trường hợp được vận dụng và đòi hỏi một cách toàn diện, liên tục, công bằng và chấtlượng, thông qua nhân viên QLTH với vai trò sắp xếp, phối hợp, kết nối các dịch vụchăm sóc người cai ng
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ Công tác xã hội về “Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động Xã hội số V, Thành phố Hà Nội” là hoàn toàn trung thực và
không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Lập
Trang 4MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Tệ nạn ma túy, nghiện ma túy và hậu quả của nghiện ma túy đã và đang gây ranhững tác hại to lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, anninh, trật tự của mỗi quốc gia, đặc biệt là vấn đề an sinh xã hội Việt Nam cũng nhưcác nước trong khu vực đang phải gánh chịu những ảnh hưởng nặng nề từ vấn đề này
Nhận thức được mối hiểm họa từ ma túy kèm theo những diễn biến phức tạp vềtình hình buôn bán, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy, sử dụng ma túy tổnghợp, ma túy đá đang gia tăng tại Việt Nam, trong nhiều năm qua Đảng và Chính phủViệt Nam đã nỗ lực, quyết tâm chỉ đạo triển khai, thực hiện nhiều giải pháp quan trọngnhằm đấu tranh với tội phạm về ma túy, ngăn ngừa sự gia tăng của người nghiện mới,giảm hại ma túy và tập trung công tác chữa trị cai nghiện, trợ giúp người sau cainghiện ma túy
Vấn đề can thiệp, điều trị cai nghiện cho người nghiện ma túy là một yêu cầucấp bách, một nội dung quan trọng nhằm đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tếluôn được Chính phủ quan tâm chỉ đạo Công tác điều trị, cai nghiện phục hồi chongười nghiện ma túy là một công việc khó khăn và phức tạp, lâu dài, đòi hỏi thực hiệnnhiều giải pháp y tế, tâm lý, xã hội Hiện nay công tác này còn gặp phải nhiều khókhăn, việc tổ chức cai nghiện cho người nghiện ma túy còn nhiều khác biệt ở một sốđịa phương Nhận thức đầy đủ về bản chất nghiện ma túy, cơ chế gây nghiện và quytrình điều trị, cai nghiện một cách toàn diện cho người nghiện ma túy là yêu cầu trongđổi mới đối với người tham gia công tác cai nghiện Nhiều nội dung chuyên sâu về quytrình can thiệp, trợ giúp người cai nghiện ma túy đã được áp dụng vào thực tế tại cácđịa phương, tuy nhiên việc đánh giá hiệu quả xã hội vẫn đang tiếp tục được xem xét vàhướng về chuyên ngành công tác xã hội để giải quyết tận gốc vấn đề này
Thành phố Hà Nội trong nhiều năm qua đã có nhiều quyết tâm, tổ chức thựchiện cai nghiện ma túy cho người nghiện ma túy trên địa bàn, tập trung cho mô hìnhcai nghiện ma túy bắt buộc tại các Cơ sở cai nghiện (gọi là Trung tâm), với quy mô 10
4
Trang 5Trung tâm cai nghiện, từ năm 2011 đến năm 2015 đã đưa 8.992 người vào cai nghiệnbắt buộc, với thời gian cai nghiện 24 tháng, tiếp tục quản lý sau cai tại Trung tâm kéodài 24 tháng đối với 7.298 người, các Trung tâm chủ yếu thực hiện chức năng cắt cơn,quản lý giáo dục, tổ chức lao động rèn luyện, phòng chống tái nghiện, chưa có các dịch
vụ kết nối với cộng đồng, việc đáp ứng nhu cầu người cai nghiện còn thiếu đồng bộ.Theo đánh giá, nhận xét mô hình bắt buộc tập trung hiện nay làm hạn chế nhiều cơ hộiphát triển, thực hiện các chức năng xã hội của người nghiện ma túy và chưa phù hợpvới cách tiếp cận mới về người nghiện ma túy, cai nghiện ma túy của Quốc tế
Ngày 27/12/2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt nam đến năm2020[10], Quyết định số 1640/QĐ -TTg ngày 18 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướngchính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở cai nghiện đến năm 2020 vàđịnh hướng đến năm 2030[15] Với quan điểm đổi mới coi nghiện ma túy là một bệnhmãn tính do rối loạn của não bộ; điều trị nghiện ma túy là một công việc lâu dài, canthiệp kết hợp nhiều mặt cả y tế, tâm lý, xã hội Phải thực hiện điều trị một cách toàndiện với các can thiệp tổng thể về nhiều mặt, giúp người cai nghiện (khách hàng)ngừng hoặc giảm sử dụng ma túy trái phép đồng thời hướng tới mục tiêu giảm tác hại
2596/QĐ-về sức khỏe, xã hội liên quan đến việc sử dụng ma túy và giúp người nghiện thực hiệntốt các vai trò, chức năng của mình trong gia đình và ngoài xã hội Một chương trìnhcai nghiện hiệu quả cung cấp không chỉ các dịch vụ điều trị trực tiếp về y tế, về tâm lý
mà còn cần có các dịch vụ hỗ trợ khác để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người nghiện.Việc thiết lập một mạng lưới liên kết, chuyển gửi giữa các cơ sở cai nghiện, các cơ sở,chương trình có thể cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho người nghiện là rất quan trọng vàcần thiết
Ngày 25/03/2010 Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-
2020 [7], đây là chỉ đạo quan trọng của Chính phủ nhằm khẳng định và thúc đẩy pháttriển, nâng cao vai trò, hiệu quả nghề công tác xã hội, đồng thời nhằm thực hiện đượcmục tiêu về kiểm soát và tổ chức điều trị cai nghiện cho người nghiện ma túy
Quản lý trường hợp là một hoạt động trợ giúp đặc thù chuyên ngành trong côngtác xã hội Đối với người cai nghiện ma túy (đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt), quản lý
5
Trang 6trường hợp được vận dụng và đòi hỏi một cách toàn diện, liên tục, công bằng và chấtlượng, thông qua nhân viên QLTH với vai trò sắp xếp, phối hợp, kết nối các dịch vụchăm sóc người cai nghiện ma túy và gia đình họ xác định được những vấn đề khókhăn cần giải quyết, xây dựng kế hoạch can thiệp, kết nối các dịch vụ và giúp họ thựchiện thành công mục tiêu mong muốn [37].
Qua theo dõi, đánh giá thực tế công tác cai nghiện, phục hồi cho người nghiện
ma túy tại các Trung tâm trên địa bàn Thành phố Hà Nội thì việc áp dụng tiến trìnhQuản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy còn rất hạn chế và chưa hiệu quả,chưa đáp ứng được nhu cầu của chính người cai nghiện và gia đình họ, cũng như yêucầu đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế - xã hội của Thủ đô và cả nước
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn nội dung “Quản lý trường hợp đối với Người cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội
số V, Thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ma túy, nghiện ma túy và điều trị nghiện ma túy là những nội dung được quantâm, tập trung nghiên cứu, biên soạn và công bố của các nhà khoa học, các chuyên gia,các soạn giả trong và ngoài nước Tuy nhiên đề cập đến khía cạnh công tác xã hội đốivới người nghiện ma túy, đặc biệt về nội dung quản lý trường hợp đối với ngườinghiện ma túy thì số lượng còn hạn chế
Với khuôn khổ luận văn này, tác giả xin lựa chọn giới thiệu và phân tích ýnghĩa một số công trình nghiên cứu các bài viết, tài liệu liên quan đến vấn đề về ngườinghiện ma túy và quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy được công bố tạiViệt Nam:
* Nhóm công trình nghiên cứu chung về ma túy, về cơ chế gây nghiện, tác hại của nghiện ma túy và các hoạt động liên quan
- Công trình nghiên cứu “Cơ chế nghiện ma túy nhóm OPIATS” của tác giảNguyễn Mạnh Hùng (2012) Bệnh Viện Tâm thần TW phân tích tác động của các chấtdạng thuốc phiện, cơ sở sinh học của trạng thái nghiện Opiats và cơ sở sinh học củatrạng thái cai; cơ sở sinh học và tâm lý trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần và xác định
cơ chế tâm lý gây nghiện ma túy Thông qua nghiên cứu này giúp người làm công táccai nghiện, người làm công tác xã hội với nhóm người nghiện ma túy hiểu được cơ chế
6
Trang 7nghiện và tác động tâm lý của nghiện ma túy để có cách hiểu và tiếp cận hiệu quả đốivới nhóm đối tượng này [27].
- Nhóm tác giả Hà Trọng Liên và Hoàng trọng Lực, Học viện Cảnh sát Nhân dân vớinghiên cứu “Hậu quả, tác hại và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em nghiện matúy ở Thành phố Hà Nội” (2009) tài liệu đã phân tích những hậu quả của tệ nạn ma túy đốivới trẻ em; phân tích nguyên nhân từ môi trường xã hội; đặc điểm tâm lý trẻ em; nguyênnhân từ góc độ quản lý nhà nước đối với trẻ em; từ quản lý xã hội; phân tích sâu về yếu tốnhận thức, điều kiện kinh tế và nguyên nhân từ phía gia đình, nhà trường Thông qua nộidung phân tích, tác giả giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động ảnh hưởng đếnnghiện ma túy của trẻ, trên địa bàn Thành phố Hà Nội [22]
- Nghiên cứu về nhóm thanh thiếu niên nghiện ma túy, tác giả Nguyễn MinhĐức, Trung tâm nghiên cứu Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm – Học viện Cảnhsát nhân dân có công trình nghiên cứu “Tìm hiểu một số hình thức mới của việc lạmdụng chất gây nghiện trong thanh, thiếu niên hiện nay và các giải pháp phòng ngừa,ngăn chặn” (2015) Bài viết đề cập đến một số loại ma túy mới được giới trẻ Hà Nộicũng như một số thành phố lớn khác tìm kiếm và sử dụng, như hít “keo” (còn gọi làdung môi hữu cơ), hút “pin” (thuốc lào Canada), hút “Shisha” (thuốc lào Ả rập) Phântích nguyên nhân sử dụng và lạm dụng chất gây nghiện trong thanh, thiếu niên, đồngthời đưa ra một số giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng này trong thanh thiếuniên hiện nay[28]
- Đề tài nghiên cứu “Hành vi nghiện dưới góc độ tâm lý học” của Huỳnh Văn Sơnđưa ra khái quát chung về hành vi trong tâm lý học; Lý luận về hành vi nghiện dưới góc
độ tâm lý học; Một vài hành vi nghiện của vị thành niên và người trưởng thành hiện nay;Biện pháp định hướng và điều chỉnh hành vi nghiện Công trình này mang tính chia sẻdựa trên một số kết quả nghiên cứu bước đầu cũng như việc cập nhật các kiến thức và cácbiện pháp cơ bản Thông qua nghiên cứu này tác giả muốn giúp các phụ huynh chủ độngtrong việc giáo dục trẻ em tránh xa các hành vi nghiện [23]
- Tác giả Nguyễn Song Chí Chung biên soạn và đưa ra nội dung “Tổng quan vềnghiện chất” (2010) Qua nghiên cứu này tác giả đã đưa ra kết luận như sau: Nghiệnchất là bệnh lý của não bộ, đa yếu tố phát sinh; Nghiện chất là bệnh mãn tính và dễ táiphát; Đặc điểm lâm sàng cốt yếu là hành vi sử dụng mất kiểm soát (lệ thuộc tâm lý);
7
Trang 8Điều trị nghiện chất phải là điều trị mãn tính và phải phối hợp nhiều yếu tố (thuốc, tâm
lý, môi trường) Kết luận này rất quan trọng để giúp các nhà chuyên môn cũng như cácnhà quản lý gặp nhau và thống nhất việc tiếp cận, điều trị cho người nghiện ma túyhiện nay [29]
- Đề tài: “Nguyên nhân tái sử dụng ma túy và phương pháp mới dự phòng táinghiện” năm 2015 của tác giả Lê Trung Tuấn – Viện Nghiên cứu Tâm lý người nghiện
ma túy (PSD) Nội dung đề tài đã phân tích và cho rằng có 3 nhóm nguyên nhân dẫnđến hành vi tái sử dụng ma túy ở người nghiện ma túy, đó là: Nguyên nhân từ hình ảnhtrực quan; nhóm cảm xúc, nhóm tình huống và hành vi nguy cơ Thông qua đề tài nàygiúp cho các nhà quản lý, người làm công tác xã hội và bản thân người nghiện ma túy
có được biện pháp cụ thể nhằm hạn chế thấp nhất khả năng nguy cơ tái sử dụng ma túy
ở người nghiện ma túy, nâng cao các yếu tố phòng ngừa cho mỗi thân chủ trong quátrình xây dựng kế hoạch can thiệp trợ giúp [24]
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả quản lý cai nghiện ma túy và sau cai” mã số 02-X07 của Nguyễn Thành Công, HàNội, năm 2003, tập trung nghiên cứu vấn đề dạy nghề, lao động sản xuất cho người cainghiện ma túy và tạo việc làm có thu nhập cho người nghiện giai đoạn sau cai nghiện
ma túy Nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra việc tổ chức hỗ trợ việc làm, lao động sảnxuất cho người sau cai nghiện có ảnh hưởng và quyết định đến chất lượng, hiệu quảcủa công tác cai nghiện phục hồi, góp phần giảm tỷ lệ tái nghiện ma túy Qua đây tácgiả cũng nêu lên những tồn tại, hạn chế trong công tác dạy nghề, hướng nghiệp, tạoviệc làm cho người nghiện ma túy sau khi hết giai đoạn điều trị phục hồi, nêu lên nguyênnhân tồn tại và đề xuất kiến nghị cụ thể cho hoạt động này tại các Trung tâm [30]
- Một tài liệu, một giáo trình được tác giả quan tâm và đánh giá cao là Giáotrình “Chất gây nghiện và xã hội” (2013) Công trình được biên soạn với sự hợp táccủa các cơ quan: Tổ chức FHI 360, Trung tâm dự phòng và kiểm soát bệnh tật Hoa KỳCDC, Cục phòng chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động Thương binh và xã hội, TrườngĐại học lao động - xã hội, nhóm tác giả do Bùi Thị Xuân Mai chủ biên Nội dung tàiliệu đã nêu: Tổng quan về chất gây nghiện; Các Lý thuyết về nghiện ma túy; Nghiện
ma túy; Mối quan hệ giữa ma túy và HIV, kỳ thị phân biệt đối xử với người nghiện matúy; Chính sách và các can thiệp với vấn đề sử dụng chất gây nghiện Đây là một tài
8
Trang 9liệu, một công trình soạn thảo công phu, chọn lọc và thiết thực phục vụ cho việc đàotạo nguồn nhân lực chuyên môn về Công tác xã hội tại Việt nam [20].
* Một số công trình nghiên cứu và bài viết về nội dung quản lý trường hợp và Quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy tại Việt Nam
- Tác giả Trần văn Kham (2016) đã có công trình nghiên cứu “Tổng quan cácquan điểm về quản lý trường hợp trong công tác xã hội và khả năng ứng dụng ở Việtnam”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 3/2016 ( 399, tr 23 – 29) Nghiên cứu nàynêu Quản lý trường hợp là một trong các phương pháp can thiệp của công tác xã hội,
có thể được hiểu như là một tiến trình của công tác xã hội, một cách thức giúp thânchủ được tiếp xúc các dịch vụ trợ giúp xã hội Đây là một chủ đề nghiên cứu rộng khắp
ở nhiều quốc gia trên thế giới về lĩnh vực công tác xã hội Bài viết đi vào tổng quan cácquan điểm gần đây về quản lý trường hợp qua hệ thống các cơ quan và chức năng, từ đó đềxuất một vài hàm ý về ứng dụng quản lý trường hợp trong bối cảnh Việt nam [38]
- Đề tài “Nghiên cứu phân tích tình hình người sử dụng ma túy ở Việt nam dựatrên cách tiếp cận Quyền và nhu cầu” của tác giả Vũ Thị Thanh Nhàn, NXB Lao động– Xã Hội, 12/2012 Nghiên cứu đã chỉ ra yếu tố giới thể hiện khá rõ trong quan điểm
so sánh về nam và nữ khi sử dụng ma túy Thông qua phân tích dựa trên cách tiếp cận
về quyền và nhu cầu ở phụ nữ, tác giả cho thấy những định kiến về giới được thể hiệnkhá rõ trong thái độ và hành vi của người dân cộng đồng đối với người sử dụng ma túy
và người có HIV/AIDS, cụ thể hơn là phụ nữ sử dụng ma túy bị kỳ thị nặng nề hơn sovới nam giới tại Việt Nam Thông qua nghiên cứu này giúp nhân viên công tác xã hội
có chia sẻ, đồng cảm và vận động cộng đồng hiểu đúng, nhằm bảo về quyền và nhucầu của nữ giới, đảm bảo bình đẳng trong can thiệp và hỗ trợ nguồn lực, cung cấp dịch
vụ cho đối tượng [43]
- Công trình nghiên cứu “Chăm sóc liên tục và vai trò của nhân viên công tác xãhội đối với người nghiện ma tuý đang phục hồi” của hai tác giả biên soạn Nguyễn thịKhánh Vân (Bộ lao động TB&XH) và Kevin Mulvey (Tổ chức SAMHSA), thông quanội dung đề tài đã biên soạn và trình bày định nghĩa công tác xã hội, các yếu tố phổbiến, phân tích các cấp độ thực hành công tác xã hội vĩ mô, trung mô và vi mô, nhóm tácgiả đã đi sâu giới thiệu về công tác xã hội cá nhân [32]
9
Trang 10- Nội dung quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy của hai tác giảNguyễn Hồi Loan và Nguyễn Trung Hải – Trường Đại học Lao động Xã hội với giáotrình quản lý trường hợp với người sử dụng ma túy đã biên soạn và trình bày khá đầy
đủ về vấn đề quản lý trường hợp đối với người sử dụng ma túy [25;33]
Qua tìm hiểu các đề tài, luận văn, tài liệu, công trình nghiên cứu nội dung vềquản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy, tác giả nhận thấy số lượng côngtrình còn chưa nhiều, nội dung chưa có nhiều đề tài chuyên sâu đặc biệt là về nội dungphân tích, đánh giá hiệu quả từ thực tiễn áp dụng tiến trình quản lý trường hợp đối vớingười cai nghiện ma túy tại trung tâm
Thông qua tài liệu và hướng dẫn của Học viện, cùng với thực tế nghiên cứu tạicộng đồng và các trung tâm cai nghiện của Hà Nội, tôi nghĩ rằng đề tài này sẽ gópphần bổ sung và gợi mở rõ nét hơn về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện matúy tại trung tâm nói riêng và với công tác điều trị cai nghiện cho người nghiện ma túytại Thành phố Hà Nội nói chung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng quản lý trường hợp đối vớingười cai nghiện ma túy; các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp; ứng dụng tiếntrình quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện tại Trung tâmChữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số V, thành phố Hà Nội; qua đó đề xuất, kiếnnghị các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả công tác điều trị cho ngườinghiện ma túy tại Trung tâm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý trường hợp trong việc hỗ trợ đối với ngườicai nghiện ma túy
- Phân tích thực trạng thực hiện nhiệm vụ quản lý trường hợp trong việc hỗ trợngười cai nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số V,Thành phố Hà Nội
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với người cainghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số V, Thành phố
Hà Nội
10
Trang 11- Ứng dụng tiến trình QLTH vào trợ giúp một cá nhân người cai nghiện ma túy.
Đề xuất một số giải pháp thực hiện áp dụng hiệu quả tiến trình quản lý trường hợp đốivới người cai nghiện ma túy tại Trung tâm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâmChữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội số V, Thành phố Hà Nội
4.2 Khách thể nghiên cứu
* Phạm vi về khách thể:
- Cán bộ quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tại trung tâm baogồm: Nhân viên Công tác xã hội, Nhân viên Tư vấn - Giáo dục (tổng số 32 người)
- Cán bộ lãnh đạo trung tâm
- Người đang cai nghiện ma túy tại trung tâm
* Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các nhiệm vụ
QLTH đối với người cai nghiện ma túy, ứng dụng tiến trình quản lý trường hợp đốivới người đang cai nghiện tại trung tâm
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Tác giả nghiên cứu, trình bày đề tài luận văn dựa trên cơ sở lý luận Chủ nghĩaduy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng hệ thống quan điểm của Đảng vàNhà nước Việt Nam về công tác phòng chống ma túy, các quy định của pháp luật,chương trình, chính sách của địa phương về công tác điều trị, cai nghiện cho ngườinghiện ma túy Quan điểm ứng dụng phát triển nghề công tác xã hội và trợ giúp chongười nghiện ma túy với những mối quan hệ biện chứng của đối tượng nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả luôn đặt quản lý trường hợp đối với ngườicai nghiện ma túy trong mối quan hệ tương tác khách quan, tất yếu với các yếu tố khácnhư cơ chế chính sách, môi trường xã hội,… Những đề xuất của nghiên cứu này ngoàigiải pháp tác động đến các yếu tố nội tại như nhân viên quản lý trường hợp, bản thânngười cai nghiện ma túy còn đề cập đến việc xây dựng cơ chế, chính sách trong tổchức thực hiện quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy sao cho phù hợp
và hiệu quả Đồng thời khi phân tích hoạt động quản lý trường hợp đối với người cai
11
Trang 12nghiện ma túy tại Trung tâm, tác giả luôn bám sát hoàn cảnh cụ thể của Trung tâm trênquan điểm đổi mới công tác cai nghiện ma túy và áp dụng nghề công tác xã hội ứngdụng hiệu quả đối với người cai nghiện ma túy.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Tác giả thu thập, phân tích thông tin, số liệu, tài liệu từ các công trình nghiêncứu, đề tài đã được công bố về nội dung công tác xã hội, quản lý trường hợp đối vớingười sử dụng ma túy, các tài liệu về nghiện chất, cai nghiện, phục hồi cho ngườinghiện ma túy để xây dựng hệ thống lý thuyết
Tập hợp, phân tích các tài liệu, báo cáo của các ngành, các cấp trên địa bàn Thànhphố Hà Nội, kết quả công tác cai nghiện phục hồi của Trung tâm Chữa bệnh Giáo dụcLao động Xã hội số V trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hàng năm và số liệu tổnghợp của Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội
5.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Đây là phương pháp được tác giả áp dụng cơ bản trong đề tài để cho ra các sốliệu, định lượng dựa trên các khái niệm đã được thao tác hóa Bảng hỏi là công cụ thuthập thông tin với những nội dung câu hỏi liên quan đến thông tin cán bộ QLTH đánhgiá nhu cầu của người cai nghiện ma túy, thực trạng các nhiệm vụ quản lý trường hợpcủa cán bộ QLTH đối với người cai nghiện ma túy, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lýtrường hợp người cai nghiện tại Trung tâm, thông qua việc tổng hợp, phân tích, nhậnxét số liệu khảo sát và đây là nội dung cơ bản được quan tâm
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả sử dụng các câu hỏi phỏng vấn sâu đối với cán bộ lãnh đạo, cán bộquản lý, nhân viên trực tiếp tư vấn – giáo dục và học viên đang cai nghiện tại trungtâm, đó là những câu hỏi định tính nhưng sẽ làm rõ cách tiếp cận, quan điểm, giải pháp
cụ thể mà ở bảng hỏi không thể hiện được Qua đây khẳng định rõ nét hơn nội dung
mà đề tài nghiên cứu muốn đưa ra, đồng thời cũng đánh giá được nhận thức, kỹ năng,kinh nghiệm của đối tượng
5.2.4 Phương pháp quan sát
Thông qua phương pháp này tác giả sẽ đánh giá, đưa ra các câu hỏi cho phầnbảng hỏi, phỏng vấn, cũng như đối chiếu khẳng định các thông tin, số liệu, nhận định
12
Trang 13thu thập được, đồng thời quan sát được tâm lý thái độ, tình cảm, hành động, mối quantâm của môi trường xã hội xung quanh người cai nghiện tại trung tâm qua đó giúp choviệc ứng dụng tiến trình quản lý trường hợp đối với người đang cai nghiện tại trungtâm phù hợp, hiệu quả và chính xác hơn.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài
Đề tài luận văn mà tác giả nghiên cứu, trình bày sẽ góp phần nâng cao lý luận
và phong phú thêm về cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về quản lý trường hợpđối với người cai nghiện ma túy, sẽ tập trung để đưa ra nội dung sâu hơn về ứng dụngtiến trình quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện tại Trung tâmChữa bệnh Giáo dục - Lao động xã hội số V, Hà Nội
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn này sẽ góp phần nâng cao nhận thức củacộng đồng, các nhà quản lý về vai trò nghề công tác xã hội, vai trò nhân viên CTXH,nhân viên QLTH, sự ảnh hưởng tác động từ các yếu tố đối với người cai nghiện ma túytại trung tâm Đặc biệt qua phân tích thực trạng hoạt động quản lý trường hợp đối vớingười cai nghiện ma túy tại trung tâm sẽ đưa ra những nhận xét đầy đủ, xác đángnhững mặt được, mặt tồn tại của áp dụng tiến trình tại Trung tâm Thông qua việc ápdụng tiến trình quản lý trường hợp vào một trường hợp cụ thể đang cai nghiện tại trungtâm sẽ là căn cứ kiến nghị, đề xuất được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công táccai nghiện phục hồi tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số V, Thànhphố Hà Nội và các trung tâm cai nghiện trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bên cạnh đó đề tài nghiên cứu này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảocho những nghiên cứu sau này về lĩnh vực quản lý trường hợp đối với người cainghiện ma túy hoặc những ai quan tâm đến công tác xã hội, công tác xã hội đối vớingười cai nghiện ma túy
7 Kết cấu của đề tài luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, các phụlục, đề tài gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy
13
Trang 14Chương 2: Thực trạng quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tại
Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số V, Thành phố Hà Nội
Chương 3: Ứng dụng tiến trình quản lý trường hợp và đề xuất các bện pháp nâng
cao hiệu quả công tác quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễnTrung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số V, Thành phố Hà Nội
14
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY 1.1 Khái niệm và đặc điểm của người cai nghiện ma túy
1.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm ma túy
Ma túy có nguồn gốc từ hàng ngàn năm trước công nguyên, và đến thế kỷ thứ IIItrước công nguyên đã có những tài liệu ghi nhận việc sử dụng thuốc phiện Năm 1860 tácgiả Syndenham đã viết “trong số những bài thuốc mà thượng đế đã ban phát cho conngười, không có gì có thể chữa bệnh hiệu quả như thuốc phiện” Đây chính là quan điểm
mà từ đó dẫn đến lạm dụng thuốc phiện trong lịch sử loài người Với sự phát triển củakhoa học kỹ thuật, ngoài những sản phẩm có sẵn trong tự nhiện như thuốc phiện, cần sa,
cô ca người ta dựa vào cấu trúc hóa học trong những chất này để tạo ra chất bán tổng hợp
có khung cơ bản giống các chất có sẵn trong tự nhiên và có tác dụng tương tự như thuốcphiện (như Heroin) Ngoài ra, với khoa học hiện đại như hiện nay một loạt các chất matúy tổng hợp, từ các nguồn tiền chất hóa học thông dụng khác trong các ngành y dược,hóa dược để tạo thành ma túy mới, dễ sử dụng và tác dụng kích thích thần kinh cũng nhưtác hại gấp hàng trăm, hàng nghìn lần so với ma túy truyền thống (như Methamaphetamine,Amphetamine, Etasy )
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về ma túy Mỗi quốc gia, mỗi tổ chứcquốc tế có liên quan đều đưa ra khái niệm ma túy của mình
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì: “Ma túy là bất kỳ chất nào khi đưa vào cơ thểsống có thể làm thay đổi một số chức năng của cơ thể và làm cơ thể phụ thuộc vào nó” [36]
Theo định nghĩa của Văn phòng Liên Hợp quốc về phòng, chống ma túy và tộiphạm thì “Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đưa vào cơ thểngười nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái, ý thức và sinh lý Nếu lạm dụng ma túy conngười sẽ phụ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương, nguy hại cho người sử dụng và cộngđồng”
Trang 16Luật phòng chống ma túy được Quốc Hội thông qua ngày 09/10/2000 quy định:
“Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục dochính phủ ban hành” (khoản 1, Điều 2) [34]
Vậy có thể đưa ra khái niệm ma túy như sau: “Ma túy là tên gọi chung chỉ nhữngchất kích thích khi dùng một lần có thể gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo.Những chất này khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức và sinh lý”
* Khái niệm nghiện ma túy
Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA): “Nghiện ma túy là các hội chứng gồm
tăng liều ma túy để có tác dụng mong muốn, sử dụng ma túy để giảm hội chứng thiếuthuốc, không có khả năng giảm liều hoặc dừng ngừng sử dụng ma túy mặc dù biết nó cóhại cho bản thân và những người khác” (APA Science Policy News, July 2008) [47]
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “Nghiện ma túy là trạng thái nhiễmđộc chu kỳ hay mãn tính do sử dụng lặp lại nhiều lần một chất tự nhiên hay tổng hợp nào
đó Sự nhiễm độc này thể hiện ở sự gia tăng liều dùng và sự lệ thuộc tâm sinh lý củangười dùng vào tác dụng của chất đó” [36]
Theo Quyết định 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ Tướng Chính Phủ phêduyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ở Việt nam đến năm 2020, đưa ra khái niệm:
“Nghiện ma túy là bệnh mãn tĩnh do rối loạn của não bộ, điều trị nghiện ma túy là mộtquá trình lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp, hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội làm thayđổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy và giảm tình trạng sử dụng
ma túy trái phép” [10]
Như vậy, nghiện ma túy là hiện tượng phụ thuộc cả thể xác lẫn tinh thần vào matúy do việc sử dụng thường xuyên và tăng dần liều lượng sử dụng dẫn đến mất kiểm soátnhận thức và hành vi của người sử dụng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, nhân cách bảnthân và an toàn xã hội
* Khái niệm người nghiện ma túy
Theo quy định của pháp luật Việt Nam “Người nghiện ma túy là người sử dụngchất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này” (Điều 2,Luật phòng, chống ma túy – Quốc hội Việt Nam thông qua năm 2000 và sửa đổi bổ sungnăm 2008) [34]
Trang 17Như vậy có thể hiểu người nghiện ma túy là người sử dụng ma túy lặp đi lặp lạinhiều lần chất ma túy với liều dùng ngày càng tăng, dẫn đến tình trạng nhiễm độc chu kỳ,mãn tính, bị lệ thuộc về thể chất và tinh thần vào chất đó.
* Khái niệm người cai nghiện ma túy
Qua tìm hiểu hiện nay chưa có tài liệu nào đưa ra về khái niệm cụ thể về người cainghiện ma túy Qua tham khảo một số văn bản khác nhau về công tác cai nghiện ma túy,tác giả đưa ra khái niệm người cai nghiện ma túy như sau: Người cai nghiện ma túy làngười đang được áp dụng các biện pháp để chấm dứt việc sử dụng ma túy, không còn lệthuộc vào các chất ma túy, chất gây nghiện
1.1.2 Đặc điểm và nhu cầu của người nghiện ma túy
1.1.2.1 Đặc điểm người nghiện ma túy
* Đặc điểm tâm, sinh lý của người nghiện ma túy
Đối với người nghiện ma túy, biểu hiện sinh lý và tâm lý thường đi kèm với nhaukhá dễ nhận biết, đặc biệt đối với người sử dụng và nghiện ma túy lâu năm Tuy nhiên,tùy thuộc vào loại ma túy sử dụng mà có những biểu hiện đặc điểm khác nhau [33, tr.24],
+ Đối với người sử dụng nhóm ma túy tổng hợp như Amphetamine/Methamphein/Ketamin/Cần sa, biểu hiện thể chất sau dùng thuốc thường phấn khích, bừng tỉnh, dễ bị
ảo thị, ảo giác, ảo thanh, bay bổng, suy nghĩ hoang tưởng dễ dàng tấn công người xung
Trang 18quanh theo suy nghĩ trong đầu mình về một ai đó; khi không có thuốc thường rơi vàotrạng thái trầm cảm, một số có biểu hiện tự sát, tâm thần.
- Về biểu hiện đặc trưng của người nghiện ma tuý: Mãnh liệt tìm kiếm, sử dụng matúy, bất chấp hoàn cảnh; Không kiểm soát được việc sử dụng ma túy; Xuất hiện hội chứngcai nếu giảm hoặc ngừng sử dụng ma túy; Có khuynh hướng tăng liều; Sao nhãng các thúvui khác (chăm sóc con, chơi thể thao, xem phim, ca nhạc, quan tâm bạn bè); Tiếp tục sửdụng ma túy bằng mọi cách dù biết rất rõ tác hại của ma túy đang sử dụng
Như vậy, về mặt thể trạng, hành vi về sinh lý của người nghiện ma túy không khónhận ra với người xung quanh, đồng thời dễ nhận thấy ở họ thường dễ bức xúc, nổi cáu vàluôn lý giải việc muốn sử dụng lại chất gây nghiện; dễ gây những tổn thương cho ngườikhác hoặc gây ra những hành động nguy hiểm cho chính mình, ảnh hưởng xấu đến giađình, xã hội
* Đặc điểm xã hội của người nghiện ma túy
Một đặc điểm thể hiện rõ nhất đối với người nghiện ma túy đó là vấn đề kỳ thị xãhội của người nghiện
Kỳ thị đối với người nghiện ma túy là thái độ không tôn trọng người sử dụng matúy, người nghiện ma túy, cho rằng sử dụng ma túy, nghiện ma túy là tệ nạn xã hội, là tộiphạm, họ là người nguy hiểm, người lây bệnh, người HIV,… nên xa lánh, đề phòng, e sợ
họ ngay cả khi họ đã điều trị [33, tr.25]
Bên cạnh kỳ thị của xã hội thì người nghiện ma túy còn tự kỳ thị Tự kỳ thị là tựbản thân người nghiện ma túy luôn có suy nghĩ khó chấp nhận chính mình, tự căm ghét,xấu hổ, phê phán bản thân, cảm thấy bị mọi người để ý, xét đoán ghét bỏ, không tin tưởngmình, nên tự cô lập, tự tách mình ra khỏi gia đình, cộng đồng [33, tr.25] Sự mặc cảm tự
kỳ thị ở người cai nghiện ma túy nếu không có sự chủ động tiếp cận của cán bộ quản lýthì họ luôn thiếu lòng tin, luôn cho rằng mọi người không còn tin tưởng mình Đồng thờiluôn có tâm lý sợ bị tái nghiện, sợ bị vợ/chồng, người yêu, người thân trong gia đìnhruồng bỏ; bất mãn trước sự kỳ thị của cộng đồng, sợ đối mặt với tình trạng nhiễm HIV,thường lo lắng và mất phương hướng cho tương lai, lo sợ công an hoặc chính quyền địaphương gọi, hỏi, quan tâm đến mình
1.1.2.2 Nhu cầu của người nghiện ma túy
Trang 19Trong hoạt động công tác xã hội đối với người nghiện ma túy nói chung và quản lýtrường hợp đối với người cai nghiện ma túy nói riêng thì đánh giá nhu cầu của đối tượngtrợ giúp là đặc biệt quan trọng Thông qua mô hình bậc thang của Maslow giúp cho nhânviên quản lý trường hợp xác định được nhu cầu của thân chủ trong từng bối cảnh cụ thể,
từ đó lập kế hoạch can thiệp, trợ giúp phù hợp cho thân chủ
Đối với người cai nghiện ma túy, thông qua mô hình bậc thang của AbrahamMaslow, tác giả mô tả như sau:
- Nhu cầu cơ bản của con người, cũng như của người nghiện ma túy đó là nhu cầu
thể lý về oxy, thực phẩm, nước uống, nơi trú ngụ, Đây là nhu cầu cơ bản (basic needs)mạnh mẽ nhất vì sự sống của một con người cần có, phụ thuộc phải có Đối với ngườinghiện ma túy cũng luôn có nhu cầu cơ bản này, đồng thời lo sợ khi sức khỏe giảm súthay sự hạn chế về vật chất trong môi trường cai nghiện tại Trung tâm thì vấn đề ăn, uống,sinh hoạt vật chất tại nơi cai nghiện luôn là đòi hỏi cần thiết, đây được coi là nhu cầu hàngđầu mà mỗi người cai nghiện tại Trung tâm quan tâm, đòi hỏi
- Nhu cầu an toàn: Khi các nhu cầu cơ bản đã được đáp ứng như nơi ở, bữa ăn, nước
uống, sinh hoạt, và các yếu tố về thể lý khác không còn chi phối đến suy nghĩ cũng nhưhành vi của người nghiện thì họ có thể tập trung vào nhu cầu được an toàn, an toàn ở đây
có thể hiểu như an toàn về cuộc sống, về cơ thể của họ và gia đình họ, an toàn về côngviệc, về tài sản Trong Trung tâm cai nghiện vấn đề an toàn được người cai nghiện quantâm đó là an toàn về sức khỏe, không bạo lực, chèn ép, bắt nạt từ những học viên kháctrong quá trình tham gia điều trị, cai nghiện Cán bộ QLTH cần lưu ý nhu cầu này để xâydựng môi trường cai nghiện An toàn - Thân thiện trong Cơ sở cai nghiện ma túy
- Nhu cầu được quan tâm: Khi người nghiện ma túy cảm thấy tương đối an toàn và
yên tâm, họ sẽ hướng tới nhu cầu được được quan tâm Sự đòi hỏi yêu thương này họmuốn đón nhận sự quan tâm của mọi người (trong gia đình, hàng xóm, người thân quen,cộng đồng,… và của cán bộ y tế, cán bộ trung tâm đang điều trị cho họ) Thực tế ngườinghiện ma túy khi tham gia cai nghiện ma túy tại Trung tâm luôn chú ý đến tình cảm củangười khác dành cho mình, đặc biệt là tình cảm đón nhận từ bạn bè, người thân trong giađình và của cán bộ trực tiếp quản lý, trợ giúp Cán bộ QLTH phải luôn lưu ý đến nhu cầu
Trang 20thứ ba này của người cai nghiện ma túy để kết nối tình cảm cho họ từ phía gia đình, ngườithân, cộng đồng xã hội và của chính bản thân cán bộ trong Trung tâm cai nghiện.
- Nhu cầu được quý trọng: Khi ba nhu cầu trên đã được đáp ứng thì nhu cầu được
quý trọng sẽ là đòi hỏi đối với người cai nghiện ma túy Ở đây người nghiện ma túy muốnquý trọng người khác, muốn hàn gắn tình cảm yêu thương vợ, con, gia đình, bạn bè vàngược lại họ mong muốn nhận được sự quý trọng của mọi người Khi nhu cầu này đượcthỏa mãn, họ sẽ cảm thấy tự tin hơn vào những giá trị mà họ đã xác định Cán bộ Quản lýtrường hợp lưu ý và tạo điều kiện cho họ được thể hiện cũng như đón nhận ở cả hai góc
độ, điều này sẽ làm thân chủ thấy tự tin và mạnh dạn khi trở về cộng đồng, tham gia cáchoạt động xã hội
- Nhu cầu được khẳng định mình: Khi tất các nhu cầu trên được thỏa mãn thì mới là
lúc nhu cầu cao nhất của bậc thang Maslow được bày tỏ - đó là nhu cầu được tự khẳngđịnh của người cai nghiện ma túy Nhu cầu tự khẳng định chính là việc người cai nghiện
ma túy khẳng định chính mình, mong muốn và khẳng định làm được những việc họ cầnphải làm Họ muốn sáng tạo, thể hiện bản thân, thể hiện sức mạnh nội lực và muốn đượcghi nhận thành công Trong quá trình điều trị cai nghiện ma túy, việc xác định nhu cầucao nhất trong con người này sẽ giúp người cai nghiện thấy rõ bản thân của họ hơn, xácđịnh tâm lý và bản lĩnh vững vàng hơn, từ đó quyết định đúng đắn hơn, quyết tâm hơn
Dựa trên phân tích nhu cầu con người nói chung, người cai nghiện ma túy nóiriêng theo Mô hình bậc thang Nhu cầu của Maslow, đối với cán bộ quản lý trường hợp cóthể tóm tắt nhu cầu của người nghiện ma túy theo ba nhóm sau:
Về mặt tâm lý: Người nghiện ma túy muốn được yêu thương, tin tưởng, họ muốn
xây dựng lại mối quan hệ, muốn lập gia đình, tình dục, muốn hòa cùng gia đình, họ hàng,xóm, phố và cộng đồng nơi họ sinh sống
Về mặt xã hội: Người nghiện ma túy muốn được tìm kiếm công việc, nghề nghiệp,
muốn có thu nhập, muốn được vay vốn làm ăn, được công bằng tham gia và cung cấp cácdịch vụ công, các hoạt động kinh doanh, họ muốn có các quan hệ xã hội bình thường vớicác cơ quan, doanh nghiệp và mọi người trong xã hội
Trang 21Về mặt y tế: Trong họ luôn muốn biết được tình trạng sức khỏe bản thân, muốn
biết được các nơi điều trị bệnh đang mắc phải, muốn biết rõ quy trình điều trị họ đangtham gia và các vấn đề tiếp theo mục đích phục hồi sức khỏe sau khi trở về cộng đồng
Hệ thống bậc thang của Maslow dành cho đánh giá nhu cầu người nghiện ma túy lànền tảng trong điều trị cai nghiện cho người nghiện ma túy Đáp ứng từng bậc nhu cầucủa họ, giúp họ nâng cao về thể chất, tâm lý, xã hội, họ tự quyết định và có đủ quyết tâm
để thực hiện được kế hoạch mà nhân viên quản lý trường hợp giúp họ hoạch định, triểnkhai một cách hiệu quả
1.2 Lý luận về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy
1.2.1 Một số khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm quản lý trường hợp
Quản lý trường hợp (tiếng anh là Case management) còn gọi là quản lý ca, trongtrình bày luận văn này xin gọi chung là quản lý trường hợp Ở một số quốc gia, QLTHđược sử dụng trong các lĩnh vực cung cấp dịch vụ an sinh cho con người (QLTH tronglĩnh vực y tế nhằm chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, QLTH với người nghiện ma túy,người có HIV/AIDS, ) và cả trong lĩnh vực pháp luật (luật sư tư vấn cho khách hàng)[33, tr.10]
Hiện nay còn nhiều định nghĩa khác nhau về QLTH của các nhà khoa học xã hộitrên thế giới:
Theo Luise Johnson (1995), quản lý trường hợp là sự điều phối các dịch vụ và trongquá trình này nhân viên công tác xã hội làm việc với thân chủ để xác định dịch vụ cầnthiết, tổ chức và theo dõi sự chuyển giao các dịch vụ đó tới thân chủ có hiệu quả [38]
Hiệp hội công tác xã hội thế giới định nghĩa: “Quản lý trường hợp là sự điều phối mangtính chuyên nghiệp các dịch vụ xã hội và dịch vụ khác nhằm giúp cá nhân, gia đình đáp ứngnhu cầu được bảo vệ hay chăm sóc lâu dài”
Hiệp hội các nhà quản lý trường hợp của Mỹ (năm 2007), điều chỉnh khái niệm về quản
lý trường hợp như sau: “Quản lý trường hợp là quá trình tương tác, điều phối bao gồm các hoạtđộng đánh giá, lên kế hoạch, tổ chức điều động và biện hộ về chính sách, quan điểm và dịch
vụ, nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu của thân chủ, sao cho sự cung cấp dịch vụ tới cá nhân cóhiệu quả với chi phí giảm và có chất lượng”
Trang 22Theo tác giả Trần Văn Kham (2016) cho rằng quản lý trường hợp là một trong cácphương pháp can thiệp của công tác xã hội, có thể được hiểu như là một tiến trình của công tác
xã hội, một cách thức giúp các thân chủ được tiếp cận các dịch vụ trợ giúp xã hội [38]
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm quản lý trường hợp như sau: Quản lý trường hợp
là một quá trình trợ giúp mang tính chuyên môn, bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầuthân chủ (cá nhân, gia đình), xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằmgiúp họ tiếp cận nguồn lực để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả
1.2.1.2 Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy
Từ khái niệm người cai nghiện ma túy và khái niệm quản lý trường hợp, có thể đưa
ra cách hiểu về QLTH đối với NCNMT như sau: “QLTH đối với người cai nghiện ma túy
là quy trình xác định nhu cầu cần trợ giúp xã hội và xây dựng, thực hiện kế hoạch trợ giúpngười cai nghiện ma túy, điều phối các hoạt động cung cấp dịch vụ xã hội để trợ giúpngười cai nghiện ma túy vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống và phát triển bản thân”
Quy trình QLTH đối với người cai nghiện ma túy bao gồm 5 bước: (1) Tiếp nhậnthông tin và đánh giá sơ bộ; (2) Thu thập thông tin và đánh giá toàn diện; (3) Xây dựng kếhoạch trợ giúp; (4) Triển khai kế hoạch trợ giúp; (5) Lượng giá
Hoạt động quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy có một số điểm cơbản sau: [33, tr.16]
Thứ nhất: Việc cung cấp các dịch vụ khác nhau đối với người cai nghiện ma túy là
hoạt động hết sức quan trọng trong quá trình trợ giúp người cai nghiện ma túy
Thứ hai: Nêu cao vai trò của nhân viên quản lý trường hợp trong phương pháp tiếp
cận với người cai nghiện ma túy, với những khả năng, năng lực cần có để có kế hoạch trợgiúp tốt nhất (bao gồm đánh giá chi tiết nhu cầu, hỗ trợ, xây dựng kế hoạch nhằm đạt được mụctiêu và xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá kết quả), giúp người cai nghiện ma túy thực hiện cácyêu cầu từng quy trình cai nghiện hoặc sử dụng các biện pháp thay thế
Thứ ba: Nhân viên quản lý trường hợp cần có những phương pháp bảo đảm cho khách
hàng được hưởng các dịch vụ hỗ trợ về chuyên môn một cách toàn diện nhất
1.2.2 Nguyên tắc quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy
Trong tiến trình quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy, toàn bộ cáchoạt động tiếp xúc, hỗ trợ đều có ảnh hưởng trực tiếp đến thân chủ, đặc biệt tác động đến
Trang 23việc đáp ứng nhu cầu và giải quyết vấn đề của thân chủ Do vậy những nguyên tắc trongquản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy phải được tuân thủ nghiêm túc Nếukhông đáp ứng được các nguyên tắc này mà chỉ làm việc theo trách nhiệm, nhiệm vụ haytheo cảm tính cá nhân thì mục tiêu trợ giúp thân chủ sẽ không đạt được kết quả mongmuốn, cụ thể quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy có những nguyên tắcsau:[33, tr.36].
* Chấp nhận thân chủ
Thân chủ ở đây là người nghiện ma túy, là một đối tượng trong nhóm có hoàn cảnhđặc biệt, một đối tượng mà trước đây trong suy nghĩ của người dân là tệ nạn xã hội, nguyhiểm trong xã hội, họ có những đặc thù riêng mà trong quan điểm tiếp cận, ứng xử với họnay đã thay đổi Họ là những người có hoàn cảnh đặc biệt, có nhân phẩm, có giá trị riêng
và có quyền được tôn trọng Chấp nhận thân chủ ở đây không có nghĩa là đồng tình, “cổsúy” cho những hành vi, quan điểm, suy nghĩ của họ mà ám chỉ sự ghi nhận không phánxét hành vi, suy nghĩ của họ Làm được như vậy giúp cho nhân viên quản lý trường hợptạo được niềm tin từ người cai nghiện ma túy, từ đó thúc đẩy sự hợp tác, quan hệ tươngtác trong quá trình hỗ trợ
* Bảo mật thông tin cho thân chủ
Bảo mật thông tin là một nguyên tắc cơ bản của ngành công tác xã hội nói chung
và trong QLTH nói riêng Điều này thể hiện sự tôn trọng những vấn đề riêng tư của thânchủ - đặc biệt đối với người nghiện ma túy vấn đề kỳ thị xã hội và tự kỳ thị ở họ còn rấtlớn Tuy nhiên, với những thông tin có liên quan và ảnh hưởng đến những hành vi nguyhiểm cho thân chủ hoặc mất an toàn, an ninh trật tự - xã hội thì nhân viên quản lý trườnghợp phải có trách nhiệm thông báo cho cơ quan chức năng mà không chờ sự đồng ý củathân chủ
* Nguyên tắc cá thể hóa
Những người cai nghiện ma túy có thể có những nhu cầu giống nhau song mỗingười lại có hoàn cảnh sống khác nhau, người ở đô thị, người ở nông thôn, gia đình giàu,nghèo, v.v Việc cá thể hóa giúp nhân viên quản lý trường hợp đưa ra những giải pháp trợgiúp thích hợp với từng người cai nghiện ma túy cụ thể, nhằm đáp ứng đúng nhu cầu củathân chủ và linh hoạt trong quá trình trợ giúp
Trang 24* Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ
Mỗi cá nhân đều có quyền quyết định các vấn đề thuộc về cuộc đời, những quyếtđịnh của người khác hướng dẫn họ nhưng không nên áp đặt họ Đối với nhân viên quản lýtrường hợp trợ giúp người cai nghiện ma túy cũng phải tôn trọng và chấp hành nguyên tắcnày
Tuy nhiên đối với những trường hợp đặc biệt do thân chủ rối loạn tâm thần, thìnhân viên QLTH cần lấy ý kiến từ ngươi bảo hộ họ, đồng thời những quyết định của thânchủ có nguy cơ tổn hại đến thân chủ hay người khác thì không cần phải chấp thuận quyếtđịnh của thân chủ mà cần thông báo cho thân chủ về quy định của pháp luật về vấn đề đó
* Thu hút sự tham gia của thân chủ, gia đình, cộng đồng và các nhà cung cấp dịch
vụ vào tiến trình quản lý trường hợp
Đây có lẽ là nguyên tắc xuyên suốt và kết hợp kết quả của các nguyên tắc nêu trênnhân sự tin tưởng của thân chủ, gia đình và các nhà cung cấp dịch vụ, kết nối và can thiệpcho thân chủ để đáp ứng nhu cầu và giải quyết vấn đề thân chủ gặp phải Đảm bảo đượcnguyên tắc này sẽ đảm bảo được thành công của tiến trình trợ giúp đối với người cainghiện ma túy
1.2.3 Nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy
Quản lý trường hợp là một trong các phương pháp can thiệp của công tác xã hội,
có thể hiểu như là một tiến trình của công tác xã hội, một cách thức giúp thân chủ tiếp cậncác dịch vụ trợ giúp xã hội Đây là một quá trình quản lý từ đầu cho đến khi kết thúc,chuyển giao đối tượng trợ giúp
Trong phạm vi đề tài này tác giả đi sâu phân tích một số nhiệm vụ của nhân viênquản lý trường hợp trong vấn đề cai nghiện cho người nghiện ma túy, bao gồm nhữngnhiệm vụ cơ bản sau đây:
1.2.3.1 Thu thập thông tin về người cai nghiện ma túy
Thu thập thông tin là việc nhân viên quản lý trường hợp phối hợp với chính quyền,các đơn vị, cá nhân có liên quan và thông qua hồ sơ học viên đang quản lý tại trung tâm
để có được những thông tin ban đầu, tiếp tục bổ sung những thông tin cá nhân khác đểđưa ra được nhu cầu thực tế của thân chủ, cụ thể hoạt động thu thập thông tin vê người cai
Trang 25nghiện bao gồm xác định nguồn thông tin, nội dung thông tin và tình hình thu thập thôngtin.
- Nguồn thông tin gồm bản thân người cai nghiện cung cấp, bố mẹ vợ con họ,thông qua hồ sơ lưu trữ và các nguồn khác tại cộng đồng thân chủ sinh sống
- Nội dung thông tin: Thông tin cụ thể về đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, vềmôi trường xã hội liên quan trực tiếp đến người cai nghiện (thân chủ)
- Hình thức thu thập thông tin: Khảo sát, phỏng vấn trực tiếp người cai nghiện, giađình thân chủ, chính quyền cơ sở, cở sở cai nghiện
1.2.3.2 Đánh giá nhu cầu trợ giúp người cai nghiện ma túy
Đây là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết, nội dung này nhân viên QLTH phải xemxét, xác định, đánh giá nhu cầu của người cai nghiện tại trung tâm dựa trên yếu tố nào?Trong quá trình đánh giá sẽ gặp trở ngại gì và giải quyết ra sao, với một số yêu cầu đánhgiá nhu cầu tập trung vào nội dung sau:
- Đánh giá yếu tố cá nhân của người cai nghiện (sau đây gọi là học viên) gồm sức khỏe,thể chất, tâm thần, mối quan hệ xã hội, khả năng kiểm soát và chăm sóc bản thân, khả năng tìmkiếm nguồn lực, dịch vụ chính của học viên
- Đánh giá các yếu tố liên quan đến hoàn cảnh sử dụng và nghiện ma túy của học viênnhư loại ma túy sử dụng, cách dùng, liều dùng, nguyên nhân nghiện, những tổn thương, tác hại
do nghiện ma túy gây ra cho học viên, vấn đề tài chính khi sử dụng ma túy,… từ đây xác địnhnhu cầu để ngăn ngừa bảo vệ người cai nghiện trong tiến trình cai nghiện của học viên
- Đánh giá các yếu tố tác động như nguồn lực bản thân, gia đình, dòng họ, người thân,
họ hàng, khả năng kinh tế; sự quan tâm của chính quyền địa phương, đoàn thể, các tổ chức xãhội, các hiệp hội, doanh nghiệp có thể trợ giúp người cai nghiện
Để đánh giá xác định lựa chọn nhu cầu ưu tiên đối với người cai nghiện, nhân viênQLTH cần lưu ý tính lâu dài và an toàn cho người cai nghiện ma túy và đòi hỏi tính xácthực cao, kết hợp nhiều phía, nhiều chuyên môn khác nhau như y tế, quản lý nhà nước,đoàn thể tại địa phương, công an cơ sở, đặc biệt quá trình tiếp xúc, trao đổi, chia sẻ, gầngũi sẽ giúp cho được thông tin đầy đủ, chính xác từ đó nhu cầu của người cai nghiện mới
bộc lộ rõ (sự e ngại và tự kỳ thị của người cai nghiện là một đặc điểm xã hội, hết sức lưu
ý trong quá trình xác định nhu cầu).
Trang 261.2.3.3 Xây dựng kế hoạch can thiệp
Xây dựng kế hoạch can thiệp trong trợ giúp người cai nghiện ma túy tại trung tâmnhân viên QLTH sẽ cùng với bản thân người cai nghiện, gia đình họ và các bộ phận liênquan trong trung tâm và ngoài cộng đồng cùng thảo luận đưa ra những mục tiêu, nội dungcần can thiệp để đáp ứng nhu cầu giải quyết vấn đề cai nghiện phục hồi cho thân chủ.Trong xây dựng kế hoạch cần lưu ý đến yếu tố những khó khăn gặp phải trong huy độngnguồn lực, vấn đề phối hợp của gia đình, của địa phương và các dịch vụ bên ngoài có thểđáp ứng đến đâu, đáp ứng thế nào để đạt hiệu quả mong muốn ở thân chủ và nhân viênQLTH
Trong quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy thì lưu ý các hoạt độngđáp ứng nhu cầu về vật chất, về y tế, về hỗ trợ tâm lý và vấn đề việc làm sau cai nghiện.Nguồn lực trong thực tế phải tính đến chính từ gia đình, họ hàng người cai nghiện và một
số cơ chế, chính sách hiện có của thành phố cho công tác cai nghiện ma túy hiện nay
1.2.3.4 Triển khai các hoạt động trợ giúp
Trong nội dung này nhân viên QLTH sẽ cùng các thành viên liên quan thực hiệnnội dung kế hoạch trợ giúp người cai nghiện ma túy theo kế hoạch đã thống nhất Vai tròcủa nhân viên quản lý trường hợp ở đây là điều phối và thực hiện các hoạt động hỗ trợ
Các nhiệm vụ cụ thể ở đây sẽ là các hoạt động cụ thể như hỗ trợ cắt cơn nghiện, tưvấn, tham vấn, giáo dục sửa đổi hành vi, giáo dục giá trị sống, giáo dục kiến thức phápluật, giáo dục phòng chống tái nghiện, hướng nghiệp nghề, dạy nghề, tạo việc làm, kết nốichuyển gửi về cộng đồng cho địa phương, các doanh nghiệp, các tổ chức, dịch vụ hỗ trợsau cai (bao gồm từ can thiệp dự phòng, can thiệp chuyên sâu, can thiệp giảm tác hại, tưvấn điều trị nghiện cho người nghiện ma túy)
Trong nội dung này nhân viên quản lý trường hợp cần linh hoạt và sử dụng các kỹnăng làm việc của mình để bám sát kịp thời điều phối, vận động các nguồn lực kịp thời,liên tục, đề xuất điều chỉnh, bổ sung kế hoạch can thiệp cho phù hợp với nhu cầu củangười cai nghiện Trong quá trình triển khai cần tạo sự vào cuộc, thay đổi tích cực từ thânchủ, môi trường xã hội và các bên liên quan, luôn lấy thân chủ là trung tâm để đáp ứngcác nhu cầu, giải quyết vấn đề
1.2.3.5 Lượng giá
Trang 27Đây là hoạt động đánh giá toàn diện tiến trình hỗ trợ người cai nghiện Đánh giákết quả so với mục tiêu ban đầu đặt ra trong trợ giúp đạt ở mức nào? Vấn đề của người cainghiện đã đạt được chưa? Hiệu quả cai nghiện đến đâu?
Nhân viên QLTH lượng giá đưa ra nhận xét về đáp ứng nhu cầu, giải quyết vấn đềtrọng tâm của thân chủ mà mình đã nêu trong kế hoạch trợ giúp Phân tích cụ thể nguyênnhân thành công và tồn tại chưa đạt được, rút ra bài học cụ thể ở mỗi trường hợp Thôngqua lượng giá để đưa ra kết quả cuối cùng là kết thúc trường hợp hay đánh giá cần phảitiếp tục trợ giúp, để lại lập kế hoạch trợ giúp Khi tiến hành lượng giá nhân viên quản lýtrường hợp đánh giá theo các tiêu chí về: sự thay đổi tích cực của người nghiện; sự thayđổi từ môi trường gia đình, cộng đồng; sự tham gia của bản thân người nghiện, gia đình
họ và các bên liên quan và lượng giá các hoạt động của nhân viên trợ giúp
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy
1.2.4.1 Yếu tố thuộc từ đặc điểm đối tượng
Người nghiện ma túy là một đối tượng công tác xã hội đặc biệt, khi sử dụng và nghiện
ma túy, người nghiện ma túy có sự biến đổi về hành vi, nhân cách và thường bị lệ thuộc ma túy
cả thể chất và tâm thần Khi thiếu ma túy thì cơ thể người nghiện xuất hiện hội chứng cai, đauđớn về thể xác, rối loạn tâm thần, khi dùng thuốc họ tăng khoái cảm song giảm hứng thú, thuhẹp nhân cách, đặc biệt với những trường hợp sử dụng ma túy dạng đá họ có những hành vimất kiểm soát bản thân, tâm thần bị kích động, gây nguy hiểm cho bản thân và những ngườixung quanh Nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng từ đặc điểm người nghiện ma túy, tác giả nhậnthấy cần chú ý một số vấn đề sau:
Đặc điểm thể chất: Hầu hết người nghiện sau thời gian dài sử dụng ma túy khi tìm đến
trung tâm cai nghiện thì sức khỏe đều đến mức rất giảm sút, cơ thể người cai nghiện mức độchống nhiễm khuẩn kém, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm, các bệnh về gan, phổi và thần kinh.Nhiều trường hợp vào trung tâm cai nghiện thì đồng thời đã mắc hoặc nhiễm bệnh khá nặng,đặc biệt người có HIV sức khỏe rất kém Do vậy, khả năng can thiệp điều trị y học và tâm lýgây rất nhiều khó khăn trong quá trình cai nghiện
Đặc điểm tâm lý: Phần đông người cai nghiện luôn trong tâm trạng bất an, mặc cảm, tội
lỗi thậm chí chuyển sang bất cần Trường hợp bất đắc dĩ họ tìm đến cai nghiện, hoặc đi cai vì
Trang 28gia đình, vì người thân chứ không vì mình, do vậy nhiều khi bên ngoài luôn là thái độ lì lợm,bất hợp tác với quá trình tư vấn, điều trị của trung tâm.
Đặc điểm về mặt xã hội: Đó là các mối quan hệ xã hội, các chương trình hỗ trợ, sự
quan tâm của địa phương, các đoàn thể Bên cạnh đó họ bị thu hẹp các mối quan hệ xã hội
do thời gian dài sử dụng ma túy, họ luôn thu hẹp mình, ẩn mình để dấu diếm việc sử dụng
ma túy và né tránh sự quan tâm của người khác trong cộng đồng Đồng thời, họ luôn chịu
sự kỳ thị của cộng đồng đặc biệt là làng xóm và ngay cả người thân, gia đình họ
1.2.4.2 Yếu tố về môi trường gia đình
Đối với người cai nghiện ma túy yếu tố gia đình có tác động quan trọng, sự ảnhhưởng của môi trường gia đình đến hoạt động quản lý trường hợp đối với người cainghiện ma túy tại trung tâm thể hiện ở những vấn đề sau: Gia đình có quan tâm đến ngườithân trong quá trình cai nghiện ma túy hay không; Gia đình có phối hợp chặt chẽ vớiChính quyền cơ sở, với Trung tâm cai nghiện không; Kinh tế gia đình khá giả hay khónhăn; Gia đình đông người hay neo người, gia đình có người thân nghiện ma túy hayphạm các tội liên quan đến ma túy hay không, những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến quá trình can thiệp, trợ giúp người cai nghiện ma túy tại trung tâm Do vậy, nhân viênQLTH cần xem xét can thiệp tác động yếu tố này trong quá trình trợ giúp người cainghiện
1.2.4.3 Yếu tố về cơ chế, chính sách
Người nghiện ma túy khai báo tình trạng nghiện và được đăng ký hình thức cai nghiệnphù hợp, được hỗ trợ một phần chi phí cai nghiện từ nguồn ngân sách của từng địa phương, cơchế, chính sách ở đây còn thể hiện ở việc quy định chế độ, chính sách hỗ trợ, bồi dưỡng chocán bộ tham gia công tác cai nghiện tại Trung tâm và tại cộng đồng, thúc đẩy việc tận tâm, yêunghề của đội ngũ cán bộ tham gia công tác này
Bên cạnh yếu tố về cơ chế tài chính hỗ trợ cho người tham gia cai nghiện; cơ chế thuhút cán bộ làm việc trong lĩnh vực cai nghiện, đầu tư về cơ sở vật chất cho cơ sở cai nghiện, hỗtrợ vốn, giảm thuế, miễn thuế cho các doanh nghiệp, tổ chức tham gia cai nghiện thì việc banhành các quy định, hướng dẫn cụ thể về nghề công tác xã hội đối với người nghiện ma túy nóichung và quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy nói riêng cũng là một yếu tố ảnh
Trang 29hưởng quan trọng trong thực hiện tiến trình trợ giúp người nghiện ma túy hiện nay tại ViệtNam.
Nếu chúng ta chưa hoàn thiện được các quy định này thì cơ chế, chính sách chongười cai nghiện ma túy chỉ nghiêng nhiều về hỗ trợ cơ sở vật chất mà chưa đáp ứng đượchết nhu cầu cần thiết của người nghiện ma túy được trợ giúp theo nghề công tác xã hội vàcũng là đòi hỏi của thực tiễn xã hội hiện nay
1.2.4.4 Yếu tố về cán bộ quản lý trường hợp
Cán bộ QLTH đóng vai trò rất quan trọng trong việc trợ giúp người cai nghiện ma túy,bên cạnh việc am hiểu chuyên môn về các can thiệp trực tiếp, chuyên sâu thì cán bộ QLTH còncần làm tốt vai trò kết nối, giám sát và điều phối các dịch vụ dành cho thân chủ, cụ thể:
- Kiến thức và trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý tường hợp có ảnh hưởng quantrọng và trực tiếp đến trợ giúp NCNMT, cán bộ QLTH nếu không đáp ứng được yêu cầu vềtrình độ chuyên môn, kiến thức rộng đa lĩnh vực như y tế, xã hội, kinh tế, pháp lý, thì khó cóthể chia sẻ thông tin, kết nối các dịch vụ cho thân chủ một cách phù hợp và đúng nhu cầu củathân chủ
- Về kỹ năng nghề nghiệp như: Kỹ năng thiết lập mối quan hệ với thân chủ, kỹ nănglắng nghe tích cực, kỹ năng thấu cảm nếu không tốt thì cán bộ QLTH sẽ rất khó tiếp cận vàđánh giá được thân chủ và sự điều chỉnh phù hợp trong việc tiếp cận các dịch vụ của thân chủ
- Phẩm chất đạo đức, thái độ của cán bộ QLTH cũng gây ảnh hưởng lớn đến NCNMT.Người nghiện ma túy là người có hoàn cảnh đặc biệt, bản thân họ và gia đình luôn gặp nhữngvấn đề khó khăn trong xã hội, đối với công việc trợ giúp NCNMT nếu cán bộ không có đủphẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tỏ thái độ không đúng mực thì sẽ làm mất lòng tin của thânchủ
Bên cạnh đó, cán bộ QLTH còn gặp phải nhiều khó khăn trở ngại khi tiếp xúc với ngườicai nghiện ma túy, tâm sinh lý rất đặc biệt, một số bất hợp tác, chống đối, thậm chí tiêu cực nếukhông đủ ý chí và vững tinh thần, phân tâm, lo lắng sẽ rất khó khăn khi trợ giúp NCNMT
Hà Thị Thư (2008) có bài viết “Các kỹ năng cơ bản trong hoạt động nghề nghiệp củacán bộ xã hội”, thông qua bài viết đã trình bày các kỹ năng cần có đối với cán bộ xã hội như kỹnăng lắng nghe, quan sát, giao tiếp, tham vấn, kỹ năng ghi chép” [ 21,tr.46-49]
Trang 301.2.4.5 Yếu tố về nhận thức của lãnh đạo về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy
Nhận thức của các nhà lãnh đạo nói chung, lãnh đạo trung tâm nói riêng về Công tác xãhội, nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy là một yếu tố quan trọng,thể hiện trong việc đánh giá về vai trò của công tác xã hội, quản lý trường hợp đối với người cainghiện ma túy, từ đó có quyết liệt trong chỉ đạo, quản lý đội ngũ cán bộ, nhân viên tích cựcbám sát nội dung của nghề Công tác xã hội, chỉ đạo điều hành mạng lưới cung cấp các dịch vụ,vận động nguồn lực trong quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tại trung tâm
Hiện nay, Chính phủ, một số Bộ, ngành và địa phương đã có thay đổi cơ bản về quanđiểm điều trị nghiện ma túy, trong Đề án đổi mới công tác cai nghiện của Chính phủ đã xácđịnh lấy người nghiện làm trung tâm và cai nghiện ma túy là một quá trình lâu dài, bao gồmtổng thể các can thiệp hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội và pháp luật làm thay đổi nhận thức, hành
vi, giảm tác hại của nghiện ma túy và tình trạng sử dụng ma túy trái phép Vấn đề trên đặt ra sựthay đổi về tư duy cơ bản của ngay các nhà quản lý, tiếp cận theo nghề công tác xã hội là mộtđòi hỏi quan trọng và cấp bách để trợ giúp người cai nghiện theo đúng thực tiễn khoa học vàthực tiễn nhu cầu xã hội Trong đó hoạt động quản lý trường hợp là một quy trình can thiệpkhép kín dành cho từng bệnh nhân, từng người cai nghiện khác nhau, đòi hỏi sự nhận thức kịpthời và đầy đủ của đội ngũ lãnh đạo, điều hành trong công tác cai nghiện – phục hồi cho ngườinghiện ma túy
1.3 Một số lý thuyết ứng dụng trong quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy
1.3.1 Thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow (1908-1970) đã xây dựng học thuyết pháttriển về nhu cầu con người vào năm 1943 Nhu cầu của con người được minh họa như hìnhkim tự tháp xếp thứ tự bậc thang
Theo Maslow, nhu cầu con người được hình thành và phát triển từ thấp lên cao theo hệthống Nhu cầu bậc thấp được xếp phía dưới và tăng dần lên cao Nhu cầu đầu tiên của mỗingười ở tầng thấp nhất là nhu cầu cơ bản (nhu cầu về thể chất) đây là nhu cầu quan trọng, nếunhu cầu tồn tại – đảm bảo sự sống này không được đảm ứng thì con người sẽ gặp khó khăn khi
Trang 315 khẳng Tự đinh
Maslow – thuyết nhu cầu cho ta hiểu đúng và đáp ứng đúng nhu cầu của người cai nghiện
ma túy Họ là đối tượng đặc biệt song họ cũng là con người bình thường, họ có đầy đủ nhucầu này, ngoài ra họ rất cần nhu cầu vật chất và tâm lý đặc thù khác trong đối tượng của ngànhcông tác xã hội Người nghiện ma túy nói chung, người cai nghiện ma túy nói riêng trong quátrình sử dụng và nghiện ma túy họ dần mất đi hoặc bị hạn chế việc đáp ứng những nhu cầu cơbản Rất nhiều người đi cai nghiện trong hoàn cảnh không nơi cư trú ổn định, đói ăn, không đủsức khỏe, việc đầu tiên là họ muốn được ăn no, nước uống sạch, được ngủ yên và tắm rửa, nghỉngơi Khi đáp ứng được nhu cầu này ở họ thì họ mới đủ khả năng để tiếp xúc, tham gia hoạtđộng điều trị khác như cắt cơn giải độc, tư vấn trị liệu tâm lý, phục hồi các chức năng xã hội,tiếp theo là nảy sinh và đòi hỏi nhu cầu về an toàn, nhu cầu được yêu thương, nhu cầu đượcquý trọng và nhu cầu được khẳng định Dựa vào thuyết nhu cầu của Maslow giúp tác giả tiếpcận đi sâu vào đánh giá được nhu cầu của người cai nghiện ma túy trong tiến trình trình nghiêncứu quản lý trường hợp đối với người đang cai nghiện ma túy tại trung tâm
Trang 32Việc áp dụng thuyết nhu cầu của Abraham Maslow giúp cán bộ quản lý trường phối hợpvới bản thân người cai nghiện và gia đình người cai nghiện tìm kiếm, điều phối các nguồn lực,các dịch vụ nhằm hỗ trợ người cai nghiện giải quyết từng vấn đề, từng nhu cầu, mục tiêu cuốicùng là ngừng hoặc giảm hại từ việc sử dụng ma túy, trở về cộng đồng tham gia các hoạt độngđúng với chức năng, vai trò của người công dân tốt, có ích cho cộng đồng, xã hội
1.3.2 Thuyết Hệ thống
Nhà sinh vật học người Áo Ludwig Von Bertalanffy (1901 – 1972) đã đưa ra thuyết hệthống vào năm 1950 (chính thức viết thuyết hệ thống vào năm 1949), xuất bản thuyết hệ thốngtổng thể vào năm 1968
Thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được vận dụng trong công tác
xã hội, khi thực hiện tiến trình giúp đỡ cá nhân không thể thiếu được thuyết hệ thống Nhânviên công tác xã hội cần chỉ ra thân chủ của mình đang thiếu và cần đến những hệ thống trợgiúp nào và tìm cách giúp đỡ để họ có thể tiếp cận và tham gia các hệ thống, đồng thời tác giảcủa thuyết hệ thống nhấn mạnh những hệ thống thực tế là mở và có quan hệ tương tác lẫn nhau
và chúng có thể thêm những thuộc tính định tính mới, biểu hiện mới và kết quả của sự tiến hóaliên tục
Bản chất của thuyết hệ thống mà tác giả được biết đó là: Bồi đắp những mặt hạn chếcủa tâm động học trong việc nhìn nhận và giải quyết các vấn đề xã hội, hướng đến cái tổng thể,định hướng tính hòa nhập trong công tác xã hội
Thông qua việc nghiên cứu thuyết hệ thống, nhân viên quản lý trường hợp sẽ giúp cácthân chủ sử dụng và tăng cường khả năng của bản thân vào giải quyết các vấn đề; xây dựng cácmối quan hệ giữa các cá nhân và các hệ thống nguồn lực; giúp hoặc bổ trợ thêm những tácđộng giữa cá nhân và hệ thống nguồn lực Cải thiện tương tác giữa các cá nhân trong các hệthống nguồn lực; giúp đỡ, phát triển và thay đổi chính sách đồng thời thực hiện tác nhân củakiểm soát xã hội
Đối với người cai nghiện ma túy tại trung tâm họ cũng chịu sự tác động giữa cá nhânvới cá nhân khác trong trung tâm, với các thiết chế ở cơ sở, đội ngũ cán bộ và cộng đồng xã hộiđặc biệt khi trở về gia đình, cộng đồng thì sự tác động này càng mở rộng và rõ nét, ngược lạibản thân người cai nghiện cũng sẽ chi phối đến sự tồn tại và hoạt động của các nguồn lực, cácdịch vụ trong trung tâm hay ngoài cộng đồng xã hội Để hiểu được người cai nghiện, nhân viên
Trang 33quản lý trường hợp phải hiểu được yếu tố môi trường quanh họ và nếu tác động can thiệp đến
họ thì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống, cán bộ quản lý trường hợp cần xem xét việc điềuphối nguồn lực cũng như biện hộ trong quá trình trợ giúp người cai nghiện ma túy
1.3.3 Thuyết Hệ thống sinh thái
Hệ thống sinh thái gồm hai ý tưởng: Môi trường sinh thái của cá nhân là khi cá nhân
đó đang cố gắng để thích nghi với môi trường xung quanh; hệ thống khi nhìn vào mốitương quan của những bộ phận khác nhau, phối hợp hai chữ này thành hệ thống sinh thái(Ecology systems) Cá nhân gắn chặt với gia đình, gia đình với cộng đồng, có những cánhân rất mạnh có thể lay chuyển cả một hệ thống lớn Hành vi con người rất phức tạp,không có một yếu tố nào duy nhất giải thích về hành vi con người Chúng ta phải cố gắngkết hợp các lý thuyết về cá nhân, gia đình, nhóm, xã hội và lý thuyết về thế giới để hiểu vềcon người trong hệ thống sinh thái Gia đình có ranh giới, mỗi cá nhân cũng có ranh giới,bất cứ hệ thống nào cũng có ranh giới, chúng ta nghĩ đến sự tương tác trong hệ thống để hiểucon người Để hiểu một học viên cai nghiện nào đó, chúng ta phải hiểu thế giới rộng hơn, phảihiểu gia đình người đó, nhóm bạn cùng làm việc, cộng đồng mà học viên đó đang tương tác
Hệ thống sinh thái của mỗi cá nhân đều độc đáo Chúng ta suy nghĩ bằng hình ảnh hơn là trừutượng, cách nhìn này sẽ mở rộng tầm nhìn của người nghiên cứu Trong một hệ thống, ngườinghiên cứu cần quan tâm đến tổng thể nhiều hơn sự cộng lại của các bộ phận Mọi hệ thống cónhiều bộ phận, gia đình là thành phần của cộng đồng Có 4 thành tố đối với mọi hệ thống:Hành vi; Cấu trúc; Văn hóa; Diễn biến của hệ thống Nếu không có năng lượng mới, hệ thống
sẽ chết dần, mọi hệ thống đều phải mở ra để tiếp nhận năng lượng mới Mọi hệ thống đều thayđổi nhưng không thay đổi quá nhanh, luôn luôn có những lực lượng bên trong một hệ thống ,luôn có sự sống và năng lượng, những năng lượng này đẩy và kéo nhau
Thông qua thuyết hệ thống sinh thái giúp chúng ta hiểu và tiếp cận người cai nghiện matúy theo nhiều cách để có thể hiểu được hoàn cảnh, vấn đề và nhu cầu của họ, đồng thời đây là
lý thuyết quan trọng khi ta nghiên cứu về yếu tố môi trường xã hội có ảnh hưởng đến người cainghiện ma túy và thực hiện xã hội hóa trong hoạt động quản lý trường hợp đối với người cainghiện ma túy Bởi bất kỳ một hệ thống nào cũng phải có những phương tiện để kiểm tra quản
lý, một trong những phương pháp mà chúng ta thể hiện sự quản lý đó là xã hội hóa Xã hội hóa
Trang 34là cả một tiến trình nhằm nâng cao hiệu quả QLTH đối với người cai nghiện tại trung tâm, đòihỏi sự tham gia từ nhiều bên liên quan.
1.4 Cơ sở pháp lý của quản lý trường hợp đối với đối với người cai nghiện ma túy
- Luật phòng chống ma túy: Ngày 19/12/2000 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam, Khóa X đã chính thức ban hành Luật phòng chống ma túy (Số23/2000/QH10), được sửa đổi bổ sung năm 2008 đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp vềcai nghiện ma túy Đây là một văn bản pháp lý quan trọng về điều chỉnh vấn đề cai nghiện chongười nghiện ma túy Điều 25 văn bản luật sửa đổi quy định rõ: “Áp dụng chế độ cai nghiệnđối với người nghiện, khuyến khích người nghiện ma túy tự nguyện cai nghiện; tổ chức các cơ
sở cai nghiện ma túy bắt buộc; khuyến khích cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức thực hiện việccai nghiện tự nguyện cho người nghiện ma túy, hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma túy, quản lý saucai nghiện và phòng, chống tái nghiện ma túy; nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng thuốc vàphương pháp cai nghiện ma túy” Văn bản quan trọng này đã quy định cụ thể chính sách củaNhà nước về cai nghiện ma túy, trong đó có cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túybắt buộc và hỗ trợ kinh phí cai nghiện, quản lý sau cai nghiện và phòng chống tái nghiện matúy; quy định trách nhiệm của người nghiện ma túy, gia đình người nghiện ma túy và tráchnhiệm cụ thể của các Bộ, ban, ngành địa phương Căn cứ văn bản luật này, nhân viên quản lýtrường hợp thấy rõ được quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên trong việc tổ chức cainghiện ma túy nói chung và việc hỗ trợ, cung cấp dịch vụ, nguồn lực trong quản lý trường hợpđối với người cai nghiện ma túy tại trung tâm nói riêng
- Luật xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 20/6/2012 – kỳ họp Quốc hội Khóa 13 (Số 15/2012/QH13 – Luật xử lý viphạm hành chính) Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hành vi sử dụng ma túy trái phépkhông phải là tội phạm, mà là hành vi vi phạm pháp luật về mặt hành chính và được xử lý theoquy định của pháp luật hành chính Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối vớingười nghiện ma túy được tiến hành bằng các thủ tục hành chính được quy định trong luật xử
lý vi phạm hành chính Trong luật xử lý vi phạm hành chính đã cụ thể việc lập hồ sơ đối vớingười phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều 103) và xem xét, quyết định, đề nghịchuyển tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Sựdân chủ, công khai, khách quan, chặt chẽ nhằm đảm bảo điều chỉnh đúng người, đúng hành vi
Trang 35vi phạm, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp đối với người cần đưa vào diện cai nghiện bắtbuộc.
Căn cứ vào hai văn bản luật nêu trên Chính phủ và các Bộ, Ngành đã ban hành cácNghị định, Thông tư điều chỉnh cụ thể về hoạt động cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện
ma túy bắt buộc, quản lý sau cai nghiện ma túy, một số văn bản như:
- Nghị quyết 98/NQ-CP ngày 26/12/2014 của Chính phủ về tăng cường chỉ đạomcông tácphòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy trong tình hình mới;
- Nghị định số 221/2013/ NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ ápdụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vao cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Nghị định 136/2016/ NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, quy định sủa đổi bổ sungmột số điều của Nghị định số 221/2013/ NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế
độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vao cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Nghị định 111/2013/ NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụngbiện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
- Nghị định 56/2016/ NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một sốđiều của Nghị định 111/2013/ NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụngbiện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
- Quyết định số 2596/ QĐ- TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
“Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020”;
- Quyết định số 1640/ QĐ- TTg ngày 18/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phêduyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở cai nghiện ma túy đến năm 2020 và định hướng đến năm2030;
- Quyết định 2330/ QĐ -UBND ngày 22/5/2015 của UBND Thành phố Hà Nội về việcphê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở xã hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội dến năm 2020,định hướng đến năm 2030
- Quyết định 2946/QĐ-UBND ngày 29/6/2012 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội,Quyết định phê duyệt đề án “Tổ chức, sắp xếp các Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội vàTrung tâm quản lý sau cai nghiện ma túy của Thành phố Hà Nội đến năm 2015, định hướngđến năm 2020”
Trang 36- Quyết định 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ, quyết địnhphê duyệt “Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020” Đây là một văn bảnpháp lý quan trọng, khẳng định và điều chỉnh rõ nét về phát triển nghề công tác xã hội tại ViệtNam, với mục tiêu cụ thể là: “Phát triển nghề công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam;nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viênchức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắnvới phát triển hệ thống cơ sở, cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng
hệ thống an sinh xã hội tiên tiến”
Kết luận chương 1
Chương 1 tác giả đề tài “Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thựctiễn Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động xã hội số V, Thành phố Hà Nội” trình bàynhững vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy
Thông qua nội dung trình bày, tác giả đã đưa ra các khái niệm ma túy, nghiện ma túy vàcai nghiện ma túy, những vấn đề xoay quanh người nghiện ma túy tại Việt nam, tiếp đó tác giả
đã trình bày nội dung ngành công tác xã hội, tập trung đi sâu về quản lý trường hợp và quản lýtrường hợp đối với người nghiện ma túy, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệm vụ Quản
lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy, cơ sở pháp lý và đặc biệt là đề cập sâu đến hệthống lý thuyết áp dụng khi tiếp cận nghiên cứu về quản lý trường hợp đối với người nghiện
ma túy Thông qua phân tích ý nghĩa và nội dung cơ bản của Thuyết Nhu cầu, Thuyết Hệ thống
và Thuyết Hệ thống sinh thái cho ta thấy sự phù hợp và cần thiết để nghiên cứu về QLTH
Thông qua những nội dung trình bày tại chương 1 tác giả muốn nêu lên toàn bộ nềntảng khoa học và căn cứ thực tiễn, tính logic, nền tảng quan trọng để có căn cứ giải quyết nộidung chính của luận văn đó là phân tích thực trạng nhiệm vụ và những yếu tố tác động đếnQuản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Laođộng Xã hội số V, Thành phố Hà Nội, tác giả ứng dụng vào thực tế tiến trình QLTH can thiệptrợ giúp người cai nghiện ma túy tại Trung tâm, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệuquả công tác cai nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số V cũngnhư góp phần làm rõ hơn việc ứng dụng Quản lý trường hợp đối với Người cai nghiện ma túytại Trung tâm trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA
TÚY TẠI TRUNG TÂM CHỮA BÊNH - GIÁO DỤC LAO ĐỘNG
XÃ HỘI SỐ V, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Khái quát đặc điểm Trung tâm
* Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm
Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số V Hà Nội được thành lập ngày
9 tháng 5 năm 2007 theo Quyết định số 1794/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân Thànhphố Hà Nội, đi vào hoạt động từ năm 2007 đến nay Trung tâm có địa chỉ tại: PhườngXuân Phương, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
Quy mô thiết kế: tổng diện tích: 3,5 ha Khả năng tiếp nhận: 300 học viên
- Chức năng của Trung tâm:
Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động Xã hội số V (gọi tắt là Trung tâm) làđơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách Nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động, có
tư cách pháp nhân, có tài khoản và trụ sở riêng
Thực hiện Quyết định 2596/QĐ-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2013 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt “Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm2020”; ngày 24 tháng 11 năm 2014 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã ký Quyếtđịnh số 6162/QĐ-UBND Quyết định phê duyệt Đề án “Thí điểm chuyển đổi chức năng,nhiệm vụ điều trị nghiện ma túy tự nguyện của Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động
Xã hội số V Hà Nội”
Trung tâm có chức năng: Là nơi tập trung chữa trị, tổ chức giáo dục, dạy nghề vàlao động sản xuất cho đối tượng nghiện ma túy, bị nhiễm HIV/AIDS; điều trị ngườinghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone
- Nhiệm vụ của trung tâm :
+ Tiếp nhận, phân loại, tổ chức chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, chăm sóc, quản lý,
tư vấn cho các đối tượng nghiện hút, bị nhiễm HIV/AIDS theo quy trình, quy định;
+ Tổ chức, cung cấp dịch vụ tư vấn, khám và điều trị người nghiện chất dạng thuốcphiện bằng thuốc thay thế Methadone;
Trang 38+ Tổ chức cho các đối tượng lao động trị liệu, lao động sản xuất hướng nghiệp; liênkết với các cơ sở dạy nghề ở địa phương tổ chức dạy nghề phù hợp với điều kiện của Trungtâm và trình độ của từng đối tượng; thực hiện các dự án về việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cácchương trình kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho các đối tượng hòa nhập cộng đồng;
+ Tổ chức giáo dục pháp luật, đạo đức rèn luyện thể chất, phục hồi hành vi nhân cách;thể dục thể thao, học văn hóa cho các đối tượng; hướng dẫn, tư vấn cho đối tượng, gia đình
về cai nghiện, chữa trị, giáo dục, quản lý;
+ Tổ chức quản lý, bảo vệ, giữ gìn trật tự an toàn xã hội tại Trung tâm; quản lý và sửdụng có hiệu quả, đúng pháp luật các nguồn kinh phí, tài sản, trang thiết bị cho đơn vị;
+ Tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ chuyên mônnâng cao năng lực cho cán bộ, viên chức và nhân viên nghiệp vụ của Trung tâm
Trung tâm có cơ sở vật chất khá đồng bộ và khép kín với 5 khu vực liền kề bao gồm:
- Khu nhà hành chính điều hành: với dãy nhà 2 tầng là nơi ban giám đốc làm việc, tiếpđón khách đến liên hệ công tác
- Khu y tế 3 tầng: với diện tích 998.4 m2, số phòng điều trị cắt cơn: 10 phòng, diệntích: 21.6m2/phòng; thực hiện công tác cắt cơn điều trị, chăm sóc sức khỏe cho người bệnh và
là điểm uống Methadone
Trang 39- Khu nhà đa năng: bố trí làm khu bếp ăn của học viên tại tầng 1, còn tầng 2, tầng 3được bố trí làm khu tư vấn, hội trường, phòng tập thể thao có đầy đủ máy móc hiện đại đểphục vụ quá trình trị liệu nâng cao sức khỏe cho học viên.
- Khu nhà xưởng học nghề, sản xuất 2 tầng để tổ chức tư vấn, dạy nghề và học nghềphù hợp cho từng đối tượng học viên; khu này có bố trí thêm 01 phòng làm căng tin học viên
- Khu nhà công vụ: được sửa chữa làm khu nhà khách phục vụ gia đình học viên ở lạiqua đêm
- Khu nhà ở cho học viên: với 2 dãy nhà 3 tầng có diện tích 842.4 m2, số phòng ở là 12phòng được bố trí tại 02 đội đảm bảo khang trang, sạch sẽ, thoáng mát, có sân chơi, phòngsinh hoạt chung cho học viên
Hệ thống điện, nước, chiếu sáng được đảm bảo 24/24 giờ các ngày trong tuần Tổnggiá trị nhà ở, nhà làm việc, thiết bị của trung tâm thời điểm nghiên cứu đề tài ước tính với giátrị 120,600 triệu đồng Trung tâm rất gần khu vực nội đô Thành phố Hà Nội, giao thông đi lạithuận lợi và nằm trong khu vực đô thị hóa, mức sống và trình độ dân trí khu vực được đánhgiá cao
2.1.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu
2.1.2.1 Về nhân viên quản lý trường hợp
* Về giới tính
Biểu đồ 2.1 Đặc điểm về giới tính của cán bộ quản lý trường hợp
(Nguồn: Điều tra bảng hỏi)
Trang 40Kết quả khảo sát qua biểu đồ trên cho thấy sự chênh lệch giới tính rất lớn (87,5% lànam giới), điều này xét thấy cũng mang tính đặc thù bởi 100% người cai nghiện tại Trung tâmđều là nam giới Với đặc điểm của người nghiện ma túy, đặc biệt là nhiều nam giới thì việc tiếpcận, trợ giúp, thời gian, đi lại, chia sẻ,… đòi hỏi sức khỏe, hoàn cảnh, tâm lý phải phù hợp vànhư vậy tỷ lệ nam nhân viên quản lý trường hợp tại Trung tâm là thuận lợi.
* Về độ tuổi
Biểu đồ 2.2 Độ tuổi của cán bộ quản lý trường hợp
(Nguồn: điều tra bảng hỏi)
Kết quả khảo sát cán bộ quản lý trường hợp đang làm việc tại Trung tâm độ tuổidưới 35 tuổi rất cao (84,35%) Đây là lợi thế và rất phù hợp với đặc thù công việc Số cán
bộ này có sức khỏe tốt, luôn hăng hái, nhiệt tình, sôi nổi và tích cực trong mọi hoạt động.Với đặc điểm và độ tuổi của người cai nghiện tại Trung tâm hiện nay thì đội ngũ cán bộnày là rất phù hợp trong việc tiếp cận, trợ giúp Bên cạnh đó 9,4% số trên 35 tuổi và6,25% số trên 50 tuổi cũng là những cán bộ rất dày dạn kinh nghiệm, có nhiều mối quan
hệ, kết nối dịch vụ, uy tín công tác để hỗ trợ thực hiện kế hoạch trợ giúp cho người cainghiện
* Về trình độ học vấn và chuyên môn