒ CHÍ MINH TRONG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁCH MẠNG VIỆT NAM VỚI CÁCH MẠNG THẾ GIỚI THỜI KỲ ĐẤU
TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN
MỞ ĐẦU
Năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và bước lên vũ đài chính trị, gánh vác sứ mệnh lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội Kể từ đó cho đến nay, cách mạng nước ta đã làm nên những chiến công rạng rỡ, viết tiếp những trang sử vàng chói lọi của dân tộc và góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trong hơn 80 năm qua là những năm tháng kết tinh và phát triển tất cả những gì là tinh hoa vĩ đại, đáng tự hào nhất của dân tộc Nhân dân ta từ người mất nước, không có quyền tự do, không được quyền mưu cầu hạnh phúc, trở thành người làm chủ tập thể đất nước, sáng tạo ra lịch sử của mình Nước ta từ chỗ là nước thuộc địa và nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển, bị chia cắt thành nhiều mảnh, bị xoá tên trên bản đồ thế giới, trở thành nước độc lập, tự do, thống nhất, xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các dân tộc tiên phong trên thế giới, đấu tranh cho những lý tưởng cao cả của loài người, góp phần vào sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức
Đảng ta đã chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế trên tinh thần Việt Nam muốn làm bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển Trong chặng đường đổi mới dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản đất nước chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại, xây
Trang 2dựng Đảng, xây dựng Nhà nước…Đặc biệt trên lĩnh vực đối ngoại chúng ta đã đạt được những thành quả hết sức to lớn
NỘI DUNG
1.Truyền thống ngoại giao của dân tộc Việt Nam
Việt Nam nằm ở Đông Nam Châu Á, với điều kiện thiên nhiên rất nhiều thuận lợi khí hậu nhiệt đới, nguồn nước dồi dào, đất đai màu mỡ trên dải đất thống nhất từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, từ đất liền ra hải đảo là nguồn của cải rất phong phú Thiên nhiên một mặt giành cho chúng ta nhiều
ưu đãi, mặt khác lại gây ra nhiều khó khăn hiểm nghèo Việt Nam nằm trên đầu mối giao thông quan trọng, ở vào vị trí chiến lược vùng Đông Nam châu
Á, lại gàu tài nguyên, khoáng sản nên thường xuyên bị các thế lực phản động lớn mạnh bên ngoài – từ các đế chế phương Đông thời cổ – trung đại đến các nước tư bản thực dân phương Tây và bọn phản động quốc tế thời cận - hiện đại, nhòm ngó và xâm lược
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của một dân tộc anh hùng, bền bỉ
và kiên cường chinh phục thiên nhiên, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược để sống còn và phát triển Trong hàng ngàn năm lịch sử chúng ta đã phải trải qua hàng chục cuộc kháng chiến lớn bảo vệ tổ quốc chống các đội quân xâm lược Tần, Tây Hán, Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, trước các đội quân của phong kiến phương Bắc có tiềm lực to lớn, hoạt động đối ngoại, đấu tranh ngoại giao được kết hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự, kể cả lúc cuộc chiến gặp khó khăn cũng như lúc thuận lợi - đang trên đà chiến thắng Với phương châm: “đem đại nghĩa thắng hung tàn”, thực hiện “ngoại giao công tâm”, với những đối sách khéo léo, linh hoạt, kết hợp vừa đánh vừa đàm nhằm giành thắng lợi hoàn toàn
Trước tiên, nhân dân Việt Nam luôn có ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Nền ngoại giao nhu viễn xem trọng việc
Trang 3giữ ging hoà khí, khiêm nhường với các nước lớn, hữu nghị với các nước lân bang, phấn đấu cho sự thái hoà
Yêu chuộng hoà bình là bản chất của ngoại giao Việt Nam Trong khi kiên trì lập trường nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống lại ngoại giao xâm lược của đối phương, Đại Việt kiên trì đường lối hoà bình trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng
Khi quân Tống tiến công Đại Việt bị chặn đánh quyết liệt trên phòng tuyến sông Cầu, quân lương khó khăn, binh sĩ không chịu được lạm chướng… Biết quân địch ở thế tiến thoái lưỡng nan, Lý Thường Kiệt dùng
“biện sĩ bàn hoà”, nêu ra những đề nghị hoà bình hấp dẫn đối với tường giặc Quách Quỳ, tạo điều kiện cho quân Tống rút về nước Liền đó, Vua Lý cử sứ thần sang triều cống và mở giao hiếu giữa hai nước
Hoà hiếu là tư tưởng cốt lõi của ngoại giao Đại Việt Nhà sử học Phan Huy Chú đúc kết lịch sử bang giao của đất nước đã nhấn mạnh: “Trong việc trị nước, hoà hiếu với láng giềng là việc lớn”
Cùng với các thắng lợi trên mặt trận quân sự, việc thực hiện nhất quán
tư tưởng hoà hiếu với các nước láng giềng đã góp phần quan trọng vào việc làm cho Việt Nam vượt qua được các cuộc xâm lăng thường xuyên từ phía Bắc và từ phía Nam, bảo tồn và phát triển cương vực, lãnh thổ quốc gia
Ngoại giao Việt Nam thấm nhuần tinh thần nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn Tuy là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, người Việt Nam vẫn giàu lòng nhân ái, khoan dung đối với những kẻ địch đã bị đánh bại Điều đó có cội nguồn từ lý tưởng nhân nghĩa của dân tộc, biết đứng trên nghĩa lớn khi buộc phải đương đầu với những thế lực ngoại xâm hung bạo
Đồng thời, nó cũng xuất phát với tầm nhìn sâu xa trong quan hệ bang giao với các nước láng giềng có chung biên giới, xem trọng sự hoà mục, được Trần Hưng Đạo nêu trong lời Di Chúc: “Hoà mục có công hiệu lớn cho cuộc trị an Hoà ở trong nước thì ít dụng binh; hoà ở ngoài biên thì không sợ có báo
Trang 4động”; “Hoà mục là một đạo rất hay cho việc trị nước, hành binh, không bao giờ đổi được” Trong “Binh thư yếu lược”, Hưng Đạo Vương tuy nói về việc dùng binh mà còn hàm ý về thái hoà: Bặc thánh võ trị đời, đánh ở chỗ không
có thành, công ở chỗ không có luỹ, chiến ở chỗ không có trận Nhẹ nhàng như mưa rơi ở trên không, dựng nên cuộc đời vô sự
Ngoại giao Đại Việt cũng luôn thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc Phẩm chất tiêu biểu của sứ thần là trí dũng song toàn, giữ gìn quốc thể Người đi sứ luôn thấu triệt phương châm “đi sư bốn phương, không làm nhục mệnh vua” Mạc Đĩnh Chi thời trần đi sứ sang nhà Nguyên Khi sứ thần nước Nam vào yết kiến, vua Nguyên ra vế đối: “Nhật hoả, vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ” (nghĩa là: Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vừng trăng) Ra
vế đối này, vua Nguyên tự xem mình là mặt trời, coi nước Nam như mặt trăng Ý nói nước Nam sẽ bị nhà Nguyên thôn tính Mạc Đĩnh Chi đối lại:
“Nguyệt cung, tinh đạn, hoang hôn xa mặc kim ô” (nghĩa là: Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời ) Như vậy, mặt trăng có thể thắng mặt trời
Đỗ Khắc Trung vào trại giặc thực hiện kế hoà hoãn giữa lúc thế giặc đang hăng vẫn không bị uy lực áp chế, sắc mặt tự nhiên, ứng đối bình tĩnh Nguyễn Trãi năm lần vào thành Đông Quan, giữa đại quân của địch thực hiện ngoại giao tâm công, tìm kiếm giải pháp hoà bình cho cả đôi bên, làm cho
“thành giặc các nơi, không đổ máu mà mở cửa dâng hoài” (Phú núi Chí Linh) Nguyễn Biểu đi sứ, chủ soái giặc bày cỗ đầu người để uy hiếp, vẫn ứng phó
tự tin, bị giặc tìm cách giết hại vẫn giữ tròn khí tiết…
Truyền thống đối ngoại Việt Nam, với những đặc trưng rõ nét: nền ngoại giao mang bản chất nhân văn, thấm đượm chính nghĩa của một dân tộc yêu chuộng hoà bình, với mục tiêu đối ngoại nhất quán, kiên quyết bảo vệ chủ quyền đất nước, bảo vệ tôn vinh danh dự của một quốc gia văn hiến; một nền ngoại giao khôn ngoan, linh hoạt, kết hợp hài hoà giữa tính nguyên tắc và
Trang 5sách lược mềm dẻo; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh ngoại giao, đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự Truyền thống đối ngoại Việt Nam là một cơ
sở quan trọng hình thành đường lối đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam
2 Chủ nghĩa Mác –Lênin bàn về đoàn kết quốc tế
Trong rất nhiều vấn đề mà lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin đề cập
về cách mạng vô sản có một nội dung hết sức quan trọng đó là xác định mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở mỗi nước với cách mạng vô sản thế giới
Xem xét thực tiễn trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đang trong giai đoạn tự do cạnh tranh, C.Mác đã nêu lên một khẩu hiệu nổi tiếng, có tính chất định hướng về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản các nước: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” Theo Mác, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản là cuộc đấu tranh mang tính thời đại sâu sắc; nghĩa là, một cách tất yếu, cách mạng vô sản ở từng quốc gia dân tộc phải có sự liên hệ, đoàn kết, gắn bó bởi vì cùng có một mục tiêu chung: tiêu diệt giai cấp tư sản, tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, loại trừ mọi sự sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất -nguồn gốc của mọi áp bức, bất công trong xã hội và xây dựng một xã hội mới
- xã hội Cộng sản Trong tác phẩm Gia đình thần thánh Mác đã nhận định:
“Giai cấp vô sản và sự giàu có là những mặt đối lập Là những đối lập, hai mặt đó cấu thành một chỉnh thể thống nhất nào đó Cả hai đều do thế giới tư hữu sản sinh ra Toàn bộ vấn đề là tìm hiểu xem mỗi yếu tố trong hai yếu tố
ấy chiếm một địa vị nhất định nào trong khuôn khổ đối kháng Chỉ tuyên bố
đó là hai mặt của một chính thể thống nhất thì chưa đủ Chế độ tư hữu, với tư cách là chế độ tư hữu, với tính cách là sự giàu có, bắt buộc phải duy trì sự tồn tại của bản thân nó, và do đó, duy trì cả sự tồn tại của cái đối lập với nó, giai cấp vô sản Đó là mặt khẳng định của sự đối kháng, là chế độ tư hữu tự lấy làm thoả mãn Ngược lại, giai cấp vô sản, với tư cách là giai cấp vô sản, buộc phải thủ tiêu bản thân mình, và do đó cũng thủ tiêu luôn mặt đối lập với nó,
Trang 6mặt đối lập đã chế ước nó, là mặt đối lập của sự đối kháng, là sự bất an bên trong bản thân sự đối kháng, là chế độ tư hữu bị xoá bỏ và đang tự xoá bỏ."
Nhận định trên đây là một trong những cơ sở để xác định sứ mệnh lịch
sử thế giới của giai cấp vô sản và cũng là cơ sở nền tảng xác lập mối quan hệ giữa các phong trào cách mạng vô sản ở mọi nơi trên thế giới
Trong khi đề cập đến tính thời đại, tính phổ cập của cách mạng vô sản, Mác cũng đã nhận thấy vấn đề quan hệ giữa cuộc cách mạng vô sản thế giới với cách mạng vô sản diễn ra trên địa bàn từng quốc gia dân tộc: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã."
Phát triển tư tưởng của Mác- Ănghen trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc
đã trở thành một hệ thống thế giới, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, V.I.Lênin xem xét mối quan hệ của cách mạng vô sản theo một cách nhìn mới Ở đó, Lênin không chỉ nhận thấy sự cần thiết phải đoàn kết giai cấp vô sản ở các nước tư bản với nhau, mà còn nhận thấy sự cần thiết phải đoàn kết giữa cách mạng vô sản ở các nước tư bản với cách mạng vô sản ở các nước thuộc địa - các nước đang là nạn nhân của chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Lênin cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa Cách mạng vô sản ở chính quốc không thể giành thắng lợi nếu không liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa Khẩu hiệu: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại” là sự phản ánh sinh động tư tưởng của Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước tư bản với cách mạng vô sản ở các nước thuộc địa Lênin đã thực sự “đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.” Đúng như sau này, trong bài "Lênin và các
Trang 7dân tộc thuộc địa" Nguyễn Ái Quốc cũng nhận định: "Lênin là người đầu tiên
đã hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng Lênin là người đầu tiên đã chỉ rõ rằng, nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được"1
3 Quan điểm của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.
Đoàn kết quốc tế là chiến lược nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, là cơ sở để Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xử lý các vấn đề đối ngoại trong thời kỳ đấu tranh giành và giữ chính quyền, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới Lịch sử dân tộc ta từ khi có Đảng đã chứng minh rằng: với tư cách là một chính đảng tiền phong, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn làm tròn nghĩa vụ trước dân tộc, đối với đất nước và với phong trào cách mạng thế giới, thực hiện trách nhiệm cao cả trước dân tộc và cộng đồng quốc tế Phát huy mạnh mẽ tinh độc lập tự chủ, đúng đắn, sáng tạo, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng đắn
và giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất có thể có được để đưa cách mạng Việt Nam phát triển đi lên Sự phát triển mới trong quan điểm của Đảng
ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới là những đóng góp quí báu vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin
Ở Việt Nam, từ sau Hiệp ước Patơnốt (6.1884) thực dân Pháp cơ bản đã đặt xong ách thống trị lên đất nước ta Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam, với
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr 136.
Trang 8truyền thống nghìn năm không cam chịu nô lệ, đã không buông vũ khí đầu hàng Nhiều phong trào cứu nước đã liên tiếp nổ ra dưới sự lãnh đạo của các
sĩ phu yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng dân chủ tư sản, song những cuộc đấu tranh ấy đều không giành được thắng lợi Thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho thấy sự khủng hoảng nghiêm trọng về đường lối cách mạng ở nước ta
Trước yêu cầu bức xúc của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam,
từ chủ nghĩa yêu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, qua khảo sát thực tế ở các nước trên các châu lục Âu, Phi, Mỹ và ngay
cả trên đất Pháp, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã rút ra nhận xét: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là nguồn gốc mọi sự đau khổ của công nhân, nông dân lao động ở cả "chính quốc" cũng như ở thuộc địa Nghiên cứu các cuộc cách mạng dân chủ tư sản Mỹ (1776); Pháp (1789), Nguyễn Ái Quốc nhận thấy các cuộc cách mạng này tuy nêu khẩu hiệu ''tự do'', ''bình đẳng'', nhưng không đưa lại tự do, bình đẳng thực sự cho quần chúng lao động Người viết: Tiếng là cộng hoà, dân chủ kì thực trong thì nó bóc lột công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Tuy khâm phục các cuộc cách mạng ấy, nhưng Nguyễn Ái Quốc cho rằng đó là cách mạng chưa đến nơi
Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi là một sự kiện tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và quá trình hoạt động tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc Đặc biệt, sau khi đọc ''Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương
về dân tộc và thuộc địa" của V.I Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ hơn con đường đúng đắn mà cách mạng Việt Nam sẽ trải qua đó là con đường cách mạng vô sản Người khẳng định: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”2
vì đó là con đường kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T9, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr 314.
Trang 9quốc tế trong sáng, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Quá trình đấu tranh truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức đã dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2 năm 1930 Từ đây, cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc theo con đường cách mạng
vô sản, con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại
Tiếp nhận tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin trên cơ sở nghiên cứu một cách trực tiếp với phương pháp luận khoa học và sáng tạo, Nguyễn Ái Quốc
đã sớm nhận thức đúng đắn bản chất mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc Người khẳng định: cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay muốn thành công triệt
để nhất định phải đi theo quỹ đạo và là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản Cuộc cách mạng đó phải dựa vào lực lượng của nhân dân, nòng cốt là liên minh công nông, do chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo
Từ nhận định: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt
cả hai vòi Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra.”3 Người vạch rõ sự cần thiết phải gắn cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản thế giới Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Người viết: "Đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, quyền lợi của chúng ta là thống nhất"4 Do đó, cần có sự liên minh chiến đấu giữa các lực lượng cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr 120.
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr 128.
Trang 10xã hội Theo Người cần phải: "Làm cho đội tiên phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này, chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng"5 và: "Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản"6
Tư tưởng này là sự cụ thể hoá và chứng minh cho quan điểm của Lênin
về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản của các nước thuộc địa và các dân tộc bị
áp bức để tiêu diệt chủ nghĩa tư bản
Nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam và các nước thuộc địa, Người cũng chỉ ra rằng: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không phụ thuộc một chiều vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà có thể và phải chủ động tiến lên giành thắng lợi, thậm chí có thể giành thắng lợi trước, từ đó góp phần tích cực hỗ trợ cho cách mạng ở các nước tư bản Đặt trong điều kiện lúc này trong phong trào cộng sản quốc tế vẫn còn tồn tại quan điểm xem thắng lợi của cách mạng thuộc địa phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của cách mạng vô sản chính quốc, chúng ta càng thấy rằng đây là một nhận định hết sức đúng đắn, táo bạo và sáng tạo của Hồ Chí Minh Do nhận thức được thuộc địa là một khâu yếu trong hệ thống của chủ nghĩa đế quốc, do đánh giá đúng đắn sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, Người
đã sớm cho rằng cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước
Đây là một cống hiến rất quan trọng của Nguyễn Ái Quốc vào kho tàng lý luận Mác - Lênin và đã được thắng lợi của cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn
5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr 124.
6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr 124.