Vì vậy, cùng với những chính sách của Trungương, trong những năm qua, Thành ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Namthành phố, các cấp, các ngành đã có nhiều chính sách riêng nhằm trợ giúp choNCC
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ QUỲNH LINH
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ QUỲNH LINH
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS PHẠM HỮU NGHỊ
Trang 3HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, bản
thân tôi cũng gặp một số khó khăn nhất định về thời gian, xử lý số liệu mẫu
thống kê, kỹ thuật phân tích số liệu, đi lại, Tuy nhiên, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, cũng như sự khuyến khích và tạo điều kiện thuận
lợi của thầy cô, gia đình và bạn bè trong suốt quá trình nghiên cứu Với tấm
lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Bộ Lao động
-Thương binh và Xã hội, Cục Bảo trợ xã hội, Học viện Khoa học xã hội, Học
viện Xã hội châu Á, Cơ sở Học viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí
Minh; quý thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kỹ năng
trong suốt thời gian học; các nhà khoa học đang công tác tại Học viện Khoa
học xã hội Việt Nam, Học viện Xã hội châu Á đã tạo điều kiện về thời gian
cũng như hỗ trợ các tài liệu học tập cho tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu; đặc biệt là PGS.TS Phạm Hữu Nghị đã hướng dẫn nghiên cứu đề tài
luận văn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Chân thành cảm ơn lãnh đạo, viên chức, người lao động Trung tâm
Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, các bác, các cô, các chú là
những người có công với cách mạng được chăm sóc, phụng dưỡng tại Trung
tâm Phụng dưỡng người có công với cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
đã hợp tác, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót,
tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô
giáo, các nhà khoa học để luận văn của tôi được hoàn chỉnh
Đà Nẵng, tháng 9 năm 2016
Tác giả
Trang 4Lý Quỳnh Linh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Công tác xã hội về “Dịch vụ Công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công với cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng” là hoàn toàn trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Lý Quỳnh Linh
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Giới thiệu về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy Trung tâm Phụngdưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố ĐàNẵng
Trang 62 2 Thực trạng và nhu cầu của người có công với cách mạng tại Trung tâmPhụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố ĐàNẵng 2.3 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạngtại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố ĐàNẵng 2.4 Đánh giá dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng tạiTrung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố ĐàNẵng
Chương 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO THỰC HIỆN DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1 Các định hướng đảm bảo thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người
có công với cách mạng 3.2 Các giải pháp đảm bảo thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người cócông với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công cáchmạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8Bảng 2.1: Phân loại theo trình độ chuyên môn của công chức, viên chức vàlao động
Bảng 2.2: Phân loại giới tính người có công với cách mạng
Bảng 2.3: Phân loại theo độ tuổi người có công với cách mạng
Bảng 2.4: Phân loại về sức khỏe người có công với cách mang
Bảng 2.5: Phân loại về bệnh tật người có công với cách mạng
Bảng 2.6: Số lượng người có công với cách mạng hưởng trợ cấp
Bảng 2.7: Mức độ hài lòng về cuộc sống
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trang 9Dân tộc Việt Nam đã trải qua những năm tháng chiến tranh tàn khốc và
ác liệt Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân
dân Việt Nam đã vùng lên chiến đấu theo chân lý: “Không có gì quý hơn độc
lập tự do”, với tinh thần: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Thà hy sinh tất
cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, rất nhiều người con yêu
nước, nhiều cá nhân và gia đình đã hiến dâng cả tính mạng, xương máu, sứclực, trí tuệ và tuổi trẻ của mình cho đất nước, để khi họ trở về với cuộc sốngđời thường lại mang trên mình những thương tật, bệnh tật, di chứng của chiếntranh Chính vì thế mà Tổ quốc và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn to lớncủa những người con anh dũng ấy Và việc quan tâm chăm lo đời sống vậtchất, tinh thần cho những người có công với đất nước và gia đình họ vừa thể
hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của
dân tộc ta vừa là trách nhiệm của Đảng, của Nhà nước và cả xã hội Bởi vậy,ngay sau khi giành được chính quyền, từ những ngày đầu của cuộc khángchiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SLngày 16/02/1947 về “Ưu đãi người có công” để đền đáp những công lao, cốnghiến của họ
Theo thống kê, cả nước hiện có trên 8,8 triệu NCCVCM, chiếm gần 10%dân số, trong đó có 1.146.250 LS, 49.609 MVNAH, 781.021 TB và ngườihưởng chính sách như thương binh, 185.000 BB, 1.253 Anh hùng Lực lượng
Vũ trang, Anh hùng Lao động trong kháng chiến, 101.138 người có công giúp
đỡ cách mạng, trên 1,47 triệu đối tượng người có công đang hưởng trợ cấp ưuđãi hằng tháng của Nhà nước
Cũng giống như nhiều NCCVCM ở các địa phương khác trên cả nước,sau những năm tháng tham gia chiến đấu, công tác ở những nơi gian khổ trở
về với cuộc sống đời thường, NCCVCM ở thành phố Đà Nẵng gặp rất nhiềukhó khăn do tuổi cao, sức khỏe bị suy giảm, bị thương tật, bệnh tật, không có
Trang 10nguồn vốn để đầu tư, trình độ tay nghề thấp hoặc không có; nhiều ngườikhông lập được gia đình, nhiều gia đình có con bị dị tật do cha, mẹ bị ảnhhưởng chất độc hóa học Vì vậy, cùng với những chính sách của Trungương, trong những năm qua, Thành ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Namthành phố, các cấp, các ngành đã có nhiều chính sách riêng nhằm trợ giúp choNCCVCM vừa thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đápnghĩa” tốt đẹp của dân tộc, vừa để trợ giúp NCCVCM vượt qua khó khăn,vươn lên ổn định cuộc sống; cộng đồng các doanh nghiệp và người dân cũng
có nhiều hoạt động tri ân, chia sẻ với NCCVCM như nhận chăm sóc Bà MẹVNAH, hỗ trợ xây nhà tình nghĩa, tạo việc làm cho NCC và thân nhân củahọ Đà Nẵng được xem là địa phương đi đầu trong thực hiện các chính sáchđối với NCCVCM Hiện nay, thành phố có gần 22.000 lượt đối tượng đanghưởng trợ cấp thường xuyên, kinh phí chi trả hằng năm hơn 340 tỷ đồng; trên
100 ngàn lượt đối tượng được xác nhận theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãingười có công với cách mạng, trong đó có gần 17.000 liệt sĩ với hơn 27.000thân nhân, 12.389 TB, BB, 1.114 cán bộ tham gia hoạt động cách mạng trướctháng Tám năm 1945, 18.906 người hoạt động kháng chiến được tặng thưởngHuân, Huy chương kháng chiến hưởng trợ cấp 1 lần, 8.516 người có cônggiúp đỡ cách mạng được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến, 6.048người tham gia kháng chiến bị địch bắt tù, đày, 2.912 người tham gia khángchiến và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH, 9.650 con liệt sĩ, TB, BB đượchưởng chính sách ưu đãi giáo dục - đào tạo, có 3.116 Mẹ được tuyên dươngdanh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ VNAH, trong đó có 240 Mẹ còn sống, có56/56 xã, phường đã được công nhận là xã, phường làm tốt công tác TBLS vàngười có công theo 6 tiêu chuẩn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,100% GĐCS có mức sống cao hơn mức sống trung bình khu dân cư nơi cư
Trang 11trú Trong 2 năm (2015-2016), thành phố xây mới 549 nhà tình nghĩa (kinhphí 32,940 tỷ đồng), sửa chữa 2.007 nhà (kinh phí 41,767 tỷ đồng)
Tuy nhiên, những thành công ấy được xét dưới góc độ chính trị - xã hội,còn dưới góc độ CTXH thì dường như chưa được coi trọng và quan tâm đúngmức; chưa huy động được các nhà khoa học, các nhà chuyên môn trong lĩnhvực CTXH để tham gia xây dựng chính sách; các hoạt động, phong trào cònmang tính hình thức, thiếu chiều sâu, thiếu tính bền vững; nguồn lực đầu tư đểthực hiện CTXH và cung cấp DVCTXH còn hạn chế, trong đó có nguồn nhânlực; việc triển khai thực hiện chính sách còn chồng chéo, nhiều cơ quan quản
lý, thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp; việc phối hợp giải quyết vấn đề củamột số cơ quan và địa phương đôi khi thiếu chặt chẽ, chậm trể Vì vậy chưathật sự đáp ứng được mong mỏi, yêu cầu của NCCVCM
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Dịch vụ Công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người
có công với cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ
của mình Với đề tài này, tác giả muốn được đóng góp một phần sức lực củamình trong việc đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm cung ứng các loạihình dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH đối với NCCVCM
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
ANN MCDONALD (2010) trong cuốn sách “Social Work with olderpeople”, First published by polyty press, tác giả đã trình bày khung lý thuyết
có thể ứng dụng trong thực hành CTXH với người cao tuổi và một số cáchtiếp cận trong thực hành CTXH với người cao tuổi; những khó khăn, nhữngvấn đề phát sinh trong làm việc với người cao tuổi
2.2 Một số nghiên cứu trong nước
Trang 12Các nhà khoa học, nhà chuyên môn trong nước đã có nhiều nghiên cứu
về chính sách đối với NCCVCM Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả
đã tiếp cận, tham khảo một số công trình sau:
- Nguyễn Văn Thành (1994), Luận án Tiến sĩ kinh tế “Đổi mới chínhsách kinh tế - xã hội đối với người có công ở Việt Nam”
- Nguyễn Đình Liêu (1996), Luận án Phó Tiến sĩ khoa học luật học
“Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở Việt Nam - lýluận và thực tiễn”
- Hoàng Công Thái (2005), “Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối vớingười có công”, Tạp chí Quản lý nhà nước, (số 7), tr 28-31
- Nguyễn Thị Tuyết Mai (2009), Luận văn Thạc sĩ luật học “Hoàn thiệnpháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam”
- Đỗ Thị Dung (2010), “Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội và một số kiếnnghị”, Tạp chí Luật học (số 8), tr 10-17
- Vũ Thị Vân Anh (2015), Công tác xã hội với thương binh từ thực tiễn
xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩCông tác xã hội, học viện Khoa học xã hội
Nhìn chung, tác giả các bài viết, công trình nghiên cứu nói trên đã đề cậpđến nhiều góc độ khác nhau của văn bản pháp luật nói chung và việc triểnkhai thực hiện; tiếp cận ở khía cạnh ảnh hưởng và tác động của chính sách ansinh xã hội ảnh hưởng đến đời sống của NCCVCM dưới góc nhìn của ngườilàm chính sách chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu về các dịch vụ CTXH đối vớiNCCVCM
Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội, học viện Khoa học xã hội “Công tác
xã hội với thương binh từ thực tiễn xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, tỉnhĐắk Lắk” của tác giả Vũ Thị Vân Anh đã phân tích, đánh giá việc thực hiệnchính sách đối với TB và các hỗ trợ xã hội đối với TB tại một địa phương
Trang 13dưới góc nhìn của ngành CTXH Tác giả đã nghiên cứu, đánh giá sâu nhu cầucủa TB và đưa ra được giải pháp hỗ trợ mang tính bền vững cao phù hợp với
TB và điều kiện thực tiễn của địa phương Luận văn là tài liệu tham khảo tốtđối với tôi trong việc nghiên cứu thực hiện đề tài tốt nghiệp
Đối với thành phố Đà Nẵng, qua tìm hiểu, đến nay chưa có chương trìnhhay đề tài nào nghiên cứu về dịch vụ CTXH đối với NCCVCM trên địa bànthành phố để đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm định hướng trợ giúpcho NCCVCM Vì vậy, đề tài mà tác giả nghiên cứu hoàn toàn mang tínhmới, và mong muốn góp phần tìm ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quảcung cấp dịch vụ CTXH đối với NCCVCM
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn dịch vụ công tác xã hội đốivới NCCVCM (qua thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công cáchmạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng) Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng caohiệu quả DVCTXH đối với NCCCM
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung giải quyếtnhững nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với NCCVCM
- Đi sâu vào tìm hiểu, đánh giá thực trạng đời sống của NCCVCM; thựctrạng DVCTXH đối với NCCVCM cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệuquả cung cấp DVCTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người
có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
- Trên cơ sở phân tích đánh giá, tìm hiểu các thực trạng, các yếu tố ảnhhưởng để đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả DVCTXH đối với
Trang 14NCCCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công với cách mạng Đà Nẵng,thành phố Đà Nẵng.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- NCCVCM được chăm sóc, phụng dưỡng tại Trung tâm Phụng dưỡngngười có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
- Các loại hình dịch vụ CTXH đối với NCCVCM đang được thực hiệntại đây
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu 3 loạihình DVCTXH đối với NCCVCM, đó là: hỗ trợ chăm sóc sức khỏe; hỗ trợtâm lý; kết nối nguồn lực, hỗ trợ vật chất, tinh thần, vui chơi giải trí, nơi nghỉdưỡng, ăn ở, hoạt động hỗ trợ xã hội
- Phạm vi nghiên cứu về khách thể:
+ NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công với cách mạng
Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng;
+ Nhân viên CTXH trong hỗ trợ DVCTXH đối với NCCVCM
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Trung tâm Phụng dưỡng người cócông với cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thựctrạng về đời sống của NCCVCM, thực trạng của DVCTXH đối vớiNCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng,thành phố Đà Nẵng rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất
về biện pháp để nâng cao hiệu quả DVCTXH đối với NCCVCM tại Trungtâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
Trang 15- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những
lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quannhư dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với NCCVCM
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để:
- Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến CTXH như:Nhập môn CTXH, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết CTXH…
- Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp chính quyền địaphương, ngành như: "Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2016” của UBND thành phố ĐàNẵng; “Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cácmạng những năm vừa qua và nhiệm vụ giải pháp trong thời gian tới” của SởLao động - Thương binh và xã hội thành phố Đà Nẵng…
5.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp gián tiếp dựa trên bảng cáccâu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướngdẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏitrong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho điềutra viên
Tác giả đã tiến hành điều tra 30 NCCVCM được chăm sóc, phụng dưỡngtại Trung tâm Nội dung là đánh giá về các dịch vụ vật chất, chăm sóc sứckhỏe, vui chơi giải trí, hỗ trợ đời sống tinh thần của Trung tâm đối vớiNCCVC
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả sử dụng phương pháp này với mục đích tìm hiểu, thu thập thôngtin chuyên sâu từ NCCVCM và những người trợ giúp NCCVCM về khả năng,
Trang 16tính hiệu quả của các hoạt động trợ giúp NCCVCM; đồng thời kiểm chứng lạimức độ tin cậy của các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu qua điều tra,quan sát.
5.2.4 Phương pháp quan sát
Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổsung thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việcquan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát bốicảnh sống, thái độ, thể trạng, sự hài lòng, của NCCVCM làm cơ sở bổ sungcho các thông tin liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vựcNCCVCM, cung cấp DVCTXH cho NCCVCM
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu góp phần cung cấp thông tin cho ngành, địa phương, các tổchức xã hội; đề xuất phương án cũng như đưa ra những khuyến nghị để có cácchính sách trợ giúp gắn liền với nhu cầu của NCCVCM để họ có cuộc sốngtốt hơn
Là cơ sở để ngành, các cấp chính quyền, tổ chức xã hội tham khảo,nghiên cứu trong quá trình hoạch định, xây dựng chính sách hỗ trợ choNCCVCM có những chính sách phù hợp để hoàn thiện và nâng cao chất
Trang 17lượng dịch vụ CTXH đối với NCCVCM tại thành phố Đà Nẵng nói chung,Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng nói riêng.
Giúp cho nhà quản lý, NVCTXH thấy được tầm quan trọng của việccung cấp DVCTXH đối với NCCVCM tại cơ sở chăm sóc; DVCTXH của cơ
sở có đáp ứng được yêu cầu, sự mong muốn của NCCVCM hay chưa; sựtham gia của NCCVCM vào việc thực hiện DVCTXH
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối vớiNCCVCM
Chương 2: Thực trạng người có công với cách mạng và thực trạng dịch
vụ CTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cáchmạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Định hướng và các giải đảm bảo thực hiện dịch vụ công tác
xã hội đối với NCCVCM từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có côngcách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của người có công với cách mạng
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của người có công với cách mạng
Khái niệm người có công
Căn cứ các tiêu chuẩn đối với từng đối tượng là NCC mà Nhà nước đãquy định, trong một số công trình đã nêu khái niệm NCC theo 2 nghĩa sau:
- Theo nghĩa rộng: NCC là những người không phân biệt tôn giáo, tín
ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước Họ là người có những thành tích đóng góp hoặc có những cống hiến xuất sắc phục vụ vì lợi ích của đất nước, của dân tộc được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật Ở
đây có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản để được công nhận là NCC, đó là: cóthành tích đóng góp hoặc có những cống hiến xuất sắc phục vụ vì lợi ích củađất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theoquy định của pháp luật Những đóp góp, cống hiến ấy có thể là trong côngcuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc, thống nhất cho Tổ quốc; cũng có thểtrong hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước ngày nay [21, tr.18-19]
Theo nghĩa hẹp: “NCC là những người không phân biệt tôn giáo, tín
ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức
Trang 19có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật” Ở khái niệm này,
NCC bao gồm người tham gia cách mạng, người giúp đỡ cách mạng, họ đã hysinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng gópcho sự nghiệp cách mạng [21, tr.19]
Khái niệm người có công với cách mạng
Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 (sửa đổi năm2012) có quy định: Người có công với cách mạng, bao gồm:
a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngàykhởi nghĩa tháng 8 năm 1945;
c) Liệt sĩ;
d) Bà mẹ Việt Nam Anh hùng;
đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
g) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
h) Bệnh binh;
i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
k) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;l) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc vàlàm nghĩa vụ quốc tế;
m) Người có công giúp đỡ cách mạng” [34, tr.1]
Cụ thể:
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 (cònđược gọi là Cán bộ Lão thành cách mạng) là người được cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01năm 1945 [34, tr.3]
Trang 20- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngàykhởi nghĩa tháng 8 năm 1945 (còn gọi là Cán bộ Tiền khởi nghĩa) là ngườiđược cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quầnchúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945[34, tr.4].
- Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, củanhân dân và được Nhà nước truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” thuộc mộttrong các trường hợp pháp luật quy định [34, tr.5]
Quy định về thân nhân liệt sĩ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
“Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ” và được hưởng chế độ ưu đãi.
- Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh
vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế vàpháp luật đã liệt kê những trường hợp quy định những người là Bà mẹ ViệtNam Anh hùng
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là những người được Nhà nướctặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì cóthành tích đặc biệt xuất sắc
- Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến là những người đượcNhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến vì cóthành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến
- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh:
+ Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảmkhả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp
“Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong
Trang 21các trường hợp theo quy định tại khoản 12, Điều 1 của Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH 13 [34, tr.8].
+ Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quânnhân, công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21%trở lên thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 12, Điều 1 củaPháp lệnh số 04/2012/UBTVQH 13, được cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấychứng nhận người hưởng chính sách như thương binh" [34, tr.8]
- Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khảnăng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về lại gia đình được cơ quan, đơn
vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận bệnh binh” thuộc một trong cáctrường hợp quy định tại khoản 15, Điều 1 của Pháp lệnh số04/2012/UBTVQH 13 [34, tr.10]
- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được
cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụchiến đấu từ tháng 8 năm 1961 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng màquân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học và do nhiễm chất độc hóa học dẫn đếnmột trong các trường hợp: mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 21%trở lên; vô sinh; sinh con bị dị tật, dị dạng [34, tr.11-12]
- Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trongthời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến,không làm tay sai cho địch [34, tr.12]
- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc vàlàm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được tặng “Huân chươngkháng chiến”, “Huy chương kháng chiến” [34, tr.12]
- Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡcách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: người được tặng Kỷ
Trang 22niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước Cáchmạng tháng Tám năm 1945; người được tặng “Huân chương kháng chiến”hoặc “Huy chương kháng chiến”; người trong gia đình được tặng “Huânchương kháng chiến” hoặc “Huy chương kháng chiến” [34, tr.13].
- Một vài đặc điểm của người có công với cách mạng
NCCVCM hầu hết đều trải qua chiến tranh, họ luôn nhớ về những ngườicùng hoạt động cách mạng, những đồng đội đã anh dũng hy sinh; có ý thức tựhào về quá khứ cống hiến của mình cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệmgiữ gìn những phẩm chất và truyền thống cách mạng; phần lớn họ tuổi đã cao,sức khỏe bị suy giảm nhiều do bị thương tật, bệnh tật; họ có nhiều công lao,đóng góp cho cách mạng, cho đất nước
Khi hòa bình lập lại, NCCVCM tiếp tục có nhiều đóng góp vào côngcuộc xây dựng, phát triển đất nước, họ luôn trăn trở trước vận mệnh của đấtnước; họ tình nguyện tham gia vào các hoạt động đi tìm đồng đội, các hoạtđộng xã hội ở địa phương; là tấm gương cho gia đình, dòng họ, con cháu noitheo; họ nhạy cảm với các chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước, nhất lànhững vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của họ; họ thích được quan tâm,chăm sóc hơn những người bình thường
Một bộ phận NCCVCM còn khó khăn về đời sống, khó tiếp cận với cácnguồn lực xã hội, dịch vụ xã hội, kỹ năng bị hạn chế; có người có tâm lý chorằng con cháu, thế hệ trẻ không hiểu mình; có khoảng cách về thế hệ; một số
ít có biểu hiện công thần
1.1.2 Nhu cầu của người có công với cách mạng
Nhu cầu của mỗi con người ở mỗi thời đại là rất khác nhau Nhu cầu củacon người thường rất đa dạng, phong phú, mang tính thời gian và ngày càngphát triển và tùy thuộc vào hoàn cảnh sống, nhận thức, văn hóa, vị trí xã hội,điều kiện kinh tế của mỗi người Để tồn tại, con người cần phải được đáp ứng
Trang 23những nhu cầu cơ bản thiết yếu nhất cho sự sống như ăn mặc, nhà ở, ngủnghỉ, y tế Để phát triển, con người cần những nhu cầu cao hơn như sự antoàn, được học hành, được tôn trọng, yêu thương Xét cho cùng sự vận động
và phát triển của xã hội loài người cuối cùng nhằm mục đích đáp ứng nhu cầungày càng cao, càng nhiều của con người Đồng thời việc đáp ứng nhu cầungày càng cao, càng nhiều ấy cũng chính là động cơ thúc đẩy con người thamgia vào các hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội
Theo nhà tâm lý học người Mỹ A.Maslow, nhu cầu của con người đượcsắp xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp tới cao - từ các nhu cầu thiết yếu nhấttới các nhu cầu thứ yếu, cao hơn Theo đó, nhu cầu của con người được chiathành 5 nhu cầu theo bậc thang đó là: nhu cầu được sống; nhu cầu được antoàn; nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó; nhu cầu được tôn trọng; nhu cầuhoàn thiện
Để làm rõ nhu cầu của NCCVCM, tác giả áp dụng thuyết nhu cầu củaA.Maslow để nghiên cứu Từ đó xem xét nhu cầu nào đã được đáp ứng, sựđảm bảo, đảm bảo ở mức độ nào, tính bền vững ra sao; nhu cầu nào chưađược đáp ứng; NCCVCM muốn được đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầunào sau hay theo trình tự của A.Maslow
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, hiện nay NCCVCM có những nhucầu sau:
- Đối với nhu cầu sống: sau nhiều năm tháng tham gia chiến đấu, phục
vụ kháng chiến, công tác nơi chiến trường gian khổ trở về với cuộc sống đờithường, NCCVCM gặp nhiều khó khăn trong việc bắt nhịp với cuộc sống,nhất là ở những khu vực đô thị cuộc sống thay đổi nhanh chóng Vì số đôngNCCVCM tuổi đã cao, sức khỏe bị suy giảm do thương tật, bệnh tật, di chứngcủa chiến tranh, ít kinh nghiệm, thiếu vốn, trình độ tay nghề thấp hoặc không
có nên cuộc sống còn nhiều khó khăn; mức sống của NCCVCM chưa thể
Trang 24ngang bằng với mức sống bình quân của người dân nơi cứ trú; cuộc sống của
họ và nhiều gia đình phụ thuộc vào nguồn trợ cấp hằng tháng; nhiều gia đìnhchưa có nhà ở ổn định
- Đối với nhu cầu an toàn: NCCVCM đã trải qua những phút giây sinh
tử, lằn ranh giữa sự sống và cái chết, sự tra tấn của quân thù nên họ hiểuđược sự tàn khốc, mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra Vì vậy họ rấtquý trọng sự sống; muốn được sống, nghỉ ngơi, sinh hoạt, làm việc trong sự
an bình, độc lập; muốn được xã hội quan tâm, gia đình chăm sóc, muốn đượctiếp cận với các dịch vụ y tế để khám chữa bệnh nhằm đảm bảo sức khỏe
- Đối với nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó: NCCVCM hiện nay tuổi
đã cao nên rất muốn được quan tâm, chia sẻ, sự đồng cảm nên rất muốn sinhhoạt với đồng đội để ôn lại kỷ niệm; muốn tham gia sinh hoạt trong hội ngườicao tuổi, hội cựu chiến binh, câu lạc bộ dưỡng sinh, hội hoa viên để khuâykhỏa tâm hồn và vơi đi ký ức buồn của chiến tranh cũng như sự khác biệt về ýthức hệ với các thành viên nhỏ tuổi trong gia đình
- Đối với nhu cầu được tôn trọng: với phần lớn con người nói chung,NCCVCM nói riêng, đây là nhu cầu quan trọng Bởi lẽ NCCVCM đã trải quanhiều hy sinh, mất mát, đóng góp cho cách mạng, có nhiều công lao nên họrất muốn được xã hội, cộng đồng, dòng họ, gia đình tôn vinh, quý trọng, xem
họ là tấm gương để noi theo và công nhận những gì mà họ đóng góp, nhất làtuổi thanh xuân, công sức, sự hy sinh về xương máu để góp phần làm nên lịch
sử dân tộc, xây dựng cuộc sống ngày nay
- Đối với nhu cầu hoàn thiện: cũng như nhiều người khác, NCCVCMcũng có mong muốn hoàn thiện bản thân để khẳng định mình dù trong hoàncảnh nào; họ rất muốn tiếp tục đóng góp trí tuệ, uy tín, sự ảnh hưởng, tiếngnói của mình để tham gia xây dựng địa phương, xây dựng nhà nước để gópphần xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn
Trang 251.2 Nhu cầu, khái niệm, cách tiếp cận, kỹ năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng
1.2.1 Nhu cầu dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng
Cũng như mọi người khác trong xã hội, NCCVCM rất cần có một cuộcsống ổn định, an toàn, đầy đủ về vật chất, thoải mái về tinh thần, được làmviệc, được tiếp cận với các dịch vụ xã hội Theo thống kê, cả nước hiện cógần 9 triệu NCC, chiếm gần 10% dân số, trong đó có 1.146.250 LS, 49.609
Mẹ VNAH, 781.021 TB và người hưởng chính sách như thương binh, 185.00
TB loại B, 1.253 Anh hùng Lực lượng Vũ trang, Anh hùng Lao động trongkháng chiến, 101.138 người có công giúp đỡ cách mạng, trên 1,47 triệu đốitượng người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng của Nhà nước.Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm đến NCCVCM nhiều hơn để hỗ trợ
họ cũng như thân nhân gia đình nhằm có điều kiện sống tốt hơn, không đểNCCVCM lâm vào cảnh khó khăn, nghèo đói, thiếu ổn định
Để đảm bảo sự sống và phát triển, mỗi người có cách đáp ứng cũng nhưcần sự đáp ứng nhu cầu với những cách thức khác nhau Tuy nhiên so với sốcòn lại, NCCVCM khó có thể tự mình đáp ứng những nhu cầu ấy, ngay cảnhững nhu cầu tối thiểu nhất vì họ đã có một thời gian dài chịu nhiều hy sinh,mất mát, trải qua nhiều gian khổ, chịu nhiều thiệt thòi; nhiều người đến naycòn mang thương tật, bệnh tật cũng như con của họ; nhiều người không xâydựng được hạnh phúc gia đình vì sau khi hòa bình lập lại họ đã lớn tuổi Vìvậy họ rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước, sự chia sẻ của cộng đồng xã hội đểđược thăm khám sức khỏe thường xuyên, điều trị bệnh, an dưỡng, cải thiệnkinh tế gia đình, lắp chân tay giả, mắt giả để làm việc, sinh hoạt hằng ngàyđược thuận lợi hơn
Trang 261.2.2 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng
Theo mạng CTXH Việt Nam: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằmđáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại
ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếpnhu cầu nhất định của xã hội
Theo Liên hợp quốc “Dịch vụ xã hội cơ bản là các hoạt động dịch vụcung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu tốithiểu của cuộc sống” (UN - Africa Spending Less on Basic Social Services)
Từ những quan điểm nêu trên, có thể hiểu dịch vụ xã hội cơ bản là hệthống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản Nếu như dịch
vụ là một khái niệm đơn lẻ thì dịch vụ xã hội là một khái niệm kép Thuật ngữ
“xã hội” trong khái niệm này có thể được hiểu theo hai nghĩa:
- Thứ nhất, đó là tính mục tiêu, nghĩa là dịch vụ hướng tới phát triển xã
hội (theo nghĩa này thì bất kỳ dịch vụ nào đóng góp vào mục tiêu phát triển xãhội đều được coi là dịch vụ xã hội)
- Thứ hai, là tính chuẩn mực hay tính xã hội, nghĩa là dịch vụ để bảo đảm
các giá trị, chuẩn mực xã hội Theo nghĩa này thì dịch vụ xã hội cung cấpnhững hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội được (i) chủ động phòng ngừakhả năng xảy ra rủi ro dẫn đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội;(ii) chủ động tiếp cận hạn chế ảnh hưởng của rủi ro dẫn đến không bảo đảmgiá trị và chuẩn mực xã hội; (iii) khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng, xãhội trên cơ sở các giá trị, chuẩn mực xã hội
Trong luận văn này, dịch vụ xã hội có thể được hiểu như sau: Dịch vụ
xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội Với nhóm yếu thế, DVXH là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa, hạn
Trang 27chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hòa nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế.
Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế (họp ở Canada vào năm 2004)
cho rằng “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã
hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng CTXH đã giúp con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân”
Theo PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH là một nghề, một hoạt động
chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [19, tr.19].
Từ những khái niệm, quan điểm về CTXH và DVXH, có thể hiểu dịch
vụ CTXH ở Việt Nam như sau: DVCTXH là hoạt động chuyên nghiệp CTXH
cung cấp các hoạt động hỗ trợ về tinh thần hay vật chất cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn, hoặc những người có nhu cầu hỗ trợ về mặt tâm lý xã hội, trợ giúp pháp lý nhằm giảm thiểu những rào cản, những bất công và bất bình đẳng trong xã hội.
Qua đó, có thể hiểu một cách ngắn gọn dịch vụ công tác xã hội đối
với người có công với cách mạng: Là một hoạt động chuyên nghiệp của
CTXH nhằm trợ giúp NCCVCM giải quyết các vấn đề khó khăn mà họ đang gặp phải, từ đó giúp họ hồi phục chức năng xã hội, phòng ngừa hay nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy các điều kiện
xã hội để NCCVCM tiếp cận được với các chính sách, nguồn lực và dịch vụ
Trang 28xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản và quyền của họ để góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
1.2.3 Cách tiếp cận dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng
1.2.3.1 Tiếp cận dựa trên quyền
Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứađựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con ngườitrong quá trình lập kế hoạch và tiến trình thực hiện hoạt động CTXH
Trên phương diện vĩ mô, cách tiếp cận dựa trên quyền có bàn đến tầmquan trọng của Nhà nước trong mối quan hệ tương quan với công dân của họ
về mặt quyền và nghĩa vụ Cách tiếp cận dựa trên quyền lôi kéo sự chú ý củaNhà nước về mặt chăm lo đời sống của những người dễ bị tổn thương
Cũng giống như cách tiếp cận khác, tiếp cận quyền con người nhằmhướng đến việc cải thiện hoàn cảnh của con người, tập trung vào nhu cầu, vấn
đề và tiềm năng của họ Theo cách này, cách tiếp cận dựa trên quyền có đềcập đến những vấn đề luôn được coi là trọng yếu đối với sự phát triển, như làthực phẩm, nước, nhà ở, y tế Vì vậy, quyền con người vượt lên trên ý niệm
về nhu cầu cơ bản mà nó chứa đựng một cái nhìn nhân đạo hơn về con người,
về khía cạnh công dân, chính trị, xã hội, kinh tế và vai trò văn hóa Đồng thời,nhắc đến quyền con người là nói đến nghĩa vụ và trách nhiệm, trong khi đócách tiếp cận theo nhu cầu sẽ không đề cập đến
Tiếp cận quyền con người là cách tiếp cận mang tính nhân văn Coitrọng con người với những quyền mà họ được hưởng, đó là quan điểm hướngtới giá trị nhân văn cao đẹp về con người Với cách tiếp cận này, đối tượng dùđang gặp phải vấn đề khó khăn cũng được tôn trọng như là một con người vớiđầy đủ các giá trị Tiếp cận dựa trên quyền con người là trung tâm, tập trungvào nhu cầu và tiềm năng của họ để đi tới giải quyết vấn đề Tiếp cận dựa trên
Trang 29quyền con người giúp nhân viên xã hội hướng đến các giải pháp mang tínhbền vững.
Như vậy, theo cách tiếp cận này, NCCVCM có quyền được chăm sóc
về sức khỏe vật chất, tinh thần, có quyền được phát triển, được tham gia cáchoạt động xã hội, được tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước
Vận dụng cách tiếp cận này, tác giả sẽ đóng vai trò người biện hộ,người tập huấn để trợ giúp NCCVCM nâng cao nhận thức, giúp họ tự nhận ra
và quyết định việc tham gia của họ với vai trò chủ động vào quá trình tìmkiếm sự công bằng cho bản thân và những người có cùng hoàn cảnh, để họnhận thức rõ được quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng mà họ phải đượchưởng Đồng thời giúp họ nói lên tiếng nói của mình đối với những cấp chínhquyền cao hơn, những tổ chức xã hội, chính trị - xã hội mà họ tham gia nhưHội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ
1.2.3.2 Tiếp cận theo nhu cầu
Tiếp cận theo nhu cầu của NCCVCM là cách tiếp cận dựa trên việc đápứng tốt nhất các DVCTXH đối với các nhu cầu của NCCVCM Việc tiếp cậntheo nhu cầu sẽ giúp cho việc hỗ trợ được hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn, bềnvững hơn, không thừa, không thiếu Việc tiếp cận theo nhu cầu phải theo haihướng: nhu cầu cần (nhu cầu chủ quan) là những nhu cầu cơ bản củaNCCVCM; nhu cầu cảm (nhu cầu khách quan) là nhu cầu mà NVXH thấycần thiết phải cung cấp cho NCCVCM
Tiếp theo là nhu cầu cần được bảo vệ an toàn, ngăn ngừa những nguy
cơ gây tổn thương cho NCCVCM cả về thể chất lẫn tinh thần, tình cảm, nhucầu vui chơi, giải trí, học tập Thông qua những hoạt động này, NCCVCM sẽđược hòa nhập với cộng đồng, dần dần sẽ tự khẳng định mình và hướng đếnphát triển Nhu cầu được tôn trọng giao lưu, kết nối đồng đội, thăm lại chiếntrường xưa, nơi bị tù, đày, tìm hài cốt đồng đội đã hy sinh nơi chiến trường
Trang 30Nhu cầu việc làm, cải thiện nhà ở Nhu cầu cao nhất của NCCVCM đó là tựkhẳng định mình, chứng minh rằng mình có năng lực, mình có thể làm đượcmọi việc Do bản thân từng tham gia chiến đấu, có lý tưởng sống cao đẹp, cóbản lĩnh vững vàng, có sự tương thân tương ái lẫn nhau nên một bộ phậnNCCVCM có nhu cầu, mong muốn thể hiện mình có khả năng, không phải làgánh nặng cho gia đình, người thân
Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợNCCVCM
Thứ nhất, một bộ phận NCCVCM thiếu các nguồn lực để đáp ứng nhu
cầu của cá nhân và gia đình Trong đó, có những người đặc biệt khó khănkhông có khả năng tự bảo đảm cuộc sống của mình trong sinh hoạt hằng ngày
từ việc ăn, mặc, chữa bệnh và có nguy cơ ảnh hưởng đến sự ổn định, antoàn của cuộc sống Những người này rất cần đươc sự trợ giúp của nhà Nhànước và xã hội
Thứ hai, việc đáp ứng các nhu cầu cho NCCVCM chính là động cơ
thúc đẩy họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội; làm choNCCVCM thấy được giá trị của bản thân, ý nghĩa của cuộc sống Nếu khôngđáp ứng nhu cầu thì mất dần động cơ tham gia đóng góp cho xã hội, thay vào
đó là các hành vi bất mãn
Thứ ba, tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp các hỗ trợ xã hội giảm kinh phí
và tăng hiệu quả khi tránh được sự dư thừa hay không cần thiết khi hỗ trợ
1.2.3.3 Tiếp cận vì lợi ích tốt nhất cho NCCVCM
Tiếp cận theo tôn chỉ đem lại lợi ích tốt nhất cho NCCVCM là cáchtiếp cận với việc cung cấp các dịch vụ bảo đảm lợi ích tốt nhất choNCCVCM Tiếp cận theo nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất có ý nghĩa ở việc dù ởbất cứ tình huống nào, thời điểm nào, ở đâu thì lợi ích của NCCVCM luônđược đặt lên hàng đầu, NCCVCM luôn được hưởng những dịch vụ tốt nhất
Trang 311.2.4 Kỹ năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng
Để việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho NCCVCM đạt hiệu quả,đáp ứng nhu cầu của NCCVCM, đòi hỏi NVCTXH cần có và nắm vững một
số kỹ năng sau:
- Kỹ năng lắng nghe Lắng nghe trong CTXH là một quá trình lắngnghe tích cực, đòi hỏi NVCTXH phải biết quan sát những hành vi củaNCCVCM một cách tinh tế, phải tập trung chú ý cao độ và phải tôn trọng,chấp nhận NCCVCM và vấn đề của họ, đồng thời giúp họ nhận biết là mìnhđang được quan tâm và chia sẻ Kỹ năng lắng nghe thể hiện ở khả năng tậptrung cao độ tới điều NCCVCM trình bày và thể hiện qua hành vi, cử chỉ,nghe không chỉ bằng tai mà bằng con mắt và bằng cả cái tâm của ngườiNVCTXH
- Kỹ năng quan sát Trong hoạt động nghề nghiệp của mình thì khôngchỉ lời nói đem lại cho NVCTXH những thông tin về NCCVCM mà ngay cảnhững cử chỉ không lời của NCCVCM cũng có thể mang lại cho NVCTXHnhững thông tin quan trọng về nội dung chuyển tải của họ Vì vậy, để kỹ năngquan sát được thực hiện tốt, đòi hỏi NVCTXH cần có khả năng nhận thức tinh
tế về các vấn đề của NCCVCM, phải biết cách quan sát tổng thể về hành vi,diện mạo bên ngoài đến những đặc điểm tâm lý, đặc biệt là những sắc tháitình cảm xảy ra giữa NCCVCM với người khác và với NVCTXH
- Kỹ năng giao tiếp Là năng lực vận dụng hiệu quả các tri thức, hiểubiết về quá trình giao tiếp, các yếu tố tham gia và ảnh hưởng đến giao tiếp
Để thực hiện được kỹ năng này, NVCTXH phải có khả năng thiết lập các mốiquan hệ, biết lắng nghe tích cực, biết phản hồi cảm xúc và lắng nghe nhữngnội dung mà NCCVCM chia sẻ, biết cách thu thập thông tin
Trang 32- Kỹ năng tham vấn Là quá trình NVCTXH sử dụng những kiến thức,
kỹ năng chuyên môn để giúp NCCVCM giải quyết hoặc tăng cường khả năng
tự giải quyết vấn đề, tăng cường chức năng xã hội của mình Mục tiêu là giúpNCCVCM hiểu được cảm xúc, suy nhgĩ của chính họ, hoàn cảnh vấn đề, sửdụng những tiềm năng nguồn lực vào giải quyết vấn đề, giúp NCCVCM nângcao khả năng đối phó với vấn đề trong cuộc sống
- Kỹ năng kết nối nguồn lực Đây được coi là kỹ năng cơ bản trongCTXH Để cung cấp DVCTXH cho NCCVCM và khai thác tối đa hiệu quảcủa dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của NCCVCM đòi hỏi NVCTXH cần phải biêýcách vận động và liên kết các nguồn lực khác nhau lại để phát huy sức mạnhtrợ giúp cho NCCVCM Kết nối nguồn lực để trợ giúp cho NCCVCM có thểđược hiểu theo 3 khía cạnh: kết nối giữa nguồn lực nào đó với NCCVCM; kếtnối giữa các nguồn lực khác nhau để cùng giải quyết vấn đề và trợ giúp choNCCVCM; vận động và kết nối ngay chính nguồn lực trong cộng đồng để trợgiúp cho NCCVCM
1.3 Nội dung dịch vụ công tác xã hội đối với người có công cách mạng
1.3.1 Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe
Công tác chăm sóc sức khỏe cho NCCVCM là một tất yếu cần đượcquan tâm hàng đầu NCCVCM mang trên mình những vết thương của chiếntranh, khi trái gió trở trời vết thương lại bùng phát ảnh hưởng nghiêm trọngđến sức khỏe và làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ Đa số họ phảitrải qua những gian khổ vì thế mà sức khỏe của họ không còn đủ để đảm bảophục vụ cho cuộc sống thường ngày của mình
Sức khỏe của TB, BB, người bị ảnh hưởng CĐHH, người bị bắt tù, đàynhìn chung bị suy giảm nhiều do thương tật, bệnh tật do hậu quả của chiếntranh để lại nên họ thường xuyên phải chịu những cơn đau mỗi khi trái gió trở
Trang 33trời cộng với gánh nặng tuổi tác Những vết thương của chiến tranh đã bàomòn sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của nhiều người Bộ phận TB, BB khácmặc dù thương tật, bệnh tật nhẹ hơn nhưng sức khỏe của họ cũng bị giảm sút
do tuổi cao, sức yếu, cuộc sống khó khăn, nhất là ở khu vực vùng sâu, vùng
xa, vùng có kinh tế khó khăn nên việc khám chữa bệnh không được kịp thời.Bởi vậy, để chăm sóc tốt hơn đời sống cho TB, BB trước hết cần phải chú ýđến công tác chăm sóc sức khỏe, tổ chức khám bệnh định kỳ để họ ổn địnhsức khỏe, ổn định cuộc sống Việc quan tâm chăm sóc đời sống, cũng nhưtinh thần, đặc biệt là sức khỏe của TB, BB là việc làm đòi hỏi sự chung tay,góp sức của Nhà nước và cộng đồng
Hiện nay, toàn bộ NCCVCM đều được cấp bảo hiểm y tế miễn phí tạođiều kiện cho NCCVCM được khám chữa bệnh và cấp thuốc kịp thời, đảmbảo sức khỏe cho TB, BB Cùng với việc cấp phát thẻ bảo hiểm y tế, để chămsóc tốt hơn đời sống tinh thần cho NCCVCM, ngành LĐTBXH tổ chức cho
TB, BB đi điều dưỡng tập trung tại các Trung tâm chăm sóc NCCVCM và tạigia đình nhằm tạo điều kiện cho NCCVCM có thời gian thư giãn, tham quan
du lịch, điều dưỡng nâng cao thể trạng và ôn lại kỷ niệm với đồng đội
Có thể nói rằng công tác chăm sóc sức khỏe cho NCCVCM ngày càngđược đẩy mạnh, thực hiện một cách có hiệu quả, đem lại sự tin tưởng choNCCVCM và sự ủng hộ của người dân
1.3.2 Hỗ trợ tâm lý
NCCVCM luôn có ý thức tự hào về quá khứ cống hiến của mình cho sựnghiệp cách mạng của dân tộc, có tinh thần gìn giữ những phẩm chất, truyềnthống cách mạng, lịch sử hào hùng của dân tộc Đại bộ phận NCCVCM luôngương mẫu trong đời sống và công tác, trung thành với Tổ quốc, với chế độ
mà họ đã không ngại hy sinh, gian khổ để chiến đấu và bảo vệ Khi hòa bìnhlập lại cho đến nay, nhiều người trong số họ dù mang trong mình những
Trang 34thương tật, bệnh tật nhưng vẫn cố gắng vươn lên tìm cho mình một công việcphù hợp để vượt qua khó khăn, góp phần cải thiện kinh tế gia đình, xây dựngđịa phương và nhiều người đã trở thành tấm gương lao động giỏi, chiến sỹ thiđua, nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín.
Bên cạnh những NCCVCM phát huy phẩm chất, bản lĩnh, tinh thầncách mạng, có ý chí vươn lên, vượt qua khó khăn, vẫn có một bộ phậnNCCVCM có tâm trạng mặc cảm thì nghĩ bị thua thiệt, cảm giác mất mát sovới những người xung quanh nên họ thích được mọi người quan tâm, chămsóc hơn những người bình thường
NCCVCM thuộc đối tượng là người hoạt động cách mạng trước ngày
01 tháng 01 năm 1945 hoặc người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 hiện nay còn sống rất ít
và tuổi đã cao nên họ có nếp sống khiêm tốn, giản dị, ít đòi hỏi quyền lợi cánhân về đời sống vật chất nhưng về đời sống tinh thần, nhất là thông tin thời
sự, chính trị lại khá cao; thích được cung cấp thông tin, tìm hiểu, bình luậntình hình trong nước và thế giới…
NCCVCM thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước đa số ở tuổi trungniên và bước vào tuổi cao, có trình độ học vấn và chính trị nên dễ nhạy cảmvới chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quanđến họ; họ có ý thức tự chủ, tự kiềm chế, đúng đắn, hăng hái, nhiệt tình thamgia các hoạt động xã hội Bên cạnh đó, có một số trường hợp cá biệt có biểuhiện tư tưởng công thần, đòi hỏi, lợi dụng các chính sách để làm việc saitrái…
NCCVCM thời kỳ 1975 trở lại đây phần lớn tuổi còn trẻ, trình độ họcvấn cao Họ có ý thức giữ gìn phẩm chất, truyền thống, tinh thần cách mạng,chấp hành chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, còn một
Trang 35số ít người vẫn nặng về tâm lý nên có cách nhìn phiến diện, thấy mình thuathiệt bạn bè, người thân, sinh hoài nghi thiếu tin tưởng.
1.3.3 Kết nối nguồn lực
Sự đóng góp của cộng đồng xã hội, doanh nghiệp là nguồn lực khôngthể thiếu để đạt mục tiêu của chính sách và là nguồn bổ sung phong phú đểgóp phần cùng Nhà nước chăm sóc tốt hơn, chu đáo hơn đời sống củaNCCVCM và thân nhân gia đình Sự đóng góp, hỗ trợ của cộng đồng lànguồn bù đắp những thiếu hụt của các GĐCS và bổ sung những nội dung màchính sách Nhà nước với tính chất là mặt bằng chung cho NCCVCM khôngthể đạt tới, kịp thời giải quyết những nhu cầu bức xúc trong cuộc sống củaGĐCS Hơn nữa, phần lớn NCCVCM sống tại cộng đồng, cho nên cộng đồngchính là nơi gần gũi nhất, trực tiếp nhất có thể phát hiện kịp thời và chia sẻnhững khó khăn của NCCVCM như:
+ Chăm sóc TB, BB nặng có hoàn cảnh khó khăn; nhận đỡ đầu con liệt
sĩ, con TB, phụng dưỡng cha mẹ liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng neo đơnkhông nơi nương tựa
+ Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngay tại cộng đồng để giảm tải cho y tếtuyến trên
+ Tiếp nhận con TB, BB, liệt sĩ, thân nhân GĐCS vào doanh nghiệp đểđào tạo nghề, tạo việc làm
+ Hỗ trợ kinh phí, vật tư xây dựng, sửa chữa nhà ở
+ Động viên NCCVCM tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, gópphần giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ
Xã hội hóa công tác chăm lo cho NCCVCM, GĐCS có ý nghĩa và sứcmạnh rất lớn Cùng với các chính sách của Nhà nước, sự quan tâm của cộngđồng đã tạo nên nguồn lực to lớn giúp đời sống vật chất, tinh thần củaNCCVCM càng ngày được cải thiện và nâng cao; đồng thời tạo mọi nguồn
Trang 36lực để NCCVCM nỗ lực vươn lên Ngân sách Nhà nước chi cho ưu đãi xã hộihằng năm phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế Vì thế, phong trào xãhội hóa công tác “Đền ơn đáp nghĩa” với các chương trình cụ thể như: Tặngnhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kệm, phụng dưỡng Bà mẹ VNAH, nhận đỡ đầucon LS, con TB, xây dựng xã, phường làm tốt công tác TBLS vàNCCVCM… đã phát triển sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
1.3.4 Hỗ trợ vật chất, tinh thần
So với những thành viên khác trong xã hội, điều kiện sống củaNCCVCM nhìn chung gặp khó khăn hơn bởi khả năng tham gia vào thịtrường lao động của nhóm người này hạn chế Điều này bắt nguồn từ nhữngtổn thương về thể chất và tinh thần mà những cá nhân này đã đóng góp trongquá trình bảo vệ Tổ quốc Chính vì thế, thực hiện các hoạt động nhằm bảođảm chất lượng cuộc sống đối với NCCVCM có tác động tích cực đến quanđiểm, nhận thức của gia đình, cộng đồng và xã hội về hoạt động đền ơn đápnghĩa của Nhà nước, thể hiện sự tri ân của cộng đồng đối với sự hy sinh, đónggóp của NCCVCM trong quá trình bảo vệ Tổ quốc Việc các cá nhân có sẵnsàng cống hiến, hy sinh cho sự bình yên của đất nước hay không cũng cóphần dựa trên cách mà họ nhìn nhận về sự ưu đãi của Nhà nước đối với cuộcsống hiện tại của các gia đình NCCVCM Thực hiện tốt việc bảo đảm đờisống đối với NCCVCM sẽ góp phần ổn định chính trị, giữ vững thể chế, tạođiều kiện để phát triển đất nước bền vững
Trong đời sống, con người không những có nhu cầu về vật chất mà còn
có nhu cầu về tinh thần Đó là nhu cầu khách quan mà Nhà nước và xã hộicần phải quan tâm, đáp ứng Với NCCVCM cũng vậy, họ cần phải được bảođảm về đời sống TB, BB rất cần sự chăm sóc, động viên về tinh thần nhằmthoát khỏi sự tự ti vì thương tật, bệnh tật, vì sức khỏe, giúp họ vươn lên trongcuộc sống
Trang 37Các chế độ về vay vốn, miễn, giảm thuế… cũng cần được thực hiện vớitinh thần ưu đãi Đồng thời, những chính sách ưu đãi cho con TB, BB nặng,con LS, con người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH suy giảm khả nănglao động nặng trong thời gian đi học như: ưu tiên trong tuyển sinh, hỗ trợ kinhphí đào tạo, tạo điều kiện giải quyết việc làm sau khi ra trường.
1.3.5 Hỗ trợ vui chơi, giải trí
Trong nhiều năm qua, hệ thống thiết chế văn hóa trong cả nước đãđược chú trọng đầu tư Phong trào xây dựng các thiết chế văn hóa, nâng caochất lượng các hoạt động văn hóa, thể thao ở cơ sở ngày càng được tiến hànhrộng khắp Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đượccác cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nên ngày càng pháttriển sâu rộng trên khắp các vùng, miền của cả nước và được các ngành, cácđoàn thể hưởng ứng, được các tầng lớp nhân dân đồng tình thực hiện Hộinghị Trung ương 9 khóa XI (năm 2011) đã ban hành Nghị quyết “Về xâydựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triểnbền vững đất nước” Cùng với đó là phong trào “Người tốt việc tốt” đã gópphần tích cực vào việc định hình và xây dựng nhân cách con người trong đờisống văn hóa mới Xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở đã tạo điều kiện đểNCCVCM được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thểdục - thể thao là một trong những chủ trương, chính sách văn hóa lớn củaĐảng và Nhà nước; cũng là một trong những nội dung trọng tâm của phongtrào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
1.4 Thể chế dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng
1.4.1 Quan điểm, chính sách của Đảng
Chăm sóc NCCVCM vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là tình cảmcủa người dân Ưu đãi NCCVCM và GĐCS là một bộ phận trong tư tưởng Hồ
Trang 38Chí Minh Hồ Chí Minh chính là tấm gương mẫu mực về tình thân ái thủychung “Uống nước nhớ nguồn” Bác đã dạy “Thương binh, bệnh binh, giađình liệt sĩ, gia đình quân nhân là những NCC với Tổ quốc, với nhân dân chonên bổn phận của mỗi người chúng ta là phải quan tâm, thương yêu và giúp
đỡ họ” Với tinh thần đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi nguồn choquan điểm xã hội hóa chăm sóc NCCVCM Bác đã đề ra phương châm thựchiện công tác thương binh, liệt sĩ rõ ràng và phù hợp với đạo lý, truyền thốngcủa dân tộc và hoàn cảnh đất nước “Đồng bào sẵn sàng giúp đỡ, Chính phủ rasức nâng đỡ, anh em có quyết tâm thì nhất định dần dần tự túc được” Từ lờidạy của Bác, theo sự phát triển của cách mạng đã trở thành phương châm hoạtđộng trong lĩnh vực chăm sóc NCCVCM và trở thành nền tảng vững chắcNhà nước - cộng đồng - NCC nỗ lực vươn lên Tư tưởng nêu trên của Hồ ChíMinh rất có giá trị đối với những người làm công tác trợ giúp cho NCCVCM
Bằng những việc làm thiết thực, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã vàđang phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu với nhiều hình thức phong phú, trởthành nét đẹp trong đời sống văn hóa dân tộc, góp phần ổn định và nâng caođời sống vật chất, tinh thần của TB, BB, GĐCS, NCCVCM Điểm nổi bậttrong thực hiện chủ trương xã hội hóa chăm sóc NCCVCM là mối quan hệnghĩa tình tốt đẹp của dân tộc hòa quyện gắn bó dưới sự lãnh đạo của các cấp
ủy Đảng, sự chỉ đạo của các chính quyền đã góp phần đáng kể nâng cao đờisống vật chất, tinh thần với NCCVCM Ưu đãi NCCVCM có thể hiểu là tráchnhiệm của Nhà nước thông qua việc xây dựng hệ thống chính sách cụ thể về
sự ưu tiên và tạo cơ chế thực hiện những ưu tiên đó Vận động người dân, các
tổ chức với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiêp tục tổ chức các phong trào,đóng góp công sức để tạo cơ sở vật chất cho sự ưu đãi đối với NCCVCM
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) khẳng định "Chăm lotốt hơn đối với với các GĐCS và những NCCVCM, đảm bảo tất cả các GĐCS
Trang 39đều có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dânđịa phương trên cơ sở kết hợp 3 nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá nhâncác đối tượng chính sách tự vươn lên" Qua các thời kỳ, Đảng, Nhà nước vànhân dân ta luôn dành sự quan tâm đối với NCCVCM Chăm lo choNCCVCM vừa là nhiệm vụ chính trị quan trọng, vừa thể hiện đạo lý truyềnthống “uống nước nhớ nguồn” cao đẹp của dân tộc Việt Nam
Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Đảng về định hướngchính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 nêu rõ “Không ngừng cải thiện, nângcao đời sống vật chất và tinh thần của NCC và bảo đảm ASXH là nhiệm vụthường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị vàtoàn xã hội” Kết luận Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa
XI về “Một số vấn đề cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu
đãi người có công, định hướng cải cách đến năm 2020” tiếp tục khẳng định
“Nghiên cứu cải cách chính sách ưu đãi NCC, sớm điều chỉnh mức chuẩn bảođảm tương ứng với mức chi tiêu bình quân toàn xã hội để NCC có mức sốngtrung bình khá trong xã hội” Có thể nói, chính sách ưu đãi NCCVCM luônchiếm vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của Nhànước; hệ thống chính sách không ngừng được hoàn thiện, đối tượng ưu đãingày càng được mở rộng, cơ bản đã bao phủ được hết các đối tượng CCVCM
Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số32/2010/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển Nghề CTXH giai đoạn
2010 - 2020 (gọi tắt là Quyết định 32)
Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển CTXH trở thành một nghề ởViệt Nam; nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng độingũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạtyêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụCTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” [28,
Trang 40tr.1] Ngay sau khi Đề án được ban hành, các Bộ, ngành chức năng đã banhành các văn bản quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh, mã số cácngạch viên chức CTXH Như vậy, Quyết định 32 đã tạo tiền đề và hành langpháp lý để từng bước phát triển nghề CTXH theo hướng chuyên nghiệp; đồngthời tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp ủy Đảng,chính quyền và xã hội về nghề CTXH.
Từ những quan điểm nêu trên, chúng ta nhận thấy Đảng, Nhà nướcluôn luôn quan tâm, thể hiện tính nhất quán, xuyên suốt trong việc ưu đãi đốiNCCVCM và GĐCS nhằm đảm bảo cho NCCVCM và GĐCS có được cuộcsống ổn định và ngày càng nâng cao
Ở nước ta hiện nay, Chính phủ giao Bộ LĐTBXH là cơ quan quản lýnhà nước về ASXH và CTXH thực hiện chức năng quản lý nhà nước về laođộng, việc làm, an toàn lao động, dạy nghề, chính sách đối với TB và NCC,bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội trên phạm vi cả nước Như vậy,NCCVCM là một đối tượng của ngành CTXH, họ cần được trợ giúp cácDVXH từ NVXH cũng như được NVXH trợ giúp trong việc bảo vệ quyền lợi,giúp NCCVCM nói lên tiếng nói của họ; tham gia tư vấn tâm lý, biện hộ choNCCVCM, giúp họ được đáp ứng những quyền lợi và nhu cầu thiết yếu
Qua đó chúng nhận thấy Đảng, Nhà nước luôn quan tâm và dành nhiềuđãi ngộ, ưu tiên cho NCCVCM và gia đình họ trong mọi lĩnh vực của đờisống bằng những việc làm, hành động thiết thực
1.4.2 Các văn bản pháp luật
Để công tác trợ giúp NCCVCM và GĐCS được thực hiện thông suốt từTrung ương đến cơ sở và đạt hiệu quả, chất lượng, đáp ứng được yêu cầu củaNCCVCM cũng như GĐCS, Nhà nước đã xây dựng và ban hành các văn bảnpháp luật để thực hiện như: