Mặc dù trong thời gian qua, nhiều chương trình quan trắc tổng thể đã được phê duyệt và triển khai thực hiện, tuy nhiên mạng lưới quan trắc không khí môi trường quốc gia vẫn còn một số hạ
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Trang 2MỤC LỤC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ NHIỆM VỤ 3
1.1 Mở đầu 3
1.2.Căn cứ pháp lý để xây dựng Chương trình 5
1.3 Mục tiêu của Chương trình 6
1.4 Phạm vi của Chương trình: tại các vùng kinh tế trọng điểm, các điểm nóng về môi trường 7
II TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VIỆT NAM 7
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên 7
2.1.1 Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 7
2.1.2 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 7
2.1.3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam 8
2.1.4 Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 8
2.1.5 Vùng kinh tế hoạt động khai thác và vận chuyên bauxit tại khu vực Tây Nguyên 9
2.2 Tổng quan về kinh tế - xã hội tại các vùng kinh tế trọng điểm 9
2.2.1 Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 9
2.2.2 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung 11
2.2.3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam 12
2.2.4 Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 13
2.2.5 Vùng kinh tế hoạt động khai thác và vận chuyên bauxit tại khu vực Tây Nguyên 13
III HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI VIỆT NAM 14
IV HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRÊN TOÀN QUỐC 16
4.1 Hiện trạng mạng lưới quan trắc định kỳ môi trường không khí 16
4.2 Hiện trạng mạng lưới các chương trình quan trắc quốc gia 21
4.2.1 Chương trình quan trắc đã thực hiện 21
4.2.2 Chương trình quan trắc khí chưa thực hiện 35
4.2.3 Chương trình quan trắc khí khác 38
4.3 Hiện trạng mạng lưới quan trắc tự động môi trường không khí 41
V CHƯƠNG TRÌNH QUAN TRẮC TỔNG THỂ MÔI TRƯỜNG KHÍ, TIẾNG ỒN VÀ ĐỘ RUNG GIAI ĐOẠN 2017 – 2020 44
(Nội dung thiết kế chương trình chi tiết xem tại bản Chương trình tổng thể quan trắc quốc gia đối với môi trường khí, tiếng ồn và độ rung giai đoạn 2017-2020) 44
Trang 3I THÔNG TIN CHUNG VỀ NHIỆM VỤ 1.1 Mở đầu
Trong giai đoạn 2011 - 2015, chất lượng không khí tại các đô thị lớn, khu vực xung quanh các khu sản xuất công nghiệp và làng nghề chưa có nhiều cải thiện so với giai đoạn 2006 - 2010 Trong các tác nhân gây ô nhiễm không khí thì bụi là vấn đề nổi cộm nhất Các đô thị lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh hay đô thị có hoạt động công nghiệp mạnh như Việt Trì (Phú Thọ), ô nhiễm bụi trong không khí có xu hướng duy trì ở ngưỡng cao, đặc biệt là các khu vực gần các trục giao thông chính Tại các công trường xây dựng (khu chung cư, đô thị mới, sửa chữa đường giao thông, xây dựng đường trên cao,…) tình trạng ô nhiễm bụi cục bộ vẫn tiếp tục diễn ra Tại các khu dân cư, nồng độ bụi trong không khí nhìn chung thường thấp hơn so với hai bên đường giao thông và các công trường xây dựng Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng bởi hoạt động giao thông, công nghiệp nên hầu hết các điểm quan trắc tại khu dân cư đều ghi nhận mức độ ô nhiễm bụi TSP vẫn vượt nhiều lần ngưỡng cho phép QCVN 05:2013/BTNMT Kết quả đánh giá chất lượng không khí thông qua chỉ số chất lượng không khí AQI cho thấy, tại các đô thị lớn, số ngày có AQI ở mức kém (chất lượng không khí ảnh hưởng xấu đến sức khỏe) chiếm tỷ lệ khá lớn Điển hình như tại thủ đô Hà Nội,
số ngày trong năm 2014 có AQI ở mức kém chiếm tỷ lệ hơn 50% tổng số ngày quan trắc trong năm
Chất lượng không khí tại các khu vực xung quanh các khu sản xuất công nghiệp và làng nghề phụ thuộc vào loại hình sản xuất cũng và mức độ phát thải của các nhà máy Tương tự khu vực đô thị, ô nhiễm bụi trong không khí xung quanh các KCN cũng là vấn đề đáng quan tâm Nhiều khu vực trong số này đặc biệt là các khu vực xung quanh nhà máy xi măng và khai thác khoáng sản đã bị
ô nhiễm bụi Mức độ ô nhiễm bụi ở các KCN miền Bắc cao hơn khu vực miền Trung và miền Nam Tại các làng nghề, ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu là ô nhiễm bụi, khí độc, hơi kim loại, mùi và tiếng ồn, tùy thuộc vào tính chất, quy mô và sản phẩm của từng loại ngành nghề Các khu vực nông thôn và miền núi cách xa các trục đường giao thông chính chất lượng không khí vẫn mức ở tốt Tuy nhiên, cục bộ tại một số điểm cũng đã ghi nhận hiện tượng ô nhiễm không khí do bụi, khói
Trang 4Với đặc trưng khí hậu của nước ta, mức độ ô nhiễm không khí thay đổi qua các tháng trong năm, diễn biến rõ rệt theo mùa Điều này được thể hiện rõ ở khu vực miền Bắc, ô nhiễm không khí ở mức cao thường tập trung vào các tháng mùa đông Khu vực Nam Trung Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt ổn định, ít biến động quanh năm nên sự khác biệt về ô nhiễm không khí giữa các tháng không rõ rệt Đối với các địa phương ở phía Nam, khí hậu trong năm có sự phân hóa giữa mùa khô và mùa mưa vì vậy ô nhiễm không khí thường cao trong mùa khô và thấp hơn ở mùa mưa Diễn biến nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí (đặc biệt tại khu vực đô thị) cũng có những thay đổi theo quy luật trong ngày, thể hiện rõ nhất tại các khu vực gần trục giao thông Nồng độ chất ô nhiễm tăng cao nhất vào các giờ cao điểm giao thông.
Đối với ô nhiễm không khí liên quốc gia, mặc dù, những nghiên cứu, đánh giá còn hạn chế, tuy nhiên, một số vấn đề như lắng đọng axit, sương mù quang hóa hay ô nhiễm xuyên biên giới đã xuất hiện những dấu hiệu ảnh hưởng nhất định đến chất lượng môi trường không khí một số khu vực của nước ta Hiện tượng sương mù quang hóa đã diễn ra ở các đô thị lớn như Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh tại một số thời điểm trong năm Hiện tượng này xảy ra khi ô nhiễm không khí ở mức độ rất cao Theo một số nghiên cứu, toàn bộ miền Bắc và miền Trung Việt Nam được đánh giá là chịu tác động đáng kể từ các nguồn phát thải từ các khu vực phía Đông, Đông Bắc, Đông Nam của Trung Quốc, Đài Loan Các kết quả nghiên cứu cho thấy có sự vận chuyển các chất ô nhiễm theo gió mùa Đông Bắc vào mùa đông (điển hình tháng 1), đóng góp một lượng khí ô nhiễm và bụi mịn trong không khí miền Bắc Việt Nam
Mặc dù trong thời gian qua, nhiều chương trình quan trắc tổng thể đã được phê duyệt và triển khai thực hiện, tuy nhiên mạng lưới quan trắc không khí môi trường quốc gia vẫn còn một số hạn chế:
- Nhiều chương trình tổng thể quan trắc đã được phê duyệt, tuy nhiên nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường chưa đáp ứng để các chương trình này được triển khai hoặc triển khai nhưng còn hạn chế về số lượng điểm, thông số, tần suất quan trắc
- Các chương trình đã được phê duyệt chưa tính đến vấn đề dự báo về sự ảnh hưởng của phát triển đô thị đối với mạng quan trắc hiện có, dẫn đến bị động khi quá trình đô thị hóa nhanh tại một số địa phương làm cho ảnh hưởng lớn đến tầm quan sát và chất lượng của số liệu quan trắc tại một số trạm quan trắc
Trang 5- Mạng lưới quan trắc môi trường không khí của Trung tâm Quan trắc môi trường - Tổng cục Môi trường và mạng lưới quan trắc của các Trạm đất liền thuộc mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia được xây dựng trên nền tảng là các mạng riêng rẽ được hình thành vào nhiều thời kỳ khác nhau, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị thực hiện Do đó, các chương trình quan trắc môi trường không khí còn chưa đồng bộ, trùng lặp Việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện còn phân tán do thiếu sự thống nhất trong quản lý và điều hành lực lượng quan trắc TN&MT Một số thông số, đối tượng cần quan trắc chưa được đưa vào quy hoạch như việc quan trắc để phục vụ cho các mục đích như độ rung, quan trắc tự động
- So với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay, mạng lưới quan trắc môi trường không khí nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu công tác quản lý nhà nước, còn thưa và chưa hợp lý, đặc biệt quan trắc môi trường ở các vùng kinh tế trọng điểm, vùng có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao như khu đô thị, làng nghề; các điểm nóng về môi trường tại các địa phương cần có sự phối hợp hoặc tham gia trực tiếp của trung ương
Từ những vấn đề nêu trên, việc xây dựng, ban hành Chương trình tổng thể quốc gia có tính bao quát và đồng bộ là hết sức cần thiết, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu quản lý hoạt động quan trắc TN&MT cũng như yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, theo chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ tại Công văn số 3397/BTNMT-KH ngày 18/8/2015 về việc thống nhất từ năm 2016 của việc xây dựng một Chương trình tổng thể có tính bao quát trên cả nước, việc xây dựng và phê duyệt Chương trình tổng thể quan trắc quốc gia đối với môi trường khí, tiếng ồn và độ rung giai đoạn 2017-2020 là cơ sở và tiền đề để phát triển mạnh mẽ và toàn diện mạng lưới quan trắc không khí quốc gia trong thời gian tới
1.2.Căn cứ pháp lý để xây dựng Chương trình
- Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 55/2014/QH13) được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014
- Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 12 tháng 01 năm 2016 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016-2025, tầm nhìn đến năm 2030”;
- Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trang 6- Thông tư số 28/2011/TT-BTNMT ngày 01 tháng 8 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường không khí xung quanh và tiếng ồn
- Thông tư số 21/2012/TT-BTNMT ngày 19 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường
- Thông tư số 43/2015/BTNMT ngày 29 tháng 9 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về báo cáo hiện trạng môi trường, bộ chỉ thị môi trường và quản lý số liệu quan trắc môi trường
- Quyết định số 361/QĐ-TCMT về việc phê duyệt “Chương trình quan trắc tổng thể môi trường vùng kinh tế trọng điểm miền Trung giai đoạn 2011-2015”
- Quyết định số 75/QĐ-TCMT ngày 25 tháng 01 năm 2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường đã phê duyệt nội dung “Chương trình tổng thể quan trắc môi trường không khí và nước tại vùng KTTĐ phía Bắc giai đoạn
2011 – 2015”
- Quyết định số 362/QĐ-TCMT ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường về việc phê duyệt Chương trình quan trắc tổng thể môi trường vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2011-2015
- Quyết định số 492/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long
- Công văn số 3397/BTNMT-KH ngày 18/8/2015 về việc thống nhất từ năm 2016 của việc xây dựng một Chương trình tổng thể có tính bao quát trên cả nước
- QCVN 05:2013/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh
- QCVN 06:2013/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh
- QCVN 46:2012/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quan trắc khí tượng
- QCVN 26:2010/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
- QCVN 27:2010/BTNMT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về độ rung
1.3 Mục tiêu của Chương trình
- Theo dõi, giám sát chất lượng môi trường không khí, tiếng ồn, cường
độ dòng xe và độ rung ở cấp độ quốc giatheo không gian và thời gian với những
số liệu được cập nhật thường xuyên và chính xác
- Kịp thời phát hiện và cảnh báo các trường hợp ô nhiễm
Trang 7- Cung cấp các số liệu, thông tin cần thiết về hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường không khí phục vụ công tác quản lý bảo vệ môi trường
1.4 Phạm vi của Chương trình: tại các vùng kinh tế trọng điểm, các điểm
nóng về môi trường
II TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI
VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ của Việt Nam gồm 7 tỉnh và thành phố: Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh (hạt nhân của vùng), Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc
Vị trí địa lý của vùng nằm tại trung tâm miền Bắc, trải dài từ tây sang đông, được xây dựng và phát triển các khu vực ngoại vi thành phố lớn, dọc đường 18, đường 21 và đường 5
+ Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn
+ Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ
+ Phía Nam giáp Hà Nam, Nam Đinh, Thái Bình
+ Phía Tây giáp Hòa Bình
Năm 2009, vùng KTTĐ Bắc Bộ có diện tích là 15594 km2 (chiếm 4,7% diện tích cả nước) và dân số là 1458,9 triệu (người chiếm 16,2% dân số cả nước), đặc biệt nơi đây có Hà Nội - Thủ đô và là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của cả nước; thành phố Hải Phòng mới được xếp vào đô thị loại I cấp quốc gia, ngoài ra còn có 2 thành phố thuộc tỉnh (cả nước có 20), 9 thị xã (cả nước có 62), 77 thị trấn (cả nước có 565) Tỷ lệ đô thị hoá của vùng đạt khoảng 27,4% (cả nước 24,8%)
2.1.2 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung bao gồm 5 tỉnh Thừa Thiên Huế (thuộc vùng Bắc Trung Bộ), Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ)
Vị trí địa lý của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung :
+ Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị
+ Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên
+ Phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước CHDCND Lào
+ Phía Đông giáp biển Đông
Trang 8Vùng KTTĐ miền Trung với diện tích 27.976 km2 gồm 5 thành phố (1 thành phố trực thuộc Trung Ương và 4 tỉnh thành phố trực thuộc tỉnh); 55 quận huyện; 46 thị trấn và 746 xã phường Dân số trung bình khoảng 6,3 triệu người (năm 2012) và dự báo đến năm 2025 là 8,15 triệu người, dân số đô thị chiếm 33,1% dân số của vùng
Nằm tại vị trí thuận lợi gần với các nước Lào và Campuchia, hệ thống đường bộ hoàn thiện và gần tuyến đường xuyên Á ra biển đối với đường hàng hải quốc tế; cùng với sự phát triển của chuỗi đô thị đang phát triển nằm trải dài trên 558km bờ biển bao gồm các tỉnh/thành phố: Huế, Đà Nẵng, Hội An, Tam
Kỳ, Quảng Ngãi, Quy Nhơn và các khu kinh tế lớn như Chân Mây- Lăng Cô, Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội nên vùng KTTĐ miền Trung sẽ trở thành đầu mối giao lưu kinh tế quốc tế quan trọng với các nước trong khu vực và trên thế giới
2.1.3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam
Vùng KTTĐ phía Nam bao gồm 8 tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh,Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa–Vũng Tàu, Long
An, Tiền Giang Diện tích tự nhiên toàn vùng trên 30 ngàn km2, chiếm 9,2% diện tích cả nước chiếm khoảng 17% dân số Vùng KTTĐ phía Nam nằm trên vùng đồng bằng và bình nguyên rộng, chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến Đồng bằng sông Cửu Long
- Phía Đông giáp biển Đông
- Phía Bắc giáp Tây Nguyên
- Phía Nam giáp vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cử Long
- Phía Tây giáp Campuchia
2.1.4 Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long
Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL bao gồm 4 tỉnh/thành phố là Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau Vùng KTTĐ có vị trí địa lý nằm về phía Tây và Nam trong vùng ĐBSCL, ở cực Nam của Tổ quốc, tứ cạnh tiếp giáp như sau:
- Phía Tây Bắc: giáp với Campuchia;
- Phía Bắc: giáp với vùng KTTĐ phía Nam (Đông Nam Bộ);
- Phía Tây và Tây Nam: giáp vịnh Thái Lan
- Phía Đông và Đông Nam: giáp biển Đông
Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL có bờ biển dài giáp biển Đông và vịnh Thái Lan có điều kiện thuận lợi phát triển vận tải biển, phát triển kinh tế biển, bên cạnh đó vùng KTTĐ vùng ĐBSCL nằm giáp Camphuchia là vùng đất có nguồn
Trang 9tài nguyên khoáng sản, rừng phong phú, thuận lợi cho việc phát triển giao lưu và hợp tác quốc tế
2.1.5 Vùng kinh tế hoạt động khai thác và vận chuyên bauxit tại khu vực Tây Nguyên
Vùng hoạt động khai thác và vận chuyển bauxit bao gồm 4 tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Đăk Nông, tỉnh Bình Phước, tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia) Trong khi Kon Tum
có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia Còn Lâm Đồng không
có đường biên giới quốc tế Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng về kinh
tế, chính trị, quốc phòng đối với cả nước và khu vực Đông Dương Ở độ cao từ
250 đến 2500m, là đầu nguồn của 4 hệ thống sông lớn (sông Đồng Nai, La Ngà,…) và có hệ thống giao thông bao gồm quốc lộ 14, 19, 20, 24, 25, và 27
2.2 Tổng quan về kinh tế - xã hội tại các vùng kinh tế trọng điểm
Dân số trung bình năm 2015 của cả nước ước tính 91,70 triệu người, tăng 974,9 nghìn người, tương đương tăng 1,07% so với năm 2014, bao gồm dân số thành thị 31,45 triệu người, chiếm 34,30%; dân số nông thôn 60,25 triệu người, chiếm 65,70%; dân số nam 45,25 triệu người, chiếm 49,35%; dân số nữ 46,45 triệu người chiếm 50,65%
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước tính đến thời điểm 01/01/2016 là 54,61 triệu người, tăng 185 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014, trong đó lao động nam chiếm 51,7%; lao động nữ chiếm 48,3% Đến thời điểm trên, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 48,19 triệu người, tăng 506,1 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam chiếm 54%; lao động nữ chiếm 46%
Trong đó, lực lượng lao động và dân cư phần lớn tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm do tại đây mức phát triển kinh tế xa hội cao hấp dẫn được các nguồn lực
2.2.1 Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (sau đây gọi tắt là Vùng) bao gồm 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh là vùng trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học
Trang 10công nghệ của cả nước, với các cơ quan Trung ương, các trung tâm điều hành của nhiều tổ chức kinh tế lớn, cơ sở đào tạo, nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ của quốc gia, đang và sẽ tiếp tục giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của cả nước
Một trong bốn quan điểm phát triển Vùng của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (Quy hoạch) là phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, là đầu tàu kinh tế, dẫn đầu khu vực miền Bắc và cả nước về công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phát triển nền kinh tế tri thức, đồng thời đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp xanh phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Quy hoạch xác định một số mục tiêu cụ thể:
+ Tỷ trọng giá trị xuất khẩu so với cả nước bằng 32% vào năm 2020; tốc
độ đổi mới công nghệ đạt bình quân 20 - 25%/năm, tỷ lệ công nghệ tiên tiến đạt khoảng 45%
+ Tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 80 - 85%, đào tạo nghề khoảng 40 - 50% Hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng 200 - 250 ngàn lao động; kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở mức 4%;
+ Phấn đấu đến năm 2020 trên 98% chất thải rắn ở đô thị, trên 97% chất thải y tế được xử lý; trên 90% khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có
hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường
+ Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng Bảo đảm vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên mọi mặt trận Hoàn thiện kết cấu hạ tầng quốc phòng, an ninh đảm bảo yêu cầu tác chiến khi cần thiết
- Đến năm 2030
+ GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) đạt 10.500 - 12.000 USD; + Tỷ trọng nông lâm thủy sản trong GDP là 2,2%, công nghiệp - xây dựng 47,8% và dịch vụ 50%;
Trang 11+ Tỷ trọng giá trị xuất khẩu so với cả nước bằng 39%; đi đầu trong tiến trình hiện đại hóa, tốc độ đổi mới công nghệ đạt bình quân 20%/năm;
+ Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 90%, đào tạo nghề đạt khoảng 60 - 70%; hàng năm giải quyết việc làm cho 200 - 230 ngàn lao động; kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở mức 3%;
+ Đảm bảo 100% người dân có nhà ở với tiện nghi sinh hoạt cần thiết phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Thủ đô và các tỉnh, thành phố trong vùng với diện tích nhà ở bình quân đầu người khu vực đô thị đạt từ 20 - 25 m2/người
2.2.2 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của Vùng KTTĐ miền Trung gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 8%/năm giai đoạn đến năm 2015 và khoảng 9%/năm giai đoạn 2016-
2020 GDP bình quân đầu người đến năm 2020 đạt khoảng 80 triệu đồng tương đương 3.600 USD bằng khoảng 1,1-1,2 lần mức bình quân đầu người của cả nước Quy mô GDP của vùng năm 2020 gấp khoảng 2,3 lần năm 2010 Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu đạt bình quân khoảng 18%/năm đến năm 2015 và giai đoạn 2016-2020 giữ nhịp tăng trưởng của xuất khẩu trên mức 20%/năm, tốc độ đổi mới công nghệ đạt bình quân 20-25%/năm
Định hướng đến năm 2030 vùng KTTĐ Miền Trung tiếp tục là khu vực phát triển năng động với tốc độ nhanh và bền vững, chất lượng tăng trưởng ngày càng cao, là vùng có cảnh quan môi trường tốt và là trung tâm dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng chất lượng cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2030 đạt bình quân khoảng 9% GDP bình quân đầu người vượt quá 10.000 USD/năm, gấp khoảng 2,5 lần so với năm 2020, tỷ trọng khu vực dịch vụ chiếm trên 50% trong cơ cấu GDP
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 8%/năm giai đoạn đến năm 2015
và khoảng 9%/ năm giai đoạn 2016 - 2020 GDP bình quân đầu người đến năm
2020 đạt khoảng 80 triệu đồng Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu GDP (44,5% năm 2015, 45% năm 2020), tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng lên 40,5% năm 2015 (43% năm 2020), tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP giảm xuống 15% vào năm 2015 và 12% năm 2020 Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu đạt bình quân khoảng 18%/năm đến năm 2015, giai đoạn 2016-2020 là 20%
+ Đến năm 2020, giải quyết việc làm cho khoảng 150 nghìn lao động, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%
Trang 12+ Đến năm 2020, trên 80% các cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường; các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường
Trong những năm qua cùng với việc phát triển kinh tế, Vùng KTTĐ miền Trung tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng một số ngành, lĩnh vực phục vụ nhu cầu phát triển chung trên toàn vùng Các tuyến đường giao thông liên vùng
và nông thôn được nâng cấp để thuận tiện trọng việc đi lại của những nơi vùng sâu, vùng xa cũng như các tuyến đường huyết mạch phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế
Các công trình trường học, cơ sở hạ tầng từng bước tại các địa phương từng bước được nâng cao và phát triển để hòa nhậpvới nhu cầu phát triển chung Trên các huyện đảo, xã đảo và một số đảo được xây dựng các công trình bến cảng cá, đường cơ động ven biển, nhằm tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ từ ven bờ đến các đảo tiền tiêu để phục vụ cho khai thác xa bờ, phòng chống bão, bảo vệ an ninh, quốc phòng và chủ quyền biển đảo
2.2.3 Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam
Vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam là một trong bốn vùng kinh tế trọng điểm
cả nước và là vùng có tốc độ phát triển kinh tế, môi trường đầu tư năng động nhất cả nước Theo Tổng cục Thống kê đến năm 2015, Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm khoảng 17% dân số, Mức gia tăng dân số tự nhiên và cơ học trung bình 3,2%/năm, sản xuất chiếm hơn 42% GDP, gần 40% kim ngạch xuất khẩu cả nước, đóng góp gần 60% ngân sách quốc gia Đây là vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất, là trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tài chính hàng đầu và là động lực phát triển năng động của cả nước và có tầm cỡ khu vực Toàn vùng có hơn 114 KCN đang hoạt động và thải ra hằng ngày hơn 110.000 m3, hơn 80% các KCN có hệ thống XLNT tập trung (2)
Một số mục tiêu phát triển của Quy hoạch:
- Đến năm 2020 các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm 95 - 96% tổng GDP, trong đó tỷ trọng khu vực dịch vụ đạt khoảng 44% GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 3.900 - 4.000 USD; đến năm 2020 đạt trên 5.000 USD
- Tăng giá trị xuất khẩu bình quân đầu người lên 3.700 USD năm 2015 và 5.400 USD năm 2020 Đóng góp khoảng 55 - 60% thu ngân sách cả nước thời
kỳ 2011 - 2020
Trang 13- Đến năm 2020: 100% các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% chất thải rắn và chất thải nguy hại được xử lý
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020 phải phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
cả nước; đảm bảo thống nhất với quy hoạch ngành, lĩnh vực.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, tập trung ưu tiên đầu tư các ngành có tiềm năng, lợi thế, có năng suất lao động và hàm lượng tri thức cao, gắn liền với việc đẩy mạnh liên kết giữa các ngành, thành phần kinh tế
và giữa các địa phương
2.2.4 Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long
Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL tuy mới được thành lập vào tháng 4/2009 nhưng có xuất phát điểm ở mức khá cao so với cả nước Tốc độ tăng trưởng kinh
tế giai đoạn 2001-2005 của các địa phương trong vùng bình quân đạt 10,96%/năm (cả nước 7,5%/năm) và 13,6%/năm trong các năm 2006 - 2010 (cả nước 7,6%/năm) Cơ cấu các ngành kinh tế các địa phương trong Vùng đều chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra còn chậm, tỷ trọng khu vực nông lâm thủy sản vẫn còn cao, đến năm 2014 là 10%
2.2.5 Vùng kinh tế hoạt động khai thác và vận chuyên bauxit tại khu vực Tây Nguyên
Theo Tổng cục Thống kê, vùng Tây Nguyên đã đạt giá trị tổng sản phẩm (GDP) năm 2015 trên 139.114 tỷ đồng, tăng 7,06% so với năm 2014, thu hút đầu tư có nhiều chuyển biến, tốc độ huy động vốn tăng nhanh (huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt trên 73.796 tỷ đồng, tăng 13,17%), các hoạt động tín dụng được đẩy mạnh, góp phần vào việc thúc đẩy sản xuất và phát triển
hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, giáo dục, y tế, đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn,
xã biên giới
Đến nay, các tỉnh Tây Nguyên đã thông xe đường Hồ Chí Minh (quốc lộ 14) đoạn qua Tây Nguyên trước thời hạn, các quốc lộ 14C, 19, 25, 27,28 đã nâng cấp hoàn thành một phần hoặc đầu tư nâng cấp các đoạn trọng yếu Giao thông địa phương các tỉnh vùng Tây nguyên đã được nâng cấp 3.620 km đường huyện, trên 4.000 km đường xã…Việc hoàn thành đường Hồ Chí Minh qua Tây Nguyên, nâng cấp các sân bay cũng như triển khai nhiều dự án giao thông trên địa bàn đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của cả vùng Tây Nguyên
Trang 14Hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp vùng Tây Nguyên tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, số doanh nghiệp thành lập mới tăng khá,
số doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động giảm nhiều so với trước Năm
2015, toàn vùng có 2.417 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn đăng ký 10,2 nghìn tỷ đồng (bình quân vốn đăng ký một doanh nghiệp 4,4 tỷ đồng), thu hút 131 dự án đầu tư với số vốn đăng ký 19.300 tỷ đồng Có 13 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài…)
Nhiều chỉ tiêu kinh tế, xã hội chủ yếu của vùng Tây Nguyên đã hoàn thành ở mức khá cao, như chỉ số sản xuất công nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ, thu nhập bình quân đầu người (thu nhập bình quân đầu người đạt 36,15 triệu đồng, tương đương 1.668 USD, tăng 12% so với năm 2014)
III HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI VIỆT NAM
Các thông tin và đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường không khí trong báo cáo được xây dựng dựa trên số liệu quan trắc từ các chương trình quan trắc môi trường do Tổng cục Môi trường, các đơn vị trong mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia và các địa phương thực hiện Hiện nay hoạt động quan trắc môi trường ở Việt Nam chủ yếu là quan trắc thủ công, lấy mẫu tại hiện trường
và vận chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích
Các chương trình quan trắc thủ công của quốc gia và địa phương được thực hiện với tần suất từ 2 - 6 lần/năm Bên cạnh đó, mạng lưới các trạm quan trắc tự động đã và đang được lắp đặt và vận hành trong toàn quốc ở cả cấp Trung ương và địa phương để giám sát liên tục diễn biến chất lượng môi trường không khí xung quanh
Qua chuỗi số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy chất lượng môi trường không khí tại các vị trí quan trắc thuộc vùng kinh tế trọng điểm diễn biến phức tạp, có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ tại một số vị trí quan trắc tại thời điểm quan trắc Do đó, công tác theo dõi chất lượng môi trường thường xuyên tại vùng kinh tế trọng điểm luôn được chú trọng trong thời gian qua
- Ô nhiễm bụi – chì bụi:
+ Số liệu quan trắc giai đoạn từ 2008 - 2013 cho thấy có sự khác biệt đáng
kể về nồng độ bụi TSP trong môi trường không khí xung quanh ở các loại đô thị
Ô nhiễm thường tập trung cao ở các đô thị có mật độ giao thông lớn (như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Biên Hoà) hoặc có các hoạt động sản xuất công nghiệp phát triển mạnh (điển hình như khai thác công nghiệp than ở Quảng Ninh) và có những thời điểm mức độ ô nhiễm vượt ngưỡng cho phép gấp từ 2 - 6 lần QCVN 05: 2013/BTNMT.Ô nhiễm bụi biểu hiện rõ ở cạnh các trục giao thông Số liệu
Trang 15quan trắc tại các điểm ven đường nằm trong chương trình quan trắc ba vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn từ 2008-2013 có tỷ lệ số giá trị quan trắc vượt QCVN 05:2013/BTNMT dao động từ 42% ở vùng KTTĐ miền Trung, 44% ở vùng KTTĐ miền Nam và cao nhất ở vùng KTTĐ phía Bắc với 68%
+ Tại các khu dân cư, mức độ ô nhiễm bụi thấp hơn nhiều lần so với các trục giao thông và các công trường xây dựng Đối với các khu dân cư nằm trong các đô thị lớn chịu ảnh hưởng của giao thông và phát triển về công nghiệp, mức
độ ô nhiễm vẫn vượt nhiều lần ngưỡng cho phép QCVN, đáng kể như các điểm
đo ở Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương Ngược lại, ở khu vực dân cư các đô thị quy mô nhỏ và vừa, mức độ ô nhiễm không khí là thấp hơn
+ Nồng độ bụi TSP tại rất nhiều điểm quan trắc xung quanh các khu công nghiệp vượt giới hạn cho phép theo QCVN 05:2013, thậm chí vượt nhiều lần giới hạn cho phép đối với trung bình 24 giờ và trung bình năm Trên phạm vi cả nước, năm 2011 là năm ghi nhận không khí bị ô nhiễm bụi cao nhất vì có nhiều giá trị quan trắc vượt chuẩn cao nhất trong 6 năm từ 2008 - 2013 Nồng độ TSP tại hầu hết các điểm quan trắc xung quanh các khu, cụm công nghiệp đều vượt ngưỡng quy định, thậm chí tại một số điểm còn vượt 3-4 lần
+ Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí những năm gần đây cho thấy nồng độ chì trong môi trường không khí đều dưới ngưỡng cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT trung bình năm Nồng độ chì tập trung ở các nút giao thông của các đô thị lớn như Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh
- Ô nhiễm thông số khí:
+ Số liệu quan trắc các thông số khí NOx – SO2 – CO – O3 đều thấp hơn quy chuẩn Việt Nam hiện hành (QCVN 05-2013/BTNMT) Mức độ biến động nồng độ các khí Nox cũng có sự phân hóa rõ ràng theo ba miền với đặc trưng miền Bắc mức ô nhiễm đạt cực đại vào mùa đông (điển hình tháng 12 đến tháng 4), miền Nam nồng độ cao nhất ứng với mùa khô (tháng 10 đến tháng 4) trong khi khu vực miền Trung ít biểu hiện biến động theo mùa Theo kết quả quan trắc định kỳ, đo vào những thời điểm nhất định trong ngày giai đoạn từ 2008 – 2012 cho thấy nồng độ SO2 có xu hướng giảm ở hầu hết các tỉnh thành trong toàn quốc So sánh giữa các đô thị cho thấy, những tỉnh thành chịu tác động tổng hợp
từ nhiều nguồn ô nhiễm, ví dụ như đối với những tỉnh thành phát triển về giao thông và có các ngành công nghiệp phát triển mạnh thì nồng độ khí SO2 trong môi trường không khí xung quanh thường cao hơn
Trang 16+ Nhìn chung, nồng độ SO2 và NO2 xung quanh các khu công nghiệp còn thấp Khi so sánh với QCVN 05:2013 trung bình 24 giờ và trung bình năm thì tại hầu hết các điểm đo, nồng độ SO2và NO2 đều nằm dưới ngưỡng cho phép
+ Thông số CO quan trắc được tại các chương trình quan trắc đều thấp hơn QCVN 05:2013 tại các khu vực dân cư cũng như tại các khu vực xung quanh KCN
- Ô nhiễm thông số ồn:
+ Ở các đô thị, ô nhiễm tiếng ồn có đặc thù tập trung ở các trục giao thông
có mật độ phương tiện tham gia lưu thông cao Ngưỡng ồn đo được ở các tuyến phố chính tại các đô thị lớn ở Việt Nam đều vượt mức ồn cho phép QCVN 26:2010/BTNMT quy định đối với khung giờ từ 6 đến 21 giờ (70 dBA) Đối với các đô thị vừa và nhỏ, mức ồn đo tại các tuyến đường giao thông tại hầu hết đô thị không có sự khác biệt lớn và cũng không đảm bảo giới hạn QCVN Đối với các điểm đo ở khu dân cư, nhìn chung mức ồn vẫn nằm trong ngưỡng quy chuẩn cho phép QCVN 26:2010/BTNMT
+ Tại hầu hết các khu vực quan trắc xung quanh các khu công nghiệp, mức ồn đo được đều xấp xỉ hoặc vượt quy định theo QCVN 26:2010/BTNMT Tuy nhiên hiện nay đa số các điểm quan trắc tiếng ồn xung quanh các khu công nghiệp đều nằm gần các trục đường giao thông có mật độ xe cộ qua lại lớn, do
đó mức ồn đo được bị cộng hưởng từ hoạt động của phương tiện xe qua lại trên đường
IV HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRÊN TOÀN QUỐC
4.1 Hiện trạng mạng lưới quan trắc định kỳ môi trường không khí
Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường (trước đây) đã xây dựng và đưa vào hoạt động mạng lưới trạm quan trắc môi trường quốc gia Các trạm quan trắc môi trường quốc gia được xây dựng trên cơ sở phối hợp giữa Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (trước đây) với các cơ quan nghiên cứu, phòng thí nghiệm đang hoạt động của các Bộ, ngành và địa phương gồm Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Quốc phòng, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế,
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và tỉnh Lào Cai Tại thời điểm đó, đây là biện pháp hiệu quả và kịp thời, tận dụng được cơ sở vật chất về trang thiết bị cũng như nguồn nhân lực sẵn có của các cơ quan này Tính đến năm 2015, mạng lưới đã được thành lập, tiến hành quan trắc
Trang 17các thành phần môi trường như: nước mặt lục địa, nước dưới đất, nước mưa, nước biển, đất, phóng xạ, không khí xung quanh và tiếng ồn, chất thải rắn, môi trường lao động, y tế và công nghiệp, tại hàng nghìn điểm quan trắc trên toàn quốc với tần suất khoảng từ 2 đến 6 lần/năm
- Mạng lưới quan trắc môi trường do Tổng cục Môi trường thực hiện
Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, miền Trung - Tây Nguyên, miền Nam
và đồng bằng sông Cửu Long và các khu vực trọng điểm có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển mạnh về kinh tế - xã hội, việc hình thành và phát triển nhanh chóng các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất dẫn đến những biến động lớn về chất lượng chất lượng môi trường cần giải quyết đặc biệt là vấn
đề ô nhiễm môi trường không khí, tiếng ồn trên địa bàn các tỉnh trực thuộc Để góp phần theo dõi, giám sát chất lượng và diễn biến môi trường tại vùng trên, kể
từ năm 2007, Cục Bảo vệ môi trường (nay là Tổng cục Môi trường) đã xây dựng, phê duyệt và triển khai thực hiện 5 chương trình quan trắc không khí, cụ thể: có 3 chương trình quan trắc môi trường không khí tại 3 vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam; 1 chương trình quan trắc giám sát hoạt động khai thác, vận chuyển Bauxit và chương trình quan trắc môi trường vùng Tây Nam Bộ Ngoài ra, chương trình quan trắc môi trường khí tại vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long chưa thực hiện mặc dù đã được phê duyệt Tính đến tháng 9/2016, 5 chương trình quan trắc môi trường trải dài trên
26 tỉnh/thành trên cả nước đã thực hiện quan trắc định kỳ môi trường không khí tại 194/225 điểm chiếm 86,2% số lượng điểm quan trắc được phê duyệt Trong
đó, đã thực hiện quan trắc tại 34/63 điểm quan trắc không khí tại khu vực khai thác, vận chuyển Bauxit tại 5 tỉnh/thành, chiếm 53.9%
Song song với mạng lưới quan trắc định kỳ môi trường không khí do Tổng cục Môi trường thực hiện thì mạng lưới quan trắc do các trạm thuộc mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia thực hiện gồm Trạm đất liền 1, 2 và 3 thực hiện tại 17 tỉnh với 78 điểm quan trắc không khí xung quanh và 61 điểm quan trắc tiếng ồn, cường độ dòng xe Đối với hoạt động quan trắc của các Trạm đất liền, tùy thuộc vào nguồn kinh phí hàng năm được phân bổ sẽ thực hiện
Kết quả quan trắc nhiều năm cho thấy không khí tại các vị trí quan trắc diễn biến phức tạp, có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ tại một số vị trí quan trắc tại thời điểm quan trắc Do đó, việc theo dõi chất lượng môi trường thường xuyên tại
Trang 18các vùng kinh tế trọng điểm, khu vực quan trọng, điểm nóng là hết sức cần thiết, cần được rà soát, mở rộng mạng lưới điểm trong thời gian tới, đồng thời việc loại bỏ các vị trí không có dấu hiệu ô nhiễm qua nhiều năm liên tục và không còn phù hợp với phát triển kinh tế xã hội, cũng như có biến động về hoạt động xung quanh cũng sẽ được thực hiện
Trang 19Bản đồ hệ thống các điểm quan trắc thuộc mạng lưới quan trắc
môi trường quốc gia
Trang 20- Mạng lưới quan trắc môi trường địa phương
Thực hiện Nghị định số 81/2007/NĐ-CP ngày 23/5/2007 của Chính phủ quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước và Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT-BTNMT-BNV ngày 27/12/2007 giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội
vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 81/2007/NĐ-CP, phần lớn các địa phương đã thành lập đơn vị trực thuộc thực hiện chức năng quan trắc môi trường,theo dõi và giám sát chất lượng môi trường không khí và nước trên địa bàn của địa phương mình Tính đến thời điểm hiện tại cuối năm 2016, đã có trên 62 địa phương trong cả nước thành lập Trung tâm Quan trắc môi trường với các tên gọi khác nhau, trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc Chi cục Môi trường
Tại một số địa phương có nguồn ngân sách dồi dào hoặc có sự hỗ trợ kinh phí của các dự án, tổ chức trong và ngoài nước (như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Đà Nẵng ), các nguồn lực tài chính, trang thiết bị và con người đã được quan tâm đầu tư, phát triển khá mạnh Trong khi đó, tại nhiều địa phương khác, việc đầu tư các nguồn lực cho hoạt động quan trắc môi trường chưa được quan tâm, chú ý đúng mức Thời gian qua, một số địa phương có những vấn đề
“nóng” về môi trường (như: Lâm Đồng, Đăk Nông, An Giang, Lào Cai, Phú Thọ, Ninh Thuận ) cũng đã và đang xây dựng các dự án đầu tư tăng cường năng lực quan trắc môi trường
- Mạng lưới quan trắc môi trường thuộc các Bộ, ngành khác
Ngoài mạng lưới quan trắc môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường
và các địa phương trên cả nước, tại các Bộ ngành khác, bên cạnh việc tham gia mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhiều Bộ ngành, cũng tiến hành quan trắc một số thành phần môi trường để đánh giá các tác động đến môi trường do hoạt động của ngành, lĩnh vực mình quản lý theo quy định tại Điều 94 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 Đến nay, nhiều Bộ ngành như: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam đã có hoạt động quan trắc môi
Trang 21trường và cũng đã thu được những dữ liệu cơ bản phục vụ yêu cầu quản lý môi trường của Bộ, ngành mình
4.2 Hiện trạng mạng lưới các chương trình quan trắc quốc gia
4.2.1 Chương trình quan trắc đã thực hiện
Hiện tại, Tổng cục Môi trường có các chương trình quan trắc khi đã được thiết kế tổng thể và tiến hành thực hiện, các chương trình này bao gồm: “quan trắc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc”, “quan trắc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”, “quan trắc vùng kinh tế trọng điểm miền Nam” và “Chương trình tổng thể quan trắc môi trường của hoạt động khai thác và vận chuyên bauxit tại khu vực Tây Nguyên”
Tỷ lệ thực hiện của các chương trình đều không đầy đủ về cả số lượng vị trí quan trắc lẫn thông số so với chương trình tổng thể đề ra do nhiều nguyên nhân khách quan tác động: do kinh phí được cấp chưa đủ thực hiện, do đơn giá tiến hành hoạt động lấy mẫu và phân tích cao nên không thực hiện được hết, các
vị trí có thể thay đổi hàng nằm tùy vao thực tế …
Tình hình thực hiện cụ thể của các trương trình được trình bầy chi tiết dưới đây:
Chương trình quan trắc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Vùng kinh tếtrọng điểm phía Bắc là một trong 04 vùng kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Bên cạnh những kết quả khả quan đạt được đã có không ít vấn đề môi trường đặt ra cần giải quyết đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, tiếng ồn và môi trường nước trên địa bàn các tỉnh trực thuộc Để góp phần theo dõi, giám sát chất lượng và diễn biến môi trường tại vùng kinh tế trọng điểm này, từ năm
2005, Trung tâm Quan trắc môi trường đã được Tổng cục Môi trường giao thiết
kế, duy trì tổ chức thực hiện nhiệm vụ quan trắc môi trường tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Nhiệm vụ bắt đầu được thực hiện từ năm 2006 đến nay với các điểm quan trắc đối với môi trường không khí và tiếng ồn, môi trường nước tại các tỉnh/thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh Hàng năm, căn cứ vào kinh phí được giao và tình hình môi trường trong khu vực quan trắc, tiến hành lựa chọn điều chỉnh cho phù hợp
Chương trình quan trắc đã được thực hiện liên tục từ năm 2006, kết quả quan trắc nhiều năm cho thấy chất lượng môi trường không khí tại các vị trí
Trang 22quan trắc diễn biến phức tạp, có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ tại một số vị trí quan trắc tại thời điểm quan trắc Do đó việc theo dõi chất lượng môi trường thường xuyên tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc là hết sức cần thiết:
+ Số liệu chương trình là nguồn thông tin tin cậy để cung cấp cho các cấp quản lý môi trường, các hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội
+ Số liệu chương trình la nguồn dữ liệu quan trong cho các báo cáo môi trường toàn thể vùng, các báo cáo nhanh cho Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như Tổng cục Môi trường về diễn biến chất lượng tại các khu vực quan trắc
+ Số liệu chương trình là thông tin tham khảo giúp cho các địa phương nắm rõ được hiện trạng môi trường tại địa phương mình song song với các chương trình quan trắc tại địa phương
+ Quan trắc ô nhiễm môi trường không khí các khu công nghiệp
+ Quan trắc ô nhiễm môi trường không khí tại các nút giao thông đô thị + Quan trắc ô nhiễm không khí ở các khu dân cư tập trung
Hiện tại, chương trình quan trắc vùng KTTĐPB đang tiến hành quan trắc tại 35 điểm quan trắc không khí và 22 điểm quan trắc tiếng ồn Số lượng điểm quan trắc được ghi trong bảng sau:
Bảng 1: Thông tin vị trí quan trắc khi tại các tỉnh