Nguyễn Thị Hải, giảng viên Trường Đại học Thăng Long đã tận tình hướng dẫn, luôn quan tâm, lắng nghe ý kiến, ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu và hoà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-TRẦN THỊ NGỌC YẾN
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ TÂM LÝ
CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH
QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Trang 2-TRẦN THỊ NGỌC YẾN - C00349
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ TÂM LÝ
CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Hải, giảng viên Trường Đại học Thăng Long đã tận tình hướng dẫn, luôn quan tâm, lắng nghe ý kiến, ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình.
Xin gửi lời cảm ơn đến các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình của các em tại Trung tâm Công tác xã hội Quảng Ninh đã hỗ trợ và hợp tác với tôi rất nhiều trong quá trình làm luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng, song do còn hạn chế về khả năng nên luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu xót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy cô và những cá nhân quan tâm đến đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên
Trần Thị Ngọc Yến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Công tác xã hội trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh” là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu
và số liệu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Tác giả đề tài Học viên
Trần Thị Ngọc Yến
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Loại hình gia đình 40Bảng 2 Nguồn thu nhập của gia đình 41Bảng 3 Tuổi trung bình của trẻ theo nhóm “hoàn cảnh đặc biệt” sống tại cơ sở 43Bảng 4 Nghề nghiệp của cha/mẹ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 43
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu đồ số 1: Tỷ lệ gia tăng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ
rơi của tỉnh Quảng Ninh (giai đoạn 2013 -2015) 36
Biểu đồ số 2: Giới tính trẻ em có HCĐB 39
Biểu đồ số 3: Độ tuổi của trẻ em có HCĐB phân theo giới tính 40
Biểu đồ số 4: Nhóm mức sống của hộ gia đình theo thu nhập của hộ/tháng 43
Trang 7UNICEF Quỹ nhi đồng liên hợp quốc
IFCO Tổ chức quốc tế về Nhận nuôi dưỡng trẻ em
INGOs Tổ chức phi chính phủ quốc tế
TECHCĐB Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
TTCTXH Trung tâm Công tác xã hội
Trang 8MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC BIỂU 6
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Tổng quan nghiên cứu 3
3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 3
3.2 Các nghiên cứu trong nước 6
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12
4.1 Ý nghĩa khoa học 12
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 12
5 Đối tượng nghiên cứu 13
6 Khách thể nghiên cứu 13
7 Câu hỏi nghiên cứu 13
8 Giả thuyết nghiên cứu 14
9 Phạm vi nghiên cứu 14
10 Phương pháp nghiên cứu 14
10.1 Phương pháp phân tích tài liệu 14
10.2 Phương pháp phỏng vấn 14
10.3 Phương pháp quan sát 15
10.4 Phương pháp can thiệp bằng công tác xã hội cá nhân 15
NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT VẬN DỤNG 15
1 Khái niệm nghiên cứu 16
1.1 Công tác xã hội 16
Trang 91.2 Công tác xã hội cá nhân 17
1.3 Hỗ trợ tâm lý 18
1.4 Trẻ em 18
1.5 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 18
Nhóm 4 là trẻ em bị tai nạn thương tích; 20
1.6 Hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 20
2.3 Cách tiếp cận 22
2.3.1 Tiếp cận theo nhu cầu 22
3 Lý thuyết áp dụng 23
3.1 Lý thuyết nhu cầu 23
3.2 Lý thuyết nhận thức hành vi 26
3.3 Thuyết sơ đồ sinh thái 27
CHƯƠNG 2 29
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO TRẺ CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH 29
1 Đặc điểm tình hình của địa bàn nghiên cứu 30
1.1 Chức năng 30
1.2 Nhiệm vụ 31
1.3 Về bộ máy 31
2 Thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại trung tâm công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh 34
2.1 Biến động về hiện trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 34
2.2 Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chia theo nhóm trẻ 36
2.3 Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phân theo địa bàn 38
3 Thực trạng công tác hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong mô hình thí điểm gia đình, cá nhân nhận nuôi tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh 38
3.1 Về giới tính 38
3.2 Về độ tuổi 39
Trang 103.3 Về điều kiện sinh hoạt và hoàn cảnh sống 40
3.4 Về đặc điểm tâm lý 44
3.5 Đặc điểm tâm lý của trẻ mồ côi 46
3.6 Các biện pháp hỗ trợ về mặt tâm lý 47
4 Một số khó khăn, tồn tại 48
CHƯƠNG 3 50
ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH 50
1 Bối cảnh chọn thân chủ 50
2 Mô tả thân chủ 51
3 Tiến trình thực hành Công tác xã hội 52
3.1 Tiếp nhận thân chủ: 52
3.2 Nhận diện vấn đề: 54
3.3 Thu thập dữ liệu: 54
Ghi chú: 59
3.4 Chẩn đoán: 61
3.5 Kế hoạch trị liệu: Mục đích của việc lập kế hoạch, các giải pháp thực thi, thứ tự ưu tiên cho các giải pháp, các yếu tố khác như thời gian, địa điểm, tài chính… 65
3.6 Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề 68
3.7 Bước 7: Kết thúc: Đánh giá quá trình thực hiện các kế hoạch có đạt mục tiêu đề ra hay không? Ghi chép, tổng hợp, rút kinh nghiệm, tiếp tục hỗ trợ hay rút lui 88
4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại trung tâm công tác xã hội tỉnh quảng ninh 89
KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 94
1 KHUYẾN NGHỊ 94
2 KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 101
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em luôn là niềm hy vọng, tự hào của mỗi gia đình, là chủ nhân tương lai của đất nước và là mối quan tâm hàng đầu của xã hội Để trẻ em phát triển một cách đầy đủ về trí tuệ, nhân cách và thể lực thì trẻ cần nhận được
sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương và sự giúp đỡ thường xuyên của toàn xã hội Trẻ em là đối tượng cần được quan tâm đặc biệt do sự non nớt về mặt thể chất và tinh thần Điều đó càng quan trọng hơn với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt - trong
đó có trẻ mồ côi Các em chịu rất nhiều thiệt thòi như thiếu tình thương, không
có sự quan tâm chăm sóc của gia đình đặc biệt với những trẻ bị ảnh hưởng cả về mặt thể chất và tinh thần so với trẻ em cùng lứa tuổi khác mặt khác các em đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ: bóc lột sức lao động, bạo hành trẻ em, bị lợi dụng hay lôi cuốn vào tệ nạn xã hội… do đó chúng cần được sự quan tâm đặc biệt, cần được sống trong một môi trường yêu thương và giáo dục đầy đủ để phát triển bình thường như bao trẻ em khác Giải quyết nhũng vấn đề liên quan đến trẻ em sẽ góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của quốc gia Đó chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn xã hội Hệ thống an sinh xã hội của các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đầu tư vào bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, tất
cả vì một thế hệ tương lai của đất nước
Theo thống kê số liệu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2015)
có 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó trẻ mồ côi không nơi nương tựa là 170.000 trẻ Đã có rất nhiều nghiên cứu, báo cáo về sự hỗ trợ chăm sóc cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đặc biệt là trẻ mồ côi không nơi nương tựa như: tìm gia đình thay thế, hỗ trợ trẻ tài chính, hỗ trợ trẻ tới trường,
hỗ trợ trẻ tự tin vào bản thân Và hàng năm Việt Nam đã có rất nhiều mô hình, đề án và chương trình hành động nhằm giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bằng nhiều hình thức khác nhau Tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội, Trung tâm bảo trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, Trung tâm công tác xã hội, các làng trẻ SOS, các gia đình chăm sóc thay thế đã chăm sóc trẻ rất tốt về cả mặt thể
Trang 13chất và tinh thần Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt bị mồ côi cha mẹ, trẻ sống với người thân và bị bạo hành có những tâm lý tự ti, không yêu thương bản thân đã làm các em khó hòa nhập với trường lớp và môi trường xung quanh.
Hiện nay, tại Trung tâm Công tác xã hội Quảng Ninh có 30 trẻ có hoàn cảnh đặc biệt mồ côi, không nơi nương tựa Trong quá trình làm việc và tiếp xúc với các em sống tại các gia đình thay thế, tôi nhận thấy có nhiều em ngại giao tiếp, có tâm lý e ngại về hoàn cảnh của mình, các em chưa tự tin vào bản thân Nhận thức được điều đó, Nhân viên công tác xã hội đã có những can thiệp bằng nhiều các hình thức và hoạt động khác nhau để giúp đỡ các em tự tin trong học tập, trong cuộc sống Tuy nhiên, bên cạnh đó có những em có những hoàn cảnh đặc biệt hơn vừa là trẻ mồ côi và vừa bị bạo lực Các em có tâm lý bị cô lập với chính nơi mình đang sống, trong khi đó các em đáng được hưởng những niềm hạnh phúc và cuộc sống tốt đẹp hơn
Với những lý luận và thực tế trên là cơ sở để tôi quyết định chọn đề tài
“Công tác xã hội trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh” để làm luận văn cao học
chuyên ngành công tác xã hội của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh Trên cơ sở biết được những thuận lợi và khó khăn trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ, từ đó áp dụng công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ
mồ côi, bị bạo hành Đề xuất giải pháp công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ em mồ côi bị bạo hành giúp trẻ có cuộc sống tốt đẹp hơn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận hoạt động hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh
Trang 14đặc biệt tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh.
- Áp dụng Công tác xã hội cá nhân vào việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ bị mồ côi bị bạo hành tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất giải pháp can thiệp trong việc hỗ trợ tâm lý với trẻ mồ côi bị bạo hành tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh
3 Tổng quan nghiên cứu
3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Liên quan đến nghiên cứu về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở trên thế giới có nhiều công trình và báo cáo liên quan
Tại Nga, trong báo cáo của Quỹ bảo trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Liên Bang Nga (2012) nghiên cứu về: “Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: loại trừ những sự khác biệt xã hội đối với trẻ mồ côi” Ở công trình nghiên cứu
này đánh giá thực trạng trẻ em bị bỏ rơi, bị phân biệt theo số liệu các khu vực, các tác giả còn đưa ra những đánh giá của các nghiên cứu khác về tình trạng trẻ em này của các nhà nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu của Nga, từ đó đưa ra những lập luận về tính khả thi của các biện pháp bảo vệ quyền của nhóm trẻ mồ côi, bị cha mẹ bỏ rơi, bị phân biệt đối xử [2]
Khi một đứa trẻ không thể sống với cha mẹ đẻ, việc chăm sóc thay thế cần được bố trí cho đứa trẻ, lý tưởng thì đứa trẻ đó cần được sống trong một gia đình khác Tại Anh, khái niệm “thay thế” được dùng để miêu tả quá trình sắp đặt trên Khoảng 75% trẻ em được chăm sóc đặc biệt tại Anh sống tại các gia đình thay thế Trẻ em được “chăm sóc đặc biệt” bởi vì chúng gặp phải những mỗi nguy hại khi sống cùng với cha mẹ đẻ, hoặc bản thân đứa trẻ cũng như gia đình có yêu cầu chăm sóc thay thế một cách tự nguyện Tỷ lệ trẻ em dưới 18 tuổi được chăm sóc đặc biệt vào ngày 31/3/2015 là 60 trẻ trên 10.000 trẻ Tại Anh năm 2015 có 44.625 gia đình có trẻ chăm sóc thay thế [30]
Luật pháp tại Anh quy trách nhiệm cho tất cả các bộ phận nhà nước phải có trách nhiệm với những mong ước và cảm xúc của trẻ em, phù hợp với
độ tuổi và hiểu biết của chúng Nguyên tắc này được cẩn trọng đặt lên hàng
Trang 15đầu bởi theo tác giả thì đây là nguyên tắc nền tảng của ngành Công tác xã hội với trẻ em Điều này có nghĩa là quyết định chăm sóc trẻ em đôi lúc không phải là cái cha mẹ muốn, mà cần phải xem xét cái gì là tốt nhất cho đứa trẻ, điều này được xác định bởi chính mong đợi của đứa trẻ Đối với cách hiểu này thì phúc lợi của đứa trẻ là quan trọng nhất và “chiến thắng” “quyền” của cha mẹ chúng nếu có xảy ra mâu thuẫn [9].
Các nước như Phần Lan, Thụy Điển, Australia rất chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực thực hành công tác xã hội với trẻ em Hầu hết các nước phát triển và đang phát triển đã công nhận công tác xã hội là một nghề chuyên nghiệp giống như các nghề luật sư, bác sỹ, giáo viên Tại Hồng Kông, Thụy Điển, Australia… đều đã thành lập Hiệp hội công tác xã hội, Hiệp hội các trường đào tạo cán bộ xã hội Đồng thời hình thành mạng lưới các Trung tâm công tác xã hội trẻ em - một loại hình dịch vụ trong mạng lưới bảo vệ trẻ
em Hầu hết các quốc gia đều chú trọng phát triển hệ thống Trung tâm công tác xã hội với trẻ em ở cấp huyện hoặc ở cụm xã để thực hành cung cấp dịch
vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em Cộng hòa Liên Bang Nga, Thụy Điển là những quốc gia có nhiều trung tâm công tác xã hội trẻ em nhất thế giới
Nhận nuôi dưỡng trẻ em được coi là loại hình dịch vụ chăm sóc trẻ em trên nhiều nước trên thế giới Đến nay có hàng triệu trẻ em trên thế giới được chăm sóc trong các loại hình chăm sóc thay thế và tách khỏi cha mẹ ruột do gia đình gặp khó khăn: cha mẹ bị bệnh tật kéo dài, khuyết tật hoặc qua đời; trẻ
bị cha mẹ bỏ rơi; hay gia đình tan vỡ khiến trẻ bị sao nhãng, bị xâm hại và bị bóc lột Ngoài ra, vì lý do nghèo đói, tình trạng khuyết tật, HIV/AIDS, hoặc
do gặp phải khủng hoảng đột xuất như thiên tai hay xung đột vũ trang, một lượng lớn trẻ em cũng rơi vào nguy cơ bị mất đi vòng tay chăm sóc của cha
mẹ ruột Khi trẻ em không nhận được sự chăm sóc của cha mẹ, các em dễ trở thành nạn nhân của phân biệt đối xử, dễ bị xâm hại, bị sao nhãng và bị bóc lột Đối với những trẻ này, an sinh và phúc lợi toàn diện của các em thường ít được quan tâm theo dõi và giám sát một cách thỏa đáng Nhiều trẻ em được đưa vào các cơ sở nuôi dưỡng tập trung dù còn có giải pháp khác và phải sống
Trang 16trong đó một khoảng thời gian dài Khi sống ở đây, mức độ tương tác nhằm kích thích sự phát triển ở trẻ, mức độ quan tâm tới cá nhân trẻ và mức độ quan tâm chăm sóc về tình cảm hoặc những điều cần thiết để trẻ phát triển hết tiềm năng hầu như còn hết sức hạn chế Môi trường chăm sóc không đầy đủ như vậy gây ảnh hưởng đến khả năng phát triển về tình cảm và xã hội của trẻ em Điều này tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến tình trạng trẻ bị bóc lột, bị xâm hại tình dục và bị bạo hành[52].
Mọi trẻ đều có quyền được chăm sóc trong vòng tay cha mẹ và gia đình Trong trường hợp trẻ em bị mất đi vòng tay chăm sóc của gia đình hay không còn gia đình hay cuộc sống trong gia đình tiềm ẩn các nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến an sinh và sức khỏe của trẻ, trẻ có quyền được đưa vào chăm sóc trong môi trường gia đình thay thế Điều 20 của Công ước Liên Hợp Quốc và Quyền trẻ em nhận định trẻ em có quyền được cha mẹ chăm sóc, đồng thời đưa ra nghĩa vụ đối với các ban ngành của Nhà nước phải cung cấp dịch vụ chăm sóc thay thế phù hợp nếu trẻ không có cha mẹ hoặc lợi ích tối đa của trẻ không được đảm bảo Trên thế giới có 4 loại hình chăm sóc thay thế cho trẻ em hoặc thanh thiếu niên dễ bị tổn thương: Nhận nuôi dưỡng, kafalah trong pháp luật Hồi giáo, nhận nuôi con nuôi hoặc nếu không có các hình thức này thì đưa trẻ vào một cơ sở nuôi dưỡng phù hợp [9], [52]
Thế giới đã kiểm chứng rằng chăm sóc trẻ em dựa vào gia đình là loại hình chăm sóc mang đến cho trẻ môi trường sống tự nhiên, là môi trường tích cực nhất giúp trẻ phát huy tối đa tiềm năng, và là nơi mang đến sự an sinh và hạnh phúc cho trẻ Đặc biệt, nhận nuôi dưỡng được coi là loại hình chăm sóc ngoài gia đình có ít hạn chế nhất và môi trường nuôi dưỡng tốt nhất đối với trẻ em cần có một chỗ dựa thay thế cho gia đình ruột Chính vì vậy, quốc tế hiện đang kêu gọi các quốc gia tập trung ưu tiên chuyển đổi từ việc phụ thuộc vào hình thức chăm sóc tập trung sang việc thúc đẩy các hình thức chăm sóc thay thế dựa vào gia đình và cộng đồng, bao gồm nhận nuôi dưỡng trẻ và nuôi con nuôi
Hội đồng Quốc tế về phúc lợi xã hội (ICSW) và Tổ chức quốc tế về
Trang 17nhận nuôi dưỡng (IFCO): đã xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn “Quyền của trẻ
em được lớn lên trong vòng tay gia đình: Hướng dẫn Thực hành đối với nhận nuôi con nuôi trong nước và quốc tế đối với gia đình nhận nuôi dưỡng trẻ”, do Trung tâm nhận nuôi con nuôi Thụy Điển xuất bản năm 1996 Các hướng dẫn quốc tế này đưa ra một tập hợp các yêu cầu đối với việc cung cấp loại hình nhận nuôi dưỡng trẻ em, những yêu cầu này được thiết kế nhằm đưa ra một quy chuẩn cao [13]
Ngoài ra còn có tài liệu, nghiên cứu khác cũng có đề cập đến một số nội dung liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gia đình nhận nuôi dưỡng ở Úc, Canada, Đức… đều đặt cao vấn đề quan tâm đến trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ mồ côi, trẻ bị bạo hành Qua những tài liệu tôi đã điểm luận được, tôi nhận thấy việc hỗ trợ cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ mồ côi không nơi nương tựa ở các nước phát triển đã hoạt động rất tốt về mọi mặt
Đó là điều mà các nghiên cứu ở Việt Nam cần học hỏi và thực hiện
3.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, cũng có nhiều nghiên cứu và báo cáo về trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ mồ côi không nơi nương tựa
Trong cuốn: “Tài liệu tập huấn công tác xã hội trong việc bảo vệ chăm sóc trẻ em” của Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em (2014) có trình bày những kiến
thức và kỹ năng trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhằm giúp nhưng cán bộ công tác xã phường có những kiến thức cơ bản nhằm vận dụng trong các hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ
em Cuốn tài liệu cũng đưa ra những quy trình cụ thể trong việc chăm sóc, bảo vệ và hỗ trợ trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ mồ côi và trẻ bị bạo hành [10]
Chuyên đề: “Bảo vệ trẻ em” của tổ chức UNICEF tại Việt Nam Nội
dung chuyên đề chỉ ra ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế đến an sinh của con người đặc biệt là trẻ em Sự thiếu hụt hệ thống mạng lưới xã hội chuyên nghiệp dẫn đến việc hỗ trợ cho trẻ em còn nhiều hạn chế Những hoạt động và kết quả đạt được của UNICEF tại Việt Nam Hướng hoạt động nâng cao năng
Trang 18lực cho hệ thống nhân lực trong lĩnh vực hỗ trợ trẻ em Trẻ em là một trong những nhóm đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và ngoài nước… [50].
Báo cáo “Tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010” của UNICEF đã
thừa nhận trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động chăm sóc dựa vào cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ mồ côi và bị bỏ rơi Việt Nam đã đưa vào thực thi các chính sách quốc gia nhằm khuyến khích và hỗ trợ các gia đình” [50, 214] Tài liệu này cũng cho thấy những hạn chế của Việt Nam trong bảo vệ và chăm sóc TECHCĐB như: chưa xây dựng được một hệ thống bảo trợ xã hội mạnh mẽ và hiệu quả; thiếu một hệ thống “dịch
vụ chăm sóc liên tục”; chưa có một phương pháp tiếp cận mang tính hoạch định; thiếu các cơ chế cụ thể để phát hiện sớm và xác định trẻ em dễ bị tổn thương; chưa xây dựng được hệ thống can thiệp sớm và chuyển tuyến tới các dịch vụ chuyên sâu; các chương trình hỗ trợ tại trường học và cộng đồng dành cho TECHCĐB còn hạn chế; hình thức chăm sóc tập trung vẫn còn được sử dụng khá phổ biến với vai trò là một trong những hình thức chăm sóc thay thế cho trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt; tốc độ tăng các nguồn lực dành cho trẻ
em cần sự bảo vệ đặc biệt trong những năm gần đây đang chậm lại [50, 214]
Báo cáo của Cục bảo vệ Chăm sóc Trẻ em về:“Chương trình quốc gia
bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015” cũng đã chỉ ra những nỗ lực của địa
phương trong việc triển khai thí điểm các hoạt động cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ
em theo 3 cấp độ: cấp độ I là phòng ngừa; cấp độ II là phát hiện, can thiệp sớm
để loại bỏ nguy cơ; cấp độ III là trợ giúp, phục hồi hòa nhập cộng đồng cho TECHCĐB cũng được nhiều địa phương quan tâm Việc tổ chức cung cấp dịch
vụ bảo vệ trẻ em cũng rất chú trọng tới việc “kết nối dịch vụ bảo vệ trẻ em liên
tục” nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách và bảo đảm an toàn của trẻ em Các hoạt động tư vấn, vận động, giáo dục đến tận gia đình, cộng đồng; tư vấn tại Trung tâm Công tác xã hội, Văn phòng Công tác xã hội cấp huyện, cấp xã, trong trường học; thực hiện quy trình “quản lý trường hợp có nguy cơ cao” tại cộng đồng đã
Trang 19được triển khai ở các địa phương thí điểm, góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu các nguy cơ dẫn đến trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, nguy cơ thất học,
bỏ học, nguy cơ lang thang, lao động kiếm sống [4, 8]
Cuốn tài liệu: “Giới thiệu tổng quan về nhận nuôi dưỡng trẻ em” do Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội - Cục Bảo trợ xã hội thực hiện nhằm mục đích thiết lập hệ thống nhận nuôi dưỡng trẻ em thông qua các cá nhân, gia đình đứng ra nhận nuôi dưỡng một cách chính thống nhằm đảm bảo lợi ích cho trẻ em và các gia đình có nguy cơ hoặc đã bị tổn thương tại Việt Nam [6]
Trong cuốn: “Cẩm nang cho gia đình nhận nuôi dưỡng tạm thời, hướng dẫn đối với các gia đình chăm nuôi tạm thời tại Việt Nam” của tổ chức
Phục vụ Trẻ em Quốc tế Holt (1998) có đưa ra những hướng dẫn đối với các gia đình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tạm thời, cuốn cẩm nang giúp họ có những
kỹ năng chăm sóc trẻ mồ côi để làm sao giúp các em hòa nhập với gia đình, bớt đi những mặc cảm về chính bản thân và gia đình của mình [8]
Trong chương trình: “Phân tích tình hình các chương trình chăm sóc thay thế và chăm sóc tập trung tại Việt Nam” của Bộ LĐTBXH và UNICEF
Việt Nam (2005) đã đưa ra thực trạng và kết quả về việc thực hiện chương trình chăm sóc thay thế và chăm sóc tập trung tại Việt Nam Kết quả này đã cho thấy tình hình việc chăm sóc thay thế và tập trung với trẻ mồ côi đã được quan tâm và có những tiêu chí cụ thể trong việc hỗ trợ cho trẻ mồ côi tìm được những gia đình phù hợp với các em [7]
Với báo cáo: “Nhận con nuôi từ Việt Nam” là công trình đánh giá độc
lập do Hervé Boéchat, Nigel Cantwell và Mia Dambach thuộc Tổ chức Dịch
vụ Xã hội Quốc tế (ISS) tiến hành tại Việt Nam năm 2009 Báo cáo đã có những quan tâm đáng kể đến vấn đề nhận con nuôi ở Việt Nam, tình hình phúc lợi trẻ em và bảo vệ trẻ em trên bình diện rộng, đặc biệt là từ góc độ những tác động trực tiếp và gián tiếp đối với nuôi con nuôi quốc tế Báo cáo
đã cung cấp cái nhìn tổng quan việc nhận con nuôi trên thế giới và những phát hiện có tính đặc trưng trong việc nhận con nuôi từ Việt Nam
Với tác giả Dương Hải Yến (2008) trong nghiên cứu “Chăm sóc và
Trang 20bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ sở pháp luật và thực tiễn pháp lý dân sự ở Việt Nam hiện nay” đã phân tích các quy định pháp luật hiện
hành về bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ đó đưa ra giải pháp
để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vê chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong thực tiễn [56]
Nghiên cứu “Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các dự báo đến năm 2020” của tác giả Lê Thu Hà Tác giả phản ánh thực trạng trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt Nam đến năm 2010, cơ hội thách thức và các dự báo đến năm 2020 Qua đó có thể thấy nhóm TECHCĐB đang cần rất nhiều hỗ trợ để hòa nhập cộng đồng Xã hội cần ý thức việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em để hạn chế gia tăng số lượng của nhóm chủ thể này trong giai đoạn mới [14, 122]
Chuyên đề “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng - những cơ sở xã hội và thách thức” là bài viết đồng tác giả
Nguyễn Hồng Thái và Phạm Đỗ Nhật Thắng Chăm sóc thay thế trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng - chuyển đổi từ cách tiếp cận truyền thống sang cách tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em Chăm sóc trẻ đặc biệt khó khăn tại trung tâm bảo trợ xã hội và những trở ngại có thể có trong việc thực hiện quyền trẻ em Thách thức và trở ngại của chiến lược chăm sóc trẻ em đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng [38, 92 - 97]
Tác giả Đỗ Thị Huyền Trang khi nghiên cứu: Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi nhằm giảm mặc cảm tự ti để nâng cao khả năng hòa nhập môi trường học đường (Nghiên cứu trường hợp tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh
Ninh Bình) Nghiên cứu đã mang lại ý nghĩa nhân văn to lớn đối với các em nhỏ
mồ côi, giúp các em sống tại Trung tâm có đầy đủ kỹ năng giao tiếp và tâm lý vững vàng, giảm thiểu sự tự ti, mặc cảm, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu học tập tại trường, để các em có thể vui vẻ khi đến trường và sẵn sàng hòa nhập môi trường học đường Đó chính là bước đệm quan trọng để các em có thể tự tin hòa nhập cộng đồng khi trưởng thành Nghiên cứu cũng góp phần mang đến cho các cán
bộ của Trung tâm cơ hội được hiểu hơn về vai trò của công tác xã hội trong việc
Trang 21giúp đỡ các em về mặt tâm lý - tình cảm Nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của các cán bộ trong việc chăm sóc các em, giúp các em có được các kỹ năng hòa nhập tại môi trường học đường, giảm mặc cảm tự ti và là chỗ dựa tinh thần cho các em trước những thách thức đầu tiên của xã hội [37].
Trong công trình nghiên cứu: “Mô hình chăm sóc trẻ em mồ côi ở Hà
Nội” của nguyên Giám đốc làng trẻ SOS Hà Nội Nguyễn Thị Thanh là công
trình nghiên cứu đề cập đến trẻ em mồ côi và hoạt động chăm sóc đối tượng này một cách phù hợp Công trình đã góp phần nêu cái nhìn tổng quan tình hình trẻ
em mồ côi và công tác chăm sóc trẻ em mồ côi trên địa bàn Thành phố Mặc dù
là tài liệu tham khảo bổ ích, tuy vậy, nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh mồ côi mà chưa đề cập đến các vấn đề khác như thúc đẩy sự tham gia, hòa nhập cộng đồng, tiếp cận quyền trẻ em [35]
Tác giả Trần Thị Minh Đức trong bài viết: “Trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn với các lớp học linh hoạt” là bài viết của giới thiệu mô hình lớp học linh
hoạt phù hợp với các em có hoàn cảnh đặc biệt không thể đến trường học văn hóa hay học nghề dẫn tới chậm phát triển về trí tuệ và có nguy cơ cao lây nhiễm các tệ nạn xã hội Các em trong lớp học linh hoạt thuộc những gia đình nghèo hoặc có bố mẹ nghiện hút, buôn bán ma tuý, đánh bạc, bị tù v.v hoặc các em là trẻ mồ côi được ở trong các Mái ấm, Nhà tình thương của cộng động Tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu là quan sát, quan sát
có sự tham gia, phỏng vấn trẻ, giáo viên, tư vấn viên và cha mẹ trẻ đề giới thiệu một hình thức giáo dục không chính quy, không mang tính hàm lâm sư phạm cho đối tượng học Vấn đề tác giả đặt ra là triển vọng của các lớp học linh hoạt ở Hà Nội sẽ ra sao nếu các nguồn tài trợ không còn để duy trì để trả lương cho giáo viên, miễn phí sách vở, khám chữa bệnh, thậm chí cả bữa ăn cho các em Đây là một trong những khó khăn lớn khi triển khai mô hình lớp học linh hoạt trên diện rộng ở Hà Nội [12]
Nghiên cứu “Tìm hiểu việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong công ước quốc tế về quyền trẻ em của các gia đình người dân thành phố Hà Nội hiện nay” của tác giả Lê Thị Vân đã phân tích và đánh giá việc thực hiện
Trang 22nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước Quốc tế về quyền trẻ em, các nhân
tố cơ bản tác động đến việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em tại gia đình và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện nhóm quyền được bảo vệ ở trẻ em của người dân thành phố Hà Nội Tác giả đã đưa ra những nhóm giải pháp, khuyến nghị giúp người dân nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong việc bảo vệ, chăm sóc giáo dục con cái trong gia đình [55]
Ngoài các báo cáo, chuyên đề nghiên cứu thì có những văn bản pháp luật trực tiếp liên quan, nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề tâm
lý trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt - trẻ mồ côi:
Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội Nghị định dành riêng chương
IV, từ điều 18 đến điều 24 và hướng dẫn quy trình thủ tục giải quyết chế độ
và chính sách bảo trợ xã hội dành cho đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng qua loại hình nhận nuôi dưỡng [24]
Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26/04/ 2013 về việc phê duyệt Đề án
chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng
và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020 [27]
Quyết định 38/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 3 năm 2004, “Quy định các điều kiện đối với các gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em” Trong
quá trình thực hiện nhóm phân tích đã có báo cáo:“Đánh giá tình hình chăm sóc nhận nuôi và việc thực hiện quyết định 38/2004/QĐ-TTg” đã phân tích, đánh giá thực trạng trẻ em mồ côi, trẻ em cần được chăm sóc thay thế cũng như thực trạng việc thực hiện quyết định 38/2004/QĐ-TTg về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em
bị bỏ rơi Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng trẻ mồ côi và trẻ bị bỏ rơi có
xu hướng tăng lên do những biến đổi kinh tế - xã hội Nghiên cứu nhận thấy
mô hình chăm sóc nhận nuôi là mô hình phù hợp để thí điểm ở các khu vực thành phố/đô thị, nơi được biết có số lượng trẻ em bị bỏ rơi cao hơn và có
Trang 23nhiều gia đình có điều kiện tài chính cũng như kỹ năng chăm sóc trẻ [28].
Quyết định 65/2005/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2005 phê duyệt
“Đề án Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng”
Quyết định đã đưa ra những biện pháp, tiêu chuẩn trong việc chăm sóc trẻ có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng [29]
Hiện tại ở Việt Nam có hai tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGOs) đang thực hiện, triển khai chương trình thí điểm về loại hình nhận nuôi dưỡng, cụ thể là tổ chức Phục vụ Trẻ em Quốc tế Holt và tổ chức Health Right Quốc tế cũng có những hình thức chăm sóc, hướng dẫn những thành viên gia đình thay thế có những kỹ năng trong việc chăm sóc trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khi các gia đình nhận trẻ làm con nuôi [6, 15]
Từ những công trình nghiên cứu, những đánh giá, bài viết kể trên có thể nhận thấy, các tác giả đã tập trung tìm hiểu, phân tích, đánh giá một số nội dung như quyền trẻ em, môi trường bảo vệ trẻ, sự hiểu biết về quyền trẻ em, mô hình chăm sóc, bảo vệ trẻ em (chăm sóc trẻ em dựa vào cộng đồng, nuôi con nuôi,
…) Tiếp cận dưới góc độ quyền trẻ em, pháp luật dân sự được nhiều tác giả đề cập tới nhằm làm nổi bật vị trí của trẻ em trên bản đồ xã hội Các phương pháp chủ yếu được vận dụng trong quá trình nghiên cứu là điều tra, khảo sát, nghiên cứu có sự tham gia Trong khi đó những nghiên cứu liên quan đến hỗ trợ tâm lý, đặc biệt là can thiệp bằng công tác xã hội cá nhân cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bị mồ côi và bị bạo lực chưa thấy nghiên cứu nhiều Đây cũng là tổng quan
để làm cơ sở nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn của tôi
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.1 Ý nghĩa khoa học
Về mặt khoa học, nghiên cứu làm rõ thêm về vai trò của hoạt động CTXH trong việc hỗ trợ tâm lý cho những trẻ em mồ côi bị bạo hành Các biện pháp can thiệp công tác xã hội nhằm giúp đỡ hỗ trợ trẻ sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu giúp nâng cao nhận thức của xã
Trang 24hội, cộng đồng về vai trò của nghề công tác xã hội, các nhân viên công tác xã hội, cũng như vai trò của hệ thống cung cấp dịch vụ công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp về lĩnh vực tâm lý cũng như mặt tinh thần cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm hỗ trợ cho em hòa nhập cộng đồng Những phát hiện của nghiên cứu sẽ làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định cơ chế chính sách
và xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án, chiến lược bảo vệ trẻ em, cung cấp các dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại tỉnh Quảng Ninh trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; đồng thời xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ công tác xã hội từ tỉnh đến cơ sở đáp ứng nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ, góp phần thực hiện tốt nhất các quyền cơ bản của trẻ, nhất là TECHCĐB
Bên cạnh đó, sản phẩm của đề tài nghiên cứu còn có thể được vận dụng làm tài liệu tham khảo của các nhà nghiên cứu, các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội, một số bộ môn giảng dạy tại trường Đại học, Cao đẳng chuyên ngành công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong việc hỗ trợ tâm lý cho các em
5 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh
6 Khách thể nghiên cứu
Phỏng vấn 30 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ mồ côi đã được sống trong 30 gia đình thay thế Từ đó sử dụng công tác xã hội cá nhân để can thiệp hỗ trợ tâm lý cho 01 trường hợp trẻ mồ côi bị bạo hành
7 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi tại Trung tâm công xã hội tỉnh Quảng Ninh hiện nay được hỗ trợ tâm lý như thế nào?
Những thuận lợi và khó khăn gì trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh?
Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ mồ côi ở Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh hiện
Trang 25nay ra sao?
Có những biện pháp nào có thể nâng cao việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ mồ côi tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Thực tế đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Công tác
xã hội tỉnh Quảng Ninh là trẻ mô côi bị bạo hành đang gặp những khó khăn
về tâm lý, đặc biệt trẻ mồ côi bị bạo hành thường có tâm lý tự ti và mặc cảm với hoàn cảnh Nếu được hỗ trợ, tư vấn, can thiệp và trị liệu sẽ giúp các em tự tin vào bản thân, yêu thương mình và những người xung quanh
9 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi có tiến hành phỏng vấn
30 em mồ côi sống trong 30 gia đình thay thế Trên cơ sở đó can thiệp công tác xã hội cá nhân với 01 trẻ mồ côi bị bạo hành tại phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
10 Phương pháp nghiên cứu
10.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này được thực hiện trong quá trình điểm luận những công trình nghiên cứu, những báo cáo và những văn bản liên quan đến trẻ em, đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ mồ côi, trẻ bị bạo hành và công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt Phương pháp này cũng được dùng trong việc tổng hợp tài liệu không chỉ cho phần tổng quan nghiên cứu mà hỗ trợ cho việc nghiên cứu lý luận cũng như các lý thuyết vận dụng trong đề tài nghiên cứu
10.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng trong việc tiến hành phỏng vấn 30 trẻ
và 30 hộ gia đình thay thế nhận nuôi trẻ để nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng, những thuận lợi và khó khăn của trẻ và gia đình nhận nuôi trẻ Để sử dụng phương pháp này, tác giả đã thiết kế bảng phỏng vấn kèm theo (Phụ lục) Phương pháp này cũng áp dụng khi làm công tác xã hội cá nhân với thân chủ trong quá trình can thiệp Kết quả của phỏng vấn được thể hiện nhiều
Trang 26trong chương 2 và chương 3 của luận văn.
10.4 Phương pháp can thiệp bằng công tác xã hội cá nhân
Tác giả vận dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân 7 bước vào trong quá trình can thiệp cho thân chủ là trẻ mồ côi bị bạo hành Cụ thể:
Bước 1: Tiếp cận thân chủ
Bước 2: Nhận diện vấn đề
Bước 3: Thu thập thông tin
Bước 4: Lập kế hoạch can thiệp
Bước 5: Tiến hành can thiệp
Bước 6: Lượng giá
Bước 7: Kết thúc
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT VẬN DỤNG
Trang 271 Khái niệm nghiên cứu
1.1 Công tác xã hội
Công tác xã hội được xem như là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia từ gần thế kỷ nay CTXH tồn tại và hoạt động khi xuất hiện những vấn đề cần giải quyết như tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng giới, và giúp đỡ những thành phần dễ bị tổn thương như trẻ mồ côi, người tàn tật, phụ nữ bị buôn bán, trẻ bị lạm dụng, người già neo đơn, trẻ em lang thang Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH, dưới đây là một số định nghĩa cơ bản về CTXH:
Định nghĩa của Hiệp hội quốc gia Nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW - 1970) nhấn mạnh đến mục tiêu trợ giúp các nhóm yếu thế của công tác xã hội trong quan niệm của mình khi cho rằng: Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đó [21, 10]
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp CTXH Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy
sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người,
sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của
họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng là nguyên tắc căn bản của CTXH [21]
Định nghĩa của Tổ chức Foundation ot Social Work Practice lại nhấn mạnh đến tư cách là một khoa học được ứng dụng để trợ giúp con người của công tác xã hội: Công tác xã hội là một môn khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì
nó dựa trên những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa [21, 10], [25]
Trang 28Theo tác giả Nguyễn Hồi Loan “Công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định
và được vận hành trên cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp
cá nhân và các nhóm người trong việc giải quyết các nan đề trong đời sống của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội” [21, 11]
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các các nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội” [22, 19]
Từ các nội dung định nghĩa nêu trên, có thể tóm lược: Công tác xã hội
là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các các nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực
và dịch vụ nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
1.2 Công tác xã hội cá nhân
Theo Farley O W (2000): Công tác xã hội cá nhân được định nghĩa là
‘hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp
sử dụng, trong đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn
đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế xã hội và môi trường thông qua các mối hệ một-một’.
Công tác xã hội cá nhân là một quá trình và là một phương pháp mà nhân viên công tác xã hội vận dụng để tác động đến cả người có vấn đề xã hội (bị mất hoặc yếu về chức năng xã hội)
Các thành phần trong công tác xã hội cá nhân bao gồm:
+ Con người: gồm thân chủ và nhân viên xã hội;
+ Vấn đề của thân chủ;
Trang 29+ Cơ quan giải quyết vấn đề;
+ Công cụ tiến trình giải quyết vấn đề;
Theo những kiến thức tôi có được thì CTXH cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân có vấn đề về chức năng tâm lý xã hội Nó đi sâu vào tiến trình giải quyết vấn đề gồm 7 bước Đó là xác định vấn đề, thu thập thông tin, thẩm định chẩn đoán, kế hoạch trị liệu, thực hiện kế hoạch, lượng giá (tiếp tục giúp đỡ hay chấm dứt) và cuối cùng là kết thúc ca Đây là những bước chuyển tiếp theo thứ tự logic, nhưng trong quá trình giúp đỡ, có những bước kéo dài suốt quá trình như thu thập dữ kiện, thẩm định và lượng giá Đây là một tiến trình mà tôi áp dụng vào thực hành cá nhân trên TC mà tôi nghiên cứu
1.3 Hỗ trợ tâm lý
Tâm lý là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh do sự tác động của thể giới khách quan vào não, được não phản ánh, được nó gắn liền, điều hành, điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của con người
Hỗ trợ tâm lý là một quá trình trợ giúp cá nhân gặp vấn đề liên quan tới tâm lý, tình cảm và cảm xúc, trong đó người thực hiện hỗ trợ sử dụng kiến thức,
kỹ năng để thiết lập mối quan hệ tương tác tích cực với đối tượng (còn được gọi
là thân chủ) nhằm giúp họ nhận thức được bản thân, vấn đề và nguồn lực, qua đó xác định giải pháp để giải quyết vấn đề tâm lý một cách có hiệu quả
1.4 Trẻ em
Theo công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có qui định tuổi thành niên sớm hơn” [9]
Theo Luật Trẻ em ra ngày 05 tháng 04 năm 2016 thì Trẻ em là người dưới 16 tuổi Người từ 16 tuổi đến 18 tuổi là người chưa thành niên
1.5 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
* Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất và tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình và cộng đồng [11,1]
Trang 30Từ định nghĩa trên ta có thể thấy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có những đặc điểm sau:
- Thể chất và tinh thần không bình thường: đó là các trẻ em có khuyết tật về thể chất, tinh thần;
- Không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có những đặc điểm sau:
- Thể chất và tinh thần không bình thường: đó là các trẻ em có khuyết tật về thể chất, tinh thần
- Không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình
- Trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại
- Trẻ em phải làm việc xa gia đình;
- Trẻ em lang thang;
Trang 31Nhóm 1 là trẻ em sống trong gia đình nghèo khổ;
Nhóm 2 là trẻ em bị bạo lực (có nhiều dạng bạo lực thể hiện ở trong gia đình; từ các phương tiện thông tin đại chúng, trong văn hóa phẩm; trong nhà trường,…) bởi các em bị bạo lực và đe dọa bạo lực phải chịu ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tâm lý cũng như hành vi;
Nhóm 3 là trẻ em bị buôn bán, cũng có nguy cơ trở thành nạn nhân của các hành vi xâm hại, bóc lột…;
Nhóm 4 là trẻ em bị tai nạn thương tích;
* Trẻ mồ côi không nơi nương tựa
Là trẻ mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng (theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007) [23]
* Trẻ mồ côi bị bạo hành
Là trẻ mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ
em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích bị bạo hành
từ những người xung quanh gây tổn thương về thể chất và tinh thần của trẻ
1.6 Hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Là hoạt động hỗ trợ tâm lý giành cho thân chủ/ đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Hoạt động hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt diễn ta giữa người hỗ trợ tâm lý và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Trong quá trình
Trang 32này người hỗ trợ tâm lý tạo nên mối quan hệ tương tác tích cực với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giải quyết những khó khăn mà trẻ không giải quyết được
2 Phương pháp luận
2.1 Phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp duy vật biện chứng do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập từ những năm 40 của thế kỷ XIX và được V.I Lê nin phát triển Đặc trưng của phương pháp luận duy vật biện chứng là coi sự vật hay hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tượng khác Các sự vật và hiện tượng có mối quan hệ tác động qua lại biện chứng với nhau, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới biểu hiện rất đa dạng, phong phú nhưng đều có bản chất chung và tính thống nhất của thế giới là vật chất
Theo phương pháp này thì trong quá trình nghiên cứu phải đặt công tác xã hội trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong một mối quan hệ tương tác khách quan với các yếu tố khác cán bộ trung tâm, nhân viên công tác xã hội, gia đình của trẻ, giáo viên của trẻ, bạn bè, hay các chính sách của chính quyền địa phương… Các biện pháp hỗ trợ không chỉ giúp cho trẻ mà giúp cho gia đình cũng như các ban ngành đoàn thể xung quanh trẻ để có sự giúp
đỡ cho trẻ một cách hiệu quả nhất
2.2 Phương pháp duy vật lịch sử
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội của Triết học Mác- Lênin, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại, nhằm chỉ rõ cơ sở vật chất của đời sống xã hội và những quy luật cơ bản của quá trình vận động, phát triển của xã hội
Với phương pháp duy vật lịch sử, khi nghiên cứu đòi hỏi phải đặt đối tượng nghiên cứu, cụ thể ở đây là công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ tâm
lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong điều kiện thời gian, môi trường, hoàn cảnh cụ thể mà hoạt động này được triển khai Trong thực tế hoạt động hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh
Trang 33Quảng Ninh có sự quan tâm và triển khai, tuy nhiên những hoạt động này được tiến hành sâu rộng và liên tục thì chưa được nhiều Chính phương pháp duy vật lịch sử sẽ giúp cho việc nghiên cứu đề ra những giải pháp và phương hướng cụ thể trong quá trình nghiên cứu và hỗ trợ cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm.
2.3 Cách tiếp cận
2.3.1 Tiếp cận theo nhu cầu
Tiếp cận theo nhu cầu của trẻ là cách tiếp cận dựa trên việc đáp ứng tốt nhất của các dịch vụ công tác xã hội đối với các nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt - trẻ mồ côi Đây là những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển thể chất của trẻ Tiếp theo là nhu cầu cần được sự bảo vệ an toàn, ngăn ngừa những nguy cơ gây tổn thương cho trẻ cả về thể chất, tinh thần và tình cảm Nhu cầu thứ ba là nhu cầu được vui chơi, giải trí và học tập Thông qua những hoạt động này, trẻ em sẽ được phát triển, được hòa mình vào xã hội, được gắn
bó và dần tự khẳng định mình Nhu cầu thứ tư là nhu cầu được tôn trọng Đây
là nhu cầu có một số người hiểu sai cho là không quan trọng
2.3.2 Tiếp cận vì lợi ích tốt nhất của trẻ
Tiếp cận theo tôn chỉ đem lợi ích tốt nhất cho trẻ là cách tiếp cận với việc cung cấp các dịch vụ đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em mồ côi Tiếp cận theo nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất cho trẻ có ý nghĩa là ở bất cứ tình huống nào nhân viên quản lý trường hợp phải đặt lợi ích tốt nhất cho trẻ lên hàng đầu
2.3.3 Tiếp cận dựa trên quyền
Nhìn chung trẻ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt thường không được quyền lựa chọn, hỏi ý kiến và ra quyết định mình sẽ được chăm sóc, nuôi dưỡng ở đâu Tiếp cận dựa trên đảm bảo các quyền của trẻ em là cách tiếp cận cung cấp các dịch vụ đảm bảo trẻ em được thực hiện đầy đủ bốn nhóm quyền của trẻ em đó là quyền được sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được tham gia
và quyền được phát triển Đây là cách tiếp cận phổ biến và được rất nhiều nhà chuyên môn sử dụng trong quá trình làm việc giúp đỡ trẻ em Về cơ bản, cách
Trang 34tiếp cận này thực hiện việc giúp đỡ dựa trên tôn chỉ các nhóm quyền của trẻ
em Hơn nữa, không phân biệt đối xử và bình đẳng vốn là những nguyên tắc hợp thành tư tưởng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta luôn kiên trì theo đuổi
3 Lý thuyết áp dụng
3.1 Lý thuyết nhu cầu
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó
và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành bậc thang nhu cầu của con người từ thấp đến cao, các nhu cầu trên luôn tồn tại và đan xen lẫn nhau Hệ thống nhu cầu của Maslow được thể hiện dưới hình kim tự tháp
Tháp nhu cầu Abraham Maslow
Vận dụng thuyết nhu cầu trong công tác xã hội cá nhân: hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow khi xác định được những nhu cầu nào là quan trọng và cần được đáp ứng đầu tiên, nhân viên công tác xã hội sẽ có cơ sở để thiết lập kế hoạch can thiệp và huy động các nguồn lực liên quan đặc biệt là
Trang 35quá trình trợ giúp thân chủ trong việc đáp ứng và tự đáp ứng một cách bền vững những nhu cầu còn thiếu hụt.
Theo thuyết nhu cầu của Maslows, để nhận biết nhu cầu và hiểu được nhiều khía cạnh khác nhau trong nhân cách của trẻ, đặc biệt là trẻ em có HCĐB, đòi hỏi nhân viên xã hội phải đứng trên quan điểm phát triển, đặc biệt
là khi làm việc với trẻ em đang khủng hoảng Điều quan trọng là cần quan tâm đến những điều kiện vật chất và môi trường xã hội xung quanh trẻ cũng như có sự trao đổi thích hợp để hiểu quan điểm và thế giới riêng của trẻ Sự hiểu biết về các nhu cầu của trẻ sẽ giúp người chăm sóc và nhân viên xã hội giải quyết được các vấn đề của trẻ đang khủng hoảng một cách thích hợp
Trẻ em được sinh ra với những nhu cầu sinh lý, tình cảm và nhận thức như nhau Nếu nhìn sự phát triển của trẻ qua các nền văn hóa khác nhau, nhân viên xã hội sẽ dễ cho rằng những nhu cầu này có tính chất toàn cầu Nên lưu ý
là mỗi xã hội, mỗi nền văn hóa sẽ đáp ứng những nhu cầu của trẻ với những phương cách phù hợp trong những điều kiện tinh thần, kinh tế, xã hội và chính trị khác nhau Nhân viên xã hội dùng sự giải thích các nhu cầu của trẻ như một công cụ để xem xét vị trí và môi trường của trẻ Những nhu cầu căn bản của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm:
Nhu cầu sinh lý - sinh học
Nhu cầu sinh lý hay được gọi là nhu cầu cơ thể bao gồm ăn, uống, vệ sinh thân thể, các hoạt động sinh lý, ở, mặc, sức khỏe… Qua đó, trẻ em cần một khoảng không gian và những cơ hội để vận dụng, vui chơi, đặc biệt trong các trung tâm, cơ sở hoặc những nơi trẻ đang được chăm sóc tạm thời Nơi
mà những đòi hỏi về không gian tự nhiên, những nhu cầu về tình cảm, hoạt động hầu như ít được quan tâm đến
Điều này trẻ không được giải bày khi bị phê phán, xem xét trong và sau thời kỳ khủng hoảng Có nhiều trường hợp, ngay cả nơi cư trú của trẻ em cũng không có đủ không gian và cơ hội vui chơi để có thể phát triển cảm xúc,
ý thức của trẻ Trẻ em cần một không gian đủ để cảm nhận sự vận động cơ thể khi ở nhà, có kinh nghiệm làm chủ cơ thể của mình và từ đó có thể hình thành
Trang 36những mối quan hệ nhất
Nhu cầu được an toàn và yêu thương
Trẻ em cần người chăm sóc yêu thương từ thời thơ ấu Có thể không nhất thiết đó phải là người mẹ đẻ mà điều quan trọng là trẻ cần được quan tâm một cách riêng biệt, trực tiếp, xuất phát từ nhiệt tâm và tình cảm của người chăm sóc một cách ổn định Những quan hệ tình cảm mà đứa trẻ có được từ thời thơ ấu sẽ tạo cho trẻ tin tưởng và cảm giác thật sự an toàn, giúp trẻ đón nhận và đóng góp cho sự phát triển xã hội sau này
Bên cạnh sự yêu thương , trẻ em cũng cần sự an toàn Điều này có được khi:
- Trẻ được sống trong một môi trường ít biến động, giúp trẻ có thể làm những công việc giống nhau và những phương pháp giống nhau tại những thời điểm tương tự trong ngày, giúp trẻ có thể dự đoán được những gì xảy ra trong tương lai gần với mực độ tương đối chắc chắn
- Trẻ nhận được sự chấp nhận của người lớn (cha mẹ, người chăm sóc thay thế…) trong việc đánh giá hành vi của mình: được tán thưởng hay không được đồng tình
Nhu cầu được thừa nhận, tôn trọng
Nếu đứa trẻ có hình ảnh tích cực về bản thân, trẻ có thể đương đầu với nhiều áp lực từ cuộc sống Do đó, để giúp trẻ nhận rõ giá trị của chính mình, nhân viên xã hội nên chấp nhận trẻ như nó vốn có, nhìn thấy khả năng của trẻ hơn là chỉ quan tâm đến những khuyết điểm của trẻ Nhân viên xã hội phải giúp tạo nơi trẻ cảm giác được chấp nhận Khi cố gắng thay đổi hành vi của trẻ, nhân viên xã hội phải phân biệt được những hành vi không phải của chính trẻ, ghi nhận vị trí và làm tăng tính tự tin, nghị lực của trẻ, giúp trẻ vượt qua những khó khăn mỗi khi vấp phải
Nhu cầu về được quý trọng
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân
Trang 37Nhu cầu được thể hiện mình
Đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để
tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội Maslow nói về nhu cầu này như sau: Đó chính là việc tìm kiếm các cách thức mà năng lực, trí tuệ, khả năng của mình được phát huy và mình cảm thấy hài lòng về nó
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow vào đề tài nghiên cứu, xem xét nhu cầu của các em mồ côi ở đây là gì? Khi giúp đỡ trẻ Nhân viên CTXH cần phải xác định được nhu cầu cảm nhận (felt need) và nhu cầu cần (they need) TECHCĐB có những nhu cầu: nhu cầu được hỗ trợ, nhu cầu được bảo vệ, nhu cầu được trị liệu và nhu cầu được phục hồi Trên cơ sở những nhu cầu như vậy để xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch can thiệp hỗ trợ và triển khai thực hiện các hoạt động can thiệp hỗ trợ thì nhu cầu nào là nhu cầu ưu tiên giải quyết trước, nhu cầu nào thì giải quyết sau để giải quyết phù hợp với hoàn cảnh thực tế cũng như đặc điểm tâm sinh lý của các em
3.2 Lý thuyết nhận thức hành vi
Pincus và Minahan áp dụng lý thuyết hệ thống vào thực hành công tác
xã hội Được khởi xướng 1940 nhà sinh học nổi tiếng Ludwing von Bertalanffy để phản đối chủ nghĩa đơn giản hóa và cô lập các đối tượng cô lập khoa học ông đưa ra quan điểm các cơ quan đều là hệ thống (từ nhỏ đến lớn) Sau này lý thuyết hệ y được các nhà khoa học khác nghiên cứu và phát triển như Hanson 1995, Mancoske (1981) Lí thuyết hệ thống Pincus và Minahan (1973) mọi tổ chức hữu cơ đều là hệ thống, được tạo thành tiểu hệ thống và cũng là một phần tử của hệ thống lớn hơn do đó con người là một bộ phận của
xã hội, đồng thời cũng tạo nên những phần tử nhỏ hơn Các hệ thống có mối quan hệ mật thiết tương tác qua lại Sử dụng trong CTXH chú ý nhiều tới các quan hệ giữa các phần tử nằm trong hệ thống chú ý thuộc tính của phần tử Phân loại: có 3 loại hệ thống trợ giúp CTXH là: Theo tính chất các hệ thống
xã hội, theo cấp độ, theo giới hạn Khái niệm sinh thái (ecology), sinh thái học xã hội, sinh thái học nhân văn Hệ thống sinh thái là một tập hợp các bộ phận có quan hệ và có sự phụ thuộc lẫn nhau
Trang 38Thuyết giúp thân chủ sử dụng và tăng cường khả năng bản thân vào giải quyết vấn đề Xây dựng được mối quan hệ giữa các cá nhân và các hệ thống nguồn lực và bổ trợ thêm những tác động giữa cá nhân với hệ thống nguồn lực Đồng thời cải thiện tương tác giữa các cá nhân trong hệ thống nguồn lực và giúp đỡ phát triển và thay đổi chính sách, thực hiện như tác nhân của kiểm soát xã hội.
Là sự kết hợp giữa lý thuyết nhận thức và lý thuyết hành vi để có thể kiểm định được những mô hình nhận thức và kết quả thực hành kĩ thuật hành
vi Trong đó lý thuyết nhận thức được phát triển trên cơ sở của lý thuyết học tập và lý thuyết học tập xã hội Còn sự ra đời của lý thuyết hành vi là để phản đối lại lý thuyết tâm động học Chủ yếu dựa trên quan sát những hình tượng
có thể mô tả được Có thể nói rằng quá trình trị liệu nhận thức hành vi bao gồm việc thiết lập, củng cố và đánh giá hành vi mới
Đối với nhóm trẻ mồ côi, vận dụng lý thuyết nhận thức hành vi vừa có tính hỗ trợ, vừa có tính củng cố cho các thành viên thay đổi hành vi cũ và thiết lập hành vi mới Cụ thể, những hành vi cũ của trẻ là sự tự ti, mặc cảm về bản thân, rụt rè, thiếu đoàn kết và sự tương tác lẫn nhau… Và khi được học tập, rèn luyện qua các hoạt động nhóm sẽ giúp từng cá nhân trẻ tự học hỏi, nâng cao năng lực từ đó giúp trẻ dần thay đổi hành vi và cảm xúc cũ và thiết lập hành vi mới như sự thân thiện, tự tin, đoàn kết nhóm và nâng cao kỹ năng sống cho chính bản thân Vận dụng thuyết nhận thức hành vi vào hoạt động thực tiễn nhằm tác động vào nhận thức để thay đổi các hành vi và cảm xúc của trẻ để trẻ mặt khác giúp trẻ tự chăm sóc bảo vệ chính bản thân trước sự phát triển tâm sinh lý
3.3 Thuyết sơ đồ sinh thái
- Sơ đồ phả hệ là một bản hồ sơ về thân chủ được mô hình hóa Sơ đồ phả hệ thể hiên khả năng khái quát chính xác của NVXH đối với cuộc sống, mối quan hệ, vấn đề gặp phải cũng như những nguồn lực, thuận lợi và trở ngại trong việc giải quyết vấn đề của thân chủ Nhìn vào sơ đồ phả hệ, NVXH (hay người khác) có thể hiểu một cách cơ bản về hoàn cảnh (quan hệ thân
Trang 39nhân) của thân chủ từ đó làm cơ sở cho việc xác định vấn đề của thân chủ, đánh giá nguồn lực, thuận lợi, khó khăn, lập kế hoạch giải quyết vấn đề.
- Sơ đồ sinh thái: Thể hiện mối quan hệ, sự tác động giữa thân chủ và môi trường sống Nhìn vào sơ đồ sinh thái có thể biết được mối quan hệ, mức độ ảnh hưởng, sự quan tâm, trợ giúp hay xung đột, thiếu quan tâm, thiếu trách nhiệm giữa cộng đồng xã hội với thân chủ và ngược lại Môi trường sinh thái của thân chủ bao gồm gia đình, họ hàng, hàng xóm láng giềng, cộng đồng, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, môi trường văn hóa, môi trường kinh tế… Sơ đồ sinh thái được thực hiện trên cơ sở tìm hiểu thông tin về thân chủ và được thể hiện thông qua các ký hiệu sau:
Thân chủ
Yếu tố môi trường
Có sự quan tâm, tác động/ ảnh hưởng một chiều (sâu sắc)
Có sự quan tâm, tác động/ ảnh hưởng một chiều (mờ nhạt)
Có sự quan tâm, tác động/ ảnh hưởng hai chiều (sâu sắc)
Có sự quan tâm, tác động/ ảnh hưởng hai chiều (mờ nhạt)
Quan tâm/tác động từ thân chủ sâu sắc, từ yếu tố môi trường mờ nhạt Quan tâm/tác động từ thân chủ sâu sắc, từ thân chủ mờ nhạt
Thuyết này, tôi áp dụng trong quá trình tìm hiểu về những vấn đề của thân chủ, các mối quan hệ của thân chủ và cũng như gia đình của thân chủ Trên cơ sở đó có thể vẽ lên một bức tranh chung về hoàn cảnh gia đình thân chủ và nhìn nhận rõ nhất vấn đề của thân chủ cần hỗ trợ gì và tác động vào ai
để cùng hỗ trợ thân chủ
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1 chúng tôi đã điểm luận những nghiên cứu trong và ngoài nước để đưa ra những khái niệm công cụ trong đề tài nghiên cứu như: khái niệm công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân, trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hỗ trợ tâm lý cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Trên những khái niệm công cụ chúng tôi đã vận dụng lý thuyết nhu cầu, lý thuyết nhận
Trang 40thức hành vi và hệ thống sinh thái để làm rõ hơn hướng nghiên cứu của đề tài Đây cũng là cơ sở nền tảng cho kế hoạch nghiên cứu tiếp theo được thể hiện kết quả trong chương 2 và chương 3.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ
TÂM LÝ CHO TRẺ CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NINH