Để góp phần làm tốt hơn nữa công tác giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, tác giả luận văn chọn đề tài: “Quản
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Dục Quang
Trang 3THAI NGUYEN UNIVERSITY
THE COLLEGE OF EDUCATION
PHAM VAN TIEN
MANAGEMENT OF FOSTERING POLITICAL THEORY ACTIVITIES IN THE POLITICAL TRAINING CENTERS
IN DISTRICTS OF THAI BINH PROVINCE
EDUCATION MANAGEMENT MASTER'S THESIS
Major: Education Management
Code: 60.14.01.14
Thai Nguyen - 2013
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Văn Tiên
Trang 5Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Ban Tuyên giáo Tỉnh
uỷ, Ban Tuyên giáo và Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố tỉnh Thái Bình, các bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập nâng cao trình độ và nghiên cứu viết luận văn
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phó giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Dục Quang đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ còn những khiếm khuyết Tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
1- Lý do lựa chọn đề tài 1
2- Mục đích nghiên cứu 2
3- Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
3.1- Khách thể nghiên cứu 3
3.2- Đối tượng nghiên cứu 3
4 -Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5- Giả thuyết khoa học 3
6- Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
7- Phương pháp nghiên cứu 4
8- Đóng góp mới của đề tài 4
9- Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LLCT TẠI CÁC TTBDCT CẤP HUYỆN 6
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 7
1.2.1 Hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng 7
1.2.2 Lý luận và lý luận chính trị 9
1.2.3 Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện 12
1.3 Ý nghĩa của việc quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện 16
Trang 71.4 Đặc điểm của công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT
cấp huyện 24
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LLCT TẠI TTBDCT CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 27
2.1- Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và công tác bồi dưỡng LLCT tỉnh Thái Bình 27
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội 27
2.1.2 Kết quả hoạt động bồi dưỡng LLCT 29
2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT 31
2.2.1 Những nhân tố khách quan 32
2.2.2 Những yếu tố chủ quan 34
2.3- Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT 36
2.3.1- Vấn đề nhận thức, triển khai quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các Trung tâm 36
2.3.2- Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các Trung tâm 40
2.4- Đánh giá tổng quát 48
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LLCT TẠI TTBDCT CẤP HUYỆN TỈNH THÁI BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 54
3.1- Những quan điểm cơ bản định hướng cho việc đề xuất các biện pháp 54
3.1.1- Bối cảnh, tình hình đất nước và trong tỉnh những năm tới liên quan đến quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện 54
3.1.2- Những quan điểm cơ bản định hướng cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT 58
3.2- Một số biện pháp cụ thể 62
3.2.1- Nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp đối với công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT 62
Trang 83.2.2- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, đảng viên ở cơ sở 63
3.2.3- Tiếp tục chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, vận dụng phương pháp mới trong công tác giáo dục LLCT tại các TTBDCT 66
3.2.4- Tăng cường tổ chức bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, giảng viên kiêm chức, báo cáo viên 69
3.2.5- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các Trung tâm 71
3.2.6- Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, từng bước hiện đại hóa công cụ và phương tiện dạy học, đưa công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy học tại các Trung tâm 74
3.3- Mối quan hệ giữa các biện pháp: 75
3.4- Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp: 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Một số kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 9NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
12 Quyết định 100 Quyết định số 100-QĐ/TW ngày 03-6-1995
của Ban Bí thƣ Trung ƣơng
13 Quyết định 185 Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 03-9-2008
của Ban Bí thƣ Trung ƣơng
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT các huyện, thành phố (2008 - 2012) 31 Bảng 2.2: Thống kê trình độ đào tạo của cán bộ, giáo viên tham gia giảng dạy tại các TTBDCT (bao gồm Ban Giám đốc, giáo vụ TTBDCT và giảng viên kiêm chức) 40 Bảng 2.3 Thực trạng cơ sở vật chất TTBDCT các huyện, thành phố: 41 Bảng 2.4: Đánh giá của cán bộ quản lý, giáo vụ, giáo viên và nhân viên TTBDCT các huyện, thành phố 47 Bảng 2.5: Thống kê số lượng học viên tham gia bồi dưỡng theo các chương trình 49 Bảng 3.1: Kết quả kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 79
Trang 11MỞ ĐẦU
1- Lý do lựa chọn đề tài
Công tác giáo dục lý luận chính trị có vai trò hết sức quan trọng trong công tác xây dựng Đảng Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ đó lại càng quan trọng hơn khi đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập quốc tế cả về bề rộng lẫn chiều sâu, trong bối cảnh thuận lợi là cơ bản nhưng khó khăn, thách thức cũng rất lớn Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ngày càng ráo riết chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn, âm mưu thâm độc; nhiều vấn đề mới nảy sinh cần phải có sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong
xã hội Trong bối cảnh như vậy, việc quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, nâng cao cảnh giác cách mạng, chống “diễn biến hoà bình” cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới là nhiệm vụ rất nặng nề, có ý nghĩa chính trị lớn lao Sau khi có Quyết định 100-QĐ/TW ngày 03 tháng 6 năm 1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VII), TTBDCT cấp huyện của các tỉnh trong cả nước đã lần lượt được ra đời, đi vào hoàn thiện mô hình và hoạt động từng bước có hiệu quả, đóng góp không nhỏ vào nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho địa phương, cơ sở Nhiều chương trình bồi dưỡng, các chỉ thị, nghị quyết, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được
tổ chức thực hiện tại các trung tâm đã góp phần giải quyết kịp thời những vướng mắc ở cơ sở trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị Các TTBDCT đã trở thành địa chỉ khá tin cậy trong việc phát huy vai trò là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của cấp uỷ cơ sở
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy trong thời kỳ đất nước đổi mới mạnh mẽ, yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế đã đặt ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý, xây dựng, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ từ Trung ương đến địa phương, trong đó đội ngũ cán bộ cơ sở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Mô hình hoạt động của TTBDCT cấp
Trang 12huyện sau gần 20 năm hoạt động đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, chưa phát huy tốt vai trò của mình; chất lượng hoạt động, sức thu hút của trung tâm với người học chưa cao; có chương trình còn lạc hậu so với thực tiễn, trùng lắp, chưa phù hợp với đối tượng, chưa theo kịp trình độ nhận thức chung của xã hội; tính liên thông giữa các chương trình và tính pháp lý chưa được coi trọng; chất lượng đội ngũ giảng viên và giảng viên kiêm chức chưa đáp ứng yêu cầu; quá trình chuyển hoá LLCT cho cán bộ, đảng viên vào hoạt động thực tiễn ở cơ sở chưa được nhiều; tính định hướng, tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT chưa cao; cơ sở vật chất còn thiếu thốn, chắp vá, Những yếu kém này đòi hỏi phải sớm được khắc phục để các TTBDCT cấp huyện có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới
Trên địa bàn tỉnh Thái Bình hiện có 08 TTBDCT cấp huyện với số lượng cán bộ là 38 người, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý là 16 người Nhìn chung đội ngũ cán bộ quản lý tại các TTBDCT trong tỉnh đều được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; có phẩm chất đạo đức tốt, phát huy được năng lực trong công tác, hoàn thành nhiệm vụ được giao Mặc dù vậy, công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện trong tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và thống nhất; công tác quy hoạch cán bộ làm lãnh đạo, quản lý các trung tâm chưa được rõ nét, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới
Để góp phần làm tốt hơn nữa công tác giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình
hình mới, tác giả luận văn chọn đề tài: “Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện tỉnh Thái Bình”
2- Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện trong tỉnh nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng LLCT cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở
Trang 133- Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1- Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động bồi dƣỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Bình
3.2- Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dƣỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện trong tỉnh Thái Bình
4 -Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện
4.2- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh
4.3- Đề xuất các biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh
4.4- Tổ chức khảo nghiệm các biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh
5- Giả thuyết khoa học
Nếu có đƣợc một hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động bồi dƣỡng LLCT thống nhất và đồng bộ thì chất lƣợng, hiệu quả hoạt động bồi dƣỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Bình sẽ đƣợc nâng cao
6- Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Trang 14LLCT tại TTBDCT cấp huyện tỉnh Thái Bình đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
7- Phương pháp nghiên cứu
7.1- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu vận dụng những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến vấn đề Phân tích, tổng hợp những tài liệu, công trình sách, tạp chí liên quan đến đề tài
7.2- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Sử dụng phương pháp này nhằm trưng cầu ý kiến của các đối tượng thông qua phiếu điều tra Các nội dung cần trưng cầu ý kiến
là các vấn đề có liên quan đến thực trạng cần nghiên cứu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm của TTBDCT cấp huyện trên địa bàn toàn tỉnh về hoạt động quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT
- Phương pháp chuyên gia: Trưng cầu ý kiến chuyên gia về các nội dung như đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính khả thi và ý nghĩa của các biện pháp được đề xuất
7.3- Nhóm phương pháp thống kê
Sử dụng phương pháp này để xử lý các số liệu thu thập được do các phương pháp khác đem lại, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài
8- Đóng góp mới của đề tài
Trên cơ sở lý luận khoa học, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác giáo dục LLCT và thực tiễn quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện trong tỉnh, đề ra một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của địa phương, nhằm góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ở cơ sở
Trang 159- Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các đề xuất, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện
Chương II: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Chương III: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện tỉnh Thái Bình trong thời gian tới
Trang 16đề cập đến việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục LLCT, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân[34, tr.2-4] Tác giả Đặng Công Minh có bài viết “Đổi mới quản lý đào tạo ở TTBDCT cấp huyện”[43] Một số bài viết khác như: “Quảng Ninh nâng cao chất lượng hoạt động của các TTBDCT cấp huyện”[53]; “Vấn đề đặt ra sau 10 năm hoạt động của các TTBDCT cấp huyện ở Quảng Bình”[39]; “Tỉnh Hải Dương xây dựng TTBDCT cấp huyện đáp ứng yêu cầu tình hình mới”[42]; Tuy nhiên, các tài
Trang 17liệu, bài viết thường chỉ đề cập đến từng lĩnh vực cụ thể hoặc của từng địa phương, hoặc dừng lại ở tầm khái quát Vấn đề đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện đến nay chưa
có một công trình khoa học cụ thể nào đề cập một cách có hệ thống, toàn diện TTBDCT là đơn vị sự nghiệp trực thuộc cấp ủy, chính quyền cấp huyện, vị trí, vai trò rất quan trọng trong tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chuyển tải đường lối chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới cán bộ, đảng viên và nhân dân thông qua các nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng Vấn đề quản lý các hoạt động bồi dưỡng LLCT ở các TTBDCT như thế nào? Làm thế nào để thực hiện có hiệu quả các giải pháp để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện? Đó chính là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong luận văn này
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng
"Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản
lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan"[57, tr.40]
Bồi dưỡng là một quá trình sư phạm với nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm do nhà trường tổ chức nhằm giúp người học nắm vững hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kỹ năng hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách Hoạt động bồi dưỡng là một quá trình toàn vẹn có sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học Đó là quá trình vận động và phát triển của các thành tố tạo nên bồi dưỡng Hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng phụ thuộc vào mối quan hệ tương tác, sự hỗ trợ của hoạt động dạy và hoạt động học Hoạt động bồi dưỡng là một quá trình bộ
Trang 18phận, là một phương tiện trao đổi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm chất nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội có hệ thống những tri thức khoa học, những
kỹ năng nhận thức và thực hành Nói cách khác, hoạt động bồi dưỡng là quá trinh vận động kết hợp giữa hai tiểu hoạt động dạy và học nhằm đạt được nhiệm vụ của bồi dưỡng
Hoạt động bồi dưỡng là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố cơ bản: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, người dạy, người học Các thành tố này tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau để thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng Tóm lại, hoạt động bồi dưỡng là một quá trình mà trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của giáo viên là cho người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ bồi dưỡng Với tư cách là một hệ thống, các thành tố trong hoạt động bồi dưỡng tương tác với nhau theo quy định riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học, giữa truyền đạt và lĩnh hội, giữa điều khiển và tự điều khiển Hoạt động bồi dưỡng gắn liền với hoạt động giáo dục Cả hai hoạt động này đều hướng tới một mục tiêu chung là phát triển toàn diện nhân cách người học
Quản lý hoạt động bồi dưỡng là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong quá trình bồi dưỡng nhằm đạt được mục tiêu đề ra Là quá trình người quản lý hoạch định, tổ chức, điều khiển hoạt động bồi dưỡng nhằm đạt mục tiêu đề ra Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà trường nói chung, trung tâm bồi dưỡng chính trị nói riêng thì quản lý hoạt động bồi dưỡng là một nội dung cơ bản, quan trọng
Như vậy, quản lý hoạt động bồi dưỡng thực chất là quá trình quản lý hoạt động truyền thụ tri thức của đội ngũ giáo viên và quá trình lĩnh hội kiến thức,
Trang 19kỹ năng, kỹ xảo của người học; quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết
bị, phương tiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng của người quản lý
* Mục tiêu của quản lý hoạt động bồi dưỡng: Đó là chất lượng, hiệu quả hoạt động dạy và kết quả đạt được ở người học với sự phát triển toàn diện các mặt được quy định trong mục tiêu bồi dưỡng Nói cách khác, mục tiêu của quản
lý hoạt động bồi dưỡng là: Đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu, kế hoạch bồi dưỡng, nội dung chương trình bồi dưỡng theo đúng tiến độ và thời gian quy định (quản lý mục tiêu, nội dung) Đảm bảo hoạt động bồi dưỡng đạt kết quả cao (quản lý chất lượng)
* Biện pháp của quản lý hoạt động bồi dưỡng: Là nội dung, cách thức giải quyết những vấn đề cụ thể nào đó của chủ thể quản lý Trong quá trình quản lý, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản
lý, làm cho hệ thống quản lý vận hành đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý đề
ra và phù hợp với quy luật khách quan Trong nhà trường, biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng là tổ hợp những cách thức tổ chức, điều hành, kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của giáo viên và học tập của học viên nhằm đạt được kết quả cao nhất
1.2.2 Lý luận và lý luận chính trị
Lý luận là hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và về mối liên hệ cơ bản của hiện thực Lý luận là sự phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan Mọi lý luận đều quy định bởi hoàn cảnh lịch sử, được hình thành từ điều kiện cụ thể của lịch sử sản xuất,
kỹ thuật và thực nghiệm Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”[47, tr.487]
Theo nghĩa rộng, lý luận là một dạng hoạt động của con người nhằm thu nhận tri thức về hiện thực tự nhiên, xã hội và cùng với thực tiễn tạo thành hoạt
Trang 20động tổng thể của xã hội Thuật ngữ lý luận đồng nghĩa với các hình thức có tổ chức cao và phát triển nhất của ý thức xã hội Với tư cách là sản phẩm cao nhất của tư duy có tổ chức, lý luận biểu hiện quan hệ gián tiếp của con người đối với hiện thực và là điều kiện cho sự cải biến thực sự có ý thức hiện thực
Theo nghĩa hẹp, lý luận là một dạng tri thức khoa học đáng tin cậy về một tổng thể các khách thể nào đó Nó là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt lô gíc và phản ánh bản chất, các quy luật hoạt động, phát triển của khách thể để nghiên cứu
Lý luận cách mạng tạo nên nền tảng tư tưởng của đảng Đảng ra đời trên nền tảng tư tưởng đó, tức là có lý luận một cách cơ bản nhất; những người giác ngộ, tiên tiến cùng nhau xây dựng tổ chức đảng theo lý luận đó Khi đảng ra đời, cương lĩnh hành động, đường lối chiến lược, sách lược do đảng đề ra cũng dựa trên nền tảng tư tưởng đó
Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt rất phức tạp, nó liên quan đến lợi ích trực tiếp của các giai cấp và các lực lượng xã hội nên có nhiều cách tiếp cận và nhìn nhận khác nhau Trong Từ điển Triết học giản yếu của Việt Nam, nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, xuất bản năm 1987, cho rằng: Chính trị là lĩnh vực hoạt động gắn liền với mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc
và các tập đoàn xã hội khác nhau, mà hạt nhân là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 1994, cho rằng: Chính trị là những vấn đề thuộc về tổ chức điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước và quan hệ quốc tế về mặt nhà nước giữa các nước với nhau
Những quan điểm nêu trên đã nêu lên bản chất của chính trị là tính giai cấp, mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, các lực lượng chính trị trong việc giành quyền điều khiển nhà nước Để đánh giá sự tiến bộ của xã hội thông qua việc thực hiện dân chủ mà dân chủ cao nhất, đầy đủ nhất, triệt để nhất là quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nước, V.I Lênin cho rằng: Chính trị là
Trang 21sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước; “ chính trị phải là việc của nhân dân, việc của giai cấp vô sản”[56, tr.482] Khi xem xét nguồn gốc, bản chất chính trị về mặt lợi ích, V.I Lênin lại cho rằng: Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Khi tiếp cận chính trị với tư cách hình thức hoạt động nhằm duy trì quyền lực chính trị có thể thấy: Chính trị là những hoạt động tổ chức, điều hành, quan hệ của bộ máy đảng, nhà nước Vì vậy, chính trị có thể hiểu là những hoạt động của một số cá nhân, một giai cấp, một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành bộ máy nhà nước, giành quyền lực chính trị
Như vậy, có thể thấy chính trị là vấn đề đa dạng, phức tạp, nhiều mối quan
hệ, nhiều lĩnh vực nghiên cứu xem xét và sử dụng theo mục đích, yêu cầu riêng của từng môn khoa học Song, điều quan trọng của tất cả các vấn đề liên quan đến chính trị, thực hiện được mục đích của chính trị, tức là giành được quyền lực chính trị của giai cấp này hoặc giai cấp khác đối với toàn xã hội
Từ đó, có thể hiểu chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng xã hội trong vấn đề chính quyền nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước; là tổng hợp những phương thức, phương pháp, những hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái để giành, giữ và điều khiển hoạt động của nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mình
Qua thực tiễn của cách mạng Việt Nam, trong phạm vi đề tài này, chúng ta tiếp cận đến chính trị với tư cách là những hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân Trong đó, cán bộ, đảng viên cơ sở là lực lượng nòng cốt để lãnh đạo, tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện mục đích của Đảng là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Đảng Cộng sản đặc biệt quan tâm tới vấn đề LLCT Chỉ dựa trên nền tảng
lý luận Mác - Lênin, Đảng mới có thể nhận thức sâu sắc được những quy luật
Trang 22khách quan của sự phát triển xã hội và vận dụng chúng vào sự nghiệp cách mạng cao cả LLCT của chủ nghĩa cộng sản khoa học không chỉ giải thích thế giới một cách khoa học, bóc trần sự bất công tồn tại trong các xã hội có giai cấp đối kháng mà còn chỉ rõ căn nguyên của những áp bức, bất công đó, đồng thời vạch ra con đường, phương thức đấu tranh nhằm xoá bỏ chế độ bất bình đẳng, xây dựng xã hội mới văn minh, tiến bộ
LLCT của chủ nghĩa cộng sản khoa học hướng dẫn các đảng Cộng sản xác định được nhiệm vụ chủ yếu Lênin đã viết; “Lý luận đó đã chỉ rõ nhiệm vụ thật sự của một đảng xã hội chủ nghĩa cách mạng không phải là đặt ra những kế hoạch cải tạo xã hội, không phải là khuyên nhủ bọn tư bản và tôi tớ của chúng cải thiện đời sống cho công nhân, không phải là sắp đặt những cuộc âm mưu,
mà là tổ chức cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và lãnh đạo cuộc đấu tranh đó mà mục đích cuối cùng là giai cấp vô sản giành lấy chính quyền và tổ chức xã hội xã hội chủ nghĩa”[54, tr.231] Vì vậy, LLCT luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của một đảng
1.2.3 Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện
* Sự ra đời của TTBDCT cấp huyện:
Vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu đi từ khủng hoảng đến sụp đổ, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào đã ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam Từ
đó gây nên những khó khăn không nhỏ trong công tác giáo dục LLCT, trước hết là những vấn đề cơ bản như: Khẳng định giá trị bền vững của học thuyết Mác - Lênin, định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, vai trò lãnh đạo của Đảng, Trong khi đó, tình hình kinh tế - xã hội nước ta chưa ra khỏi khủng hoảng; cán bộ, đảng viên có biểu hiện ngại học LLCT, hệ thống trường Đảng huyện không duy trì được
Trước tình hình đó, Đảng ta đã thực hiện đường lối đổi mới phát triển đất nước Sau hơn 20 năm thực hiện, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng
Trang 23kể Lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vào sự lãnh đạo của Đảng được nâng lên Nhu cầu về giáo dục LLCT trong Đảng và trong xã hội được nâng dần lên Các cấp ủy coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập LLCT Điều đó tạo điều kiện thuận lợi để khôi phục công tác giáo dục LLCT trên địa bàn huyện Mặt khác, thực tiễn đòi hỏi cần phải có một tổ chức phù hợp, có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ cách mạng mới ở địa phương, cơ sở, đặc biệt là cố gắng đáp ứng nhu cầu học tập, phổ biến quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho các đối tượng cán
bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Ngày 03-6-1995 Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) đã ban hành Quyết định 100-QĐ/TW về việc thành lập TTBDCT cấp huyện trong cả nước
* Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện: Quyết định số 100-QĐ/TW nêu rõ:
- Tổ chức bồi dưỡng về LLCT; nội dung các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ trên địa bàn cấp huyện không thuộc đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của Trường Chính trị tỉnh, trước hết là bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng bản, các đối tượng phát triển đảng viên, đảng viên mới,
- Tổ chức thông tin khoa học, thời sự, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên
ở cơ sở để qua đó thông tin cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện
- Thực hiện một số nhiệm vụ bồi dưỡng khác xuất phát từ nhu cầu thực tế của địa phương, do cấp ủy quy định
Như vậy, sau nhiều năm lúng túng, khó khăn, chúng ta đã lập lại được một
tổ chức bồi dưỡng LLCT trên địa bàn cấp huyện thống nhất trong cả nước vốn
đã bỏ trống nhiều năm Đây là công cụ sắc bén, quan trọng của cấp ủy để bồi dưỡng LLCT thường xuyên cho nhiều đối tượng đảng viên, quần chúng ở cơ
sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị từ cơ sở; nâng cao giác ngộ
Trang 24LLCT cho đảng viên và quần chúng; thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị
ở cơ sở, góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới của đất nước
Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện Quyết định 100, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng LLCT gặp một số khó khăn, bất cập do một số quy định về lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT chưa thật phù hợp với thực tế đang thay đổi nhanh chóng, quy định không rõ phạm vi trách nhiệm, quyền hạn dẫn đến những cách hiểu khác nhau, gây lúng túng, khó khăn trong triển khai thực hiện Vì vậy, để tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, thường xuyên bồi dưỡng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên, nâng cao trình độ kiến thức và nghiệp vụ cho cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở, ngày 03-9-
2008, Ban Bí thư Trung ương ban hành Quyết định 185-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện Theo
đó, TTBDCT có vị trí, chức năng: là đơn vị sự nghiệp trực thuộc cấp ủy và UBND cấp huyện, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của ban thường vụ cấp ủy huyện TTBDCT cấp huyện có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về LLCT - hành chính; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức, kỹ năng và chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội; kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn cấp huyện, không thuộc đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Quyết định cũng quy định 5 nhiệm vụ của TTBDCT cấp huyện:
- Đào tạo sơ cấp lý luận chính trị - hành chính; bồi dưỡng các chương trình LLCT cho các đối tượng theo quy định; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên trên địc bàn huyện
- Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới về chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội và
Trang 25một số lĩnh vực khác cho cán bộ đảng (là cấp ủy viên cơ sở), cán bộ chính quyền, MTTQ và các đoàn thể ở cơ sở
- Bồi dưỡng chính trị cho đối tượng phát triển đảng; lý luận chính trị cho đảng viên mới; nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy viên cơ sở
- Tổ chức thông tin về tình hình thời sự, chính sách… cho đội ngũ báo cáo viên ở cơ sở
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác theo yêu cầu và tình hình thực tế do chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương
Việc ra đời TTBDCT cấp huyện là kết quả sau nhiều năm tìm tòi, bổ sung
và kế thừa các loại hình đã có từ trước, đồng thời có tính đến đặc điểm của đất nước trong giai đoạn mới Quyết định 100-QĐ/TW và Quyết định 185 của Ban
Bí thư ra đời đã đáp ứng được yêu cầu thực tế ở cơ sở, được các địa phương rất hoan nghênh và tích cực thực hiện Thực tiễn cũng cho thấy các quyết định này vừa đúng, vừa trúng và đã đi nhanh vào cuộc sống, đóng góp to lớn vào sự phát triển của từng địa phương, cơ sở cũng như sự phát triển chung của đất nước trong suốt thời gian qua
* Nội dung của quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện:
Trong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, chương trình giáo dục, bồi dưỡng LLCT có nhiều cấp độ khác nhau như: Cử nhân, cao cấp, trung cấp, sơ cấp, bồi dưỡng ngắn hạn, Ngoài ra còn
có các chương trình bồi dưỡng lý luận chuyên đề; chương trình học tập, quán triệt các nghị quyết Đại hội Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương
và Bộ Chính trị, Ban Bí thư; kế hoạch tự học theo hướng dẫn của cơ quan phụ trách;…
Bồi dưỡng LLCT là một bộ phận cơ bản trong công tác tư tưởng của Đảng; là quá trình phổ biến, truyền bá có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách
Trang 26pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Bồi dưỡng LLCT được thực hiện theo các chương trình quy định, nhằm xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản, tạo nên bản lĩnh chính trị, niềm tin có cơ sở khoa học, vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, giáo dục đạo đức, lối sống, tinh thần tự giác và tính cực trong các hoạt động xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển đất nước
Để đạt được mục đích và yêu cầu đó, đòi hỏi việc quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cần có một thiết chế tổ chức với những hình thức và phương pháp tiên tiến, phù hợp với những đặc trưng riêng của nó Nghĩa là khi tiến hành thực hiện chương trình bồi dưỡng LLCT đòi hỏi phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học và phương pháp dạy học tiên tiến như: Hệ thống chương trình, hệ thống tổ chức chỉ đạo và thực hiện giáo trình, sách giáo khoa, đội ngũ cán bộ giảng dạy (giảng viên), cơ sở vật chất (trường, lớp và các phương tiện kỹ thuật khác để phục vụ cho quá trình dạy và học) Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT bao gồm các khâu: Từ phân cấp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện; xây dựng lịch trình thực hiện; lựa chọn phương pháp thực hiện đến tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên
1.3 Ý nghĩa của việc quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cấp huyện
Giáo dục, bồi dưỡng LLCT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, trong sự nghiệp cách mạng của đất nước Các Mác đã chỉ rõ:
“Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”[25, tr.580]
Phát triển quan điểm của Mác và Ănghen về vai trò của lý luận cách mạng, V I Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể
Trang 27có phong trào cách mạng” “Chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiên phong”[55, tr.30,32] Đồng thời Lênin cũng đã nêu ra một cách cụ thể, sinh động những biện pháp tổ chức để tiến hành công tác tư tưởng, lý luận phải phù hợp với tình hình kinh tế
- xã hội của đất nước, thậm chí của từng ngành, địa phương, từng dân tộc, phù hợp với từng đối tượng khác nhau về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, Ngoài
ra, muốn xây dựng một chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân cũng đòi hỏi phải thường xuyên củng cố, bổ sung, phát triển lý luận cách mạng của đảng cầm quyền trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho các quan điểm, tư tưởng đó thấm sâu vào nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân Có như vậy, cán bộ đảng viên mới đủ trình độ nhận thức LLCT để thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời lãnh đạo quần chúng thực hiện những nhiệm vụ đó
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ vĩ đại của Đảng ta và dân tộc ta luôn luôn coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục LLCT Người khẳng định rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin là lực lượng tư tưởng hùng mạnh, giúp cho Đảng trở thành một hình thức tổ chức cao nhất của nhân dân lao động; là hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc chúng ta Người đã chỉ ra rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với những người cách mạng và nhân dân Việt Nam “không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”[48, tr.128] Người còn khẳng định rõ: ngày nay học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất
là chủ nghĩa Mác - Lênin
Công tác tư tưởng, lý luận luôn là nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng Năng lực lý luận của Đảng phải thể hiện ở từng cán bộ đảng viên
Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng, giáo dục
lý luận cho cán bộ, đảng viên Công tác giáo dục LLCT đã được Hồ Chí Minh
Trang 28thực hiện từ những năm 1925-1927, khi mở các lớp huấn luyện cho các thế hệ thanh niên yêu nước Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc) Người đánh giá cao vai trò quan trọng của cán bộ, coi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”[46, tr.273]
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình, Người không chỉ thường xuyên trau dồi nhận thức về thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng, nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm ra lời giải cho thực tiễn cách mạng Việt Nam mà Người còn tổ chức đào tạo nhiều cán bộ nòng cốt là những thanh niên yêu nước Việt Nam để bổ sung cho lực lượng cách mạng trong nước Bác đã từng chỉ rõ và giải thích cụ thể mục đích của việc học tập LLCT: Học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin tưởng, học để hành Những quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phản ánh đầy đủ vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền, giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước
Từ khi ra đời đến nay, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng đến công tác tư tưởng, lý luận mà trực tiếp là công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận Đảng ta luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng muốn giữ vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải theo chủ nghĩa
ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”[45, tr.268]
Ngay từ khi mới ra đời, tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương họp tháng 10 năm 1930, Đảng ta đã thông quan Luận cương chính trị và Nghị quyết về tình hình hiện tại ở Đông Dương, nhiệm vụ cần kíp của Đảng, trong đó có nhấn mạnh phải tìm thêm và huấn luyện đảng viên mới, huấn luyện đảng viên và công nông Khi Nhà nước công nông non trẻ đầu tiên ra đời, sau
Trang 29thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong một thời gian ngắn, tháng 6 năm 1947, Hội nghị Bộ Chính trị đã quyết định mở Trường Đảng để đào tạo, huấn luyện chính trị cho cán bộ, đảng viên Tháng 10 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh (với bút danh X.Y.Z) viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, trong đó Người đã chỉ rõ cần coi trọng công tác huấn luyện lý luận: Trong các bài học lý luận cần phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế, phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách công tác huấn luyện Những người lãnh đạo phải tham gia việc dạy Không nên bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện
Trong các giai đoạn chiến tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà, cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng ở miền Nam, Đảng ta đều làm hết sức mình
để tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, cố gắng đặt toàn bộ hoạt động lãnh đạo của mình trên cơ sở khoa học của lý luận cách mạng ấy Trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, Đảng ta không có điều kiện áp dụng rộng rãi các hình thức học tập, đào tạo trong hệ thống trường lớp chính quy Ngoài việc rèn luyện cán bộ trong thực tiễn chiến đấu và sản xuất, Đảng ta đã sử dụng rộng rãi hình thức sinh hoạt chính trị, thường xuyên kết hợp với việc mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về chủ trương, đường lối của Đảng và những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Trong thời gian này, các lớp huấn luyện được mở ở nhiều nơi; hàng vạn cán bộ, đảng viên được bồi dưỡng về đường lối chính sách Cán bộ, đảng viên ở miền Nam tập kết ra miền Bắc được bồi dưỡng trong các lớp ngắn hạn về tình hình và nhiệm vụ mới Đồng thời, Trường Nguyễn Ái Quốc tập trung mở các lớp đào tạo cán bộ trung cấp và cao cấp Chỉ riêng trong thời gian 1958-1960 Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương đã huấn luyện 1.695 cán bộ cao cấp và trung cấp; 6 trường Đảng sơ cấp huấn luyện 4.690 cán bộ cấp huyện; 85 trường Đảng tỉnh đã huấn luyện 18.630 chi uỷ viên; các tỉnh miền Bắc mở được 4 đợt giáo dục ngắn ngày cho hầu hết cán bộ đảng viên
Trang 30Trong hoàn cảnh các thế lực thù địch đàn áp, chống phá điên cuồng cách mạng ở miền Nam, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đang đi những bước đầu tiên, công tác tuyên truyền, giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên được Đảng ta định hướng tập trung vào việc xây dựng tinh thần tích cực cách mạng, nâng cao ý thức bảo vệ thành quả cách mạng, trước hết là bảo vệ đường lối chính trị của Đảng, kiên quyết chống lại sự tấn công của kẻ thù Năm
1961, Bộ Chính trị quyết định chỉnh huấn Đảng; tháng 8 năm 1962, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết “Về việc cải tiến công tác giáo dục lý luận chính trị” và đến tháng 4 năm 1963, Ban Bí thư ra Chỉ thị 62 về “Cải tiến công tác trường Đảng, bồi dưỡng cán bộ sơ cấp và cơ sở” Trong thời kỳ này, chúng ta đã mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở nhiều nơi nhằm: giáo dục lý luận cơ bản
về chủ nghĩa Mác - Lênin, về thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội; nâng cao lập trường giai cấp công nhân, tinh thần phục vụ nhân dân; thấm nhuần quan điểm cần kiệm xây dựng đất nước, quan điểm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà
Đến thời kỳ đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh chống phá miền Bắc, đầu năm 1965, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 94-CT/TW "Về chuyển hướng mạnh mẽ công tác tư tưởng cho phù hợp với tình hình mới" Chỉ thị đã đề ra 3 yêu cầu của công tác tư tưởng: "Làm cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong mọi tình thế phải tin tưởng vững chắc vào chủ trương, đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng, có ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, ra sức làm tốt nhất mọi công tác trong sản xuất và chiến đấu" Đảng đã tổ chức các đợt học tập và sinh hoạt chính trị quan trọng Đó là vào các năm 1970, 1971, 1972 tất
cả cán bộ, đảng viên đã được học tập, nghiên cứu tác phẩm quan trọng "Dưới lá
cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới" Cuối năm 1970, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 210 về công tác giáo dục LLCT và tư tưởng đối với cán bộ và đảng viên nhằm nâng cao một bước quan trọng phẩm chất cách mạng, trình độ chính
Trang 31trị, năng lực vận dụng lý luận Mác - Lênin và đường lối chính sách của Đảng vào thực tiễn công tác; năng lực tổ chức và quản lý kinh tế cho cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã nhanh chóng xác định nhiệm vụ của công tác tuyên truyền, giáo dục LLCT trong thời kỳ mới Đến năm 1979, Đảng ta đã xây dựng được một hệ thống các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khá rộng rãi như: Hệ thống trường Đảng tập trung gồm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương; 16 trường trung cấp trực thuộc Trung ương; 88 trường Đảng tỉnh, thành phố; trên 300 trường Đảng huyện, thị xã; bên cạnh đó còn có hệ thống các trường tại chức từ Trung ương đến cơ sở Ngày 08 tháng 12 năm 1983, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) ra Quyết định số 30 về tăng cường công tác giáo dục LLCT tại chức cho cán bộ, đảng viên Quyết định nêu rõ: Đối tượng giáo dục là toàn bộ cán bộ, đảng viên ngoài đối tượng thuộc hệ thống trường Đảng tập trung học theo hai loại chương trình: LLCT phổ thông và LLCT cơ bản; tiếp tục xây dựng, kiện toàn các trường LLCT tại chức các tỉnh, thành phố, đặc khu; cho phép một số ngành và cơ quan Trung ương, các xí nghiệp lớn có đông cán bộ, đảng viên, nếu có đủ điều kiện được mở trường hoặc lớp LLCT tại chức; Ban Tuyên huấn và các trường Đảng huyện chịu trách nhiệm về công tác giáo dục LLCT tại chức cho cán bộ, đảng viên trong huyện
Trong những năm đổi mới, nhất là từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã nhận thức đầy đủ hơn và quan tâm nhiều hơn đến công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ; thường xuyên chỉ đạo các cấp, các ngành chăm lo phát hiện nhân tài, sử dụng đội ngũ cán bộ hiện có và quan tâm đào tạo, bồi dưỡng các thế hệ cán bộ, coi đó là sự nghiệp quan trọng cần được tiến hành song song với sự nghiệp đổi mới kinh tế Bài học xương máu của Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ về công tác cán bộ càng khẳng định: Cán bộ là vấn đề cực kỳ quan trọng; cần phải xây dựng người lãnh đạo có được phẩm chất đạo đức
Trang 32trong sạch, trung thành với sự nghiệp cách mạng, có năng lực, trình độ lý luận,
có sức khỏe, tận tụy phục vụ nhân dân, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Thời kỳ này, Đảng ta ban hành nhiều quyết định về công tác giáo dục LLCT như: Quyết định số 103 của Ban Bí thư Trung ương (khóa VI) về việc sắp xếp lại các trường Đảng trực thuộc Trung ương; Quyết định số 61-QĐ/TW, ngày 10-3-1993 của Bộ Chính trị (khóa VII) về hệ thống Học viện; Quyết định số 88-QĐ/TW, ngày 01-9-1994 của Ban Bí thư (khóa VII) về việc thành lập trường Chính trị tỉnh, thành phố; Quyết định số 100-QĐ/TW, ngày 03-6-1995 của Ban Bí thư Trung ương (khóa VII) về tổ chức TTBDCT cấp huyện; Quy định số 54-QĐ/TW, ngày 12-5-1999 của Bộ Chính trị về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng; Thông báo kết luận số 181-TB/TW, ngày 03-9-2008 của Ban Bí thư về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của trường chính trị cấp tỉnh và TTBDCT cấp huyện; Quyết định số 184-QĐ/TW, ngày 03-9-2008 của Ban Bí thư Trung ương về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quyết định số 185-QĐ/TW, ngày 03-9-2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, khóa X về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Nhằm thể chế hóa chủ trương đẩy mạnh và nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng LLCT của Trung ương, các ban xây dựng Đảng kịp thời hướng dẫn việc thực hiện ở các địa phương, đơn vị với những văn bản quan trọng: Hướng dẫn số 09-HD/TTVH, ngày 17-3-2004 của Ban Tư tưởng – Văn hóa (nay là Ban Tuyên giáo) Trung ương về thực hiện Quy định số 54 của Bộ Chính trị (khóa VIII), Hướng dẫn số 29-HD/BTCTW-BTGTW, ngày 27-7-
2009 của Ban Tổ chức và Ban tuyên giáo Trung ương về thực hiện Quyết định
185 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X), Quyết định số QĐ/BTGTW, ngày 04-3-2010 của Ban Tuyên giáo Trung ương về ban hành Quy chế giảng dạy và học tập của TTBDCT cấp huyện…
Trang 331853-Điểm lại một cách khái quát những hoạt động trên cho thấy Đảng ta rất coi trọng công tác giáo dục LLCT Gắn liền với sự phấn đấu xây dựng và trưởng thành hơn 80 năm qua, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, nghị quyết về công tác
lý luận; về việc nâng cao chất lượng công tác lý luận của Đảng; về đấu tranh chống lại những tư tưởng, lý luận sai trái; về nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên Việc học tập nâng cao trình độ LLCT được thực hiện gắn với việc tiêu chuẩn hoá đối với cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội Kết quả học tập LLCT là một trong những tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ, đánh giá tư cách đảng viên và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh Trải qua thực tiễn cách mạng đã cho chúng ta thấy công tác giáo dục LLCT có vai trò hết sức quan trọng trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng, xây dựng con người mới Thông qua giáo dục LLCT để nâng cao trình độ lý luận trong toàn Đảng, là cơ sở quan trọng để Đảng ta hình thành nên đường lối chính trị đúng đắn Công tác giáo dục LLCT đã góp phần làm cho toàn Đảng thống nhất mục tiêu lý tưởng, cương lĩnh, đường lối, khắc phục mọi biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị trong Đảng Các chương trình giáo dục LLCT được thực hiện đã góp phần nâng cao ý thức tự giác tu dưỡng đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên Đồng thời, giáo dục LLCT góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo luôn luôn kiên định lập trường chủ nghĩa xã hội, có năng lực tổ chức, tập hợp, động viên, giáo dục, thuyết phục quần chúng; có năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn
Chính vì vậy, nếu chúng ta làm tốt việc quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT sẽ đảm bảo mục tiêu giáo dục của từng chương trình cho từng đối tượng cụ thể với nội dung và phương thức thực hiện phù hợp, đảm bảo nguyên tắc giáo dục; nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, đảng viên ở cơ sở; góp phần quan trọng trong công tác xây dựng Đảng từ
Trang 34Trung ương đến cơ sở, tạo được sự đồng thuận của quần chúng nhân dân trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.4 Đặc điểm của công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện
Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện thực chất là quản lý hoạt động dạy học nên nó mang những đặc điểm chung về quản lý hoạt động giáo dục, có hệ thống, cơ bản, đồng bộ Tuy nhiên, có sự khác biệt về sự chỉ đạo và mối quan hệ công tác:
- TTBDCT cấp huyện do cấp uỷ huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) quyết định thành lập và trực tiếp lãnh đạo; UBND huyện quản lý về cơ sở vật chất, thiết bị và cấp kinh phí hoạt động;
- Ban Tuyên giáo cấp uỷ cấp huyện có trách nhiệm giúp cấp uỷ kiểm tra
về định hướng chính trị, tư tưởng trong giảng dạy tất cả các chương trình bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên của Trung tâm;
- Ban Tổ chức cấp uỷ cấp huyện chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo huyện uỷ và Trung tâm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng trên cơ sở quy hoạch cán
bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể ở các cơ sở, xây dựng bộ máy, biên chế, cán bộ
và thực hiện chế độ chính sách đối với người dạy và người học;
- Các phòng ban chuyên môn của cấp uỷ và uỷ ban nhân dân huyện theo chức năng, phối hợp với Trung tâm tiến hành những nhiệm vụ có liên quan đến các lĩnh vực công tác thuộc đơn vị;
- Ban Tuyên giáo cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với các ban, ngành của tỉnh thống nhất việc hướng dẫn mở các loại chương trình bồi dưỡng cho các đối tượng tại Trung tâm, hướng dẫn kiểm tra, sơ kết, tổng kết hoạt động của Trung tâm;
- Trường Chính trị tỉnh chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo cấp tỉnh có
kế hoạch bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ cho giám đốc, phó giám đốc, giáo vụ và đội ngũ giảng viên; hướng dẫn, giúp đỡ Trung tâm những vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ
Trang 35Công tác bồi dưỡng LLCT tại các TTBDCT cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở thuộc hệ giáo dục phổ cập Chương trình giáo dục LLCT tại TTBDCT cấp huyện chủ yếu là chương trình bồi dưỡng ngắn hạn; đối tượng là mọi thành viên ở cơ sở, trước hết là cán bộ, đảng viên và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ngoài diện đào tạo, bồi dưỡng do hệ thống trường Chính trị tỉnh, thành phố phụ trách, các thành viên của các đoàn thể nhân dân ở cơ sở; đội ngũ giảng viên cơ hữu ít, chủ yếu là giảng viên kiêm chức
Bởi vậy, quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện có những đặc thù riêng Các chương trình bồi dưỡng cụ thể cho từng đối tượng được triển khai thực hiện theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tuyên giáo cấp tỉnh và chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy huyện theo nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của địa phương Tài liệu của từng chương trình bồi dưỡng do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn và phát hành Ngoài ra còn có các tài liệu của địa phương về tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, các gương điển hình tiên tiến, giáo dục truyền thống, các chủ trương, chính sách của tỉnh, Mỗi chương trình đều có phân phối cụ thể về thời gian, trong đó có dành thời gian cho thảo luận, trao đổi kinh nghiệm xử lý tình huống ở cơ sở, báo cáo điển hình và tham quan thực tế Đối tượng tham gia học tập, nghiên cứu ở trung tâm đa dạng, chủ yếu là những cán bộ, đảng viên đã có thực tiễn công tác, có kinh nghiệm sống, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức cao trong tiếp thu
lý luận; nhưng hầu hết là những người có trình độ văn hóa và lý luận ở mức độ nhất định, chưa có phương pháp nghiên cứu, có thói quen nghe, ghi và tiếp thu một cách thụ động, ít hỏi hoặc nêu vấn đề đi sâu và mở rộng kiến thức
Đội ngũ giảng viên giảng dạy tại các trung tâm hầu hết là giảng viên kiêm chức Theo Quyết định 100-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII), mỗi Trung tâm chỉ được không quá 5 biên chế Theo Quyết định số 185-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X), mỗi TTBDCT cấp huyện
có biên chế từ 4 đến 6 người; trong đó có giám đốc, các phó giám đốc, giáo vụ, hành chính nên mỗi trung tâm chỉ có thể có từ 2 đến 4 giảng viên cơ hữu Số
Trang 36giảng viên còn lại là giảng viên kiêm chức và một số cộng tác viên Các đồng chí tham gia làm giảng viên kiêm chức ở trung tâm thường là cấp ủy huyện, trưởng, phó các ngành, đoàn thể cấp huyện; được đào tạo cơ bản, có trình độ LLCT, phẩm chất đạo đức trong sáng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, có tinh thần trách nhiệm cao và nhiệt tình trong công tác Tuy nhiên, đội ngũ giảng viên của các Trung tâm vừa thiếu, vừa yếu, đa số chưa qua nghiệp vụ sư phạm, đời sống vật chất còn gặp nhiều khó khăn, lại bận công tác chuyên môn nên ít đầu tư thời gian cho việc soạn bài lên lớp, làm ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy
Tuy được coi là một đơn vị sự nghiệp giáo dục nhưng về một số cơ chế công tác, các chế độ, chính sách; vấn đề đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động dạy và học chưa được hưởng như các đơn vị sự nghiệp giáo dục khác Do đó, việc quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện phải trên cơ sở đặc điểm của từng chương trình, đối tượng học tập, đội ngũ cán
bộ giảng viên, cơ chế chính sách và điều kiện cơ sở vật chất của các Trung tâm; đặc biệt chú ý đến đánh giá của các lực lượng xã hội đối với học viên đã qua bồi dưỡng tại Trung tâm
Tóm lại, dưới góc nhìn của khoa học quản lý giáo dục, quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện là quản lý hoạt động giáo dục có tính đặc thù riêng, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong suốt tiến trình cách mạng của đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng hiện nay Trên cơ sở những khái niệm cơ bản nêu trên, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giáo dục LLCT và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp cách mạng của Đảng
ta, Đề tài tiếp tục nghiên cứu sâu thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT tại TTBDCT cấp huyện tỉnh Thái Bình để đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp, mang tính khả thi, thiết thực góp phần củng cố, xây dựng và phát triển vững chắc hệ thống chính trị của tỉnh từ cơ sở xã, phường, thị trấn
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LLCT TẠI TTBDCT CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH
2.1- Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và công tác bồi dưỡng LLCT tỉnh Thái Bình
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng, diện tích tự nhiên là 1.546 km2 Đơn vị hành chính được chia thành 7 huyện và
1 thành phố với 286 xã, phường, thị trấn Dân số trên 1,8 triệu người; tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm là 0,95%; mật độ dân số đông với khoảng 1.200 người/km2 Là vùng quê có bề dày truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng; nhân dân kiên cường, bất khuất, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, dũng cảm trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm Đặc biệt là từ khi có Đảng đến nay, 83 năm qua, Đảng bộ và dân dân Thái Bình đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, không ngừng phấn đấu, xây dựng quê hương Thái Bình ngày càng phát triển
Trong những năm qua, mặc dù điều kiện còn nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, suy giảm kinh tế trong nước, nhưng kinh tế của tỉnh vẫn tăng trưởng khá Năm 2012, tổng sản phẩm (GDP) đạt 13.558 tỷ đồng (giá cố định 1994), tăng 7,82% so với năm 2011; trong đó, nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 4,3%, công nghiệp, xây dựng tăng 9,7%, dịch vụ tăng 11,2% Cơ cấu kinh tế: nông, lâm, thủy sản chiếm 38,2%, công nghiệp, xây dựng chiếm 32,5%, dịch vụ chiếm 29,3% GDP bình quân đầu người (giá thực tế) đạt 24,8 triệu đồng/năm Sáu tháng đầu năm 2013, tổng sản phẩm GDP ước đạt 6.855,5 tỉ đồng, tăng 6,16% so với cùng kỳ năm 2012 Tổng giá trị sản xuất ước đạt 14.179,1 tỷ đồng, tăng 8,16% Kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội được tăng cường Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ Năm học 2011 -
Trang 382012, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 99,94%, bổ túc trung học phổ thông đạt 99,83%; có 56/68 (82%) học sinh đạt giải tại kỳ thi học sinh giỏi
quốc gia; học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng đạt 64% Cơ sở
vật chất, trang thiết bị của các trường học, cơ sở dạy nghề tiếp tục được đầu tư xây dựng, nâng cấp Đến nay, toàn tỉnh có 594/903 (65,8%) trường học đạt chuẩn quốc gia Các chương trình mục tiêu quốc gia: y tế, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện có hiệu quả, không để dịch lớn xảy ra Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước; cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật và nhân lực ngành y tế được tăng cường; đã quan tâm đầu tư xây dựng trạm y tế xã theo chuẩn quốc gia
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" được duy trì Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá được chú trọng; năm 2012, chùa Keo được công nhận di tích quốc gia đặc biệt, 26 di tích được công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh Các thiết chế văn hoá, thể thao được đầu tư xây dựng Phong trào thể dục, thể thao quần chúng phát triển ngày càng sâu rộng; thể thao thành tích cao có tiến bộ Việc làm, đời sống nhân dân khá ổn định Năm 2012, đã dạy nghề cho 33.200 người, giải quyết việc làm cho 32.000 lao động; tỷ
lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 34% Triển khai Đề án thực hiện một
số chính sách đối với người và gia đình có công của tỉnh giai đoạn 2012
- 2015 Hoàn thành xây dựng, nâng cấp 1.779 nhà ở cho người có công với cách mạng Thực hiện trợ cấp ưu đãi trên 1000 tỷ đồng cho 139.566 lượt người có công với cách mạng; hỗ trợ 16,5 tỷ đồng mua bảo hiểm y
tế và tiền điện cho các đối tượng nghèo, cận nghèo Tỷ lệ hộ nghèo 6,8%, giảm 1,32% so với năm 2011 An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm Công tác cải cách tư pháp, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tiếp tục được quan tâm
Trang 39lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, có hiệu quả, góp phần giải quyết kịp thời những tồn đọng, bức xúc và những vụ việc phức tạp mới nảy sinh ở
cơ sở Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đạt được một số kết quả tích cực Các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị; hoàn thiện, bổ sung chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" và Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng "về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp"
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đặc biệt Nghị quyết số 02 – NQ/TU, ngày 28-4-2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng nông thôn mới, đã và đang tạo nên diện mạo mới cho nông thôn Thái Bình 267/267
xã hoàn thành quy hoạch chi tiết giao thông, thuỷ lợi nội đồng; 218 xã hoàn thành quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã; 201 xã hoàn thành lập đề án xây dựng nông thôn mới; 148 xã hoàn thành dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp Phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới tiếp tục được triển khai mạnh mẽ, được nhân dân hưởng ứng tích cực; dự kiến trong năm 2013, có trên 9 xã hoàn thành xây dựng nông thôn mới
2.1.2 Kết quả hoạt động bồi dưỡng LLCT
Đảng bộ tỉnh Thái Bình đến nay có 798 tổ chức cơ sở đảng Trong đó có
267 đảng bộ xã, 19 đảng bộ phường, thị trấn; 39 đảng bộ, chi bộ doanh nghiệp nhà nước; 85 đảng bộ, chi bộ doanh nghiệp cổ phần; 31 đảng bộ, chi bộ doanh nghiệp tư nhân; 2 đảng bộ, chi bộ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 173
Trang 40đảng bộ, chi bộ cơ quan hành chính; 93 đảng bộ, chi bộ đơn vị sự nghiệp; 62 đảng bộ quân đội, công an; 47 đảng bộ, chi bộ thuộc các loại hình khác Các chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, nhận thức cũng như chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của 8 TTBDCT cấp huyện
Do nhận thức rõ vị trí, vai trò của công tác tư tưởng lý luận trong tình hình mới, những năm gần đây Đảng bộ tỉnh luôn quan tâm đến công tác tuyên truyền giáo dục, đặc biệt là công tác giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên ở cơ
sở Với phương châm hướng về cơ sở, cấp uỷ các cấp luôn quan tâm chỉ đạo các địa phương, đơn vị tạo điều kiện thuận lợi cho mọi cán bộ, đảng viên được học tập LLCT, đưa việc học tập LLCT trở thành quyền lợi, trách nhiệm và là tiêu chí đánh giá, xếp loại của mỗi tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên
Sự phối kết hợp giữa các cơ quan, ban, ngành có liên quan từ tỉnh đến cơ sở trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT ở địa phương, cơ sở được quan tâm thường xuyên
Thực hiện Quy định 54-QĐ/TW, ngày 12-5-1999 của Bộ Chính trị về chế
độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, nhận thức của cấp uỷ các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với việc học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị được nâng lên, đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở Các cấp ủy đảng đã chú trọng tới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên với số lượng lớn, cán bộ được cử
đi đào tạo ngày một tăng, đã tạo thành phong trào thi đua học tập sâu rộng trong Đảng Trình độ lý luận, năng lực cán bộ ngày một nâng cao; nhiều đồng chí có tư duy sáng tạo, có bước đổi mới về phương pháp công tác, có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững và thực hiện tốt đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao