TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC KHOA QUẢN LÝ NĂNG LƯỢNG ---***---ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐIỆN NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI ĐIỆN LỰC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC KHOA QUẢN LÝ NĂNG LƯỢNG
-*** -ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐIỆN NĂNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI
ĐIỆN LỰC KIM SƠN
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Thị Lê Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thu Trang Chuyên ngành : Quản lý năng lượng Lớp : D7 QLNL1
Khoa : Quản lý năng lượng
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
KHOA QUẢN LÝ NĂNG LƯỢNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Lê
Họ và tên sinh viên: : Trần Thị Thu Trang
Tên đề tài: Phân tích hoạt động kinh doanh điện năng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh điện năng tại Điện lực Kim Sơn
Tính chất đề tài:
………
………
………
………
………
NỘI DUNG VÀ NHẬN XÉT: 1 Tiến trình thực hiện đồ án: ………
………
………
………
2 Nội dung cơ sở của đồ án: - Cơ sở lý thuyết: ………
………
………
………
- Các số liệu, tài liệu thực tế: ………
………
………
………
- Phương pháp và mức độ giải quyết các vấn đề: ………
………
………
………
………
3 Hình thức của đồ án: - Hình thức trình bày: ………
………
………
………
Trang 3- Kết cấu đồ án:
………
………
………
………
………
4 Những nhận xét khác: ………
………
………
………
………
Đánh giá chung: Xếp loại: Điểm: Hà Nội, ngày… tháng….năm 2016 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ ĐƯỢC VIẾT TẮT
Trang 46 KHKT-AT Kế hoạch Kĩ thuật-An toàn
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian thực tập tại Điện Lực Kim Sơn đã cho em hiểu được những hoạt độngkinh doanh của chi nhánh cũng như tình hình sản xuất kinh doanh từ bộ máy hoạt động,thuận lợi, khó khăn và những thành quả của chi nhánh đã đạt được Em đã thu hoạch đượcnhững kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng phân tích, hoạch định kế hoạch trong sản xuất kinhdoanh cũng như năm bắt được tình hình thực tế khó khăn, thuận lợi của công ty, qua đó bổsung và nâng cao những kiến thức được học trên ghế nhà trường
Em xin chân thành cám ơn thầy trưởng khoa TS.Dương Trung Kiên và cô giáo trực tiếp hướng dẫn cho em cô Nguyễn Thị Lê cùng các thầy cô giáo khoa Quản lý năng lượng đã
chỉ bảo tận tình và bổ sung cho em nhiều kiến thức, hướng dẫn chi tiết để em hoàn thànhbáo cáo thực tập này
Em xin chân thành cảm ơn bác: Tạ Hữu Ngữ - Giám đốc Điện lực Kim Sơn, cùng các
bác, các cô, chú, anh chị cán bộ công nhân viên Điện lực Kim Sơn đã tận tình chỉ bảo cho
em những kiến thức chuyên môn khi em thực tập tại Điện lực Kim Sơn Qua đó em mới có
thể hoàn thành báo cáo chuyên đề: “Phân tích hiệu quả kinh doanh điện năng Điện lực Kim Sơn”
Em xin chân thành cám ơn !
Hà Nội, Tháng 12 năm 2016 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thu Trang
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỒ ÁN
Điện năng là hàng hóa đặc biệt, có vai trò đặc biệt trong đối với nền kinh tế quốc dân.Điện năng là sản phẩm được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, trong sản xuất, trongsinh hoạt, là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất và đời sống xã hội Quá trình sản xuất vàtiêu thụ điện năng là một quá trình thống nhất, không thể tách biệt, bởi vì điện năng khôngthể dự trữ, việc sản xuất luôn phải đáp ứng nhu cầu tiêu thụ Trước kia việc sản xuất và kinhdoanh điện là do Nhà nước quản lý Trong nền kinh tế kế hoạch hóa điện năng được cungứng với mục tiêu sản xuất và cho sinh hoạt là chính, vấn đề kinh doanh bán điện chưa đượcchú trọng Từ đó dẫn đến việc lãng phí trong quá trình cung ứng và sử dụng điện Nhưngkhi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, mục tiêu hiệu quả kinh tế được đặt ra ở tất cảcác ngành nghề, thì vấn đề quản lý kinh doanh điện càng cần thiết
Cùng với sự hội nhập của đất nước, ngành Điện Lực không ngừng phát triển, mở rộng vềquy mô, đảm bảo chất lượng điện năng, và nâng cao hiệu quả kinh doanh trong ngành Điệnlực là ngành công nghiệp chiến lược của Việt Nam, là cơ sở, là tiền đề cho sự phát triểnkinh tế của đất nước Cũng như phần lớn ngành điện của các quốc gia trên thế giới, ngànhđiện lực cũng mang tính độc quyền Nhà nước quản lý toàn bộ từ khâu sản xuất đến kinhdoanh điện và Tổng Công ty Điện lực Việt Nam là một doanh nghiệp độc quyền Nhà nước,
ở mỗi tỉnh đều có những Công ty con
Trong những năm gần đây, cùng với Tổng công ty Điện lực Miền Bắc, Điện lực Kim Sơn
đã thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh và đảm bảo chất lượng điện năng tới khách hàng tiêuthụ Tuy nhiên, với dân số không lớn, và diện tích đất định cư tương đối rộng nên việc quản
lý kinh doanh điện của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn
Là một sinh viên trường ĐH Điện Lực, trong quá trình tiếp nhận kiến thức ở giảng đườngĐại học, em cảm thấy cần phải đi sâu tìm hiểu về những kiến thức quản lý kinh doanh điện
về phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh điện năng của Điện lực Kim Sơn Vì vậy
em đã chọn đề tài: “Phân tích hoạt động kinh doanh điện năng tại Điện lực Kim Sơn” để
có cái nhìn tổng quát hơn về tình hình kinh doanh điện năng, đồng thời tìm hiểu nhiều giảipháp giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh điện năng
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 7Để có thể phân tích và đánh giá được tình hình kinh đoanh điện năng tại công ty, mụctiêu chính của nghiên cứu là tìm hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanhthể hiện ở một số chỉ tiêu chính là: năng suất lao động, điện đầu nguồn, sản lượng điệnnăng thương phẩm, doanh thu, giá bán điện và sản lượng tổn thất Thông qua việc phântích và đánh giá các chỉ tiêu này đưa ra được các giải pháp quản lý và kỹ thuật nhằmnâng cao hiệu quả kinh doanh, tức là nâng cao sản lượng điện thương phẩm bằng cáchnâng cao sản lượng phát và tổn thất, đồng thời tăng doanh thu thông qua cơ chế quản lýchặt chẽ từ việc đo đếm công tơ và quản lý giá bán.
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động kinh doanh điện năng của Điện lực Kim Sơn.Phạm vi nghiên cứu: Đồ án này chỉ xét trong phạm vi kinh doanh điện năng của Điện lực Kim Sơn
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thu thập dữ liệu tại Phòng kinh doanh điện năng phòng kỹ thuật của Điện lực Kim Sợn trong các năm 2013; 2014; 2015
Phương pháp phân tích là sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp thay thế liên hoàn với các bước phân tích được trình bày trong nội dung đồ án
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỒ ÁN
Việc phân tích đánh giá thực trạng kinh doanh điện năng ngay tại Điện lực Kim Sơn sẽ mang lại nhiều lợi ích:
Giúp đánh giá nhìn nhận lại tình hình kinh doanh điện năng của Điện lực Kim Sơn
Hiểu được các phương pháp phân tích đánh giá
Thông qua đánh giá phân tích sẽ định hướng việc tìm kiếm giải pháp nhằm nâng cao hiểuquả kinh doanh điện năng của Điện lực Kim Sơn
6 KẾT CẤU CỦA ĐỒ ÁN
Đồ án bao gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý thuyết về phân tích hoạt động kinh doanh điện năng Trong chương
này trình bày khái quát tầm quan trọng của việc phân tích hoạt động kinh doanh, đồng thờitrình bày phương pháp để phân tích đánh giá
Trang 8Chương II: Phân thực trạng hoạt động kinh doanh điện năng tại Điện lực Kim Sơn.
Trình bày tổng quan về tình hình công ty, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật qua cácnăm bằng các phương pháp so sánh và thay thế liên hoàn
Chương III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh điện năng tại Điện lực
Kim Sơn Từ những đánh giá nhận xét trong chương II, chương này đưa ra các nhóm giảipháp về quản lý và kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh điện năng trong tương laicủa Điện lực Kim Sơn
Do thời gian tìm hiểu cũng như kiến thức có hạn, nên đồ án của em còn nhiều thiếu sót.Kính mong sự góp ý, giúp đỡ của các thầy cô giáo để em hoàn thiện bài đồ án hơn
Hà Nội, tháng 12 năm 2016 Sinh viên
Trần Thị Thu Trang
Trang 9CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH ĐIỆN NĂNG
1.1 Khái niệm về phân tích hoạt động kinh doanh
Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu sản xuất kinh doanh nhằm đếnviệc phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh và những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quảkinh doanh, phát hiện những quy luật của các mặt hoạt động trong doanh nghiệp dựa vàocác dữ liệu lịch sử, làm cơ sở cho các dự báo và hoạch định chính sách
Phân tích hoạt động kinh doanh không phải nhằm xây dựng những kế hoạch một cáchmáy móc, cứng nhắc mà là công cụ phục vụ cho những quyết định ngắn hạn và dài hạn, đòihỏi sự chủ động linh hoạt ngay cả đối với các mặt hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp
Để quản lý doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, đòi hỏi các doanhnghiệp không những phải tổ chức hạch toán kinh doanh một cách chính xác mà còn phảitích cực tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh doanh Cùng với kế toán và các khoa họckinh tế khác, phân tích hoạt động kinh doanh là một trong những công cụ đắc lực để quản lý
và điều hành hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp
Tiền thân của phân tích hoạt động kinh doanh là công việc có tính xem xét đơn giản một
số chỉ tiêu tổng quát dựa trên dữ liệu của bảng tổng kết tài sản – còn gọi là phân tích kế toánhay kế toán nội bộ Do sự đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu quản lý, sự mở rộng về quy
mô cũng như xu hướng đi vào chiều sâu và chất lượng của các hoạt động doanh nghiệp,phân tích hoạt động kinh doanh với nội dung, đối tượng phạm vi và phương pháp nghiêncứu riêng biệt, tất yếu trở thành một khoa học độc lập và ngày càng hoàn chỉnh
Phân tích hoạt động kinh doanh hướng đến thị trường không phải nhằm xây dựng những
kế hoạch một cách máy móc, cứng nhắc mà là công cụ phục vụ cho những quyết định ngắnhạn và dài hạn, đòi hỏi chủ động, linh hoạt ngay cả với các mặt hoạt động của doanhnghiệp
1.2 Vai trò, yêu cầu và nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh
1.2.1.Vai trò của phân tích hoạt động kinh doanh
Phân tích hoạt động kinh doanh là một công cụ quản lý kinh tế có hiệu quả các hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Hiện nay các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong điều
Trang 10nhuận từ đó mới có thể đứng vững trên thị trường, đủ sức cạnh tranh vừa có điều kiện tíchlũy và mở rộng hoạt động kinh doanh, vừa đảm bảo cho đời sống của người lao động và làmtròn nghĩa vụ đối với Nhà nước Để làm được điều đó doanh nghiệp phải thường xuyênkiểm tra, đánh giá đầy đủ chính xác mọi diễn biến và kết quả hoạt động kinh doanh, nhữngmặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp trong mối quan hệ với môi trường kinh doanh và tìmmọi biện pháp để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Việc tiến hànhphân tích một cách toàn diện về mọi mặt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là cầnthiết và có vị trí hết sức quan trọng.
Phân tích hoạt động kinh doanh có vai trò trong việc đánh giá, xem xét việc thực hiện cácchỉ tiêu phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Xem xét việc thực hiện các mụctiêu hoạt động kinh doanh, những tồn tại, nguyên nhân khách quan, chủ quan và đề ra biệnpháp khắc phục nhằm tận dụng một cách triệt để thế mạnh của doanh nghiệp Kết quả phântích hoạt động kinh doanh là những căn cứ quan trọng để doanh nghiệp có thể hoạch địnhchiến lược phát triển và đưa ra những phương án hoạt động kinh doanh có hiệu quả
Phân tích hoạt động kinh doanh gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, nó có vai trò và tác dụng đối với doanh nghiệp trong chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanhcủa mình Phân tích cũng là công cụ quan trọng để liên kết mọi hoạt động của các bộ phận chohoạt động chung của doanh nghiệp được nhịp nhàng và hiệu quả cao
Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ được thực hiện trong mỗi kỳ kinh doanh, mà
nó còn được thực hiện trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh Vì vậy phân tích hoạtđộng kinh doanh sẽ giúp cho nhà đầu tư quyết định các dự án đầu tư Các nhà đầu tư thườngquan tâm đến việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý cũng như khảnăng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích hoạt động kinh doanh sẽ giúp đápứng những đòi hỏi này của các nhà đầu tư
Phân tích hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sứcmạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình Chính trên cơ sở này cácdoanh nghiệp sẽ xác định đúng đắn mục tiêu và chiến lược kinh doanh có hiệu quả
Việc phân tích hoạt động kinh doanh điện năng là điều hết sức cần thiết và có vai trò quantrọng đối với mọi doanh nghiệp Nó là cơ sở của nhiều quyết định quan trọng và chỉ raphương hướng phát triển của doanh nghiệp
Trang 111.2.2 Yêu cầu của phân tích hoạt động kinh doanh
Khi thực hiện phân tích hoạt động kinh doanh cần đáp ứng đủ 3 yêu cầu sau:
- Tính đầy đủ: Nội dung và kết quả phân tích phụ thuộc rất nhiều vào sự đầy đủ nguồn tài liệu
phục vụ cho công tác phân tích Tính đầy đủ còn thể hiện phải tính toán tất cả các chỉ tiêucần thiết thì mới đánh giá đúng đối tượng cần phân tích
- Tính chính xác: Chất lượng của công tác phân tích phụ thuộc rất nhiều vào sự chính xác về
nguồn số liệu khai thác, phụ thuộc vào sự lựa chọn phương pháp phân tích, chỉ tiêu dùng đểphân tích
- Tính kịp thời: Sau mỗi chu kỳ hoạt động kinh doanh phải kịp thời tổ chức phân tích đánh giá
tình hình hoạt động, kết quả và hiệu quả đạt được, để nắm bắt những mặt mạnh, những tồntại trong hoạt động kinh doanh, thông qua đó đề xuất những giải pháp cho thời kỳ hoạt độngkinh doanh tiếp theo có kết quả và hiệu quả cao hơn
1.2.3 Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh
Phân tích hoạt động kinh doanh có những nhiệm vụ sau:
- Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế
Kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thực hiện được so với kế hoạch đã đề rahoặc so với cùng thời điểm của kì trước năm trước từ đó biết được những gì đã và chưa làmđược để có biện pháp giải quyết
Thông qua quá trình kiểm tra, đánh giá, ta có được cơ sở định hướng để nghiên cứu sâuhơn ở các bước tiếp theo, làm rõ các vấn đề cần quan tâm
- Đề xuất giải pháp nhằm khai thác triệt để tiềm năng và khắc phục những tồn tại của quá trình kinh doanh
Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả, không chỉ dừng lại ở việcxác định các nhân tố ảnh hưởng và các nguyên nhân mà trên cơ sở đó phát hiện ra các tiềmnăng cần phải khai thác và những mặt yếu kém còn tồn tại, nhằm đề ra các giải pháp, biệnpháp phát huy hết thế mạnh, khắc phục những tồn tại của doanh nghiệp
1.3 Quy trình phân tích hoạt động kinh doanh
Tổ chức công tác phân tích là một công việc hết sức quan trọng, nó đòi hỏi cần được lên
kế hoạch một cách cụ thể, chính xác và theo một quy trình nhất định Việc lựa chọn quytrình phân tích sẽ quyết định rất lớn đến chất lượng và kết quả công tác phân tích Thôngthường việc phân tích được tiến hành theo quy trình (trình tự) sau đây:
Trang 12Hình 1.1: Sơ đồ quy trình phân tích hoạt động kinh doanh
1.3.1 Xác định phương pháp và xây dựng hệ thống chỉ tiêu
Đây chính là bước lập kế hoạch phân tích Xác định trước về nội dung, phạm vi, thời gian
và cách tổ chức phân tích Về nội dung phân tích cần xác định rõ các vấn đề cần phân tích
Có thể là toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thể là một khía cạnh nào đócủa quá trình kinh doanh Đây là cơ sở để xây dựng đề cương cụ thể để tiến hành phân tích
Về phạm vi phân tích có thể là toàn doanh nghiệp hoặc một vài đơn vị bộ phận đượcchọn làm điểm để phân tích Tùy theo yêu cầu và thực tiễn quản lý kinh doanh mà xác địnhnội dung và phạm vi phân tích cho thích hợp
Về thời gian ấn định trong kế hoạch bao gồm thời gian chuẩn bị và thời gian tiến hànhphân tích
Trang 13Trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp dựa vào kết quả các loại hạch toán, cóthể rút ra các chỉ tiêu cần thiết các mặt hoạt động kinh doanh Các chỉ tiêu phân tích đó biểuthị đặc tính về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, về động thái của quá trình kinh doanh của các
bộ phận, các mặt cá biệt hợp thành các quá trình kinh doanh đó Chỉ tiêu phân tích có thểbiểu thị mối liên hệ qua lại của các mặt hoạt động của doanh nghiệp, cũng có thể xác địnhnguyên nhân đem lại những kết quả kinh tế nhất định
Chỉ tiêu phân tích là những chỉ tiêu nhất định phản ánh cả số lượng, mức độ, nội dung
và hiệu quả kinh tế của một hiện tượng kinh tế, một quá trình kinh tế toàn bộ hay từng mặtcác biệt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nội dung của chỉ tiêu biểu hiện bản chấtkinh tế của các hiện tượng, các quá trình kinh tế, do đó nó luôn ổn định; còn giá trị về con
số của chỉ tiêu biểu thị mức độ đo lường cụ thể, do đó nó luôn biến đổi theo giá trị thời gian
cụ thể
- Phân loại chỉ tiêu phân tích:
+ Căn cứ vào nội dung kinh tế: phân chỉ tiêu phân tích thành chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chấtlượng:
Chỉ tiêu số lượng phản ánh quy mô của kết quả hay điều kiện của quá trình kinh
doanh như doanh thu, lượng vốn…
Chỉ tiêu chất lượng phản ánh những đặc điểm về bản chất của quá trình đó Có chỉ tiêuchất lượng phản ánh hiệu quả toàn bộ hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, có chỉ tiêu chấtlượng phản ánh hiệu quả một khía cạnh nào đó của quá trình kinh doanh
Chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chất lượng có mối quan hệ mật thiết với nhau, chính vì vậy,không nên phân tích một cách cô lập mà phải đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau mớithu được kết quả toàn diện và sâu sắc Ngoài ra cũng cần nghiên cứu phân tích các chỉ tiêunày trong thể thống nhất trong mối quan hệ giữa chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chất lượng+ Theo cách tính toán: chỉ tiêu phân tích bao gồm chỉ tiêu tổng lượng, chỉ tiêu tương đối vàchỉ tiêu bình quân
Chỉ tiêu tổng lượng hay chỉ tiêu tuyệt đối biểu thị bằng số tuyệt đối , được sử dụng đểđánh giá quy mô kết quả hay điều kiện kinh doanh tại một thời gian và không gian cụ thểnhư doanh thu lượng vốn số lao động
Trang 14Chỉ tiêu tương đối là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ so sánh bằng số tương đối giữa haichỉ tiêu tổng lượng Chỉ tiêu này có thể tính bằng tỷ lệ hay phần trăm (%) Nó được sử dụng
để phân tích quan hệ kinh tê giữa các bộ phận
Chỉ tiêu bình quân phản ánh mức độ chung bằng số bình quân hay nói một cách khác, chỉtiêu bình quân phản ánh mức độ điển hình của một tổng thể nào đó Nó được sử dụng để sosánh tổng thể theo các loại tiêu thức số lượng để nghiên cứu sự thay đổi về mặt thời gian,mức độ điển hình các loại tiêu thức số lượng của tổng thể; nghiên cứu quá trình và xuhướng phát triển của tổng thể
+ Chỉ tiêu phân tích còn phân ra chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu cá biệt:
Chỉ tiêu tổng hợp phản ánh một tổng hòa nhất định của quá trình kinh doanh, tổng hòanày biểu thị sự tổng hợp của các quá trình kinh doanh, biểu thị kết cấu và chất lượng củanhững quá trình đó
Chỉ tiêu cá biệt không có ảnh hưởng số lượng của quá trình kinh doanh nói trên Sử dụngcác chỉ tiêu trong phân tích là để nêu ra những đặc điểm của quá trình kinh doanh, đồng thờixác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt được trong một
kỳ kinh doanh nhất định, khi biểu thị đặc tính của hiện tượng kinh doanh, quá trình kinhdoanh, có thể thấy kết cấu của chỉ tiêu phân tích Các chỉ tiêu phân tích nói rõ doanh nghiệp
đã hoàn thành nhiệm vụ như thế nào? Đạt mức độ nào? Quá trình kinh doanh xảy ra như thếnào: v.v…
Cũng như các chỉ tiêu kinh tế khác, chỉ tiêu phân tích đều có đơn vị tính Đơn vị tính cóthể là hiện vật như đơn vị tự nhiên(con, cái); đơn vị đo lường (mét, kilogam, tạ, tấn); đơn vịthời gian (ngày, giờ) Cấu thành của đơn vị dùng để tính chỉ tiêu phân tích cũng gồm có đơn
vị đơn và đơn vị kép… đơn vị đơn như: mét, kilogam, ; còn đơn vị kép như kW/h điện,máy điện thoại/100dân…v.v…Trong các đơn vị trên, chỉ có đơn vị giá trị và đơn vị laođộng là có tác dụng tổng hợp; còn các đơn vị khác không có tác dụng tổng hợp
Hệ thống chỉ tiêu phân tích có nhiều loại, việc sử dụng loại chỉ tiêu nào là do nội dung,yêu cầu và nhiệm vụ của các công tác phân tích cụ thể quyết định
+Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phân tích:
Trong phân tích hoạt động kinh doanh, mỗi chỉ tiêu đều biểu thị một khía cạnh nào đócủa hiện tượng và quá trình kinh tế nghiên cứu Các khía cạnh đó liên quan mật thiết với
Trang 15nhau, cho nên khi nghiên cứu một hiện tượng nào đó phải xem xét tất cả các chỉ tiêu, mốiquan hệ giữa các chỉ tiêu đó phải xem xét tất cả các chỉ tiêu, mối quan hệ giữa các chỉ tiêuđó.
Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu thường bao gồm: quan hệ hàm số, quan hệ thuận hoặcnghịch, quan hệ một hay nhiều nhân tố…
Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu thường được biểu diễn dưới dạng sơ đồ hoặc công thứctoán học Trong sơ đồ mối liên hệ giữa các chỉ tiêu biểu thị nguyên nhân, kết quả giữa cáckhía cạnh của hiện tượng nghiên cứu Chính vì vậy mỗi chỉ tiêu giữ một vai trò nhất định
1.3.2 Thu thập, kiểm tra và xử lý số liệu
Tài liệu sử dụng để làm căn cứ phân tích bao gồm văn kiện của các cấp bộ Đảng có liên
quan đến hoạt động kinh doanh Các nghị quyết, chỉ thị của chính quyền các cấp và cơ quan quản lý cấp trên có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; các tài liệu kế hoạch, dự toán, định mức, v v
Sau khi thu thập tài liệu cần tiến hành kiểm tra tính hợp pháp của tài liệu bao gồm
trình tự lập, ban hành, cấp thẩm quyền ký duyệt, nội dung và phương pháp tính và ghi cáccon số; cách đánh giá đối với chỉ tiêu giá trị Phạm vi kiểm tra không chỉ giới hạn các tàiliệu trực tiếp làm căn cứ phân tích mà còn cả các tài liệu khác có liên quan, đặc biệt là cáctài liệu gốc
1.3.3 Tiến hành phân tích
Từ hệ thống chỉ tiêu đã xây dựng và bộ số liệu thu thập được ta tiến hành phân tích, đánhgiá các chỉ tiêu từ việc tính toán các con số thu thập được
Quá trình phân tích phải được tiến hành một cách trung thực, công minh Điều đó sẽ tạo
ra được điệu kiện để đánh giá một cách khách quan thực trạng kinh doanh tại cơ sở đượcphân tích
Công tác tổ chức phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh thường phụ thuộc vào công tácsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Công tác tổ chức sản xuất kinh doanh lại phụ thuộcvào loại hình sản xuất kinh doanh Đặc điểm và điều kiện kinh doanh ở mỗi doanh nghiệpkhông giống nhau, do đó công tác tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh cũng phải đặt ranhư thế nào để phù hợp với hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
Trang 16Công tác phân tích hoạt động kinh doanh có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt kiểm soáttrực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc Theo hình thức này thì quá trìnhphân tích được thực hiện toàn bộ nội dung của sản xuất kinh doanh Kết quả phân tích sẽcung cấp thông tin thường xuyên cho lãnh đạo cấp cao Trên cơ sở này các thông tin quaphân tích được truyền đạt từ trên xuống dưới theo các kênh căn cứ theo chức năng quản lý
và quá trình đánh giá, kiểm tra, kiểm soát điều chỉnh, chấn chỉnh đối với từng bộ phận củadoanh nghiệp cũng được kèm theo từ ban giám đốc doanh nghiệp tới các phòng ban
Công tác phân tích hoạt động kinh doanh được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt căn
cứ theo các chức năng của quản lý, nhằm cung cấp và thỏa mãn thông tin cho các bộ phậncủa quản lý được phân quyền, trách nhiệm trong lĩnh vực kiểm tra, kiểm soát và ra quyếtđịnh đối với chi phí , doanh thu trong phạm vi giao quyền đó cụ thể
Đối với bộ phận được quyền kiểm soát và ra quyết định về chi phí sẽ tổ chức thực hiệnphân tích về tình hình biến động giữa thực hiện so với định mức (hoặc kế hoạch) nhằm pháthiện chênh lệch của từng yếu tố chi phí, giá cả về mặt biến động lượng và giá, trên cơ cở đótìm ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp
Đối với các bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanh thu thườnggọi là bộ phận kinh doanh, bộ phận này là các bộ phận kinh doanh riêng biệt theo khu vựcđịa điểm hay một số sản phẩm, nhóm hàng nhất định, do đó họ có quyền với các bộ phậncấp dưới Ứng với trung tâm này thường là trưởng bộ phận kinh doanh hoặc giám đốc kinhdoanh ở từng doanh nghiệp trực thuộc tổng công ty Trung tâm này sẽ tiến hành phân tíchbáo cáo thu nhập, đi xem xét và đánh giá mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận là cơ
sở để đánh giá hòa vốn trong kinh doanh và việc phân tích báo cáo bộ phận
Đối với bộ phận đầu tư, các nhà quản trị cấp cao nhất có quyền phụ trách toàn bộ doanhnghiệp, họ chủ yếu quan tâm đến hiệu quả của vốn đầu tư, ngắn hạn và dài hạn Để đáp ứngviệc cung cấp và thỏa mãn thông tin thì quá trình phân tích sẽ tiến hành phân tích các báocáo kế toán tài chính, phân tích để ra các quyết định dài hạn và ngắn hạn
Như vậy quá trình tổ chức công tác phân tích được tiến hành tùy theo từng loại hình tổchức sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp Nhằm đáp ứng thỏa mãn thông tin cung cấpcho quy trình lập kế hoạch, kiểm tra và ra quyết định, công tác tổ chức phân tích phải làmsao thỏa mãn được cao nhất nhu cầu của từng cấp chức năng quản lý
Trang 171.3.4 Xây dựng báo cáo
Báo cáo phân tích, thực chất là bản tổng hợp những đánh giá cơ bản cùng những tài liệuchọn lọc để minh hoạ rút ra từ quá trình phân tích Khi đánh giá cần nêu rõ cả thực trạng vàtiềm năng cần khai thác Cũng phải nêu phương hướng và biện pháp cho kỳ hoạt động kinhdoanh tiếp theo
Báo cáo phân tích cần được trình bày trong hội nghị phân tích để thu thập các ý kiếnđóng góp và thảo luận cách thức thực hiện các phương hướng và biện pháp trong kỳ kinhdoanh tiếp theo
1.4 Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh
Để phương pháp này được phát huy hết tính chính xác và khoa học thì trong quá trìnhphân tích cần thực hiện đầy đủ ba bước sau:
Bước 1: Lựa chọn các tiêu chuẩn để so sánh
Trước hết chọn chỉ tiêu của một kỳ làm căn cứ để so sánh, được gọi là kỳ gốc Tùy theomục tiêu nghiên cứu mà lựa chọn kỳ gốc so sánh cho thích hợp
Kỳ gốc là năm trước: Nhằm thấy được xu hướng phát triển của đối tượng phân tích
Kỳ gốc là năm kế hoạch (hay là định mức): Nhằm thấy được việc chấp hành các địnhmức đã đề ra có đúng dự kiến hay không
Kỳ gốc là chỉ tiêu trung bình của ngành: Nhằm thấy được vị trí của doanh nghiệp và khảnăng đáp ứng thị trường của doanh nghiệp
Kỳ gốc là năm thực hiện: Là chỉ tiêu thực hiện trong kỳ hạch toán hay kỳ báo cáo
Bước 2: Điều kiện so sánh
Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện đầu tiên là các chỉ tiêu được đem ra so sánh phảiđảm bảo tính chất so sánh được về không gian và thời gian
Về không gian: Các chỉ tiêu kinh tế cần phải được quy đổi về quy mô tương tự nhau (cụthể là cùng một bộ phận, phân xưởng, một ngành )
Trang 18Về thời gian: Các chỉ tiêu phải được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán nhưnhau (cụ thể như cùng tháng, quý, năm …) và phải đồng nhất trên cả ba mặt
- Cùng phản ánh nội dung kinh tế.
Số tuyệt đối trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện quy mô, khối lượng của hiện tượng kinh
tế xã hội trong điều kiện thời gian và điạ điểm cụ thể
Số tuyệt đối là kết quả của điều tra và tổng hợp thống kê Nó có thể biểu hiện số đơn vịcủa tổng thể hay từng bộ phận của tổng thể, như số nhân khẩu, số sinh viên hoặc là trị sốcủa lượng biến theo một tiêu tiêu số lượng nào đó như tổng chi phí sản xuất, tổng doanhthu
Số tuyệt đối luôn phản ánh một nội dung kinh tế, chính trị trong điều kiện lịch sử nhấtđịnh Nó phản ánh rất cụ thể, chính xác sự thật khách quan không thể phủ nhận được Ví dụ:Tổng số tiền chi phí lao động của một doanh nghiệp là 120 triệu đồng
Bằng các số tuyệt đối này có thể xác định một cách cụ thể được nguồn tài nguyên, tàisản, khả năng tiềm tàng, kết quả sản xuất và các thành tựu khác của một doanh nghiệp, mộtđịa phương hay toàn quốc
Nó còn là căn cứ để tính các chỉ tiêu phân tích khác (số tương đối, số bình quân)
Mục đích so sánh bằng số tuyệt đối:
- Phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước, vì muốn quản lý và kinhdoanh được thì trước hết người quản ký phải biết được tình hình cụ thể về mọi mặt Thí dụ:
Trang 19Biết được tình hình đất đai, lao động, vốn từ đó mới có kế hoạch sắp xếp sử dụng mộtcách hợp lý các nguồn lực đó vào kinh doanh và quản lý xã hội.
- Phục vụ cho công tác kế hoạch như lập và kiểm tra thực hiện kế hoạch, các dự án
- Căn cứ tính toán, so sánh các chỉ tiêu thống kê
Cách so sánh số tuyệt đối:
- Dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu kỳ gốc Để thấythấy được quy mô và số lượng của xu hướng phát triển
= Trong đó:
: So sánh tuyệt đối : Chỉ tiêu kì so sánh : Chỉ tiêu kì gốc
- So sánh 2 lượng tuyệt đối của hai hiện tượng khác loại nhưng có liên quan với nhau.Thí dụ: Mật độ dân số; GDP trung bình 1 đầu người
Hình thức biểu hiện của số tương đối là số lần, phần trăm (%); phần nghìn (‰), hoặc kếthợp đơn vị tính của 2 chỉ tiêu khi so sánh (kép), ví dụ người/km2, kg/người
Mục đích của so sánh bằng số tương đối:
Trang 20Mục đích của phương pháp này là so sánh hai chỉ tiêu cùng loại hay khác nhau nhưng cóliên hệ nhau để đánh giá sự tăng lên hay giảm xuống của một chỉ tiêu nào đó qua thời gian,hoặc đánh giá mức độ hoàn thành kế họach của một doanh nghiệp hay các nhà quản trịmuốn đánh giá một vấn đề nào đó ở hai thị trường khác nhau Phương pháp số tương đốicòn giúp ta nghiên cứu cơ cấu của một hiện tượng như cơ cấu ngành, cơ cấu doanh thu.
Cách so sánh số tương đối:
- Để thể hiện cơ cấu ngành, cơ cấu doanh thu:
Trong đó:
: So sánh tương đối : Giá trị của lĩnh vực i : Tổng giá trị của các lĩnh vực
- Để nói lên mức tăng trưởng: tính tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc
Trong đó:
: So sánh tương đối : Chỉ tiêu kì so sánh : Chỉ tiêu kì gốc
1.4.2 Phương pháp thay thế liên hoàn
Khái niệm: Là phương pháp mà ở đó các nhân tố lần lượt được thay thế theo một trình tự
nhất định để xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu cần phân tíchtích(đối tượng phân tích) bằng cách cố định các nhân tố khác trong mỗi lần thay thế
Trang 21Gọi a, b, c là trình tự các nhận tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích Thể hiện bằngphương trình: Q = a.b.c
Đặt là kết quả phân tích
là kết quả phân tích mức chênh lệch giữa thực hiện so với kế hoạch, là đối tượng phân tích,
Bước 3: Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
Thực hiện theo trình tự các bước thay thế
Lưu ý: Nhân tố đã thay ở bước trước phải được giữ nguyên cho các bước thay thế sau
- Thay thế bước 1(cho nhân tố a):
Thay thế bằng , mức độ ảnh hưởng của nhân tố “a” sẽ là:
- Thay thế bước 2 (cho nhân tố b)
Thay thế bằng , mức độ ảnh hưởng của nhân tố “b” sẽ là:
- Thay thế bước 3 (cho nhâ tố c)
Thay thế bằng , mức độ ảnh hưởng của nhân tố “c” sẽ là:
Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, ta có:
=(đối tượng phân tích)
Bước 4: Tìm nguyên nhân là thay đổi các nhân tố
Nếu do nguyên nhân chủ quan từ công ty thì phải tìm biện pháp khắc phục những nhượcđiểm, thiếu sót để kỳ sau thực hiện tốt hơn
Bước 5: Đưa ra các biện pháp khắc phục các nhân tố chủ quan ảnh hưởng không tốt đến chất lượng kinh doanh và đồng thời củng cố, xây dựng phương hướng cho kỳ sau.
Khi sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn, phải xác định chính xác thứ tự thay thế cácnhân tố ảnh hưởng Nếu thứ tự thay thế các nhân tố bị thay đổi tùy tiện thì kết quả tính toánkhông đúng, mặc dù tổng mức ảnh hưởng của các nhân tố không đổi Muốn xác định mức
độ ảnh hưởng của các nhân tố một cách đúng đắn thì phải nghiên cứu nội dung kinh tế củaquá trình kinh doanh, tức là phải xác định mối liên hệ thực tế của hiện tượng được phản ánhtrong trình tự thay thế liên hoàn
Trang 221.4.3 Phương pháp hồi quy
Trong phân tích hoạt động kinh doanh điện năng cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, hồiquy là công cụ phân tích đầy sức mạnh không thể thay thế, là phương pháp thống kê toándùng để ước lượng, dự báo những sự kiện xảy ra trong tương lai dựa vào quy luật quá khứ
1.4.3.1 Mô hình hồi quy đơn
Còn gọi là hồi quy đơn biến, dùng để xét mối quan hệ tuyến tính giữa một biến kết quả
và một biến giải thích hay biến nguyên nhân (nếu giữa chúng có mối quan hệ nhân quả).Trong phương trình hồi quy tuyến tính, một biến gọi là: biến phụ thuộc; một biến kia là tácnhân gây ra sự biến đổi, gọi là biến độc lập
Phương trình hồi quy đơn biến (đường thẳng) có dạng tổng quát:
Y i = a + b X i Hoặc Y = a+b X i +ε
Trong đó:
Yi: biến số phụ thuộc
Xi: biến số độc lậpa: tung độ
b: hệ số góc
ε: sai số.
Y trong phương trình trên được hiểu là Y ước lượng
1.4.3.2 Mô hình hồi quy bội
Còn gọi là phương pháp hồi quy đa biến, dùng phân tích mối quan hệ giữa nhiều biến sốđộc lập (tức biến giải thích hay biến nguyên nhân) ảnh hưởng đến biến phụ thuộc (tức biếnphân tích hay biến kết quả)
Trong thực tế, có rất nhiều bài toán kinh tế - cả lĩnh vực kinh doanh và kinh tế học, phảicần đến phương pháp hồi quy đa biến Chẳng hạn như phân tích những nhân tố ảnh hưởngđến thu nhập quốc dân, sự biến động của tỷ giá ngoại hối; xem xét doanh thu trong trườnghợp có nhiều mặt hàng; phân tích tổng chi phí với nhiều nhân tố tác động; phân tích giáthành chi tiết; những nguyên nhân anhrh hưởng đến khối lượng tiêu thụ…
Trang 23Một chỉ tiêu kinh tế chịu sự tác động cùng lúc của rất nhiều nhân tố thuận chiều hoặc tráichiều nhau Chẳng hạn như doanh thu lệ thuộc vào giá cả, thu nhập bình quân, lãi suất tiềngửi…Mặt khác, giữa các nhân tố lại có sự tương quan tuyến tính nội tại với nhau Phân tíchhồi quy giúp ta vừa kiểm định lại giả thiết về những nhân tố tác động và mức độ ảnh hưởng,vừa định lượng được các quan hệ kinh tế giữa chúng Từ đó, làm nền tảng cho phân tích dựbáo và có những quyết sách phù hợp, hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng.
Phương trình hồi quy đa biến dưới dạng tuyến tính:
Y = b 0 + b 1 X 1 + b 2 X 2 + … b i X i + b n X n + ε
Trong đó:
Y: biến số phụ thuộc (kết quả phân tích)
b0: tung độ gốc
bi: các độ dốc của phương trình theo các biến Xi
Xi: các biến số (các nhân tố ảnh hưởng)
ε: sai số.
So sánh ưu điểm, nhược điểm của các phương pháp được đưa ra:
Mỗi phương pháp đều có ưu điểm, nhược điểm riêng, tùy vào mục đích và số liệu thuthập được để lựa chọn phương pháp phù hợp
Sau đây là bảng so sánh ưu nhược điểm của các phương pháp:
Bảng 1.1: So sánh ưu điểm, nhược điểm của các phương pháp được đưa ra
Phương pháp
Đặc điểm
So sánh Thay thế liên hoàn Hồi quy
Trang 24Ưu điểm
- Đơn giản, phù hợpvới quy mô của nhiều
bộ số liệu
- Không gặp khó khăn
về mặt kỹ thuật vìkhông cần thiết phảixây dựng công thứchoặc mô hình tínhtoán
- kết quả phản ánhthực tế, khách quancủa thị trường
- Cho thấy được rõ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉtiêu phân tích, qua đó phản ánh được nội dung bên trong của hiện tượng kinh tế
- Đưa ra được quy luật, xu hướng và mối quan hệ của các hiện tượng nghiên cứu.
- Tính chính xác khá cao, kết quả tính toán có đưa ra được sai số.
- Dựa vào quy luật quá khứ có thể dự báo được sự kiện sảy
ra trong tương lai.
Nhược
điểm
- Không cho thấy được
rõ tính xu hướng củađối tượng phân tích
- Cần phải có thông tin
rõ, chính xác
- Đòi hỏi cần có nhiềukinh nghiệp và kiếnthức thực tế
- Khi xác định ảnhhưởng của nhân tốnào đó, phải giả địnhcác nhân tố kháckhông đổi, nhưngtrong thực tế các nhân
tố đều thay đổi
- Khi sắp xếp trình tựcác nhân tố phải thậtchính xác
- Cần có bộ số liệu quy mô lớn và đầy đủ.
- Đòi hỏi kỹ thuật cao, do cần xây dựng công thức tính toán.
1.5 Đặc điểm kinh doanh ngành điện
1.5.1 Đặc điểm điện năng và kinh doanh điện năng
1.5.1.1 Đặc điểm điện năng
Điện năng là một loại hàng hoá đặc biệt Quá trình kinh doanh điện năng gồm 3 khâu liênhoàn: Sản xuất - truyền tải - phân phối điện năng xảy ra đồng thời (ngay tức khắc), từ khâusản xuất đến khâu tiêu thụ không qua một khâu thương mại trung gian nào Khi tiêu dùng
Trang 25điện, điện năng được chuyển hóa thành các dạng năng lượng như nhiệt năng, cơ năng,quang năng… để thỏa mãn nhu cầu của đời sống con người.
Về mặt hàng hóa sản phẩm, điện năng là mặt hàng hóa đặc biệt nhưng điện năng khôngnhìn thấy được, không thể để tồn kho, không cất trữ được như các loại hàng hóa khác Quátrình sản xuất truyền tải - phân phối sử dụng điện xảy ra đồng thời từ khâu sản xuất đếnkhâu tiêu thụ và luôn luôn có sự cân bằng giữa công suất phát và công suất
suất tiêu thụ
Điện năng là dạng năng lưỡng dễ dàng chuyển hóa thành các dạng năng lượng khác.Trong quá trình sử dụng, điện năng biến đổi thành các dạng năng lượng như nhiệt năng, cơnăng, quang năng để thỏa mãn nhu cầu sản xuất và đời sống con người
Điện có thể sản xuất từ nhiều nguồn nguyện liệu khác nhau như : than, dầu, gió, nước,năng lượng nguyên tử, khí đốt
Nhu cầu sử dụng điện luôn luôn biến đổi tại mọi thời điểm, theo giờ, theo ngày, theotháng trong năm
Trong quá trình sản xuất và phân phối điện luôn có một lượng điện năng bị tiêu hao.Lượng điện tiêu hao này gọi là tổn thất điện năng kỹ thuật, nó bị mất đi một cách vô íchtrong quá trình truyền tải Tổn thất điện năng trên đường dây tải điện, trên đường dây phânphối điện, trong các máy biến áp, là khách quan và không tránh khỏi trong quá trình cungứng điện năng Nó là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến chi phí trong quá trình sản xuất kinhdoanh điện năng
Điện năng là sản phẩm vô hình, có yêu cầu đặc biệt an toàn về mặt kỹ thuật trong quátrình sản xuất – truyền tải – tiêu thụ
I.5.1.2. Kinh doanh điện năng
Nhu cầu về điện năng tăng trưởng cùng với sự phát triển đi lên của nền kinh tế Điệnnăng có một vai trò quan trong trong đời sống xã hội, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tếquốc dân, phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, góp phần tăng trưởng quốc phòng,củng cố an ninh và phát triển nền kinh tế đất nước tiến lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Khi mức sống của người dân được nâng cao thì nhu cầu sử dụng điện ngày càng lớn Nhưvậy nhu cầu về điện năng luôn có xu hướng tăng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế.Đây là một thuận lợi rất lớn cho các doanh nghiệp kinh doanh điện năng Các doanhnghiệp này không phải lo lắng nhiều về việc tiêu thụ hàng hoá, tìm kiếm thị trường Chi
Trang 26phí để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ hàng hoá như quảng cáo, tiếp thị hay khuyến mại sẽnhỏ hơn các doanh nghiệp kinh doanh các loại hàng hóa thông thường.
Việc tổ chức kinh doanh mua bán điện vẫn do Nhà nước độc quyền Điện năng là mộttrong những hàng hoá thiết yếu của nền kinh tế quốc dân, phục vụ cho đại tầng lớp nhândân Chính vì lẽ đó, đối với điện năng Nhà nước vẫn độc quyền kinh doanh, quản lý thôngqua hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước - các Công ty Điện lực và các Điện lực chinhánh Điều này có nghĩa các doanh nghiệp kinh doanh điện năng chưa bị nguy cơ cạnhtranh đe doạ
Giá cả hàng hoá điện năng do Nhà nước ấn định và quản lý Trong nền kinh tế thịtrường, giá cả hàng hoá và dịch vụ do hoạt động của quy luật cung - cầu quyết định,nhưng điện năng lại do Nhà nước độc quyền quản lý Các điện lực mua điện của các Công
ty điện lực, sau đó tổ chức kinh doanh bán cho các khách hàng mua điện Giá mua điện donhà nước quy định được tính toán dựa trên việc đảm bảo bù đắp các chi phí sản xuất,truyền tải, khấu hao thiết bị máy móc…có tham khảo ý kiến của các điện lực thành viên.Khách hàng tiêu dùng điện năng trước, thanh toán tiền mua điện sau Do đó khoảngcách về mặt thời gian giữa việc tiêu dùng điện và việc trả tiền điện dẫn đến hiện tượngkhông chịu trả tiền gây khó khăn cho công tác thu tiền điện
Công tác kinh doanh điện năng là một trong những khâu hết sức quan trọng của ngànhđiện, góp phần lớn vào việc đảm bảo cho lợi ích của ngành điện Chính vì vậy mà nhànước cần phải có những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kinh doanh điệnnăng, tiết kiệm được tổn thất điện năng không đáng có
Quá trình kinh doanh điện năng phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng dùng điện là cungứng đầy đủ, liên tục, an toàn, đảm bảo chất lượng điện năng
I.5.2 Quy trình kinh doanh điện năng
Công tác kinh doanh điện năng là khâu cuối cùng trong hoạt động sản xuất, truyền tải,phân phối và tiêu thụ điện năng Các quy trình này được tổ chức thực hiện thống nhất trongTập đoàn Điện Lực Việt Nam, nhằm đáp ứng đầy đủ, an toàn và tin cậy nhu cầu sử dụngđiện của khách hàng và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng
Quy trình kinh doanh điện năng được thực hiện theo trình tự sau:
Hình 1.2: Sơ đồ quy trình kinh doanh điện năng
Trang 27Quy trình ký kết và quản lý hợp đồng mua bán điệnQuy trình quản lý hệ thống đo đếm điện năng
Quy trình ghi chỉ số công tơQuy trình lập hóa đơn tiền điệnQuy trình thu và theo dõi nợ tiền điệnQuy trình giao tiếp với khách hàng sử dụng điệnQuy trình lập báo cáo kinh doanh điện năng
Quy trình cấp điện
Trang 28 Quy trình cấp điện
- Quy trình này quy định việc giải quyết các thủ tục cấp điện cho khách hàng mua điện trựctiếp với các đơn vị Điện lực, bao gồm: Cấp điện mới, tách hộ sử dụng điện chung và thayđổi công suất đã đăng ký sử dụng
- Các đơn vị Điện lực thực hiện giao dịch với khách hàng theo cơ chế một cửa để giải quyếtcác yêu cầu cấp điện của khách hàng, bao gồm thủ tục: Từ khâu tiếp nhận yêu cầu mua điện,khảo sát, thiết kế, ký hợp đồng mua bán điện, thi công, lắp đặt công tơ, đến nghiệm thuđóng điện cho khách hàng Đầu mối giao dịch với khách hàng là một bộ phận trực thuộcphòng kinh doanh của CTĐL, Điện lực hoặc trực thuộc tổ Kinh doanh của chi nhánh điệnhoặc Bộ phận quản lý khách hàng thuộc CTĐL, Điện lực
Quy trình ký kết và quản lý hợp đồng mua bán điện
- HĐMBĐ được thiết lập trên cơ sở các quy định hiện hành của pháp luật về hợp đồng và cácnội dung mà hai Bên mua, bán điện thỏa thuận và cam kết thực hiện
- HĐMBĐ đuợc hai Bên mua, bán điện thỏa thuận ký kết, là văn bản pháp lý xác định rõquyền hạn, nghĩa vụ và mối quan hệ giữa Bên bán và Bên mua điện trong quá trình thựchiện các điều khoản về mua điện, bán điên theo quy định của pháp luật
Quy trình quản lý hệ thống đo đếm điện năng
- Quy trình này áp dụng cho việc quản lý hoạt động của các hệ thống đo đếm điện năng muabán giữa khách hàng ký kết HĐMBĐ trực tiếp với các đơn vị
- Hệ thống đo đếm điện năng,bao gồm: Công tơ điện, máy biến dòng điện đo lường (TI), máybiến áp đo lường (TU), mạch đo và các thiết bị đo điện, phụ kiện phục vụ mua bán điện
- Thiết kế, lắp đặt và treo tháo hệ thống đo đếm điện năng
Trang 29+ Việc thiết kế và thi công lắp đặt hệ thống đo đếm điện năng phải đảm bảo tiêu chuẩn kỹthuật, an toàn điện và quản lý kinh doanh, khi hoàn thành công tác nghiệm thu phải kẹp chìniêm phong ngay hộp đấu dây và hộp bảo vệ công tơ.
+ Công tơ được lắp đặt trong khu vực quản lý của hai bên mua điện, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác giữa đơn vị với khách hàng Vị trí lắp đặt và việc lắp đặt công tơ phải đảmbảo an toàn, mỹ quan, thuận lợi cho bên mua điện kiểm tra chỉ số công tơ và bên bán điệnghi chỉ số công tơ
+ Việc thi công lắp đặt hệ thống đo đếm phảo đảm bảo đi dây gọn, đẹp Bên ngoài hộpcông tơ phải ghi tên hoặc mã số khách hàng bằng cách dán đề can hoặc phun sơn đảm bảo
mỹ quan
+ Khi treo, tháo các thiết bị đo đếm điện điện năng (công tơ, TU,TI) phải có phiếu treotháo do lãnh đạo đơn vị ký giao nhiệm vụ, lập biên bản treo tháo có sự chứng kiến và ký xácnhận của khách hàng
+ Truớc khi treo hoặc tháo các thiết bị đo đếm điện năng, người được giao nhiệm vụ
phải: Kiểm tra sự toàn vẹn của hệ thống đo đếm điện năng, chì niêm, niêm phong Kiểm tratình trạng họat động của công tơ, ghi chỉ số công tơ tại thời điểm treo hoặc tháo, hệ sốnhân… Kết quả kiểm tra phải được ghi đầy đủ vào Biên bản treo tháo thiết bị đo đếm điệnnăng
- Quản lý hoạt động và chất lượng của hệ thống đo đếm điện năng
+ Công tơ 1 pha kiểm định định kỳ 5 năm 1 lần
+ Công tơ 3 pha kiểm định định kỳ 2 năm 1 lần
+ TU, TI kiểm định định kỳ 5 năm 1 lần
Quy trình ghi chỉ số công tơ
Mục đích việc GCS
- Là cơ sở để tính toán điện năng giao nhận, mua bán được xác định thông qua chỉ số công tơđiện năng tác dụng (kWh), công tơ điện năng phản kháng (kVarh), công tơ điện tử đa chứnăng
- Căn cứ kết quả GCS để:
+ Lập hóa đơn tiền điện
Trang 30+ Tổng hợp sản lượng điện giao nhận; sản luợng điện thương phẩm và sản lượng điệncủa các thành phần phụ tải; sản lượng điện của các thành phần phụ tải; sản lượng điện dùng
để truyền tải và phân phối
+ Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị và toàn ngành; tính toán tỷ lệ tổnthất điện năng trong truyền tải, phân phối điện; quản lý và dự báo nhu cầu phụ tải
Quy trình lập hóa đơn tiền điện
Hóa đơn tiền điện năng tác dụng và hóa đơn mua công suất phản kháng (gọi chung làhóa đơn tiền điện) là chứng từ pháp lý để bên mua điện thanh toán tiền mua điện năng tácdụng và tiền mua công suất phản kháng với bên bán điện, là cơ sở để bên bán điện nộp thuếđối với Nhà nước
Việc lập hóa đơn tiền điện phải căn cứ vào:
- Hợp đồng mua bán điện
- Biên bản treo tháo các thiết bị đo đếm điện (công tơ, TU, TI,…) hoặc biên bản nghiệm thu
hệ thống đo điếm điện năng
- Số GCS hoặc file dữ liệu GCS công tơ
- Biểu giá bán điện, biểu thuế suất giá trị gia tăng và các thông tư hướng dẫn của Nhà nước
- Hóa đơn tiền điện được tính toán theo chương trình CMIS và in trên máy tính theo mẫuthống nhất trong toàn tập đòan đựơc Bộ Tài chính phê duyệt
Quy trình thu và theo dõi nợ tiền điện
Công tác thu và theo dõi nợ các khoản tiền bao gồm: Tiền điện năng tác dụng, tiền côngsuất phản kháng, tiền thuế GTGT; tiền lãi do chậm trả hoặc do thu thừa tiền điện, bồithường thiệt hại, tiền phạt do vi phạm HĐMBĐ, được gọi chung là công tác thu và theo dõi
nợ tiền điện
Quy trình giao tiếp với khách hàng sử dụng điện
- Tiếp nhận, trả lời các yêu cầu của khách hàng liên quan đến việc mua, bán điện, thươngthảo, ký hợp đồng và các dịch vụ điện khác
- Khảo sát, lắp đặt, treo tháo, nghiệm thu hệ thống đo đếm điện;
- Quản lý hệ thống đo đếm điện, ghi chỉ số, phúc tra chỉ số công tơ;
Trang 31- Thu tiền điện, xử lý nợ tiền điện, thu chi phí ngừng và cấp điện trở lại, các khoản tiền liênquan đến dịch vụ điện khác theo quy định;
- Kiểm tra sử dụng điện, xử lý vi phạm sử dụng điện, xử lý vi phạm HĐMBĐ;
- Sửa chữa, thao tác đóng cắt điện;
- Khảo sát, lắp đặt, nghiệm thu công trình đường dây và trạm biến áp;
Quy trình lập báo cáo kinh doanh điện năng
Báo cáo kinh doanh điện năng là văn bản thể hiện kết quả kinh doanh điện năng của cácCTĐL Trên cơ sở đó phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và các chỉ tiêukinh doanh điện năng, kịp thời đề ra các biện pháp nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý
1.5.3 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý kinh doanh điện năng.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng hoạt động kinh doanh điện năng của, chúng ta cần tiến hànhphân tích các chỉ tiêu :
Cơ cấu lao động
Năng suất lao động
Nguồn cung cấp điện và lưới điện phân phối
Suất sự cố
Điện thương phẩm
Chỉ tiêu về doanh thu
Giá bán điện bình quân
Tổn thất điện năng
1.5.3.1 Cơ cấu lao động.
Cơ cấu lao động có thể hiểu là một phạm trù kinh tế tổng hợp, thể hiện tỷ lệ của từng bộphận lao động nào đó chiếm trong tổng số, hoặc thể hiện sự so sánh của bộ phận lao độngnày so với bộ phận lao động khác Cơ cấu lao động thường được dùng phổ biến là:
• Cơ cấu lao động chia theo giới tính, độ tuổi
• Cơ cấu lao động chia theo trình độ văn hóa chuyên môn kĩ thuật
Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi tăng, giảm của từng bộ phận trong tổng số laođộng, theo một không gian và khoảng thời gian nào đó Như vậy, chuyển dịch cơ cấu laođộng là một khái niệm nêu ra trong một không gian và thời gian nhất định, làm thay đổi chấtlượng lao động
1.5.3.2 Năng suất lao động
Định nghĩa:
Trang 32Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ
so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó Năng suấtlao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh, đặc biệt, năngsuất lao động lại phản ánh yếu tố chất lượng người lao động - yếu tố cốt lõi của sự phát triểntrong sự cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thứchiện nay
Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động cụ thểtrong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng (hay lượng giá trị)được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo bằng lượng thời gian lao động hao phí để sảnxuất ra một đơn vị thành phẩm Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tínhchất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sảnxuất Năng suất lao động được quyết định bởi nhiều nhân tố, như trình độ thành thạo củangười lao động, trình độ phát triển khoa học và áp dụng công nghệ, sự kết hợp xã hội củaquá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên
Năng suất lao động trong kinh doanh điện năng:
+ Năng suất lao động thường được định nghĩa là tổng sản lượng điện năng thương phẩmtrên một đơn vị người lao động làm việc
Năng suất lao động bình quân được tính bằng công thức sau:
ANS =
Trong đó:
ANS - Năng suất lao động bình quân ( Tr.kWh/người)
ĐTP- Điện năng thương phẩm (Tr.kWh)
Trang 33 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động
- Trình độ của người lao động: trình độ văn hóa, chuyên môn, sức khỏe
Trình độ của người lao động là yếu tố quyết định lớn tới năng suất lao động Người laođộng có trình độ chuyên môn cao, nhanh nhẹn trong công việc, khéo léo, sức khỏe tốt thì sẽgóp phần làm tăng năng suất lao động
- Sự phát triển của khoa học kĩ thuật và trình độ ứng dụng khoa học kĩ thuật
Việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuật vào sản xuất giúp giảm thời gian cũngnhư công sức của con người, giảm số lao động đồng thời sẽ tạo ra nhiều sản lượng dẫn đếntăng năng suất
- Trình độ quản lý và phân công lao động
Người quản lý tốt, biết cách nhìn nhận quản lý công nhân viên và phân công lao
động hợp lý phù hợp với trình độ của người lao động vừa tiết kiệm thời gian, chi phí
mà nâng cao được nâng suất lao động
- Hiệu quả của tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là bất kì công cụ nào giúp người lao động biến nguyên liệu thành vật thểhữu dụng bao gồm tư liệu hữu hình và tư liệu vô hình Sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất
sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động và cải thiện kinh tế
- Các yếu tố khác như: tâm lý, điều kiện tự nhiên
Khi người lao động có động lực thúc đẩy thì họ sẽ làm việc hiệu quả hơn Môi trường làmviệc cũng ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất lao động Môi trường làm việc an toàn, không
bị ô nhiễm thì người lao động sẽ an tâm làm việc, tập trung sản xuất thì năng suất lao động sẽtăng lên Ngược lại điều kiện làm việc không tốt dẫn đến áp lực, căng thẳng cho người laođộng từ đó năng suất lao động cũng bị giảm sút
1.5.3.3 Nguồn cung cấp điện và lưới điện phân phối.
Phần hệ thống điện bao gồm các trạm biến áp và các đường dây tải điện: gồm hàng chụccác bộ phận rất đa dạng: máy biến áp, máy cắt, dao cách ly, tụ bù, sứ xuyên thanh cái, cột,cáp ngầm đường dây trên không, công tơ điện Đa phần là thuộc sở hữu của Điện lực
Thống kê khối tài sản mà đơn vị kinh doanh điện năng quản lý Bao gồm: lưới điện trung
áp, lưới điện hạ áp, máy biến áp, công tơ 1 pha, 3 pha… qua các năm Từ đó cho thấy mức
Trang 34độ phát triển khách hàng của đơn vị đó Số lượng tài sản tăng cao chứng tỏ mức phát triểnkhách hàng của đơn vị đó là cao, đơn vị kinh doanh có hiệu quả Và ngược lại số lượng tàisản thấp, đơn vị đó không phát triển thêm hệ thống điện, phát triển khách hàng không hiệuquả.
1.5.3.4 Chỉ tiêu suất sự cố
Để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện, EVN có quy định về chỉ tiêu suất sự cố (đường dây
và trạm biến áp) trong quản lý vận hành hệ thống điện để làm cơ sở cho việc đánh giá chấtlượng quản lý vận hành nguồn lưới đáp ứng yêu cầu cung cấp điện liên tục cho khách hàng
Có 2 loại sự cố : Sự cố vĩnh cửu và sự cố thoáng qua
Sự cố thoáng qua : là sự cố mà các phần tử sự cố được giải trừ , khôi phục trong thời giannhỏ hơn hoặc bằng 20 phút
Sự cố vĩnh cửu : là sự cố mà thời gian giải trừ , khôi phục các phần tử sự cố lớn hơn 20phút
EVN có đưa ra các chỉ tiêu về sự cố áp dụng đối với các Điện lực:
Suất sự cố thoáng qua đường dây trung thế: 12 vụ/100Km.năm
Suất sự cố vĩnh cửu đường dây trung thế: 3,6 vụ/100Km.năm
Từ các quy định trên đã buộc các đơn vị thành viên phải tích cực đưa ra kế hoạch và cácphương án cải thiện chất lượng cung ứng điện trên hệ thống điện toàn quốc, đồng thời có tácđộng tích cực đến ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công nhân viên làm công tác quản
lý kỹ thuật, vận hành hệ thống điện
Chỉ tiêu suất sự cố chỉ cho biết số lần mất điện (do sự cố) trung bình của hệ thống Khôngbiết được số lần và thời gian mất điện của khách hàng, cũng như phạm vi mất điện, lượngcông suất và điện năng không cung cấp được (do mất điện)
Chỉ tiêu sự cố bị ảnh hưởng rất nhiều từ tác động của thiên nhiên Thiên tai do thiênnhiên gây ra: gió, bão, lụt, sét,…làm đổ cột điện, đứt dây truyền tải, ngắn mạch Các đườngdây tải điện, phần lớn là các đường dây trên không (chiều dài rất lớn, đi qua nhiều vùng),thường xác suất bị sét đánh tương đối cao, sự cố trong hệ thống điện do sét gây nên chủ yếu
là xảy ra trên đường dây Khi sét đánh vào các đường dây tải điện nó có thể gây phóng điệntrên cách điện đường dây, cũng có thể gây ra sự cố ngắn mạch làm nhảy máy cắt dẫn đếnngừng cung cấp điện và có thể gây ra tổn thất nghiêm trọng
Trang 35Ngoài ra sự cố còn do công tác quản lý vận hành chưa tốt, không thay thế kịp thời cácthiết bi hư hỏng, không phát quang hành lang lưới điện để đảm bảo an toàn lưới điện gây ra
sự cố Ý thức của người dân không tốt, vi phạm phạm vi an toàn của lưới điện., ví dụ nhưbuông diều khiến dây diều quấn vào dây điện cũng là nguyên nhân gây ra sự cố lưới điện
Sự cố ảnh hưởng đến độ tin cậy của lưới điện, nếu sự cố xảy ra nhiều làm đến lượng điệnnăng truyền tải, từ đó làm giảm lượng điện năng thương phẩm Vì thế, nếu cải thiện đượcchỉ tiêu sự cố sẽ góp phần làm tăng điện năng thương phẩm của đơn vị
1.5.3.5 Chỉ tiêu điện thương phẩm
Điện năng thương phẩm trong kỳ ( tháng, quý, năm ) là tổng điện năng bán cho toàn bộkhách hàng của đơn vị trong kỳ đó
= Trong đó: : Sản lượng điện thương phẩm
: Điện năng thương phẩm từng hộ tiêu thụYếu tố chính quyết định thành công của doanh nghiệp kinh doanh điện năng chính là điệnnăng thương phẩm Từ trước tới nay, chỉ tiêu này thường được đánh giá bằng cách so sánhđiện năng thương phẩm thực tế với kế hoạch được giao của đơn vị Vì chỉ tiêu này phản ánhgần như hoàn toàn kết quả kinh doanh của điện lực cũng như tình hình tiêu thụ điện năngcủa điện lực Nếu chỉ tiêu này cao thì chứng tỏ doanh nghiệp làm việc không hiệu quả, nếuchỉ tiêu này thấp chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả có khả năng thua lỗ.Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu điện năng thương phẩm như: sự cố, cắt điện để thựchiện sửa chữa, cắt điện do quá tải Trong khoảng thời gian xảy ra các trường hợp sự cố, cắtđiện để thực hiện sửa chữa, cắt điện do quá tải sẽ không có điện cung ứng cho các hộ tiêuthụ, cho nên làm mất đi một sản lượng điện thương phẩm chính bằng sản lượng điện mà các
hộ sử dụng điện tiêu thụ trong khoảng thời gian đó Cho nên, nếu doanh nghiệp làm giảmđược yếu tố này sẽ nâng cao chất lượng điện năng thương phẩm, phục vụ khách hàng đượctốt hơn, nâng cao uy tín của doanh nghiệp
Sản lượng điện thương phẩm phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng điện của khách hàng, và sốliệu về sản lượng điện thương phẩm có được bằng cách tổng hợp số liệu công tơ tại các hộtiêu thụ
Phương pháp phân tích chỉ tiêu điện thương phẩm:
Trang 36So với chỉ tiêu kế hoạch:
- TH là tổng lượng điện thương phẩm thực tế trong năm
- KH là lượng điện thương phẩm Tổng công ty Điện lực Hà Nội giao đầu năm Khi
đó sẽ xảy ra 1 trong 3 trường hợp sau:
CTĐTP < 100% : chưa đạt được kế hoạch đề ra
CTĐTP = 100%: Đạt được kế hoạch đề ra
CTĐTP > 100%: Vượt kế hoạch đề ra (khi đó doanh thu sẽ tăng do lượng điện thươngphẩm bán ra nhiều hơn)
So với cùng kỳ năm trước:
- TH là tổng lượng điện điện năng bán được trong kỳ đang xét,
- KT là tổng lượng điện năng bán được cùng kỳ năm trước
CTĐTP < 100%: lượng điện năng thương phẩm không đạt được so với kỳ trước
CTĐTP = 100%: lượng điện năng thương phẩm đạt được đúng bằng so năm trước
CTĐTP > 100%: lượng điện năng thương phẩm đạt được kết quả vượt so với cùng kỳ nămtrước
1.5.3.6 Chỉ tiêu tổn thất điện năng
Tổn thất điện năng hiểu theo cách đơn giản nhất là phần bị mất đi trong quá trình sảnxuất, truyền tải và tiêu thụ
Tổn thất điện năng trên hệ thống điện là lượng điện năng tiêu hao cho quá trình truyền tải
và phân phối điện từ thanh cái các nhà máy điện qua hệ thống lưới điện truyền tải, lưới điệnphân phối đến các hộ sử dụng điện Chính vì vậy, tổn thất điện năng còn được định nghĩa làđiện năng dùng để truyền tải và phân phối điện
Trang 37Hiệu số giữa tổng lượng điện năng do các nhà máy điện phát ra với tổng lượng điện năngcác hộ tiêu thụ nhận được trong cùng một khoảng thời gian được xem là mất mát (tổn thất)điện năng trong hệ thống truyền tải.
Lượng điện tổn thất được tính bằng công thức:
ADN: Sản lượng điện đầu nguồn (đơn vị: kWh)
ATP: Sản lượng điện thương phẩm thực hiện bán cho các hộ dùng điện (kWh)
Lượng điện năng tổn thất xác định mức độ tổn thất điện năng dưới dạng số tuyệt đối Nóđược xác định bằng số kWh điện chênh lệch giữa tổng sản lượng điện nhận và tổng lượngđiện thương phẩm, bán cho khách hàng dùng điện trong cùng một khoảng thời gian nhấtđịnh Đây là sản lượng điện do các nhà máy điện sản xuất ra cung cấp cho lưới điện (sau khi
đã trừ đi sản lượng điện bán ra hàng tháng) và được xác định trên công tơ đầu nguồn củacác công ty truyền tải hiện nay của các công ty Điện lực
Lượng điện năng tổn thất cho chúng ta thấy quy mô của tổn thất điện năng là cơ sở đểxác định giá trị của tổn thất điện năng
Mức tổn thất điện năng về mặt giá trị được tính bằng lượng điện bị tổn thất về mặt hiệnvật nhân với giá bán điện bình quân của 1kWh điện trong khoảng thời gian đó:
bq
Trong đó:
G: Giá trị điện năng bị tổn thất (đơn vị: đồng)
∆A: Lượng điện năng bị tổn thất (đơn vị: kWh)
Pbq: Giá bán điện bình quân 1kWh (đơnvị: đồng)Tổn thất điện năng là lượng tổn thất trong tất cả các khâu từ khâu sản xuất (phát điện),truyền tải, phân phối điện (quá trình lưu thông) đến khâu tiêu thụ
Tỷ lệ tổn thất điện năng: Xác định mức độ tổn thất điện năng ở dạng số tương đối Nó
được xác định bằng tỷ số % giữa lượng điện năng tổn thất và tổng sản lượng điện trongcùng một khoảng thời gian nhất định
Trong đó:
Trang 38: Tỷ lệ tổn thất điện năng (%)
∆A: Lượng điện bị tổn thất trong quá trình truyền tải, tính từ nguồn phát
đến các hộ tiêu thụ( đơn vị kWh)
ADN: Điện nhận đầu nguồn có tổn thất (kWh)
Tỷ lệ tổn thất điện năng phản ảnh mức độ tiêu hao, thất thoát điện năng trong quá trìnhtruyền tải, phân phối so với sản lượng điện đầu nguồn nhận vào lưới điện Nó cho thấy với1kWh điện đầu nguồn (mua vào) thì trong quá trình truyền tải, phân phối sẽ bị tổn thất baonhiêu và bán ra cho khách hàng được bao nhiêu kWh
Tỷ lệ tổn thất điện năng là một chỉ tiêu đặc biệt quan trong phản ánh hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp sản xuất kinh doanh điện, các doanh nghiệp này luôn phấn đấu tìm mọibiện pháp và đặt mục tiêu giảm tổn thất điện năng là nhiệm vụ hàng đầu
Phân loại tổn thất điện năng
Tổn thất điện năng trong truyền tải và phân phối được phân chia thành hai loại cơ bản làtổn thất kỹ thuật và tổn thất thương mại
Tổn thất kỹ thuật
Điện năng được sản xuất ra từ các nhà máy điện, muốn tải đến hệ tiêu thụ phải qua hệthống lưới điện cao áp, trung áp, xuống hạ áp (hệ thống điện bao gồm máy biến áp đườngdây và các thiết bị điện khác) Trong quá trình truyền tải đó, dòng điện tiêu hao một lượngnhất định khi qua máy biến áp, qua điện trở dây dẫn và mối nối dây dẫn làm phát nóng dây,qua các thiết bị điện, thiệt bị đo lường, công tơ điện gây tổn thất điện năng
Tổn thất điện năng kỹ thuật là tất yếu trong quá trình truyền tải điện từ nhà máy phát điệnqua hệ thống lưới điện cao hạ áp đến các hộ sử dụng điện Mức độ tổn thất điện năng lớnhay nhỏ tùy thuộc vào cấu trúc lưới điện, chất lượng thiết bị, chất lượng đường dây tải điện
Trang 39của nhà nước Tổn thất thương mại không định lượng được song cũng có tác động khôngnhỏ đến hệ thống, làm gia tăng tỷ lệ tổn thất điện năng chung.
Các nhân tố ảnh hưởng đến tổn thất điện năng:
Nhân tố khách quan
Hệ thống điện của nước ta phần lớn là nằm ở ngoài trời, do đó tất yếu sẽ chịu ảnh rất lớncủa điều kiện tự nhiên Sự thay đổi, biến động của môi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất lớntới sự tổn thất điện năng của ngành điện Nước ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, nên độ ẩmtương đối cao, nắng lắm mưa nhiều đã gây không ít khó khăn cho việc bảo dưỡng thiết bị vàvận hành lưới điện Các đường dây tải điện và máy biến áp đều được cấu thành từ kim loạinên độ ẩm cao làm cho kim loại nhanh bị ô xi hoá và như vậy dẫn đến hiện tượng máy biến
áp và dây tải điện sử dụng không hiệu quả nữa, lượng điện bị hao tổn
Nhân tố chủ quan
Công nghệ trình độ kỹ thuật:
Công nghệ trình độ kỹ thuật của máy móc thiết bị trong hệ thống truyền tải và phân phốiđiện năng càng cao thì sự cố càng ít xảy ra, và có thể tự ngắt khi sự cố xảy ra,… dẫn đếnlượng điện tổn hao càng ít Ngược lại thì lượng điện tổn thất sẽ lớn Sự lạc hậu về thiết bịcông nghệ: hệ thống điện chắp vá, tận dụng, chưa đồng bộ chưa hoàn chỉnh, sự cọc cạchtrong hệ thống như với đủ mọi dây dẫn tận dụng khác nhau,… Các bộ phận của hệ thốngđiện, với cùng thời gian sẽ bị lão hóa Thêm vào đó sự phát triển như vũ bão của khoa họccông nghệ kéo theo sự tiên tiến, hiện đại hóa của thiết bị máy móc mọi lĩnh vực, kích thíchtiêu dùng năng lượng nhiều hơn Vì vậy nếu không quản lý, bảo dưỡng giám sát đổi mớicông nghệ truyền tải sẽ dẫn đến tổn thất lớn Những MBA của thế hệ cũ không đáp ứngđược nhu cầu tải điện trong giai đoạn hiện nay, xuất hiện tình trạng máy bị quá tải hoặc nontải, dây dẫn không có tiết diện đủ lớn để truyền tải dẫn đến tình trạng quá tải đường dây;công tơ cũ lạc hậu không hiển thị rõ chỉ số, cấu tạo đơn giản làm cho người dùng dễ lấy cắpđiện Trong ngành điện sự đổi mới kỹ thuật không đồng bộ cũng sẽ dẫn đến tổn thất điệnnăng, lượng tổn thất vẫn bị tăng do chạy máy không tải và do một số trạm quá tải
Tổ chức sản xuất kinh doanh:
Để quản lý tốt sản phẩm của mình trong đó có giảm lượng điện năng hao tổn thì việc tổchức sản xuất hợp lý, tạo mối liên hệ cân đối, hài hoà giữa các bộ phận, phải có một đội ngũnhân viên có trình độ, tinh thần trách nhiệm cao với công việc là hết sức cần thiết Tổ chức
Trang 40sản xuất kinh doanh không hợp lý tất yếu dẫn đến hoạt động của ngành kém chất lượng,điện cung cấp không đầy đủ cả về số lượng và chất lượng, hao tổn điện năng nhiều.
Quản lý khách hàng:
Ngành điện là ngành cơ sở hạ tầng, tạo nên động lực của toàn bộ nền kinh tế xã hội Điệnnăng là một loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt quan trọng, gắn với đời sống hàng ngày củacon người Chính vì vậy, khách hàng tiêu thụ điện rất đa dạng, thuộc mọi tầng lớp, mọi lĩnhvực, mọi miền và mọi vùng của quốc gia, từ khách hàng chỉ tiêu thụ 2-3 KWh/tháng đếnnhững khách hàng tiêu thụ hàng triệu KWh/ tháng Do khách hàng của ngành điện rất đadạng và phong phú như vậy nên việc quản ký khách hàng đối với ngành điện là tương đốikhó khăn Quản lý khách hàng không tốt dẫn đến việc tổng điều tra và ký lại hợp đồng muabán chưa đầy đủ, tên người sử dụng điện khác với tên người ký hợp đồng, địa chỉ không rõràng, gây nên hiện tượng thất thu tiền điện Quản lý khách hàng theo từng khu vực, phânloại khách hàng theo từng đặc điểm sẽ giúp cho việc ghi công tơ và thu ngân được đúng tiến
độ, không quá hạn lịch ghi công tơ hàng tháng, công việc này góp phần giảm tổn thất điệnnăng một cách đáng kể Khách hàng được quản lý sát sao, có hệ thống giúp cho ngành điệnnắm vững được mục đích sử dụng điện của từng hộ để tính giá điện cho phù hợp, khi có sự
cố xảy ra, biết rõ đang xảy ra ở khu vực nào, từ đó có biện pháp xử lý hợp lý, kịp thời.Quản lý khách hàng thông qua quản lý công tơ các hộ sử dụng điện; các công tơ chết cháykhông đạt chất lượng phải được thay kịp thời Các hình thức vi phạm hợp đồng sử dụngđiện phải bị xử phạt nghiêm minh
Như vậy, công tác quản lý khách hàng tốt sẽ góp phần rất lớn vào việc giảm tổn thất điệnnăng của ngành điện giảm tổn thất điện năng của ngành điện
Giảm tổn thất điện năng là đó là giảm tiêu hao trong quá trình truyền tải điện năng tớithiết bị tiêu thụ điện Giảm tổn thất điện năng là một mục tiêu lớn mà Điện lực và các công
ty Điện lực nói riêng và Tập đoàn Điện lực Việt Nam nói chung luôn đặt lên hàng đầu
Phương pháp phân tích chỉ tiêu tỷ lệ tổn thất điện năng:
+ So với chỉ tiêu kế hoạch
CTTLTT = TH (%) – KH (%)Với: TH (%) là tỉ lệ tổn thất thực tế trong năm đang xét, KH (%) là tỉ lệ tổn thất kế hoạchđược giao đầu năm
CTTLTT < 0: tỉ lệ tổn thất thực tế nhỏ hơn so với kế hoạch đề ra như vậy sẽ giảm được chi