1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BẢN LĨNH và TRÍ TUỆ của ĐẢNG TRONG HOẠCH ĐỊNH ĐƯỜNG lối đối NGOẠI THỜI kỳ đổi mới

25 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 134 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn”. Nội lực là nhân tố quyết định sức mạnh của đất nước, cùng với đó ngoại giao chính là yếu tố quan trọng tạo nên địa vị, vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng ta luôn quan tâm và đề ra chủ trương, đường lối đối ngoại đúng đắn, phù hợp qua từng thời kì. Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang đứng trước những vận hội cũng như thách thức mới, trong quá trình hoạch định và lãnh đạo thực hiện đường lối ngoại giao, Đảng ta cần quán triệt các vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời cần linh hoạt, sáng tạo để giải quyết những vấn đề đặt ra cho đất nước.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Thực lực là cái chiêng,ngoại giao là cái tiếng Cái chiêng có to, tiếng mới lớn” Nội lực là nhân tốquyết định sức mạnh của đất nước, cùng với đó ngoại giao chính là yếu tốquan trọng tạo nên địa vị, vị thế của đất nước trên trường quốc tế Nhận thứcđược tầm quan trọng đó, Đảng ta luôn quan tâm và đề ra chủ trương, đườnglối đối ngoại đúng đắn, phù hợp qua từng thời kì Trong giai đoạn hiện nay,đất nước đang đứng trước những vận hội cũng như thách thức mới, trong quátrình hoạch định và lãnh đạo thực hiện đường lối ngoại giao, Đảng ta cầnquán triệt các vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời cần linh hoạt, sáng tạo đểgiải quyết những vấn đề đặt ra cho đất nước Nhận thức rõ vấn đề đó Đảng ta

đã đề ra những giải pháp ngang tầm với những biến đổi to lớn trong nước vàthế giới, tiến hành tự đổi mới để hội nhập với cộng đồng quốc tế, phấn đấu vìhòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển Trên cơ sở đổi mới chínhsách đối nội đã hình thành và phát triển chính sách đối ngoại mới, giàu sứchấp dẫn đã tranh thủ được sự ủng hộ của các dân tộc trong cộng đồng thế giớihợp tác với Việt Nam Chính vì thế sau hơn 29 năm đổi mới thế và lực củanước ta đã tăng lên đáng kể, Việt Nam đã và đang hội tụ đủ các điều kiện đểđến 2020 trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vai trò và vị thếcủa Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã vạch ra đườnglối, chính sách đối ngoại đúng đắn, phù hợp, Đây là kết quả của sự kiên định,vận dụng và phát triển sáng tạo các quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư

Trang 2

tưởng Hồ Chí Minh; nghiên cứu thấu đáo cơ sở thực tiễn trong nước và quốc

tế, hoàn thiện nhận thức khách quan, khoa học về thời đại ngày nay, thế giớiđương đại và các quan hệ quốc tế hiện đại Với những lý do trên tôi chọn

“Bản lĩnh và trí tuệ của Đảng trong hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới” làm chủ đề tiểu luận.

1 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TA

1.1 Đặc điểm tình hình thế giới

Trong những năm qua tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng,phức tạp và chứa đựng những yếu tố khó lường: Trước tiên phải kể đến đó làChế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ khiến cho chủ nghĩa xã hội thếgiới tạm thời lâm vào thoái trào, song điều đó không làm thay đổi tính chấtcủa thời đại, loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên chủ

nghĩa xã hội Hai là, nguy có chiến tranh thế giới hủy diệt bị đẩy lùi, nhưng

xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôngiáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở

nhiều nơi Ba là, cuộc CM khoa học kỹ thuật và công nghệ tiếp tục phát triển

với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu KT thế giới, tạo ra

xu thế quốc tế hóa nền KT toàn cầu Nó vừa tạo ra những thời cơ nhưng cũngvừa tạo ra những thách thức đối với các nước chậm phát triển Thời cơ do sựphát triển của cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra là nó đã tác động đếnnền tảng kinh tế của tất cả các quốc gia, tạo ra xu thế đổi mới, cải cách cả vềkinh tế và chính trị xã hội Nó đã tạo ra những điều kiện để phân loại pháttriển mạnh mẽ lực lượng sản xuất mà các nước nghèo và chậm phát triển cóthể tranh thủ ngay những thành tựu và điều kiện đó để phát triển đất nước.Thách thức do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tạo ra là vì nhữngthành tựu của nó một phần đã bị con người sử dụng vào mục đích chiến tranh

Trang 3

để sản xuất ra những loại vũ khí giết người hàng loạt có thể hủy diệt nền vănminh nhân loại Mặt khác nó cũng còn tạo ra những thách thức về khoảngcách giàu nghèo và về vận tốc phát triển đối với các nước nghèo và chậm phát

triển về kinh tế Bốn là, cộng đồng thế giới đang đứng trước nhiều vấn đề có

tính chất toàn cầu (bảo vệ môi trường; hạn chế sự bùng nổ dân số; phòngngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo…) không một quốc gia riêng lẻnào có thể tự giải quyết được, mà cầm có sự hợp tác đa phương Năm là, khuvực Châu Á Thái Bình Dương, phát triển năng động và tiếp tục phát triển vớitốc độ cao Đồng thời cũng tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định

1.2 Đặc điểm tình hình trong nước

Ở trong nước, sau năm 1975, đất nước thống nhất cả nước đi vào xâydựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được thì chúng ta cũngđứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới Đặc biệt là tư tưởng chủ quan,say sưa với thắng lợi, nôn nóng nuốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trongmột thời gian ngắn đã dẫn đến bố trí sai cơ cấu kinh tế, cộng với nhữngkhuyết điểm của mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp ngày càng bộc lộ

rõ làm cho tình hình kinh tế - xã hội rơi vào trì trệ, khủng hoảng, cùng với hậuquả của hai cuộc chiến tranh biên giới, rồi chính sách bao vây cấm vận đã đẩyViệt Nam vào tình thế vô cùng khó khăn Tất cả những điều đó đặt ra chochúng ta một yêu cầu phải đổi mới, chính thức đường lối đổi mới ở ViệtNam bắt đầu từ Đại hội VI (12/1986) Đây là một bước đột phá cótính chất cách mạng xoay chuyển hẳn tình hình tạo ra bước ngoặtmới trên con đường phát triển của cách mạng nước ta, trong đóvấn đề đối ngoại là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng

ta thực hiện trong tiến trình đổi mới đất nước Đảng ta đã nhận địnhnhững xu thế trong quan hệ quốc tế trong giai đoạn hiện nay là: Hòa bình ổnđịnh và hợp tác để phát triển là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện

Trang 4

nay Vì hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòihỏi bức xúc của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới; Các quốc gia lớn,nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác liên kết khu vực và quốc

tế Hợp tác, liên kết ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt; Cácdân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại

sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền vănhóa dân tộc; Các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng cộng sản và công nhân, cáclực lượng cách mạng tiến bộ trên thế giới vẫn kiên trì đấu tranh vì hòa bình,độc lập dân tộc, dân chủ và toàn bộ xã hội; Các nước có chế độ chính trị xãhội khác nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình Đây là

xu thế rất mới, thể hiện rõ tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giaicấp không phân tuyến trong giai đoạn hiện nay

Các đại diện tình hình thế giới và những xu thế trong quan hệ quốc tế nêutrên đã tác động đến việc hình thành đường lối, chính sách đối nội và đốingoại của mỗi nước và làm nảy sinh tính đa phương, đa dạng trong quan hệquốc tế hiện nay Trong bối cảnh thế giới và trong nước hết sức khó khăn vàphức tạp Song với tinh thần luôn độc lập, tự chủ, sáng tạo Đảng ta đã thểhiện rõ bản lĩnh và trí tuệ của mình trong việc hoạch định chủ trương và chínhsách đối ngoại sánh vai với các cường quốc trên thế giới

2 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ NHỮNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY ĐỐI NGOẠI THỂ HIỆN BẢN LĨNH TRÍ TUỆ CỦA ĐẢNG TA

2.1 Đảng hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới

Việc hình thành đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng ta là một quá trình,bắt đầu từ khi Đảng ta ra đời đến nay nhưng rõ nhất là bắt đầu từ Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng

Trang 5

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng

Về hoàn cảnh quốc tế, đến thời điểm của đại hội VI của Đảng có mộtđặc điểm nổi bật đó là chủ nghĩa xã hội hiện thực thế giới đã bộc lộ sự trì trệ

cả về kinh tế và chính trị xã hội Về tình hình trong nước, ngoài những khókhăn chung của như các nước khác, nước ta còn ba khó khăn lớn chưa đượcgiải quyết đó là: Vấn đề Campuchia; vấn đề Mỹ cấm vận và vấn đề quan hệvới Trung Quốc Trong hoàn cảnh như vậy đại hội VI của Đảng đã xác địnhcác chủ trương lớn trong quan hệ quốc tế đó là: chủ trương thêm bạn bớt thù;tiến tới bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và tiến tới bình thường hóaquan hệ với Mỹ Có thể nói đại hội VI, ngoài việc khởi xướng công cuộc đổimới đất nước còn là đại hội chuyển hướng và mở cửa cho quan hệ ngoại giaocủa Việt Nam

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng

Đến thời điểm đại hội VII của Đảng, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu đãtan rã, còn chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sau 6 năm cải tổ đã gặp rất nhiều khókhăn cả về kinh tế và chính trị xã hội Về tình hình trong nước, sau 6 năm(1986-1991) đổi mới chúng ta vẫn giữ được sự ổn định vững chắc về chính trị

xã hội và đạt được những kết quả bước đầu đáng kể và rất quan trọng về mặtkinh tế của đất nước

Đại hội VII của Đảng đã nêu rõ đường lối đối ngoại đổi mới của việtnam là độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế đối ngoại

và tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trong cộng đồngquốc tế, phấn đấu và hòa bình, độc lập và phát triển Đại hội VII cũng chỉ rõnhiệm vụ của công tác đối ngoại là: “Giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệhữu nghị và hợp tác tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng

và bảo vệ tổ quốc Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dânthế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Trang 6

Hội nghị Trung ương lần thứ ba khóa VII (1992)

Hội nghị trung ương lần thứ ba khóa VII là Hội nghị tiếp tục và cụ thểhóa hơn nữa đường lối chính sách đối ngoại của đại hội VII Đến cuối năm

1991, chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ hoàn toàn cả ở Đông Âu và cả ở Liên xô.Phạm vi của chủ nghĩa xã hội thế giới bị thu hẹp lại, chủ nghĩa xã hội tạm thờilâm vào thế thoái trào và ở vào hoàn cảnh khó khăn nhất từ trước đến nay.Hội nghị TW lần thứ ba khóa VII đã xác định tư tưởng chỉ đạo của công tácđối ngoại là: “Giữ vững nguyên tắc vì độc lập thống nhất và xã hội chủ nghĩa,đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điều kiện

và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như những diễn biến của tình hình thếgiới và khu vực, phù hợp với từng đặc điểm, từng đối tượng ta có quan hệ”

Hội nghị Trung ương 3 cũng chỉ rõ 4 phương châm của công tác đốingoại là: Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủnghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giữ vững độclập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệđối ngoại; nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế.Tránh hợp tác một chiều, tránh đấu tranh một chiều và tránh trực diện đối đầutrong quan hệ quốc tế hiện nay; tham gia hợp tác khu vực và mở rộng quan hệvới tất cả các nước trên thế giới Có thể nói Hội nghị Trung ương lần thứ bakhóa VII, đường lối đối ngoại của Đảng ta đã ngày càng được bổ sung, pháttriển hoàn thiện

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng

Về thành tựu của công tác đối ngoại: Đại hội VIII đánh giá kết quả của

công tác đối ngoại sau 10 năm đổi mới và sau 5 năm thực hiện Nghị quyết đạihội Đảng lần thứ VII là “phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế baovây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế” Chúng ta đãtừng bước thực hiện bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc; Đẩy lùi âm

Trang 7

mưu bao vây cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Mỹ; đã khai thôngquan hệ với Đông Nam Á, với Tây Âu và Bắc Âu; tiếp tục duy trì quan hệ vớicác nước Đông Âu; xác lập quan hệ với các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ

và mở rộng quan hệ với nhiều nước trên thế giới Thành tựu của công tác đốingoại đã tạo điều kiện cho bước chuyển đầu tiên rất quan trọng và những điềukiện thuận lợi cho sự phát triển tiếp theo của đất nước

Về đường lối chính sách đối ngoại hiện nay: Trên cơ sở những thành

tựu của công cuộc đổi mới và những thắng lợi của công tác đối ngoại Đại hộiVIII của Đảng đã nêu rõ một số nội dung của đường lối chính sách đối ngoạitrong giai đoạn hiện nay

Về mục tiêu của công tác đối ngoại năm 2000 và đến năm 2020 Đại hộiĐại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng xác định là: “mở rộng quan hệ đốingoại, chủ động tham gia tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vịthế của nước ta trên trường quốc tế”

Nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong thời gian tới là: “củng cố môitrường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh pháttriển KT–XH, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ cho sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chungcủa nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ XH”

Về phương hướng của công tác đối ngoại: “tiếp tục thực hiện động lựcđối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệđối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộngđồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ ra 4 trọng tâm của công tác đối ngoại thời gian tới đó là:

Ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong

tổ chức ASEAN Không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền

Trang 8

thống Coi trọng quan hệ với các nước phát triển trên thế giới Nêu cao tinhthần đoàn kết anh em với các nước đang phát triển và với phong trào khôngliên kết; tăng cường hoạt động ở Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế; pháttriển quan hệ với các Đảng Cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng,độc lập dân tộc và tiến bộ; mở rộng quan hệ với các Đảng cầm quyền và cácĐảng khác; mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phichính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước,góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác phát triển.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đề ra đường lối của

công tác đối ngoại là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tựchủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵnsàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu

vì hòa bình độc lập và phát triển

Về nhiệm vụ đối ngoại Đại hội IX xác định là tiếp tục giữ vững môi trường

hòa bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển

KT-XH, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bảođảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấutranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình độc lập dân tộc dân chủ và tiến

bộ xã hội Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với cácnước và vùng lãnh thổ, các trung tâm KT- CT quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế

và khu vực theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thỗ,không can thiệp vào nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũlực; bình đẳng và cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằngthương lượng hòa bình; làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, ápđặt và cường quyền Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực…”

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng

Trang 9

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006) tiếp tục thực hiện quanđiểm Đại hội IX đồng thời đề ra chủ trương: Chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế trong việc quyết định đường lối chính sách lường trước những khó khăn,thử thách cũng như tận dụng thuận lợi; tích cực hội nhập kinh tế quốc tế làkhẩn trương chuẩn bị điều chỉnh đổi mới bên trong sao cho phù hợp vớinhiệm vụ và tình hình mới

2.2 Những phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của Đảng ta

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI diễn ra khi đất nước ta bước vàothập niên thứ hai của thế kỷ XXI Đại hội Đảng đã thông qua 3 văn kiện quantrọng: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-

2020 và Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tạiĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Ba văn kiện quan trọng nàynêu quan điểm, phương hướng cơ bản chỉ đạo cả lâu dài, trung hạn và ngắnhạn về đường lối đối ngoại, tạo thành một thể thống nhất Cương lĩnh nêunhững định hướng, nguyên tắc lớn, mang tầm chiến lược cho cả thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội Chiến lược cụ thể hóa đường lối đối ngoại nhằmphục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 Phần đốingoại trong Báo cáo chính trị đề cập nhiều định hướng cụ thể cho các hoạtđộng đối ngoại 5 năm tới Từ Báo cáo chính trị đến Chiến lược và Cươnglĩnh, đường lối đối ngoại của Đảng được đề cập phù hợp với nhiệm vụ đốingoại trong từng giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, nhưng thống nhất

về mục tiêu, nguyên tắc, phương châm và những định hướng lớn, lâu dài Nộidung của phần đối ngoại trong các văn kiện đó hợp thành Đường lối đối ngoạiĐại hội XI Kế thừa đường lối đối ngoại của 25 năm Đổi mới, đường lối đối

Trang 10

ngoại Đại hội XI có những bổ sung, phát triển phù hợp với tình hình mới, thểhiện ở những nội dung chính dưới đây:

Mục tiêu của đối ngoại: Văn kiện Đại hội XI nêu: “vì lợi ích quốc gia,

dân tộc” Cùng với lợi ích quốc gia dân tộc, Đại hội XI cũng đặt mục tiêu đốingoại là “vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” Hai mục tiêu nàythống nhất với nhau Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là cơ sở cơ bản để xâydựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Xây dựng một nước Việt Nam xãhội chủ nghĩa giàu mạnh là phù hợp với lợi ích quốc gia dân tộc và là điều kiệncần để thực hiện các lợi ích đó Lần đầu tiên, mục tiêu đối ngoại “vì lợi ích quốcgia, dân tộc” được nêu rõ trong phần đối ngoại của Cương lĩnh và Báo cáo chínhtrị tại Đại hội Đảng Nói như vậy không có nghĩa Đảng ta chưa từng xác địnhmục tiêu đối ngoại là vì lợi ích quốc gia, dân tộc Từ khi Đảng ra đời, lợi íchquốc gia, dân tộc luôn luôn là mục tiêu phấn đấu của Đảng ta Nghị quyết 13 của

Bộ Chính trị khóa VI đã khẳng định “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta

là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triểnkinh tế” Nghị quyết Trung ương 8, khóa IX nhấn mạnh “bảo vệ lợi ích quốc gia,dân tộc” là một trong những mục tiêu then chốt của sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ tổ quốc

Tuy nhiên, việc nêu rõ lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu đối ngoạitrong văn kiện Đại hội XI của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định rõhơn định hướng: Đảng ta hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại trên

cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc, từ đó tái khẳng định sự thống nhất và hòaquyện giữa lợi ích của giai cấp và lợi ích của dân tộc Khẳng định lợi ích quốcgia, dân tộc là mục tiêu đối ngoại cũng có nghĩa là Đại hội đặt lợi ích quốcgia, dân tộc là nguyên tắc cao nhất của các hoạt động đối ngoại Nói cáchkhác, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là nguyên tắc mà tất cả các hoạt động

Trang 11

đối ngoại, từ ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Đảng đến ngoại giao nhân dân,đều phải tuân thủ

Nhiệm vụ của công tác đối ngoại: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc

lần thứ XI (2011) của Đảng nêu rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữvững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ;nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòabình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” Phục vụ cácmục tiêu quốc gia về phát triển, an ninh và nâng cao vị thế đất nước lànhiệm vụ nhất quán trong đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới.Điểm mới trong phần đối ngoại văn kiện Đại hội XI của Đảng là xác định

rõ hơn khía cạnh an ninh khi nêu rõ nhiệm vụ “bảo vệ vững chắc độc lập,chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” Độc lập, chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ là cơ sở tồn tại của một quốc gia Bảo vệ độc lập,chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là một trong nhữngnhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia Trong tình hình hiện nay bảo vệ độc lập,chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ luôn là vấn đề cấp bách và cầnphải được quan tâm đúng mức Việc nêu rõ điều này trong nhiệm vụ đốingoại là nhằm đáp ứng những phát triển mới của tình hình, đồng thời khẳngđịnh vai trò của đối ngoại trong sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

Nguyên tắc của công tác đối ngoại: Phải tuân thủ khi tiến hành các hoạt

động đối ngoại, tái khẳng định các nguyên tắc của đường lối, chính sách đốingoại thời kỳ đổi mới, Đại hội XI nêu: “bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vữngđộc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, “tôn trọng cácnguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc” Bêncạnh những nguyên tắc nhất quán này, văn kiện Đại hội XI, phần định hướng

Trang 12

giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới trên biển vàthềm lục địa với các nước liên quan, nêu thêm nguyên tắc giải quyết các vấn

đề tồn tại trên cơ sở các “nguyên tắc ứng xử của khu vực”

Phương châm của đường lối đối ngoại: Các văn kiện của Đại hội

khẳng định: thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòabình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động vàtích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệmtrong cộng đồng quốc tế Điểm mới trong phương châm đối ngoại của Đại hội

XI là “hội nhập quốc tế” và “thành viên có trách nhiệm”

Như vậy, đường lối đối ngoại xuyên suốt của Việt Nam là độc lập, tựchủ, vì hòa bình, hợp tác và phát triển Với tinh thần đó, khi giải quyết vấn đềliên quan đến biên giới lãnh thổ, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định bảo vệlợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc lên trên hết và cố gắng tìm giải pháp hòa bình

có thể Vừa qua, Trung Quốc đưa giàn khoan nước sâu cùng với lực lượng tàuhùng hậu, thời điểm cao điểm lên tới hơn 100 tàu, trong đó có cả tàu có vũtrang, tàu quân sự và máy bay hộ tống đi vào vùng biển Việt Nam và đã hạđặt giàn khoan này tại vị trí nằm sâu trên 80 hải lý trong Thềm lục địa vàvùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam Các hành động phun vòi rồng cócường độ mạnh, dùng tàu đâm vào tàu công vụ và dân sự của Việt Nam đãkhiến nhiều tàu hư hại, và gây thương tích Đây là hành động vi phạm chủquyền biên giới lãnh thổ của Việt Nam, vi phạm Luật pháp Quốc tế,UNCLOS, DOC và đe dọa đến hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải

ở Biển Đông Những việc làm sai trái và lời lẽ ngang ngược, phía Trung Quốc

đã lộ rõ ý đồ từng bước chiếm biển Đông, hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡibò”, bành trướng, bá quyền trong khu vực và thế giới Trước tình hình phứctạp của vấn đề biển Đông, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI,

Ngày đăng: 14/05/2017, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w