Nghiên cứu sự hình thành những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về ván đề lân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng Việt Nam, chúng ta thấy rõ đó là quá rình Người tìm tòi con đường giải phóng dân tộc, đến với chủ nghĩa Mác Lênin, íioạt động ở nước ngoài với tư cách là một cán bộ có uy tín của Quốc tế Cộng sản.Dó cũng là quá trình Người tiến hành truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin về Việt Nam, đào tạo cán bộ và phấn đấu cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trang 1CHỦ TỊCH HỔ CHÍ MINH VỚI VÂN ĐỂ DÂN TỘC VÀ GIAI CẤP TRONG CÁCH
MẠNG VIỆT NAM TỪ 1930 ĐẾN 1969
Nghiên cứu sự hình thành những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về ván đề lân tộc vàvấn đề giai cấp trong cách mạng Việt Nam, chúng ta thấy rõ đó là quá rình Người tìm tòicon đường giải phóng dân tộc, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, íioạt động ở nước ngoài với
tư cách là một cán bộ có uy tín của Quốc tế Cộng sản
Dó cũng là quá trình Người tiến hành truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, đào tạocán bộ và phấn đấu cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, các văn kiên như Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đo Người khởi thảo và được Hội nghị thành lộp Đẳng (2-1930) thông qua
đánh dấu việc Người và Đảng ta xác lập những tư tưởnơ, quan điểm đường lối cho cáchmạng Viêt Nam
Thực tiễn đã chỉ ra rằng một trường phái tư tưởng phải trải qua thực tiễn kiểm nghiệm,sàng lọc mới thể hiện rõ sự đúng sai Những quan điểm, rư tưởnơ của Nguyễn Ái Quốc cũngkhông nằm ngoài quy luật khách quan ấy Hơn thế nữa, nó còn trải qua thăng trầm, đủ đểkiểm nghiệm tính khoa học cách mạng bằng những bước tiến thắng lợi của cách mạng ViệtNam
2.1. NGUYỄN ÁI QUỐC VỚI VẤN ĐÊ DÂN TỘC VÀ GIAI CẤP
TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1930-1938.
Sau khi hoàn thành việc tổ chức Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn
Ái Quốc trở lại Thái Lan rồi qua một số nước Đồng Nam Á và trở lại Trung Quốc Tại HồngCông, Người đã có một cuộc gập và trao đổi tình hình với Trần Phú trước lúc Trần Phú về
nước (khoảng tháng 4-1930) [97, 23] Chúng tôi muốn nhắc Lới sự kiện này vì đfty \ầ sự
kiện diỗn ra trước Hội
Trang 2nghị tháng 10-1930 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
-Hội nghị có sự phê phán những quan điểm cùa Người nêu trong các văn kiện của Hội nghịthành lập Đảng
Viết về tiểu sử sự nghiệp Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian sau khi Người sáng lậpĐảng Cộng sản Việt Nam đến trước khi Người trở về Tổ quốc, một số tài liệu trước đủy viết
là: "Từ nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo cách mạng trong nước" [5, 84] Chúng tôi
cho rằng như vẠy là chưa thật chính xác Có những vấn đé cần tiếp tục tìm hiểu và làm sáng
tỏ, đó là sự phô phán của Quốc tế Công
sản và Đảng Cộng sản Đông Dương đối với Nguyễn Ái Quốc trong những năm 1930-1935,
một số điểm khác biệt giữa quan điểm của "Án nghị qicyết của Trung ương toàn thể Hội nqhị nói về tình hình hiện tại ở Đông Dương và những nhiệm vụ cần kíp của Đảng" (10-1930) và
một số văn kiện khác của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm 1930-1935, với
những quan điểm mà Nguyễn Ái Quốc đã nêu trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược Vắn tắt
mà Hội nghị thành lập Đảng (2-1930) đã thông qua
2.1.1. Vài vét vê sự khác biệt trong quan điểm của Nguyễn Ải Quốc với quan điểm của Quốc tê Cộng sản và Đảng Cộng sản Đông Dương về vấn để dân tộc và giai cấp trong những năm 1930-1935.
Nguyễn Ái Quốc là một cán bộ có uy tín của Quốc tế Cộng sản và có nhiều đóng gópđối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc phương Đông Đó là điều đã được lịch sửghi nhận
Tuy nhiên, sau khi thoát khỏi nhà tù Hồng Kông và trở lại Liên Xô,
Nguyễn Ái Quốc không được tiếp tục giao nhiệm vụ theo nguyện vọng của Người Mộtviệc đáng lưu ý nữa là Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao(1935) đã bầu Nguyễn Ái Quốc là ùy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng vàđược cừ là đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản Đại hội còn cử đoàn đai biểuchính thức của Đảng dự Đại
Trang 3hội VU Quốc tế Cộng sàn gồm Lê Hổng Phong, Nguyẻn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Nọn vàNguyễn Ái Quốc [15] Nhưng vì những lý do nào dó, Nguyễn Ái Quốc chỉ được dự Đại hội với
tư cách là đại biểu dự thính
Ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc viết thư cho mòt đồng chí trong Banchấp hành Quốc tế Cộng sản bày tỏ tâm trạng và nguyện vọng được về nước hoạt động Ngườiviết:
Đồng chí thân mến Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc tôi bị bắt giữ
ở Hồng Kông Đó cũng là ngày mở đầu năm thứ tám tình trạng khòng hoạt động
của tôi Nhân dịp này, tôi viết thư gửi đồng chí dể xin đồng chí giúp đỡ tôi thay đổi tình cảnh đau buồn này.
Đồng chí hãy phân tôi đi dâu đó Hoặc giữ tôi ở lại đây Hãy giao cho tôilàm một việc gì mà theo đồng chí là có ích Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí
là đíoig để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoat dộng và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngocìi của Đảng [63, 90].
Theo biên niên hoạt động của Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian 1931- 1938 chúng
ta càng thấy rõ thêm điều này
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng
sản Việt Nam và công tác ở một số nước Đông Nam Á, Người trở lại Hồng Công (khoảngcuối tháng 5-1930) Nguyễn Ái Quốc tiếp tục theo dõi và chỉ đạo tinh hình cách mạng ViệtNam
Trong tháng 4-1931, Người hai lần gửi thư cho Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và sau đó (6-6-1931) Người bị cảnh sát Anh bắt ở Hồng Công Sau
hơn hai năm bị giam cẩm, quản thúc, Người được trả tự do và iĩà lại vào khoảng dáu 1934.
lU
Trang 4Là một cấn bộ có năng lực, vừa thoát khỏi ngục tù đế quốc, H lại què hương của Cách mạn ạ; thán« Mười nhưng lại kliỏiii?
CỈƯƠC giao nhiệm VII theo nguyện BBS của Người
Tại sao Người lại cỏ bức thư với nội dung khổQg bình thường gửi Quốc II Cộng sản và tại sao Ban chấp hành Trung ương ĐảngCộng sán Đổng Dương đã đề nghị Người là đại biểu, nhưng lại không dược chính thức tham tlự Đại hội lán thứ VII Quốc tế Cộng san?Điều đó bất nguồn từ những quan điểm "tả" khuynh "biệt phái" của Quốc tế Cộng sản đối với phong trào công nhân và trong những vấn dề
chiến lược và sách lược, quan điếm về mối quan hệ ci;\iỉ tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dủn tộc ở cấc nước thuộc địa vù
Cách mang tháng Mười Nga thành công mở ra thơi đai mới và 1’UC điên cách mạng mới, đòi hỏi phải có một tổ chức quốc tế,theo chủ nghĩa quốc te vô sản, trun" thành với chủ nghĩa Mác đảm nhận vai trò là trung tâm lãnh đạo phong trào cách mang thế giới Từyèu cáu đó, nhờ hoạt động khôn ụ, inèt mỏi của v.ĩ Lènin, Quốc tế Cộng san (Quốc tê 111) ra đời vào năm 1919
Sau khi thành lập, Quốc tế Cộng sản đã trở thành trung tam nghiên cứuìy luận, đề ra đường lôi chiến lược, sách lược và tổ chức chi đạo phong li ào CỘI)"
Quốc tế Cộng sản từ lúc thành lập (1919) đèn lúc giai Ihò (1943) dã co những đóng góp to lớn dối với phong trào cách mạng tliếgiới Quốc tế CỘI1Ị? san đã truyền bá sáu rộn»; chủ n&hĩa Mác - Lẽnin vñn ni-irM-o m ,’ñno nhfln
Trang 5các nước, đã tiến hành cuộc đấu tranh chống các trào lưu cơ hội chù nghía và các biểu hiện ấu trĩ,
tả khuynh trong phong trào cách mạng vô sản quốc tế
Quốc tế Cộng sản đã thúc đẩy, giúp đỡ việc thành lập nhiều đảng cộng sản và đảng công
nhản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam; đã Bôn sổ vích hoá nhiểu đảng xã hội dân chủ,
hướng các đảng này vào con đường cách mạng chân chính
Quốc tế Cộng sản đã dề ra những vấn đề chiến lược, sách lược và biện pháp thúc đẩy phong
trào cộng sản, phong trào còng nhân Quốc tế Cộng sản đã chú ý đến vấn đề dân tộc và thuộc địa,
đặt mối liên minh chặt chỗ giữa phong trào cách mạng vô sản chính quốc với phong trào cách
mạng ờ các nước thuộc địa và phụ thuộc, giúp đỡ phong trào cách mạng các nước này Từ Đại hội
vn (1935), Quốc tế Cộng sản đã chủ trương thành lập mặt trận nhân dân quốc tế, thống nhất rộng
rãi, góp phán to lớn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, vì tự do, cơm áo, hoà bình
Những công lao và cống hiến lịch sử của Quốc tế Cộng sản còn phải kể tới việc tổ chức này
đã đào tạo cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế một đội ngũ cán bộ khá đông đảo
Những "lò cán bộ" như: Trường Đại học Phương Đông, Trường Quốc tế Lốnin, Viện Nghiên cứu
vấn đề dân tộc và thuộc địa, v.v đã đào tạo cho các đảng cộng sản nhiểu cán bộ có năng lực, có
cống hiến xuất sắc Nhiều đồng chí đã trở thành lãnh tụ cửa các đảng cộng
sản ở nhiều nước trên thế giới.
Tuy nhiên công lao và cống hiến của Quốc tế Cộng sản sẽ to lớn hơn nhiều nếu như không có tệ
tình hình nhiệm vụ và các bước phát triển của cuộc cách mạng vô sản và cách
Bài học về sự phản bội của những ngưòi cực hữu trong Quốc dân Đảng Trung Quốc
(4-1927), đường lối, chủ trương "Quốc - Cộng hợp tác" của Đảng Ề
Cộng sản Trung Quốc (và của Quốc tế Cống sản) vái chính phủ Tốn DAt Tiẽn ạ
Trang 6thất bai đã gay một sức ép tăm lý rất lớn đối với Ban lãnh đạo Quốc tế Cộ¡11 sản Thêm vào đó, sự phát triển và ảnh hưởng của việc tuyên truyền học thuyết
bất bạo động của Găng đi và Đáng Quốc đại An Độ đã gây nòn cách nhìn và sư đánh giá phiến diên dối với vai trò của giai câp tư san dân tỏc trong cuộc cách mạng giải phóng dủn tộc ở các nước thuộc địa Cũng phải ke tới một thực tế là do Quốc tế Cộng sản không đánh giá đúng tình hình thực tiễn của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc, đề cao khẩu hiệu "giai câp chống giai cấp", giành
bá quyền'lãnh dạo lập tức cho giai cấp vô sán, thực hiện trực tiếp các nhiệm vụ của cuộc cách mạng xã hội chủ niĩhĩa, là nlìững nguyên nhân chủ yếu đặn đến những sai lầm và hạn chế tron ụ chỉ đạo cúa Quốc tế Cộng sán đối với phong trạo cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc Trong khi đòi hỏi các đáng cộng sản phải có sự chú I đôn nluinu điều kiện cụ thể, đặc thù về kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm dân tộc và tình hình phân hoá giai cấp ở các quốc gia khác nhau để để ra Iihững biện pháp thích hợp thì với phương chủm nhất thể hoá, Ouốc tế Cộng sản lại thường đòi hói các đảng cộng sán phái tuủn theo một chỉ thị, một quyẽt định chung Và đương nhiên điều không tránh khỏi là nảy sinh mủu thuẫn khó giải qưyct và dẫn tới nhím" tổn thất khá lớn.
Chính việc Cồng thức hóá trong quá trình đảm nhận vai trò tmnu ram lãnh đạo cách mạng quốc tè
đã dẫn tới những.sai lầm và hạn chế của Ouoc le Cộng sản, chi phối tới quan điểm đường lối của nhiểu đáng cộng sản và một số lãnh tụ cách mạng quốc tế Một số quan điểm chính thống cùa Đại hội VI
Quốc tế Cộng sản'có điểm khác biệt với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc đã dẳn tới quan hệ không bình thường của Quốc tế Cộng sản vói Người trong những năm 1934-1938.
Do Quốc tế Cộng sản đánh giá quá cao I nếu như không muốn nói là quá lạc quan vào cao trào cách mạng những năm 1918-1923, đnnii thời không «tánh giá hết khá nâng t:ự điểu chính cúa chủ
nghĩa tư bán lìira cuòi những nãm 20
Trang 7dẫn đến việc đẻ ra chiến lược và sách lược cách mạng không phù hợp vói diễn biến tình hình Ngay từ năm đẩu tiên khi Quốc tồ Cộng sản mới ra đời, một số nhà lãnh dạo của Quốc tế Cộng sản đã cho rằng cuộc cách mang vô sản diễn ra rất nhanh chóng bằng những bước tháng lợi từ nưóc này sang mrớc khác, rằng những điều kiện cho thắng lợi quy mô toàn thế giới đã chín muồi Đổng chí Dinôviép, Chủ tịch Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản còn cho rằng phong trào diễn ra cực nhanh chóng, khiến người ta có thể nói một cách tin tưởng rằng qua một năm, cả châu Âu
sẽ là châu Âu cộng sản [103] Đại đa số các nhà lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản đều có quan niệm
như vậy và tâm lý lạc quan.ấy đã kéo dài nhiều năm Cuối năm 1928, tại Đại hội VI Quốc tế Cộng
sản, Xtalin tiếp tục khẳng định vổ một loạt dấu hiệu nói lên việc châu Âu "bước vào thời kỳ cao trào cách mạng mới" [103].
Từ những quan niồm và nhận thức như vậy, Quốc tế Cộng sản đã chỉ đạo các đảng cộng sảnlấy nhiệm vụ đấu tranh giai cấp làm chủ đạo, chuẩn bị để giai cấp công nhàn bước vào cuộc đấu tranhthực hiện ngay cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và tăng cường cuộc đấu tranh chống các trào.lưu
dân chủ - xã hội Cũng chính từ những quan điểm "tả" khuynh này nên bất kỳ những ý kiến nhận định nào khác đều được coi là hữu khuynh.
Trong khi nhấc nhở các đảng cộng sản ở các nước thuộc địa "phải tùy theo từncr trường hợp cụ thể mà nghiên cứu cẩn thận ảnh hưởng đặc biệt của yếu tố dủn tộc là yếu Lố quyết định phán
lớn tính chất độc đáo của cách mạng, phải hết sức chú ý tới điểm ấy trong sách lược của các đảng cộng
sản" [101, 62] thì Quốc tế Cộng sản lại cường điệu mặt hạn chế, tính tiêu cực của các giai tần ơ không phải vô sản, nhất là đối với tư sản dân tộc Phân tích thành phẩn các lực lượng cách mạng
ở các nước thuộc địa, Đại hội VI Quốc tế Cộng sản cho rằng ở các nước đó giai cấp tư sản dân tộc
không có ý nghĩa là một lưc lươn»; dấu tranh chống chu nghìn đế quốc, nhưng lập trường dối 1 á 1 3
mang
Trang 8tính chất cải lương tư sán lại có ý nglna thực tế 1 hơn nua lại có ý nghía liêu cực.
Lạc quan vói tình hình phát triển ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, Đại hội VI Quốc tếCộng sản dưa ra chủ trương: ợ các nước thuộc địa, nửa thuộc địa phải "tiến hành đồng thời hainhiệm vụ phản đế và phản phong", phải chuẩn bị việc thành lập chính quyền cồng nông theo mỏhình Xô viết, triệt để giải quyết chính sách ruộng đất Trong khi nhấn mạnh vai trò chủ lực cáchmạng là công nòng, Quốc tế Cộng sản (Đại hội VI) nêu ra chủ trương không sát hợp với sự phânhoá giai cấp mang tính đặc thừ ở từng nước, không thấy hết khả năng lực lượng của các giai cấp,tầng lớp không vô sản Đối với tư sản dân tộc, phú nông, Quốc tế Cộng sản quán triệt "không baogiờ được liên minh với họ"; đối với tiểu tư sản, Quốc tế Cộng sản cho rằng "không nên cườngđiệu khuynh hướng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản thành thị, lại càng khòng nên xem nhữngphán tử ít cách mạng nhất - tầng lớp tiểu thương như là động lực cách mạng" [49, 145-146], Cóthể nói Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (1928) là đại hội phong phú những giá trị lý luận về chínhsách phương- Đỏng, nhưng cũng chứa đựng những sai lầm "tà" khuynh biệt phái tai hại, ruột đạihội chi phối tới cách mạng của nhiều dân tộc phương Đông [54]
Từ đầu những năm 20, được V.I Lènin trực tiếp lãnh đạo, Quốc tế Cộng sản đã có những
điều chỉnh quan điểm về phong trào cách mạng' ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, nhất là
Đại hội II và một số Hội nghị Ban chấp hành Nhưng từ sau Đại hội IV, đặc biệt là Đại hội Vĩ,Quốc tế Cộng sản đã có những quan điểm và tư tưởng chí đạo "tả” khuynh đối với phong tràocách mạng ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, có những biểu hiện coi nhẹ lợi ích và nguyệnvọng của một số tầng lớp Bằng chứng này biểu hiện ở chỗ Đại hội VI Quốc tế Cộng sán đánhgiá khỏng hết những truyền thống dàn chủ và ảnh hưởng của các đảng đản chủ - xã hội trong
quẩn chúng côn« nhân, coi các rUr>cr nn V ln "chỗ dim r.hính im rhn nahĩn nnÀ'^ t -1
Trang 9nhân" Những người cánh "lả“ của các dàng này thì được coi là phái nguy hiểm nhất Những nhân định như vậy thể hiện sự gido điều hoá những quan điểm của V.I Lẻnin
trong Sơ thảo lié cưtĩìỉg cúi vấn để dân tộc vá tĩutộc lỉìa.
Tự phé bình và ihừa nhận tính “tả" khuynh biệt phái của Đại hội V! Quốc lẽ Còng sản Tại Đai hội VII cùa Quốc tế Cộng sàn (1935) trước nhu cầu cùa víẽc thành lập Mặt irận nhủn cậỊỊn thô giới thống nhất, rộng rãi, chống chù nghĩa phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ hoà bình, Quốc tế Cộng sàn đẫ bước đẩu có những nhận định lại và sửa chữa sai lầm "tả" khuynh của Đại hội VI Tại Đại hôi XX Đàng Cộng sân Liên Xò
(1956), đổng chí Cuuxinhen
-nguyủn Uy vĩồn Đoàn Chú tịch Quốc tè Cộng sàn, người soạn thảo Dề cương phong trào cách ttụiỉig ở cúc nước thuộc ảia vù nửa thuộc địa, CÒ11 nói:
Các nhà sử học và những người làm công tác tuyên truyền chúng ta
có lý do để nghiẻn cứu mộc cách có phê phán và sửa chừa lại một số văn kiện nào dó của chúng ta, chẳng hạn như bàn Đề cương nổi tiếng vè vấn đề
thuộc địa của Đại hội lẩu thứ VI cùa Quốc tế Cộng sản Cụ thể ỉà tổi muốn nói
vẻ sự nhận định và đánh giá của bán dể cương đó đối với vai trò của giai cấp tư sản dan tộc ờ cảc nước thuộc địa và nửa thuộc địa [101, 4Ị.
Tuy nhién, CIIỎÍ những năm 30, sự điểu chỉnh không còn lác đụriiỉ khi Đảng Cộng sản (B) Liên Xô tiến hành cuộc thanh trừng nội bộ rộne lớn, đã động chạm tới nhiều nhà ỉãnh đạo các dang cộng sản nước ngoài đang làm vièc troim các cơ quan cìia Quốc tê Cộng sản.
Chế độ tập trung hoá một cách tliáí quá vào vai trồ của nhũng người lãnh đạo Quốc
tế Cộns sản trong những năm 30 đã chuyển quan hộ giữa Đảng Cộng sản Liên Xô với các đảng chi bộ cùa Quốc tế Cộng sản thầnh quan hệ lãnh đạo và bị lãnh đạo Khôn«
lì trương hợp một cán bộ được Quốc tế Cộng sàn ủy nhiệm về cac chi bộ» ihì coi nhưmặc nhiên, họ được ban một quyen lực
Trang 10viên thanh tra đứng trồn các chi bộ cùa Quốc tế Cộng sản Vi không thực sự am hiểu tình hình thực tế
ở các nước, các khu vực mà họ đến, trong nhiều trường hợp, họ không lắng nghe ý kiến, không nghiêncưu kỹ các quan điểm chiến lược, sách lược của các nhà lãnh đạo các đảng ở các nước dó, dẫn đèn việcchỉ đạo dập khuôn, giáo diều trong việc thực hiện chỉ thị nghị quyết của Quốc tế Cộng sán và do đó, sự
tổn thất của phong trào cách mạng chung là khó tránh khỏi.
Một thực tế lịch sử đã điển ra là phong trào cách mạng Đôns Dương được chính V.I Lênin quan tâm từ nhiều năm trước khi Quốc tế Cộng sản ra đời Trong khoáng từ nám 1908 đến năm
L916, V.I Lènin dã ba lẩu đế cập đến tình hình Đông Dương và cái tên "An Nam" xuất hiên trongTuyen ngôn
của Quốc tế Cộng sản ngay từ khi mới thành lập rất có thế do ý định của Người Nhờ các hoat đôngcủa Nsuyễn Ái Ọuốc những năm 1923-1924, với bản tham luân của đồng chí Nguyễn Văn Tạo tại Đạihội VI Quốc tế Cộno sản, cùng sự chuyển biến tình hình cách mạng Việt Nam khi Đàng Cộrìí’; sản
Việt Nam được thành lập Chiếc cầu nối Quốc tế Cộng sản - Đỏng Dương đã hình thành [46].
Từ tháng 10-1929, Ban Phương Đỏng trực thuộc Ban chấp hành Quốc tê Cộng sản đã có mộtcuộc họp để nghiên cứu về tình hình Đông Dương với sự tham gia của các cán bộ có tên tuổi như p
Míp, B Vaxiliêva, v.v và đã gửi tới Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản một Dự thào nghị quyết "Về vấn de thành lập Đản% Cộng sẩn Đông Dươỉtg" Dự thảo được Quốc tế Cộng sán thông qua tháng
11-1929 và gửi cho các nhóm cộng sản ở Việt Nam [45] Bán
Nghị quyết viết:
Nhiệm vụ quan trọng hơn hết và tuyệt đối cần kíp của tất cả những người cộngsản Đông Dương là sáng lập một đáng cách mạng của giai cấp vỏ sản, nghĩa là mộtđảng cộng sản quần chúng Đảng
i ấy phải là một đảng độc nhất và ở Đông Dương chỉ Đảng ấy là tổ
Trang 11tháng 5-1930 Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản đã có thư gửi Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản ViệtNam lưu ý một số vấn để về nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương và chỉ thị "Đảng Cộng sản trẻtuổi ở Đông Dương không chỉ là của Việt Nam, mà cần đổi tên để thu hút cầc phần tử cộng sảncủa tất cả các xứ thuộc Đông Dương" [45] Có thể nói đay là ý kiến chỉ dạo có tính chủ quan, ápđặt, bởi khi đó ở Lào và Campuchia chưa hề cổ một tổ chức cộng sản nào hoạt động độc lập như ởViệt Nam [72] Thời gian ngắn sau đó, ý kiến chí đạo của Quốc tế Cộng sản trong nhận định tìnhhình phân hoá giai cấp, thái độ chính trị của các giai tầng trong xã hội Việt Nam còn thể hiên sựphiến diện, không sát với thực tiễn.
Đối với tư sản dân tộc Đông Dương, Quốc tế Cộng sản nhận định:
Giai cấp tư sản bán xứ nói chung yếu ớt, là giai cấp gắn liền với chiếm hữumộng đất và giai cấp địa chủ; mặt khác, nó chịu ảnh hưởng của giai cấp tư sản TrungQuốc và lập trường phán cách mạng của chúng Một bộ phận giai cấp tư sân hiện đãhợp tác với chủ nghĩa đế quốc Pháp Một bộ phận khác đang tìm cách thoả hiệp với
nó Điểu chắc chắn là toàn bộ giai củp tư sản không thể vươt khỏi gianh giới của chủ nghĩa quốc gia cải lương, và theo đà phát 'triển của cách mạng ruộng đất, nhất định nó sỗ nháy sang hàng ngũ phe phản cách mang Song ie điều đó không gat bỏ khả năng một
vài táng lớp nào đó của giai cấp tư sản dang muôn đứng ra lãah đao phong trào giải phóng dân tộc Nhưng họ làm như thủ II để phá hoai phong trào, phàn bội cách mang Chính phải can cứ vào nhản tỏ đó để quyết định lập trương của chúng ta đối với giai cấp tư sản [49,68].
Với giai cấp địa chú, không phân biệt, Quốc tế Cộng sản nhận định là họ đã cấu kết chặt chẽ
VỚI chú nghía dế quốc Pháp, không những vé kinh te mà còn lièn minh cả về chính trị Vì vậy: "Sứcmạnh chủ yếu và mũi dùi chú yếu của cách mang phải nhằm vào bọn đế quốc, bọn địa chủ và bè íũcỊtian lại phong kiến phải tịch thu không bổi thường ruộng đất của địa chủ" [49, 143]
Với táng lớp phú nôns;, nhất là ở Nam kỳ, Quốc tế Cộng sán yêu câu phải "khai thác đáu óc
chống đối" chả nghĩa thực dân Pháp ở họ, nhưng "không bao giờ được lièn minh với ho" [49, 144].
Từ những nhận định, đánh siá trên đây, Quốc tế Cộng sản đã chỉ thị: nhiệm vụ của những người
Trang 12cộng s.íii E)òng Dương là "chỉ có đổng thời đấu tranh giành ruộng đất và giải phóng Vlổn tộc mới có
thể làm cho đông đáo quán chúng trở nên cấp tiến, dẩv manh 1 chí chiến đấu của họ và đưa họ đènthắng lợi" [49, 141] về tính chất của cách mạng Đòng Dưcms, chí thị khảng định: "Cách mạng ĐỏngDương phái là và sẽ là một cuộc cách mạng ruộng đất và phản đế và chính giai cấp công nhản, giai cấpnòng dân mới là những động lực chứ yếu" [49, 141]
Từ sự phân tích những quan điểm trèn đày của Quốc tế Cộnơ sản, đối
chiếu với những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc nỏu trong các văn kiện của Hội nghị thành-lập Đảng,chúng ta thấy rõ ràng là có sự khác biệt
Vận đụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác I Lênin và Nghị quyết ciia Quốc tế
Công sản (Đai hội VI), khi dự thảo các ván kiên Cỉiánỉi cương vắn tắt và Súcỉi ỉ lử/c vải ì tắt, Nguyễn
Ai Qúốc đã xác dinh rất rõ: cách mạng Việt Nam có hai nhiẽm vụ chống đế quốc và chống bọn phongkièn tay sai; hai nhiệm vụ này có quan hệ rất khăng khít, nhưng nhiêm vu "đánh liổ HI quốc chủnghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn
Trang 13Jôc lập" [63, 1] phải dược coi là ưu tiên số một, là nhiệm vụ hàng đẩu và mũi nhọn của cuộc đấu tranh phải tập trung vào bọn đế quốc và phong kiến tay sai Điổu dậc biẻt là trong quan điểm của Người đã nhấn mạnh nền độc lập dàn tộc phái là nền độc lập dán tộc của nước Việt Nam Tên Đảng mà Người
đề nghị và Hội nghị tán thành là Dcỉììg Cộ/1 § sản Viỏt Nam s
Để đoàn kết, tập hợp rộng rãi tất cả các giai táng yêu nước, bao gổm cả giai cấp tư sản dàn tộc,
cả trung, tiểu địa chủ, phú nông, cả tẩng lớp tiểu tư sản trên cơ sở lấy còng nòng làm chú lực, làm nền
tảng, do đảng cùa giai cấp công
nhân lãnh đạo, Nguyễn Ái Quốc và Hội nghị thành lập Đảng nêu chủ rrương chỉ đánh đổ "bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng"; trong khi thực hiện đoàn kết, tranh thủ các giai tầng khác, Đàng
"khồng khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nỏng mà đi vào đường thoả hiệp" [63, 5].
Với tư sản dân tộc Người xác định: họ "không có thế lực gì, ta khòng nên nổi cho họ đi về phe
đế quốc dược" [63, l].
Với giai cấp địa chủ, Người xác định: "Chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn vể phe đế quốc chủ nghĩa" và chỉ nèu chủ trương "làm thổ địa cách mạng đánh đổ bọn đại địa chủ", "dối với bọn phú nông, trung tiếu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mật; phán cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập" [63, 3],
Với các tầng lứị) tiểu tư sản, Người chủ trương: "Đảng phải hết sức lièn lạc với tiểu tư sán, trí thức, (rung nông để kéo họ đi vẻ phe vô sản giai cấp" [63, 3 j.
Cố thể nói, những quan điểm tren đủy của Nguyễn Ái Quốc và Hội nghị thành lập Đảng là rất đúng đắn và phù hợp với tình hình xã hội và phàn hoá giai cấp ở Việt Nam trong thời đicm đó, nhằm
XÃ y dựng mặt trận đùn tộc thống nhất rộng rãi và báo đám quyển lãnh đạo của đảng của giai cấp công nhân.
Tuy nhiên sau Hội nghị thành lập Đáng Cộng sản Viêt Nam, Quốc ỉè thẩn quan điểm Nghị quyết Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản; ỉà "dân tộc chủ nơtíĩa”, phạm hữu khuynh Nếu đặt trong hoàn cảnh Quốc tế Cộng sản khi đó với quan hệ thiếu binh đằng giữa các đảng cộng sản trong Quốc tế Cộng sản, với thái độ xử lý những bất dồng quan điểm theo hình thức đối kháng, áp đặt và đôi khi thô bạo của XtaUn,
có những lãnh tụ cộng sản đã bị xử lý như thù dịch, có đảng cộng sản bị giải tán (Đảng Cộng sản Ba Lan bị Quốc tê Cọng sản giải tán năm 1938), chúng ta có thể thấy khá rõ nguyên nhân cua tình
cảnh và tủm trạng của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 1934-1938 mà Người đã mô tả trong bức thư ngày 6-6-1938 như chúng tôi đã nếu trên.
Trang 14Nhộn chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, khoảng tháng 3, tháng 4-1930, đổng chí Trắn Phíi - đại biểu của những người cộng sản Đông Dươns vừa dự Đại hội VI Quốc tế Cộng sản và tốt nghiệp Đại học Phương Đông 1 khẩn trương về nước tham gia Ban chấp hành Trung ương Đảng Trước khi rời Mátxcơva, Vaxilôva, Trưởng phòng Đông Dương đã trao đổi với đọng chí Tran Phú về tài liệu của Đại hội I Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tuyên ngôn của Đông Dương cộng sản Đảng vừa thành lập (6-1929) với bút tích ghi đậm nhím ạ chỉ dẫn của Quốc tế Cộng sản [47] Từ sự hướng dẫn
ấy, đổng chí Trần Phú đã dự thảo Luận cương chinh trị của Đáng Công sản Đông Dươỉig theo quan điểm
Đại hội VI Quốc tế Cộng sán và triệu tập Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Hội nghị được tiến hành tháng 10-1930 tại Hương Cáng do đồng chí Trần Phú chủ trì và đã thông qua
"Luận cương chính trị ỉ930" và "Án nghị quyết của Trụng ương toàn thê hội nghị nói về tình Ìiừìỉi Ị liên tai ở Đôìỉiị Dương VCỈ lììiiẻni vu cấn kíp củú Đảng" Một sô quan điếm nêu trong các văn kiên trên đây không
chỉ có những điêm khác biêt mà còn phe phán những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc trong "Chánh
cương vắn tắt" và "Sách lươc vắn tắt" là "pỉiani sai lầm về chính trị”, là him khuynh Chúní2 tôi xin được
dẫn một số nội dung phê phán sau đây:
I 1- về thổ (lịa: Không rõ ràng và có chỗ không đúng, như chia
địà chủ làm đại trung và tiểu địa chủ; đối với đại địa chủ thì tịch ký ruộng đất và đối với trung, tiểu địa chủ thì chủ trương: "lợi dụng, ít ra cũng làm cho họ trung lập" Như thế là sai lẩm nguy hiểm Địa chủ là một giai cấp không dựa vào cày cấy, khỏrig sanh hoạt như
dân cày, nhưng chỉ dùng ruộng đất để lấy địa tô, tức là áp bức và bóc lôt dí\n cày Dầu củ
bọn có môt vài trăm mẫu, có bọn 5, 7 ngùn mấu mặc Ỉòỉig, chúng nó đều thuộc vỏ giai cấp địa chả, tức cữu địch của nông dân, mà dã thệ' thì phải đánh dỏ và thâu hếệ ruộng đất của chúng
nó Thường thường các đổng chí vì không hiểu ý nghĩa chữ "địa chủ" mà sai lầm trong
còng tác với dủn cày.
2- Vấn đề tư bổn: Trong Sách lược nói phải lợi dụng tư bổn mà chưa rõ mặt phản cách mạng, vẫn biết có bọn ấy, song chúỉig nó không dể một phe với mình dược; bọn ấy tốt
nhất chỉ đứng về phía quốc gia cải lương, mà đã là quốc gia cải lương thì Đảng phải hết sức
phá ảnh hưởng của chúng nó trong quần chúng Nói rằng, ít ra cũng phải làm cho chúng
Trang 15trung lập, tức là như biểu Đảng đừng chủ trương công nhân tranh đấu với tư bản bản xứ.
Đảng không thể chủ trương như thế.
Những điều sai lẩm về sách lược đó tổ ra rằng chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu, cũng là một sư nguy hiểm [19,84-85]
Nghị quyết cũng phê phán "sai lầm vê Điều lệ và tên Đảng'\ "gọiViệt Nam Cộng sản Đảng" thì không gồm được Cao Miên và Lào, mà đểvô sản
giai cấp hai xứ ấy ra ngoài phạm vi Đảng là khồng đúng " [19, 86]
Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 đã đi đến quyết nghị:
a) Thít tiêu Chánh cương, Sách lược và Điều lệ cũ, lấy kinh nghiệm trong thời kỳ
vừa qua mà thực hiện công việc cho đúng như Án nghị quvết và thư, chỉ thị cửa Quốc tế Cộng sản.
b) Bỏ tên "Viêt Nam Cộng sản Đảng" mà lííy tên "Đông Dương
c) Đem Án nghị quyết của Quốc tế, chánh sách và kế hoạch của Đảng mà thảo luận
cho khắp trong Đảng, lấy đó làm căn bản mà chỉnh đốn nội bộ, làm CỈIO Đảng Bôn sê VÍCỈI hoá [19, 87].
Về các luận điểm của Hội nghị tháng 10-1930, đồng chí Phạm Văn Đổng, nguyên Cố vân Banchấp hành Trụng ương Đảng Cộng sản Việt Nam 'đã nhộn định: ” vé cơ bản chừng nào trái với quanđiểm của Hổ Chí Minh về đường lối cách mạng Ti ước ta được xác định ở Hội nghị họp nhất Đảng và HổChí Minh sẽ có cơ hội đánh giá lại trong các thời gian sau" [29, 57]
Cho tới nay, với những tài liệu hiện có, chííng ta được biết thêm sự phê phán những quan điểm củaNguyễn Ái Quốc còn tiếp tục trong những năm sau đó
Năm 1933 đồng chí Hà Huy Tập, người đã tốt nghiệp Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộngsản, với cương vị là một trong những na;ười lãnh đạo chủ chốt của Đảng Cộng sản Đông Dương (lấy bút
đanh Hổng Thế Kồng) đã biên soan "Lược khảo lịch sử phóng trào cộng sản Đông Dươỉìg" Tuy vãn ghi
nhận công lao, cống hiến của Nguyễn Ái Quốc, song tài liệu này cũng phê phán những quan điểm của
Người và Hội nghị hợp nhất
Thống nhất quan điểm với Quốc tê Cộng sản và Hội nghị Trung irơns tháng 10-1930, Hổng ThếKông viết: "Hội nghị toàn thể lần thứ nhất là một bước tiến đầu tiên tới chỗ bôn sê vích hoá toàn Đảng,
Trang 16tới chỗ thống nhất tư tưởng chiến lược cộng sản ở Đông Dương Chính Hội nghị toàn thể đã thực hiên lần
đáu tiên những nghi quyết chính tri của Quốc tế Côn" sản về Đôn<r
Dương" [49, 254] Hổng Thế Kông còn cho biết: "Khi tổng kết công tác của Hội nghị toàn thể, ngày
9-12-1930, Bộ Chính trị nói rằng, Hội nghị đã phải làm nhiêm vụ của một hội nghị hoặc một đại hội thành lộp một Đảng Cộng sản mới, bởi vì nó phải giải quyết mọi vấn để - chủ yếu về lý luận và thực tiễn của
Tuy vẫn tôn vinh Nguyễn Ái Quốc là người sáng lập Đảng, nhưng Hổng Thế Kông cho rằng
Nguyễn Ái Quốc "đã phạm một loạt sai lầm cơ hội chủ nghĩa trong thời gian Hội nghị thống nhất màchúng ta không thể bỏ qua" [49, 138] Rằng:
Hội nghị thống nhất đã nhận định một cách cơ hội chủ nghĩa, cách mạng Việt Nam táchrời cách mạng thế giới nói chung và tách rời cách mạng Đông Dương nói riẻng Sở đĩ sai lẩmnhư vậy là vì đồng chí Nguyễn Ái Quốc và các đại biểu Hội nghị thống nhất còn nặng nhữngtàn tích của chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa sô vanh Những danh từ mà đổng chí Nguyễn ÁiQuốc dùng trong lá truyền đơn của mình như "đổng bào", "cách mạng Việt Nam", "nòi giống"v.v chứng tỏ rằng khuynh hướng 'sai lám đó đã tồn tại và không thể biện bạch nổi [49, 142].Cho đến tháng 5-1935, tuy Nguyên Ái Quốc được Đại hội đại biểu lần
thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương bầu là ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương, được cử
làm đại diện của Đảng ta ò Quốc tế Cộng sản và được cử là một trong những thành viên Đoàn đại biểu
Đảng ta dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, sự phê phán Người vẫn còn tiếp diễn Nghiên cứu một bức thư báo cáo của Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản, đề ngày 31-5-
-1935, chứng ta được biết thèm:
Ở Thái Lan và Đông Dương, các tổ chức cộng sản đang tiến hành mội cuộc đấu tranhcồng khai chống những tàn dư tư tưởng quốc gia cách mang pha trộn với tư tưởng cải lươngchủ nghía, duy
tâm trong Đảng, của các đồng chí cách mạng trong Thanh niên cách