1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO đạo đức NHO GIÁO đối với nền GIÁO DỤC VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN

6 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 266 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trải qua quá trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã hình thành một nền giáo dục đặc sắc, đó là truyền thống dạy chữ để làm người. Những người yêu nước Việt Nam từ xưa đến nay bao giờ cũng chăm lo đến sự nghiệp giáo dục, tuy nhiên tuỳ từng giai đoạn phát triển của lịch sử có những tư tưởng giáo dục riêng nhằm xây dựng một thể chế xã hội vững mạnh và một nền giáo dục tiên tiến để đào taọ nhân tài cho đất nước.

Trang 1

ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM

THỜI PHONG KIẾN

Trải qua quỏ trỡnh lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dõn tộc Việt Nam đó hỡnh thành một nền giỏo dục đặc sắc, đú là truyền thống dạy chữ để làm người Những người yờu nước Việt Nam từ xưa đến nay bao giờ cũng chăm

lo đến sự nghiệp giỏo dục, tuy nhiờn tuỳ từng giai đoạn phỏt triển của lịch sử cú những tư tưởng giỏo dục riờng nhằm xõy dựng một thể chế xó hội vững mạnh

và một nền giỏo dục tiờn tiến để đào taọ nhõn tài cho đất nước

Để đáp ứng yêu cầu đó nhà Lý đã chọn nho giáo, một học thuyết chính trị

đạo đức ra đời trớc đó hơn 1500 năm để chấn hng nền giáo dục nớc nhà Vì vậy,

đạo đức Nho giỏo là một bộ phận cơ bản, bao trựm của học thuyết Nho giỏo được ra đời từ thời cổ đại ở Trung quốc và đó cú mặt rất sớm ở Việt Nam Trải qua những thăng trầm của lịch sử, đó cú thời gian rất dài Nho giỏo đó là nũng cốt của- hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam và đó để lại những dấu ấn sõu sắc trong đời sống đạo đức văn hoỏ, tinh thần của dõn tộc, là một bộ phận cấu thành của đạo đức - văn hoỏ truyền thống của dõn tộc Ngày nay, cơ sở kinh tế - xó hội của đạo đức Nho giỏo khụng cũn, nhưng tư tưởng đạo đức Nho giỏo vẫn chưa hoàn toàn biến mất Trờn thực tế, nhiều yếu tố trong tư tưởng đạo đức Nho giỏo vẫn đang tồn tại, đang ảnh hưởng đến đời sống đạo đức của xó hội núi chung, của từng người dõn núi riờng

Đạo đức Nho giỏo là một học thuyết đạo đức lớn của phương Đụng cổ đại Những cơ sở của Nho giỏo được hỡnh thành từ thời Tõy Chu, đến Khổng tử (551 TCN - 479 TCN) đó hệ thống hoỏ, phỏt triển những tư tưởng của Chu Cụng

và nõng lờn thành học thuyết, từ đú, Nho giỏo gắn liền với tờn tuổi của ụng Sau khi Khổng tử chết, Nho giỏo chia thành nhiều phỏi, mỗi phỏi, trong cỏc giai đoạn lịch

sử khỏc nhau, họ khai thỏc tư tưởng của Khổng tử ở nhiều gúc độ, khớa cạnh khỏc nhau Tuy vậy, nhỡn chung tư tưởng về đạo đức của Nho giỏo được phõn thành hai mảng tương đối rừ nột: Đạo đức xó hội và đạo đức cỏ nhõn

Đạo đức xó hội, thể hiện cụ thể ở thuyết chớnh danh, xuất phỏt từ quan

điểm cho rằng: sự loạn lạc, suy đồi của đạo đức xó hội được bắt đầu từ sự sa đoạ của đẳng cấp cầm quyền khiến cho "danh" khụng được chớnh Bởi "danh" khụng chớnh sẽ dẫn tới lời núi khụng đỳng, việc làm sai, kỷ cương, trật tự xó hội sẽ bị

Trang 2

đảo lộn Từ đó, Khổng Tử muốn lập lại kỷ cương xã hội bằng việc thực thi

thuyết "chính danh".

"Danh" theo Khổng Tử có thể hiểu đó như là tên gọi của một người, một vật trong quan hệ cụ thể Mỗi danh sẽ có những yêu cầu riêng về sự tồn tại và sự biểu hiện của nó

Chính danh là vật nào, người nào mang danh nào thì phải thực hiện đúng những yêu cầu mà danh đó đòi hỏi Khổng Tử giải thích: Chính danh là người cầm quyền làm cho mọi việc được ngay thẳng "Chính giả, chính dã", là

"quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử", nghĩa là: vua phải làm trọn đạo vua,

bề tôi phải trọn đạo của bề tôi, cha phải làm trọn đạo cha, con phải làm trọn đạo làm con

Trong quan hệ giữa người với người, danh được biểu hiện qua khái niệm

"Luân" (loại trật tự, thứ tự, đạo cư xử), mỗi thứ quan hệ là một luân Theo Khổng Tử, trong xã hội có năm mối quan hệ cơ bản (ngũ luân): Quan hệ vua -tôi, quan hệ cha - con, quan hệ chồng - vợ, quan hệ bạn bè Chính danh của Ngũ luân là: "quân nhân, thần trung, phụ từ - tử hiếu, phu nghĩa - phụ kính, huynh lương - đệ đễ, bằng hữu hữu tín"

Như vậy, thuyết chính danh của Nho giáo muốn đưa ra những tiêu chuẩn, qui tắc nhằm điều chỉnh hành vi, ứng xử trong quan hệ giữa người với người trong xã hội theo trật tự, tôn ti của xã hội phong kiến: vua - quan (có thứ bậc) - dân (có các hạng dân) Chính danh là nền tảng mà trên đó những tư tưởng Nhân trị, Đức trị và các tư tưởng xã hội khác của Nho giáo được hình thành và phát triển, khi trong xã hội tất cả mọi người đều thực hiện đúng chính danh (địa vị) của mình thì trật tự, kỷ cương xã hội sẽ được giữ vững, sẽ ổn định, thái bình thịnh trị Chính danh cũng là cơ sở để hình thành nên những nội dung cơ bản của đạo đức cá nhân

Đạo đức cá nhân, các nguyên tắc đạo đức cá nhân của Nho giáo không

được trình bày nhất quán trong lịch sử của phái này, trong Trung dung, Khổng

Tử chỉ nói tới Nhân - Trí - Dũng, tới Mạnh Tử, ông bỏ chữ "Dũng" mà thay vào

đó là "Lễ, Nghĩa" thành 4 đức "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí" Sau này tới thời nhà Hán, Đổng Trọng Thư thêm vào 1 chữ "Tín" thành "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín" (ngũ thường) Tuy vậy, xuyên suốt trong thời cổ đại và tới sau này, nội dung quan

Trang 3

trọng nhất về đạo đức cá nhân của Nho giáo vẫn là những nội dung mà Khổng -Mạnh đã đề cập, đặc biệt là nội dung "Nhân và Lễ"

Bàn về đạo đức cá nhân, các Nho gia đều cho rằng: "Nhân" là phẩm chất đứng đầu, cao nhất , đó là đức tính cội nguồn, bao trùm mọi đức tính khác của đạo đức con người Do đó, nhân có nghĩa rộng nhất là đạo làm người, là con người theo đúng nghĩa của nó: "Nhân giả, nhân dã" Đạo làm người có hàng ngàn, hàng vạn điều, nhưng có thể hiểu là cách cư xử với mình và cách cư xử với người khác

Trong quan hệ đối với người khác, nguyên tắc cao nhất của đức Nhân là phải ái nhân (yêu thương người khác), Khổng Tử dạy: "Người có nhân muốn tự lập lấy mình cũng phải lo lập cho người khác, muốn thành đạt cho mình thì cũng phải lo thành đạt cho người, người có nhân ứng xử với mình như thế nào thì cũng phải ứng xử với người khác như thế" (phù nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân; kỷ dục đạt nhi đạt nhân, năng cận thủ thế)

Nhân là "kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" (cái gì mình không muốn làm thì đừng làm cho người khác), nhân là có hiếu với cha mẹ, là kính trọng bề trên, người cao tuổi Nhân là "khắc kỷ phục lễ vi nhân" (lòng nhân là khắc kỷ, là trở

về với lễ) tức là phải kìm nén những dục vọng, ham muốn của cá nhân để làm cho đúng những qui định của Lễ

Cái nhân của Nho giáo có phân biệt đẳng cấp, Nho giáo cho rằng chỉ có những người thuộc đẳng cấp trên trong xã hội, mới có thể có được đức nhân, hoặc một phần của đức nhân,

Nho giáo đánh giá rất cao vai trò của đức nhân trong xã hội, bởi họ cho rằng, nếu cái tâm của con người luôn hướng về nhân thì sẽ không bao giờ nghĩ tới chuyện làm phản loạn, làm những điều tà ác Chính vì vậy, đối với những người cầm quyền, đức Nhân như một thành trì vững chắc để giữ gìn và bảo vệ những thành quả mà họ đã đạt được

Đối với thân mình, người có đức nhân là những người sẵn sàng vui sống

trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù đó là vinh hoa hay nghèo túng Nho giáo đã đề cập tới rất nhiều biểu hiện khác nhau của đức nhân, song chung qui lại "người

có đức nhân là người phải nghiêm trang tề chỉnh, rộng lượng, khoan dung; đức

Trang 4

tín, lòng thành; siêng năng, cần mẫn; bố đức thiên hạ" (cung, khoan, tín, mẫn, huệ) Nhân không chỉ dừng lại ở nguyên tắc có tính phổ quát, nó được cụ thể ra bằng chữ Hiếu

Theo Nho giáo, Hiếu được coi là cội nguồn của chữ nhân, có lúc Hiếu với Nhân là một, họ cho rằng: trong ngũ luân, chỉ có một cái "Luân" thuộc về tình phụ tử, là thân thiết nhất, nó là thiên tính, trời phú Do đó "không thương yêu cha mình mà thương yêu kẻ khác đó là đức trái ngược đạo lý" Hiếu theo Khổng Tử "vô vi, vô cải" Vô vi là sự phụng dưỡng cha mẹ phải có tâm, có lòng thành, luôn kính trọng và làm cho cha mẹ vui vẻ "Vô cải" là nối chí, nối nghiệp cha Sau này khi bàn về Hiếu đạo, Tăng Tử cho rằng: "Hiếu có 3 điều, đại hiếu phải tôn thân, sau nữa là đừng làm điếm nhục, sau nữa mới là nuôi dưỡng” Tôn thân, trước hết là tôn cao nhân cách của mình; "lập thân hành đạo, để tiếng cho đời sau, để làm rạng rỡ cho cha mẹ" (lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiếu phụ mẫu), tôn thân còn là sự tôn trọng, tôn thờ cha mẹ

Phất nhục (điếm nhục) không làm điếm nhục, xấu đến cái nhân cách mà cha mẹ truyền cho ta

Năng dưỡng: phụng dưỡng cha mẹ với tất cả lòng thành kính

Đạo hiếu của Nho giáo đó là sự phục tùng vô điều kiện, của con cái đối với cha mẹ, mà ở đó sự tồn tại của cá nhân bị phủ định hoàn toàn

Như vậy, Nho giáo đã lấy quan hệ gia đình làm quan hệ cơ bản, nền tảng, phổ biến cho mọi quan hệ xã hội, từ đó dẫn tới tuyệt đối hoá quan hệ gia đình, hình thành nên một thứ gia đình chủ nghĩa, ở đâu cũng quan niệm cư xử như một gia đình, lấy sự êm ấm, hoà bình, trật tự làm trọng

Lễ, trong học thuyết của Nho giáo không chỉ có tính chất lễ nghi tôn

giáo, mà còn bao hàm mọi nghi thức trong quan hệ xã hội, kể cả những vấn đề thuộc về thể chế chính trị Những quy định của Lễ trong Nho giáo cực kỳ chi tiết, nó đi cả vào những hoạt động của cá nhân, gia đình như ăn, mặc, đi, đứng, chào hỏi, ma chay, cưới xin, hội hè, đình đám… của từng loại người trong xã hội, nhằm khôi phục lại tôn ti của xã hội và thực thi thuyết chính danh Nho giáo

đã khai thác triệt để Lễ ở góc độ luân lý để xác định vị trí mỗi người, cách ứng

xử trong các quan hệ xã hội theo đúng tôn ti, trật tự xã hội, theo "tam cương, ngũ thường", "Tam tòng tứ đức"

Trang 5

Trên cơ sở đó, Lễ đã từng ngày từng giờ tác động đến tâm tư, tình cảm của con người, góp phần quan trọng tạo ra những phẩm chất cá nhân mà xã hội đòi hỏi, kìm hãm những ham muốn, dục vọng của cá nhân mà cộng đồng xã hội muốn chế ngự Những qui định của Lễ và việc truyền bá vừa có tính chất khuyên bảo vừa có tính chất cưỡng bức con người thực hiện Lễ đã tạo nên những thói quen đạo đức trong xã hội, nó tạo ra những khuôn mẫu điều chỉnh tư tưởng, tình cảm, hành vi của con người theo chuẩn mực đạo đức Nho giáo Với ý nghĩa đó,

Lễ là công cụ hữu hiệu nhất để Nho giáo thực hiện thuyết chính danh Trong đạo đức Nho giáo Lễ có vai trò quan trọng chỉ sau Nhân

Nghĩa, là dạ thuỷ chung, bất Nghĩa là bạc Nghĩa là những gì hợp với

đạo lý mà con người cần phải làm, bất kể điều đó có đem lại lợi ích gì không Khổng Tử trong sách Trung dung đã viết: "Nghĩa là cư xử cho thích hợp", (Nghĩa giả chi giả) Theo ý nghĩa đó, Nghĩa là cái đối lập với lợi, do đó, trong quan niệm của các Nho gia Đức "Nhân" và "Nghĩa" gần như là một, đồng nghĩa với nhau, chúng thường đi cùng nhau, thành "Nhân Nghĩa"

Trí, là sự hiểu biết nói chung để phân tích, đánh giá con người và tình

huống, qua đó xác định cho mình cách ứng xử cho đúng đạo Như vậy, những nội dung của Trí rất hạn hẹp, nó chỉ giới hạn trong giao tiếp ứng xử chứ không đi vào kinh nghiệm nghề nghiệp, lao động sản xuất, phòng chống thiên tai…

Người quân tử là mẫu người lý tưởng của Nho giáo, đó là những con

người thuộc đẳng cấp trên trong xã hội có những phẩm chất tốt, đạt "Đạo" và đạt

"Đức", bằng cách tu thân Đạt "Đạo": Phải giải quyết tốt, đúng những đạo làm người trong ngũ luân theo Trung dung (giữ cái tâm ở giữa không dao động, theo sát đạo lý, không bị cám dỗ) Đạt "Đức" Người quân tử cần có năm đức tính cơ bản "Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín" Ngoài ra người quân tử còn cần phải biết kinh

"Thư, Thi, Lễ, Nhạc" tức là phải có văn hoá toàn diện Sau khi đã tu thân, Người quân tử cần phải hành động, phải "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" để thiết lập lại trật tự, kỷ cương xã hội cho đúng với chính danh của mỗi người Như vậy, những phẩm chất của người quân tử mà Nho giáo yêu cầu đó chính là những phẩm chất đạo đức, chứ không phải là tài năng lãnh đạo, quản lý Đó chính là quan điểm "Thượng Đức" của Nho giáo

Trang 6

Như vậy, đạo đức Nho giáo là học thuyết đạo đức - chính trị của giai cấp phong kiến Trung Quốc nhằm tổ chức, xây dựng xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của giai cấp thống trị, theo phương châm "Nhân trị", "Lễ trị", "Đức trị", thông qua vai trò của người cai trị kiểu mẫu - Người quân tử

Xã hội lý tưởng mà Nho giáo muốn xây dựng: Đó là xã hội có sự thống nhất về mọi mặt ổn định, đứng đầu xã hội đó là một ông vua hiền thuộc dòng chính thống Trong xã hội mỗi người có những vị trí, địa vị xã hội của mình và quan hệ, đối xử với nhau trên cơ sở "Tình - Nghĩa - Lễ"

Trong lịch sử, tại Việt Nam và ở vùng Á Đông chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo, phạm trù đạo đức thường được luận giải tập trung ở "cương thường" và "luân thường" Cương thường là sự kết hợp giữa Tam cương với ngũ thường Luân thường là sự kết hợp Ngũ luân với Ngũ thường Cương thường và Luân thường là những nguyên tắc đạo đức chi phối mỗi suy nghĩ

và hành động của con người, đó chính là cốt lõi tư tưởng và luân lý của Nho giáo Việt Nam

Thái độ học tập của nho gia đã đem đến sự thành thực, trung chính cho con người, tuy nhiên sau này các động cơ tích cực bị chế độ xã hội phong kiến Việt Nam làm băng hoại và ngày càng trở thành câu lệ nhưng với tinh thần gạn đục khơi trong, nhân dân ta đã biết chiết tinh lấy những giá trị văn hoá của nho gia, giữ gìn vun đắp để phát triển lên một tầm cao mới vận dụng vào công tác giáo dục trong các nhà trường lúc bấy giờ và kể cả đến ngày hôm nay

Ngày đăng: 13/05/2017, 22:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w