Nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trong đó có CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đây là một đường lối đúng đắn, là cơ sở để nước ta phát triển nhanh, bền vững theo định hướng XHCN.Thực tiễn gần 3 thập kỷ tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện, CNH, HĐH đất nước đã cho thấy, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Trong đó, lĩnh vực NN, ND, NT có nhiều chuyển biến tích cực: NN từng bước chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng CN, DV… NT ngày càng đổi mới; đời sống của ND ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, của đô thị hóa NT, nhiều vấn đề bức xúc đang đặt ra đòi hỏi phải giải quyết, ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước…
Trang 1Chuyên đề VẤN ĐỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN, NÔNG DÂN
VIỆT NAM HIỆN NAY
Nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trong đó có CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn Đây là một đường lối đúng đắn, là cơ sở để nước ta phát triểnnhanh, bền vững theo định hướng XHCN
Thực tiễn gần 3 thập kỷ tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện, CNH, HĐH đấtnước đã cho thấy, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên mọi lĩnh vựcđời sống xã hội Trong đó, lĩnh vực NN, ND, NT có nhiều chuyển biến tích cực:
NN từng bước chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng CN, DV… NT ngàycàng đổi mới; đời sống của ND ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, tác động củachuyển dịch cơ cấu kinh tế, của đô thị hóa NT, nhiều vấn đề bức xúc đang đặt ra đòihỏi phải giải quyết, ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước…
Do đó, nghiên cứu, giải quyết vấn đề bức xúc trong NN, ND, NT hiện nay làquan trọng và cấp thiết
- Mục đích, yêu cầu:
- Kết cấu:
1 Những vấn đề chung về NN, ND, NT ở nước ta
2 Những vấn đề đặt ra đối với NN, ND, NT ở nước ta hiện nay
3 Những giải pháp cơ bản giải quyết vấn đề NN, ND, NT ở nước ta hiện nay
- Thời gian: 6 tiết
- Văn kiện ĐH VII - XI của Đảng – những vấn đề liên quan NN, ND, NT
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH TW Đảng khóa IX Về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010
- Nghị quyết HN lần thứ bảy BCH TW Đảng khóa X Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
(Số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008)
+ Tài liệu:
- Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Báo cáo tổng kết kết quả nghiên
cứu Đề tài: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng giai cấp nông dân trong giai đoạn hiện nay, Mã số B 09-07, Hà Nội 2010.
- TS Hồ Huy Tiếp, Đảng CSVN lãnh đạo xây dựng GCND trong giai đoạn hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội, 2010.
- Cục Thống kê, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Đánh giá tổng quan về thực trạng nông thôn, nông nghiệp từ kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011, Hà Nội, ngày
25/10/2011.
- Theo số liệu của Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2011 được thực hiện trên phạm vi cả nước vào thời điểm 01/7/2011 theo Quyết định số 1785/QĐ-TTg ngày 27/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 2Chuyên đề
VẤN ĐỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN, NÔNG DÂN
VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Những vấn đề chung về NN, ND, NT ở Việt Nam
1.1 Khái niệm nông nghiệp, nông dân, nông thôn
* Nông nghiệp: là ngành SX ra của cải VC mà con người phải dựa vào
quy luật sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi để tạo ra sản phẩm lương thực,
thực phẩm để thoả mãn các nhu cầu của mình (Nông nghiệp theo nghĩa rộng,
bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản).
Như vậy:
-> NN là ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào tự nhiên; những ĐK tựnhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời trực tiếpảnh hưởng tới năng suất sản lượng cây trồng vật nuôi
-> NN cũng là ngành SX có năng suất LĐ rất thấp, phụ thuộc rất nhiềuvào tự nhiên; là ngành SX mà việc ứng dụng KH-CN gặp rất nhiều khó khăn -> Sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn gắn liền với nhiều phương thứccanh tác, lề thói, tập quán… đã có từ ngàn năm nay
* Nông dân: là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản
xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà TLSX chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch
sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên GCND, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.
Trong lịch sử, nhiều nền văn minh lấy nông nghiệp làm nền tảng đã
phát triển GCND, được tổ chức chặt chẽ nhất là trong nền văn minh Ai Cập.Đến thời kỳ Hy Lạp, La Mã, hình thành dần tầng lớp tiểu nông từ những cơ
sở ruộng đất lớn của chủ đất, hay chúa đất Tiếp đó, ở nông thôn tầnglớp phú nông, địa chủ, cùng với tư sản thành thị
Ngày nay, nông dân có sinh hoạt tổ chức khác nhau trên từng địa
phương, quốc gia Nhìn chung, nông dân là những người nghèo, bị phụthuộc vào các tầng lớp trên
Ở các quốc gia vùng châu thổ các sông lớn ở Đông Nam Á, người nôngdân lao động nặng nhọc nhưng hiệu quả công việc và năng suất laođộng thấp
Ở các nước phương Tây, trung nông là tầng lớp quan trọng, tầng lớptiểu nông ngày các ít đi
Ở Mỹ, chủ trang trại có sự hợp đồng với các công ty vật tư, hóa chất,
cơ khí và sử dụng các nhân công tạm thời Các chủ trang trại chiếm 10%dân cơ nhưng nông dân làm ra hai phần sản lượng nông nghiệp của Mỹ
Trang 3- Ý nghĩa của từ nông dân
1) Người dân làm nghề trồng trọt, cày cấy; 2) Những người lao động cưtrú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp; 3) Nông dân sống chủ yếubằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề khác
* Nông thôn: là khái niệm dùng chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông
nghiệp là chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn có thể xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Vi ệ t Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp
Tính đến 1/7/2011, cả nước có 9.071 xã, hầu như không có sự thay đổi
về số lượng đơn vị hành chính cấp xã trong 5 năm qua
Cả nước có 80.904 thôn, ấp, bản, tăng 0.35% so với số 80.620 thôncủa năm 2006
Nông thôn nước ta có 15,3 triệu hộ với xấp xỉ 32 triệu người trong độtuổi lao động, tăng 11,4% về số hộ và 4,5% về lao động so với kỳ Đtra năm2006
-> Vì thế cuộc sống và tổ chức NT ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn
sự phát triển của công nghiệp, của đô thị
Quá trình tổ chức và hình thành nông thôn Việt Nam
Xét về mặt tổ chức xã hội, làng xã và quốc gia Việt Nam là 2 đối tượng
quan trọng nhất với người Việt và được tổ chức chặt chẽ nhất Vì thế, ngườiViệt thường nói làng với nước đi đôi với nhau
Các hệ thống trung gian nhưhuyện, tỉnhkhông có vai trò quan trọng
như thế Việt Nam có câu nói: "phép vua thua lệ làng" vì nghĩa này.
+ Thời trung và cận đại
- Tổ chức theo huyết thống: gia đình và gia tộc
Gia tộc đóng vai trò rất quan trọng Nếu phương Tây coi trọng vai trò
của cá nhân thì phương Đông coi trọng vai trò của gia đình và gia tộc
Ở phương Đông, Trung Quốc xem gia đình nặng hơn gia tộc; ViệtNam gia tộc lại quan trọng hơn gia đình
Trang 4Mỗi gia tộc đều có trưởng họ (tộc trưởng), nhà thờ họ, gia phả, giỗ họ
Ở nhiều làng, hầu hết dân cư ở làng đó đều có quan hệ họ hàng với
nhau Dấu ấn trong tên của rất nhiều làng hiện nay như: làng Đặng Xá (xá = nơi ở, Đặng Xá = nơi ở của họ Đặng), Châu Xá, Lê Xá,
Ở Tây Nguyên còn phổ các thế hệ của một gia tộc sống tập trung trongmột mái nhà dài, chia thành từng ngăn nhỏ cho các gia đình Một nhà ncóthể chứa đến hơn trăm người
Phần lớn miền quê VNam hiện nay vẫn có gia đình có đến ba (tam đại
đồng đường) hay bốn (tứ đại đồng đường) thế hệ cùng chung sống.
Gia tộc có vai trò quan trọng, tôn ti từng người cũng rất được coi trọng Tôn ti trong gia tộc được phân biệt rất chi li tới 9 thế hệ (gọi là cửu đại):
Việc thờ cúng, lễ tết trong gia tộc tuân thủ theo nguyên tắc cửu đại.Người có vai "Tôi" còn sống thì người ở vai này có trách nhiệm tham gia thờcúng (nếu người vai trên đã chết), lễ tết (nếu người vai trên còn sống) nhữngngười có vai từ "Kỵ" trở xuống đến người có vai "Cha"
"Con", "Cháu", "Chắt", "Chút" của người đó có trách nhiệm tuân thủ.Người đàn ông lớn nhất trong gia đình chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên(nếu người ở vai trên không còn sống), chỉ khi người này mất đi thì việc thờcúng sẽ chuyển sang người con trai lớn (đích tôn)
Trường hợp, người đàn ông không có con trai thì việc thờ cúng tổ tiên
sẽ chuyển sang người chú kế cận và nguyên tắc trên lại áp dụng cho giađình người chú
Tôn ti rất được tôn trọng, một người ít tuổi, xếp theo vai vế, có thể là
"ông" của một người nhiều tuổi - “Bé bằng củ khoai, cứ vai mà gọi”.
- Tổ chức theo địa bàn cư trú: xóm và làng
Nếu huyết thống là bước phát triển thứ nhất thì tổ chức nông thôn theo
địa bàn cư trú là bước phát triển tiếp theo để hình thành nên làng và xóm,
đơn vị tổ chức quan trọng nhất của nông thôn Việt Nam
Một làng gồm nhiều xóm gộp lại
Tổ chức thành làng là cần thiết vì các lý do:
Đối phó với môi trường tự nhiên: trồng lúa nước là nghề mang tính thời
vụ rất cao, vì thế mọi người trong làng có thể giúp nhau lúc cần thiết
Đối phó với môi trường xã hội: chống trộm, cướp,
- Tổ chức theo nghề nghiệp: phường và hội
Trong một số làng, một số dân cư hoặc phần lớn dân cư có một nghề
nghiệp khác ngoài nghề nông; tập hợp với nhau để tạo thành phường.
Có rất nhiều phường với các loại nghề nghiệp khác nhau: phường gốm,
chài, mộc, chèo, tuồng,
Còn có hội, là tổ chức của những người có cùng sở thích, thú vui: hội
văn phả (các nhà Nho trong làng không ra làm quan), hội bô lão (các cụ ở
trong làng), hội tổ tôm, hội vật,
Phường nghềsau này chuyển thành các tổ chứcphường của đô thị
Trang 5- Tổ chức theo truyền thống nam giới: giáp
Giáplà hình thức tổ chức dựa trên truyền thống nam giới; xuất hiện khámuộn vào đời Lý Thánh Tông (1041) với mục đích là để tiện cho việc thuthuế Giáp có các đặc điểm sau:
Chỉ có đàn ông mới được tham gia vào giáp
Có tínhcha truyền con nối, cha ở giáp nào, con ở giáp ấy.
Đứng đầu có ông cai giáp (câu đương), giúp việc cho cai giáp có ba ông lềnh (lềnh nhất, lềnh hai, lềnh ba)
Giáp được chia thành ba hạng:
Ty ấu: nhỏ - 18 tuổi; Đinh(tráng): 18-59 tuổi;Lão: 60 tuổi trở lên.
- Tổ chức theo mặt hành chính: thôn và xã
Xã và thôn là đơn vị hành chính cơ bản của nông thôn
Thường 1 xã gồm 1 làng nhưng cũng có xã gồm một vài làng
Thường 1 thôn gồm 1 xóm, cũng có thôn gồm một vài xóm
Dân cư 1 thôn có hai loại:
Dân chính cư(nội tịch) - dân gốc của thôn, được hưởng nhiều quyền lợihơn dân ngụ cư rất nhiều
Dân ngụ cư(ngoại tịch) - dân ở nơi khác đến, chỉ được làm một sốnghề mà dân chính cư không muốn làm như: làm thuê, làm mướn, làm mõ, trong khi vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như dân chính cư Dân ngụ
cư thường bị khinh rẻ, coi thường Dân ngụ cư muốn thành dân chính cư thìphải: cư trú ở làng hơn ba đời, có một ít điền sản
Đối xử khắt khe đối với dân ngụ cư - một hình thức ngăn cản người ởlàng này di chuyển sang làng khác nhằm duy trì sự ổn định của làng
Dân chính cư được chia làm 5 hạng:
Chức sắc- những người đỗ đạt hoặc có phẩm hàm vua ban
Chức dịch- những người đang giữ những chức vụ nhất định trong bộmáy hành chính
Lão -> Đinh ->Ty ấu
Chức sắc, chức dịch và lão lập thành quan viên hàng xã
Quan viênlại được chia thành 3 nhóm theo lứa tuổi:
Kỳ mục- quan trọng nhất, bàn bạc và quyết định các công việc của xã.Còn được gọi là hội đồng kỳ mục, do tiên chỉvàthứ chỉ đứng đầu Ở miềnnam sau này, gọi làhội tề dohương cảđứng đầu
Kỳ lão- những người cao tuổi nhất, tư vấn chohội đồng kỳ mục.
Kỳ dịch, gọi là lý dịch, do hội đồng kỳ mục cử ra, thực thi quyết định của
hội đồng kỳ mục Đứng đầu là lý trưởng (xã trưởng); dưới có phó lý (giúpviệc),hương trưởng(lo việc công ích),trương tuần (xã tuần, lo việc an ninh)
Phương tiện quản lý chủ yếu là hai cuốn sổ là sổ đinh (quản lý nhânlực) và sổ điền (quản lý về kinh tế)
+
Thời hiện đại
Trang 6Làng đã có những sự thay đổi nhất định so với làng trung và cận đại.
Có những đặc điểm của làng cổ còn giữ được, cũng có những đặc điểmngày nay hầu như không thể tìm thấy
Truyền thống gia tộc tuy vẫn còn giữ được ảnh hưởng, nhưng do ngàynay, người dân nông thôn có xu hướng thoát li ra các thành phố lớn hoặc di
cư đến những vùng khác có điều kiện sinh sống làm ăn thuận lợi hơn, nênvai trò của gia đình đã dần dần nổi trội hơn
Cũng do việc di cư mà thành phần dân cư của làng xã ngày nay đadạng hơn, tính chất cùng huyết thống cũng đã bị giảm mạnh
Các khái niệm như giáp, đinh, tráng nay không còn nữa do nó hoàn
toàn không phù hợp với nông thôn hiện đại
Các khái niệm dân chính cư hay dân ngụ cư tuy rằng vẫn có thể hiện
diện ở một vài nơi, nhưng chắc chắn nó không còn là một đặc điểm đặctrưng của nông thôn ngày nay
Các chức sắc, chức dịch cũ (quan viên, kỳ mục, kỳ dịch v.v) nay đã bịxóa bỏ
Vai trò của chính quyền xã hiện nay được công nhận là nằm trong hệthống quản lý nhà nước đã và đang dần dà làm mất đi vai trò của hệ thốngchính quyền làng theo kiểu cũ
Ngày nay, người đứng đầu một làng là trưởng làng (thôn) hay trưởngbản (ở miền núi) Vai trò của họ thực ra không lớn lắm
Đặc tính (đặc điểm) của nông thôn Việt Nam
+ Thời trung và cận đại
- Tính cộng đồng và tự trị
Việc làng xã Việt Nam được tổ chức theo huyết thống, địa bàn cư trú,truyền thống nam giới và hành chính như ở phần trên làm cho làng có
tính cộng đồng và tự trị rất cao
Tính cộng đồng làm cho các thành viên trong làng đều hướng tới nhau,
đó là đặc trưng "hướng ngoại";
Còn tính tự trị làm cho các làng trở lên biệt lập với nhau, đó là đặc trưng
"hướng nội"
Tính biệt lập ở các làng mạnh đến nỗi mỗi làng có thể được coi như một
quốc gia thu nhỏ với một "luật pháp riêng" được gọi là hương ước (lệ
làng được ghi bằng văn bản) và luật tục (lệ làng được quy định bằng lời nói);
và một "triều đình riêng" với hội đồng kỳ mục là cơ quan lập pháp, lý dịch là
cơ quan hành pháp
Nhiều làng còn bầu bốn cụ cao tuổi là tứ trụ Sự can thiệp của nhànước phong kiến, và sau này của thực dân không làm ảnh hưởng nhiều đến
tổ chức của làng xã
"Phép vua thua lệ làng" là một truyền thống thể hiện mối quan hệ dân
chủ đặc biệt của nhà nước phong kiến với làng xã Việt Nam
- Cấu trúc làng
Tính biệt lập còn được thể hiện ở lũy tre làng - thành lũy rất kiên cố,
"đốt không cháy, trèo không được, đào không qua"; khác hẳn với các nướckhác trên thế giới là dùng thành quách bằng đất đá
Trang 7Việc trao đổi với thế giới bên ngoài thông qua cổng làng
Gần cổng làng thường có một cây đa, khói hương nghi ngút, đó là nơi
hội tụ của thánh thần
Trong làng có một cáiđình - biểu tượng của làng về mọi phương diện.
Đình làng là:
Trung tâm hành chính: mọi công việc quan trọng đều diễn ra ở đây, hội
đồng kỳ mục, lý dịch làm việc ở đây; thu sưu thuế tại đây; xử tội người viphạm lệ làng cũng ở đây,
Trung tâm tôn giáo: nơi thờthành hoàng làng
Trung tâm văn hóa: nơi tổ chức các lễ hội văn hóa của làng
Ban đầu đình làng là nơi tụ tập của tất cả mọi người, sau này đó chỉ lànơi tụ tập của nam giới (giáp) trong làng
Phụ nữ chuyên đếnchùa làngvàgiếng nước Nhiều nơi người ta còn
trả thù nhau bằng cách đóng cọc vào giữa giếng làng, tin rằng làm như thếthì gái làng đó sẽ không chồng mà chửa
- Ưu nhược điểm của làng Việt Nam
Do tính tự trị cao nên làng có xu hướng nhấn mạnh vào tính dị biệt của
làng; mà các hệ quả sau: "tự cung tự cấp", mỗi làng cố gắng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của làng; nhưng lại tạo ra óc bè phái, cục bộ; gia trưởng, tôn ti,
Do tính cộng đồng cao mà làng có xu hướng nhấn mạnh vào tính đồng
nhất, hệ quả là: đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, tính tập thể cao, dân chủ địa
phương, nhưng lại thủ tiêu vai trò cá nhân, tạo ra thói dựa dẫm, ỷ lại vào
tập thể và cào bằng, đố kị không muốn ai hơn ai.
+
Thời hiện đại
- Hương ước và lệ tục ngày nay tuy còn có ảnh hưởng nhất định tớicông việc của làng, nhưng luật pháp nhà nước mới là yếu tố quyết địnhchính trong quan hệ cộng đồng
- Cấu trúc làng ngày nay đã thưa dần hình ảnh của lũy tre làng, cổnglàng, giếng nước làng Đình làng không còn đóng vai trò quan trọng nhưtrước đây, nó chỉ còn thuần túy là nơi để thờ cúng hay giao lưu, gặp gỡ trongnhững ngày lễ hội
- Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc chung của cộng đồng dân
cư, hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu
- Cơ sở hình thành và trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuấthàng hóa còn thấp so với thành thị
- Trong một chừng mực nào đó thì tính dân chủ, tự do và công bằng xãhội thấp hơn thành thị
- Thu nhập và đời sống của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói thìcao
- Nông thôn trải dài trên địa bàn rộng lớn nên chịu nhiều ảnh hưởng củađiều kiện tự nhiên
Vai trò của vùng nông thôn hiện nay
- Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống củangười dân
Trang 8- Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu.
- Cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu
- Cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị
- Là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của CN và DV
- Phát triển nông thôn tạo điều kiện ổn định về mặt KT-CT-XH
- Nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn về các mặt tự nhiên - KT-XH
Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn Việt Nam
+ Đặc điểm chung của xã hội nông thôn:
- Dân cư là nông dân với hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt,chăn nuôi) chiếm tỷ trọng lớn
- Mật độ dân cư thấp, sống gắn bó chặt chẽ với môi trường tự nhiên
- Tính cố kết cộng đồng cao Ngoài sự gắn bó thông qua quan hệ làng
xã, cư dân nông thôn còn gắn bó nhau thông qua quan hệ thân tộc (dònghọ)
- So với cộng đồng dân cư thành thị, cộng đồng dân cư nông thôn tiếpcận với thông tin ít hơn, chậm hơn; tiếp cận với các dịch vụ giáo dục y tế,văn hóa,… thấp hơn, phong tục tập quán lạc hậu hơn
- Ở nông thôn, quan hệ ứng xử xã hội của các thành viên trong cộngđồng nặng về tục lệ truyền thống hơn là pháp lý được quy định bởi nhànước
- So với thành thị, cộng đồng dân cư nông thôn thường mang tính thuầnnhất hơn; hướng dịch chuyển xã hội cũng khác hơn Những người có họcvấn cao, chuyên môn giỏi thường di động dọc và ra các thành phố Số cònlại di động ngang giữa các vùng và giữa các ngành, nghề
- Về văn hóa, ở nông thôn văn hóa của cộng đồng dân cư mang đậmnét dân gian Đây là cái nôi nuôi dưỡng và lưu truyền những tập tục, tínngưỡng, văn hóa truyền thống
+ Nông thôn Việt Nam ngoài những đặc trưng trên còn những điều khác
biệt như sau:
- Dân cư nông thôn Việt Nam chủ yếu là nông dân trồng lúa nước Bìnhquân ruộng đất thấp Sản xuất trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt.GCND và dân cư nông thôn luôn phải đấu tranh khắc phục những hậu quảthiên tai như gió bão, hạn hán
- Việt Nam là nước phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâmlược kéo dài, tàn khốc Chính xã hội nông thôn với cộng đồng làng xã đã tạothành những pháo đài kháng chiến bất khả xâm phạm, bảo tồn cả những giátrị văn hóa truyền thống của xã hội Việt Nam
- Cộng đồng dân tộc Việt Nam bao gồm cả cộng đồng dân cư nông thôn
là cộng đồng đa sắc tộc và đa tôn giáo Đây là cộng đồng dân cư có truyềnthống đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau
- Xã hội truyền thống ở nông thôn Việt Nam là xã hội của những ngườitiểu nông, sản xuất nhỏ, ruộng đất ít, TLSX thủ công, lạc hậu, do vậy tưtưởng ít nhiều bảo thủ, tầm nhìn hạn chế
Trang 9- Xã hội nông thôn Việt Nam đang được chia thành những khu vực cóđặc điểm phát triển kinh tế xã hội khá khác nhau, mỗi vùng có trình độ pháttriển khác nhau.
1.2 Sự cần thiết phải quan tâm đến vấn đề NN, ND, NT hiện nay.
* Xuất phát từ vị trí vai trò của NN, ND, NT
+ Việt Nam là nước nông nghiệp có trên 70% dân số sống ở nông thôn, chủ yếu làm nông - lâm - ngư nghiệp
+ Cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội
+ Cung cấp nguyên liệu để phát triển CN nhẹ
+ Cung cấp một phần vốn để CNH
+ Là thị trường quan trọng của các ngành CN và DV
+ NN và NT nước ta có vai trò là trụ đỡ của nền k.tế, bảo đảm cho k.tế
-xã hội ổn định và phát triển.
+ Là địa bàn chiến lược quan trọng trong xây dựng, củng cố QP, AN + Nơi lưu giữ, bảo tồn, phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
* Xuất phát từ thực trạng vấn đề NN, ND, NT nước ta hiện nay
+ Thành tựu
Trong 10 năm qua, sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn tiếp tụcphát triển, đạt nhiều thành công lớn
- Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng trưởng nhanh
Từ năm 2000 đến nay, tăng trưởng giá trị sản xuất của NN bình quânđạt gần 5,5%/năm
Giai đoạn gần đây, mặc dù trung bình mỗi năm giảm đi khoảng70.000 ha đất nông nghiệp, trên 100.000 lao động, tỷ trọng trong đầu tư xãhội giảm, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng nông, lâm, thủy sảnvẫn duy trì tốc độ tăng trưởng GDP 3,8%/năm
- Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch tích cực
Cơ cấu sản xuất nông, lâm, thuỷ sản chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao năng suất, ch.lượng, hiệu quả gắn với nhu cầu thị trường
Tỷ trọng nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, diêm nghiệp và thuỷ sản)trong tổng GDP cả nước giảm từ 24,5% năm 2000 xuống còn 20,3% năm
2007 và tăng trở lại 22,1% năm 2008 Trong nội bộ ngành đang có xuhướng tăng nhanh tỷ trọng thuỷ sản, giảm tỷ trọng trồng trọt trong giá trịsản lượng Trong giai đoạn 2000 - 2008, tỷ trọng thuỷ sản tăng từ 16% lên23% trong khi trồng trọt giảm từ 65% xuống còn 57%
Trong nội bộ các ngành cũng diễn ra các chuyển biến cơ cấu tích cực
Trang 10Trồng trọt, giai đoạn 2000 - 2008 diện tích gieo trồng lúa giảm hơn
250.000 ha, trong khi diện tích các cây công nghiệp, rau màu và cây ănquả tiếp tục mở rộng
Cơ cấu kinh tế nông thôn cũng chuyển biến tích cực
Từ một nền kinh tế thuần nông, đến năm 2007, trong khu vực nôngthôn, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm khoảng 60% cơ cấu kinh tế
Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp ở nông thôn đã tăng từ 17,3%năm 2001 lên 19,3% năm 2007 Nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp,các làng nghề đang phát triển nhanh ở nông thôn Ngành công nghiệp chếbiến nông, lâm, thủy sản tăng trưởng giai đoạn 2001 đến 2006 ở mức14,8%/năm, nâng giá trị chế biến nông, lâm sản năm 2007 lên 28% cơ cấugiá trị sản xuất và 14% giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp
- Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Sản xuất nông nghiệp phát triển từng bước đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường trong nước
Mức tiêu dùng lương thực giảm xuống (gạo giảm từ 12 kg/ người/ tháng
năm 2002 xuống 11,4 kg/người/tháng năm 2006; tương tự, tiêu dùng cácloại lương thực khác cũng giảm từ 1,4 kg/người/tháng năm 2002 xuống1,0 kg/người/tháng năm 2006)
Ngược lại, tiêu dùng thực phẩm tăng lên (tiêu dùng thịt các loại tăng từ
1,3 kg/ người/tháng năm 2002 lên 1,5 kg/người/tháng năm 2006, tiêu dùngtôm, cá tăng mạnh từ 1,1 kg/người/tháng năm 2002 lên 1,5 kg/người/tháng năm 2006
Bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg năm 2000 lên 501 kg năm 2008, Việt Nam đảm bảo đủ nhu cầu lương thực trong nước và xuất
khẩu TB hơn 4 triệu tấn gạo/năm
- Xuất khẩu tăng nhanh, một số mặt hàng có vị thế trên thị trường quốc tế
Xuất khẩu các loại nông, lâm sản tiếp tục được mở rộng, một số ngành
có thị phần lớn trong khu vực và thế giới
Gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, sản phẩm đồ gỗ, thuỷ sản Giátrị kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản giai đoạn 2000 - 2007 đạt 51,9
tỷ USD, bình quân mỗi năm đạt khoảng 6,5 tỷ USD, tốc độ tăng bình quân14,9%/năm Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 11,2 tỷ USD, gấp 2,7 lầnnăm 2000, trong đó: cao su gấp 8,3 lần; cà phê 3,8 lần; gạo 2,2 lần; chè1,6 lần; hạt điều 3,9 lần; hồ tiêu 2,0 lần, sản phẩm gỗ 5,9 lần
Nhờ những thành tựu trên, nông nghiệp phát triển, nông thôn đổi mới
đã góp phần quan trọng tạo ổn định CT, KT và XH, mở đường thành công
và làm nền tảng vững chắc cho quá trình đổi mới Trong những giai đoạnkhó khăn nhất của quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, NN, NT luôn làlĩnh vực tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế đất nước
Trang 11- Đời sống VC và TT của cư dân nông thôn cải thiện rõ rệt
Về cơ bản, Việt Nam đã xóa được đói
Công tác giảm nghèo được tập trung đẩy mạnh, hướng vào các đốitượng khó khăn vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc Nhờ đó, tỷ lệ hộnghèo theo chuẩn nghèo cũ giảm nhanh từ 19% năm 2000 (3,1 triệu hộ)xuống còn 7% năm 2005 (1,2 triệu hộ), trung bình mỗi năm giảm 2 - 2,5%.Tuy vậy, nếu so với chuẩn mới, số hộ nghèo vẫn còn cao, khoảng 12%năm 2008 trong đó khu vực nông thôn là 16,2%
Thu nhập bình quân đầu người hộ nông dân tăng từ 2,7 triệuđồng/người năm 1999 lên khoảng 7,8 triệu đồng/người năm 2007 tính theogiá hiện hành Từ năm 2001 đến 2006, tích lũy để dành của hộ nông thôntăng lên gấp 2,1 lần, bình quân từ 3,2 triệu đồng/hộ lên 6,7 triệu đồng/hộ
Các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao được tăng cường, nâng cao mức hưởng thụ về văn hoá cho nhân dân
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" khơi dậytinh thần đoàn kết ở cộng đồng dân cư Tính đến cuối năm 2006, cả nước
có 72,58% gia đình văn hoá và 46% số làng (bản, thôn, ấp ) văn hóa.Theo báo cáo của các địa phương, đã có trên 80% gia đình văn hóa và gần70% làng văn hóa giữ vững được danh hiệu
Hàng năm, nhân dân đóng góp hàng ngàn tỷ đồng để trùng tu, tôn tạocác di tích LS-VH và tổ chức trên 8.000 lễ hội Nhiều hình thức VH dângian truyền thống được duy trì, phục dựng, góp phần bảo tồn và phát huyvăn hoá truyền thống của các dân tộc ở cộng đồng nông thôn, miền núi,vùng đồng bào dân tộc Đến năm 2006, đã có trên 70% khu dân cư thựchiện nếp sống VM trong việc cưới, việc tang, lễ hội
- Kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn được tăng cường làm thay đổi
bộ mặt nông thôn
Đầu tư thuỷ lợi đang hướng sang phục vụ đa mục tiêu
Đến 2008, diện tích lúa được tưới chủ động là 6,92 triệu ha (đạt84,8%), rau màu và cây công nghiệp 1,5 triệu ha (đạt 41,3%); đảm bảo tiêuthoát nước cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp; ngăn mặn 0,87 triệu ha, cảitạo chua phèn 1,6 triệu ha; góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất, sảnlượng và chất lượng các loại cây trồng
Tăng khả năng cung cấp nước sinh hoạt nông thôn và đô thị, đáp ứngnhu cầu ngày càng tăng về cấp thoát nước phục vụ công nghiệp và pháttriển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao
Hệ thống quản lý, vận hành hệ thống thuỷ lợi được củng cố và tăngcường năng lực
Phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, giao thông nông thôn
có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng
Trang 12Từ năm 1999 đến nay làm mới được 24.167 km đường; sửa chữa, nâng cấp 150.506 km đường
Điện lưới quốc gia đã cấp điện cho 525/536 huyện, đạt 98%, 10.522 xã phường, đạt 97%; và 93% hộ Hầu hết các xã (98,9%) có giá điện thấp hơn
700 đ/kwh Cả nước có 47 tỉnh, thành phố có 100% số xã có điện; 6 tỉnh,thành phố có 100% số thôn, bản có điện lưới (tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,tỉnh Ninh Thuận, Tây Ninh, Bình Dương, Tiền Giang)
Đến nay, hầu hết các huyện, cụm xã và nhiều xã xây dựng được chợ
có 99,3% số xã có trường tiểu học, 90,8% số xã có trường trung học cơ
sở, có 54,5% số thôn có lớp mẫu giáo, 16,1% số thôn có nhà trẻ
Đến nay cả nước có 45% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã 99,3% xã
có trạm y tế
Chương trình 135 đã tập trung xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
cơ bản phục vụ dân sinh cho các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi Mặc
dù chất lượng của các công trình kết cấu hạ tầng ở nông thôn còn thấp sovới đô thị nhưng những nỗ lực của NN và nhân dân thời gian qua đã làmthay đổi bộ mặt nông thôn
- Tổ chức Đảng, các đoàn thể chính trị xã hội và chính quyền địa phương được củng cố và phát triển
Năm 2007, có 89% số thôn, bản có tổ chức Đảng, bình quân có gần 30 đảng viên/10.000 dân
Năm 2006 có 62,7% tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn vững mạnh;hầu hết cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn đạt trình độ văn hoá cấp trung họctrở lên; đa số đã qua đào tạo về chính trị với trình độ phổ biến là trung cấp
Đa số các tổ chức đảng ở cơ sở, các đảng viên phát huy tốt vai trò giữvững sự ổn định về tư tưởng chính trị; định hướng, vận động tổ chức nhândân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và các nhiệm vụ pháttriển NN, NT, xây dựng cuộc sống mới trên địa bàn
Đến năm 2007, trong 9.714 xã, thị trấn của cả nước có 81.300 cán bộ, công chức đang làm việc, chiếm 72,6% tổng số cán bộ công chức xã phường toàn quốc; bình quân có 23 cán bộ, công chức cấp xã/ 10.000 dân Đến năm 2007, có 100% xã, thị trấn; 97% cơ quan hành chính và 88% DNNN đã triển khai và thực hiện Qui chế dân chủ cơ sở
+ Các vấn đề tồn tại
Mặc dù đạt được những thành tựu to lớn nhưng sau một giai đoạn pháttriển thuận lợi, NN, NT đang đứng trước những khó khăn to lớn
- Nông nghiệp tăng trưởng kém bền vững và cạnh tranh thấp
Tình trạng “cánh kéo giá” bất lợi cho sản xuất nông nghiệp diễn ra kéo dài trong nhiều năm Từ năm 2003 - 2005, giá vật tư nguyên liệu đầu vào
Trang 13của nông nghiệp tăng trung bình từ 2 - 2,5 lần, giá lao động tăng từ 2 - 3lần, trong khi đó, giá nông sản chỉ tăng từ 1,2 - 1,3 lần
Sản xuất nông nghiệp phải đương đầu với hàng loạt rủi ro về dịch bệnh
Trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn (trên 50%) trong cơ cấu nội ngành nông nghiệp, trong đó cây lương thực, nhất là lúa vẫn chiếm tỷ trọng chính.
Trong những năm gần đây, chăn nuôi, thuỷ sản phát triển nhanh, song cònthiếu bền vững Năm 2008, tỷ trọng trồng trọt trong nông nghiệp lại tăng trởlại, tỷ lệ chăn nuôi và thủy sản giảm sút Chất lượng một số vật nuôi chưacao; mô hình chăn nuôi công nghiệp chưa thật sự phát triển, khả năngkiểm soát dịch bệnh còn rất khó khăn,
Các vùng nuôi trồng thủy sản cũng ở trong tình trạng thiếu ổn định. Khigiá tăng thì nông dân ồ ạt phá rừng, phá lúa, chuyển sang nuôi trồng thủysản và ngược lại khi giá xuống lại diễn ra tình trạng ứ thừa hàng hóa vànông dân san lấp các ao hồ nuôi trồng thủy sản để quay trở lại các câytrồng khác.Diện tích một số các vùng nuôi lớn với mức độ thâm canh cao,
xử lý chưa tốt đã gây ô nhiễm môi trường
Đóng góp của lâm nghiệp trong tăng trưởng kinh tế còn thấp so với tiềm năng. Nghề rừng hiện nay đang thể hiện tích cực vai trò đảm bảo cân bằngsinh thái, môi trường trong khi vai trò là một ngành kinh tế chưa được khaithác hết Thu nhập từ lâm nghiệp mới đóng góp một phần rất nhỏ trongtổng GDP và trong cơ cấu thu nhập của hộ nông thôn Tuy có những tiến
bộ rõ rệt nhưng tình trạng phá rừng, cháy rừng, khai thác động thực vậthoang dã vẫn diễn ra Xuất khẩu đồ gỗ phát triển nhanh nhưng phần lớnnguyên liệu vẫn phải nhập khẩu
- Nông sản chất lượng thấp, hiệu quả thấp, vệ sinh an toàn thực phẩm kém
Do quy mô SX nhỏ, manh mún, nông dân chưa được tổ chức trong cácHTX và hiệp hội ngành hàng, kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản chế biến
Trang 14như kho tàng, sân phơi, bến bãi, còn kém phát triển, công nghiệp chếbiến nông sản rất nhỏ bé nên chất lượng nhiều loại nông sản còn thấp,nhất là rau quả, sản phẩm chăn nuôi
Phần lớn nông sản chế biến xuất khẩu ở dạng sơ chế, mẫu mã bao bìchưa phù hợp; chưa có thương hiệu, giá trị gia tăng thấp
Vệ sinh an toàn thực phẩm trong nước và các hoạt động kiểm dịch và
vệ sinh dịch tễ đối với HH nhập khẩu, nhất là qua đường tiểu ngạch, chưađược kiểm tra, kiểm soát một cách hệ thống trong khi tình hình dịch bệnhdiễn biến phức tạp đang là thách thức lớn trong q.trình hội nhập k.tế
Người SX, KD nông sản ở Việt Nam còn xa lạ với phần lớn các tiêuchuẩn kỹ thuật được áp dụng phổ biến trên thị trường quốc tế: các tiêuchuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, về xuất xứ HH, về bảo vệ môi trường,
về bảo vệ người lao động, về bảo hộ quyền tác giả, về đảm bảo tính đadạng sinh học; về bao bì, nhãn mác, đăng ký thương hiệu, bản quyền,công nghệ cũng chưa được chú ý
Vì vậy, tuy tiêu tốn nhiều công sức tiền bạc và tài nguyên tự nhiên đểsản xuất nhưng giá trị thu được từ kinh doanh thấp, rủi ro cao
- Lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ nông thôn chậm phát triển
Từ khi có Luật Doanh nghiệp, số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp
nông thôn đã tăng đáng kể, từ 4574 cơ sở năm 2001 lên 11.238 năm 2005
(không kể 745 nghìn cơ sở sản xuất cá thể)
Tuy nhiên, kết cấu kinh tế ở NT vẫn chủ yếu là thuần nông, các hoạt động phi NN, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn chiếm tỷ lệ nhỏ. DN
ở NT, kể cả DN SX và KD, đều có quy mô nhỏ
Nhìn chung công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý thấp, tay nghề lao động
yếu, những bất lợi về kết cấu hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất khiến chokhả năng cạnh tranh của các đơn vị này rất yếu Có lẽ đây là nguyên nhânchính khiến cho tỷ lệ đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài vào NT rất thấp.Đầu tư của tư nhân trong nước vào khu vực NN chỉ chiếm khoảng 15%tổng số đầu tư mới hàng năm, FDI cũng chỉ chiếm dưới 5%
Do DN công nghiệp nông thôn chủ yếu gồm các cơ sở có quy mô dưới
200 lao động nên hàng năm mới thu hút được 22 vạn lao động, đưa tổng
số lao động khu vực này là 2,227 triệu người (bằng 52% lao động toànngành công nghiệp)
Đây cũng là tình trạng chung đối với DN nông nghiệp và dịch vụ ở nôngthôn Tới cuối năm 2007, có 1244 DN sản xuất nông nghiệp và 2074 DNchế biến nông sản ở nông thôn, chỉ chiếm 2,1% tổng số DN, chủ yếu vẫnđóng ở các thị trấn, thị tứ hoặc vùng ven đô thị
Việc sắp xếp lại DNNN được tiến hành tích cực nhưng chủ yếu mới tậptrung vào các DN công nghiệp và dịch vụ quy mô nhỏ Các tập đoàn vàtổng Cty mới chuyển một phần sang hoạt động theo hình thức mẹ - con
Trang 15Các nông lâm trường chưa có chuyển biến hiệu quả Cả nước hiện có 314nông trường và 368 lâm trường quản lý trên 5,5 triệu ha đất nhưng chỉ thuhút được trên 200.000 lao động Hoạt động của nhiều DNNN vẫn kém hiệuquả, 27% DN làm ăn thua lỗ, số nợ phải trả chiếm 57% tổng doanh thu.Trong tình hình lao động nông thôn và số thanh niên đến tuổi lao động cần việc làm vẫn tiếp tục tăng thêm hàng năm ở nông thôn (khoảng hơn 1 triệu người), việc DN nông thôn và đầu tư về nông thôn tăng trưởng chậm tạo nên sức ép to lớn về việc làm và thu nhập của cư dân nông thôn.
Trong giai đoạn 2001-2006, tỷ lệ lao động NN đã giảm 10,4%, trong đóchuyển sang làm công nghiệp - xây dựng 5,1%, làm dịch vụ 4,4% Laođộng trong NN vẫn chiếm 55,7% so với tổng số lao động trong độ tuổi của
cả nước và mới sử dụng 83% thời gian
Trong kết cấu kinh tế hộ nông thôn, so với năm 2001, năm 2006 tỷtrọng hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 80,9% xuống còn 70,9%, tỷtrọng hộ công nghiệp và xây dựng tăng từ 5,8% lên 10%; tỷ trọng hộ dịch
vụ từ 10,6% lên 14,8% Tỷ trọng cả hai nhóm hộ công nghiệp, xây dựng vàdịch vụ đã tăng 8,4% Quá trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn diễn ra kháchậm so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung trong cả nước
Vì vậy, thu nhập và điều kiện sống của cư dân NN không được cải thiện
so với mức bình quân chung cả nước Đang xuất hiện sự phát triển khôngđồng đều giữa các vùng Tỷ trọng hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ởĐồng bằng sông Hồng tăng từ 18% năm 2001 lên 33% năm 2006; ở ĐôngNam Bộ từ 33% lên tương ứng 43% thì ở Tây Bắc chỉ tăng từ 6% lên 8%,còn ở Tây Nguyên từ 7% lên 10%
- Tổ chức, thể chế nông thôn chậm đổi mới
Sau khi áp dụng chính sách đổi mới hơn 20 năm trước đây, kinh tế hộ
phát triển mạnh và đến nay hộ nhỏ vẫn là đơn vị SXKD chủ lực ở NT Quy
mô SX manh mún nhưng không có hình thức liên kết hợp tác với nhau khiến cho sự năng động và khả năng quản lý tài nguyên một cách hiệu quả của các hộ tiểu nông dường như đã đi đến giới hạn phát triển. Phần lớn các
hộ tiểu nông không có khả năng tích lũy tái sản xuất mở rộng một cáchđáng kể Vì vậy mức độ áp dụng cơ giới hóa, cải tiến công nghệ, thay đổi
kỹ năng trình độ quản lý và tự chuyển đổi cơ cấu rất giới hạn
Kinh tế trang trại phát triển rất chậm và chiếm một tỷ lệ không đáng kể trong hoạt động sản xuất NN cũng như kinh tế nông thôn
Năm 2008, cả nước có hơn 120,7 nghìn trang trại, chỉ chiếm hơn 1%tổng số hộ nông lâm ngư nghiệp của cả nước Bình quân 1 trang trại sửdụng 4,5 ha đất nông lâm nghiệp và thuỷ sản (tương đương như một hộnông dân nhỏ của Thái Lan) Nhìn chung, mức độ trang bị cơ giới và ápdụng KHCN của các trang trại này cũng rất yếu kém Khả năng liên kết vớithị trường hạn chế, khả năng cạnh tranh kém