SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH TRƯỜNG THPT LÝ NHÂN TÔNGBÁO CÁO SÁNG KIẾN SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ ĐỌC – HIỂU VỀ TÁC GIA VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT T
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH TRƯỜNG THPT LÝ NHÂN TÔNG
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ ĐỌC – HIỂU VỀ TÁC GIA VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN THPT
Tác giả: PHẠM THỊ QUỲNH Trình độ chuyên môn: Đại học Ngữ văn Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường THPT Lý Nhân Tông
Nam Định, tháng 5 năm 2016
Trang 2Sáng kiến :
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ ĐỌC – HIỂU VỀ TÁC GIA VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT (BAN CƠ BẢN)
1.Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong trường THPT
2.Thời gian áp dụng sáng kiến:
Năm học 2014 - 2015; năm học 2015 - 2016
3.Tác giả:
Họ và tên: Phạm Thị Quỳnh
Năm sinh: 14/03/1983
Nơi thường trú: Nam Sơn - Yên Lợi - Ý Yên - Nam Định
Trình độ chuyên môn : Đại học Sư phạm Ngữ văn
Tên đơn vị: Trường THPT Lý Nhân Tông
Địa chỉ: Xã Yên Lợi- Huyện Ý Yên – Tỉnh Nam Định
Điện thoại: 03503 963 939
Trang 3là một đơn vị, một điểm nhìn, một bộ phận hợp thành quá trình văn học, là một gươngmặt không thể thay thế tạo nên diện mạo chung của một thời kỳ hoặc một thời đại vănhọc.
Trong chương trình Ngữ văn THPT, học sinh được học rất nhiều tác giả văn học bởi
vì mỗi tác phẩm đều gắn liền với một tác giả cụ thể Bên cạnh đó, các em sẽ được đi sâuvào tìm hiểu 6 tác gia lớn, đại diện cho từng giai đoạn của văn học Việt Nam, chia đềucho ở 3 khối lớp:
- Khối lớp 10: Văn học trung đại (Tác giả Nguyễn Trãi, tác giả Nguyễn Du)
- Khối lớp 11: Văn học trung đại (Tác giả Nguyễn Đình Chiểu), văn học hiện đại(tác giả Nam Cao)
- Khối lớp 12: Văn học hiện đại (Tác giả Hồ Chí Minh, tác giả Tố Hữu)
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học tác gia văn học:
Ngày 05/5/2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số16/2006/BGDĐT nêu rõ những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục, tạo điều kiệnthuận lợi để giáo viên thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học Trong những nămqua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện đổi mới phương phápdạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạocủa học sinh Trong đó, yêu cầu giáo viên tăng cường tổ chức các hoạt động nhận thứccho học sinh, hướng dẫn phương pháp tự học cho các em
Theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học mà Bộ đề ra nằm phát huy vai trò củangười học đã khiến mỗi người giáo viên phải tự tìm tòi những phương pháp mới, vừa đápứng với nhu cầu đổi mới, vừa phù hợp với đối tượng học sinh nhằm đạt hiệu quả caotrong giảng dạy
Việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông là
Trang 4Tính công cụ thể hiện ở yêu cầu dạy cho học sinh năng lực sử dụng Ngữ văn như mộtcông cụ giao tiếp, bao gồm các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Nghe gồm năng lực chú ý,nghe hiểu bài giảng, lời phát biểu, lời thảo luận… Nói gồm năng lực phát biểu trên lớp,thảo luận, phỏng vấn, trả lời câu hỏi, kể chuyện thuyết minh vấn đề… Đọc bao gồm đọcvăn học và đọc các loại văn khác Viết bao gồm năng lực viết các văn bản nghị luận xãhội, nghị luận văn học, viết bản tóm tắt, văn bản thuyết minh… Các tính chất khác củamôn ngữ văn: tính tổng hợp, tính thực tiễn, tính tri thức, tính thẩm mĩ, tính xã hội.
Người giáo viên dạy Ngữ văn, ngoài việc tìm ra phương pháp mới truyền đạt kiếnthức cho học sinh còn phải tìm tòi nghiên cứu về nhu cầu thẩm mỹ, tâm sinh lý lứa tuổi
và đặc biệt quan tâm tới hứng thú của người học.Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy
và học môn Ngữ văn phức tạp và công phu hơn rất nhiều so với các môn tự nhiên, đặcbiệt là đổi mới phương pháp giảng dạy tác gia văn học
Ngoài việc truyền đạt kiến thức cơ bản, giáo viên cần giúp học sinh thấy được vaitrò của từng tác gia trong nền văn học nước nhà, sức lan tỏa của quan điểm thẩm mỹ,quan điểm sáng tác của tác gia đó với các tác giả đương thời cũng như thế hệ sau…Đó lànhững nhiệm vụ mà giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu, nếu không khéo léo
sẽ rơi vào tình trạng khô khan, cứng nhắc; dẫn đến học sinh chán nản, mệt mỏi.Vì vậy ,tôi đã cố gắng tìm tòi một phương pháp mới để khắc phục việc học sinh ngại học mônvăn, đó là sử dụng kỹ thuật dạy học Sơ đồ tư duy
1.2 Sơ đồ tư duy:
- Trong quá trình tìm tòi phương pháp đổi mới cách dạy và học, tôi nhận thấy việc
sử dụng Sơ đồ tư duy vừa mới, vừa hiện đại, lại rất khả thi, đang được nhiều trườngTHCS, THPT trong cả nước áp dụng Qua việc tìm hiểu và vận dụng Sơ đồ tư duy trongquá trình dạy học, tôi thấy phương pháp dạy học này đã thật sự đem lại “luồng sinh khímới” cho học sinh trong quá trình dạy học bộ môn Ngữ văn Bởi vì phương pháp nàykhông chỉ lôi cuốn, hấp dẫn với học sinh, mà nó còn là một phương pháp dạy học hiệuquả, khoa học, dễ sử dụng và có thể sử dụng rộng rãi ở tất cả các khâu trong quá trình dạyhọc
+ Khái niệm:
Sơ đồ tư duy (Mindmap) là một công cụ tổ chức tư duyây l, đây phương pháptận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não, là cách để ghi nhớ chi tiết, tổng hợp hayphân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính,ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như
Trang 5trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệcác dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não.
Sơ đồ tư duy được khởi xướng từ Tony Buzan (chuyên gia hàng đầu thế giới vềnghiên cứu hoạt động của não bộ) từ những năm 70 của thế kỷ XX và nó đã trở thànhmột trong những phương pháp làm việc tích cực được sử dụng ở rất nhiều quốc gia trênthế giới
Ở Việt Nam, lý thuyết này mới được biết đến trong vài năm trở lại đây, việc vậndụng nó còn chưa thực sự phổ biến, đồng thời các tài liệu nghiên cứu về phương phápnày cũng chưa phong phú cả về số lượng và chất lượng Theo chủ trương đổi mới phươngpháp dạy học, bắt đầu năm 2010, dự án "Phát triển giáo dục THCS II" bắt đầu triển khaiphương pháp dạy học sử dụng bản đồ tư duy đến các trường học và cơ sở đào tạo trong
cả nước và từ đó đến nay, phương pháp này đã có tác dụng đáng kể trong việc phát huytính tích cực, chủ động của học sinh và tương tác của giáo viên – học sinh
+ Cấu tạo:
- Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề
- Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõ chủđề
- Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ýchính
- Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm thì
ý càng cụ thể, chi tiết Có thể nói, Sơ đồ tư duy là một bức tranh tổng thể, một mạng lưới
tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn vị kiến thứcnào đó
Trang 6Hình 1: Cấu tạo Sơ đồ tư duy
+ Các bước lập sơ đồ tư duy
Bước 1 : Xác định từ khóa
Mind Map được tạo thành bởi hầu hết các từ khóa (key word) nên nó tiết kiệm
được rất nhiều thời gian cho người học Chỉ với những từ khóa là bạn đã có thể nắm bắtđược hết nội dung của tất cả những điều mà bạn đang muốn ghi nhớ
Bước 2 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.
- Bước này chúng ta sẽ sử dụng một tờ giấy trắng (không kẻ ô) đặt nằm ngang và
vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy Giấy trắng không kẻ ô sẽ giúp cho học sáng tạo hơn,không bị những ô vuông cản trở suy nghĩ của bạn Vẽ trên giấy nằm ngang sẽ giúp ngườihọc có được không gian rộng lớn hơn để triển khai các ý
- Người học cần vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy, từ đó mới phát triển ra các ý khác
ở xung quanh nó
- Học sinh có thể tự do sử dụng tất cả các màu sắc mà mình thích, chủ đề trungtâm có thể là chữ hoặc là hình, nếu kết hợp cả 2 thì càng tốt
- Chủ đề trung tâm cần gây sự chú ý để người đọc dễ nhìn nhận vấn đề
Bước 3: Vẽ thêm các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1)
- Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in đậm nằm trên các nhánh dày để làm nổibật
- Tiêu đề phụ nên gắn liền với trung tâm
Trang 7- Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc chứ không nằm ngang, như vậynhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng hơn.
- Hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian và thời gianbất cứ lúc nào có thể
- Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm và có cùng 1 màu
Bước 5: Thêm các hình ảnh minh họa
Ở bước này, chúng ta nên để trí tưởng tượng của mình bay bổng hơn bằng cáchthêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như lưu chúng vàotrí nhớ mình tốt hơn vì não bộ của con người có khả năng tiếp thu hình ảnh cao hơn chữviết Bạn đừng ngại mình vẽ xấu, cứ vẽ theo những gì bạn nghĩ, những gì bạn liên tưởng,đôi khi càng hài hước càng giúp bạn nhớ chúng được lâu hơn
Hình 2: Các bước vẽ Sơ đồ tư duy
+ Các quy tắc khi thực hiện sơ đồ tư duy :
- Đừng suy nghĩ quá lâu mà hãy viết liên tục Việc các bạn dừng lại để suy nghĩ
một vấn đề nào đó quá lâu sẽ khiến cho những suy nghĩ tiếp theo của các bạn bị ngăn lại
Trang 8Bạn mải lo cho vấn đề đó mà sẽ quên mất những vấn đề tiếp theo Do đó, các ý nên đượctriển khai một cách liên tục để duy trì sự liên kết
- Không cần tẩy xóa, sửa chữa
- Viết tất cả những gì mình nghĩ cho dù nó có ngớ ngẩn, ngu ngốc đến đâu đichăng nữa, đừng bỏ lỡ những ý tưởng đó Đôi khi những ý nghĩ tưởng như điên rồ lại làmột ý tưởng cực kỳ độc đáo và sáng tạo mà bạn không ngờ được đó
- Sơ đồ tư duy được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển
ra phía ngoài, và sau đó là theo chiều kim đồng hồ Do đó, các từ ngữ nằm bên trái Sơ đồ
tư duy nên được đọc từ phải sang trái (bắt đầu từ phía trong di chuyển ra ngoài)
+ Những ưu điểm của Sơ đồ tư duy:
a Đối với nhà trường :
Kỹ thuật dạy học này có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào
của các nhà trường hiện nay nói chung Bởi vì ta có thể thiết kế Sơ đồ tư duy trên
giấy,trên bảng,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu…hoặc cũng có thể thiết kếtrên phần mềm Sơ đồ tư duy (Mind Map) Với những trường đủ điều kiện về cơ sở vậtchất như Máy chiếu Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, chúng ta có thể sử dụng phầnmềm (Mind Map) để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin
b Đối với giáo viên :
Giáo viên có thể vận dụng Sơ đồ tư duy vào tất cả các khâu trong quá trình dạy
học: Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học bài mới, hay khâu củng cố kiến thức sau
mỗi tiết học đều mang lại hiệu quả cao
c Đối với học sinh :
- Tăng sự hứng thú trong học tập cho học sinh Sơ đồ tư duy giúp học sinh nắm
được kiến thức về tác giả văn học một cách tích cực, chủ động Một số kết quả nghiêncứu của các nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậmcái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Việc học sinhtrực tiếp vẽ Sơ đồ tư duy vừa lôi cuốn, hấp dẫn các em, đồng thời còn phát triển khiếuthẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa”do chính các em tự làm ra,lại vừa phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong học tập, không rậpkhuôn một cách máy móc như khi lập các bảng biểu, sơ đồ Vì thế các em không chỉ tựmình nắm vững những kiến thức cơ bản về tác giả văn học mà còn khắc sâu những kiếnthức thức đó
Trang 9- Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của học sinh.Với ưu điểm luôn chú
trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) ,do đó, các em dễdàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ý tưởng riêng của mình Đây là điều kiện để các emthể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của bản thân
- Tăng cường khả năng tổng hợp kiến thức của học sinh Bài đọc – hiểu về tác giả
văn học đòi hỏi học sinh sau mỗi tiết học phải rút ra được những kiến thức khái quát nhất
và sơ đồ tư duy đã đáp ứng được điều đó
2 CƠ SỞ THỰC TIẾN:
2.1 Cơ sở vật chất trường THPT Lý Nhân Tông:
- Trường THPT Lý Nhân Tông : tuy mới thành lập được hơn 4 năm (từ 8/2011
đến nay ) nhưng cơ sở vật chất cũng như đội ngũ giáo viên đã đáp ứng được yêu cầugiảng dạy
Trường có 18 lớp học với 2 dãy nhà ba tầng khang trang, có phòng của Ban giámhiệu, phòng của các tổ chức đoàn thể, phòng học bộ môn và đặc biệt là phòng đa chứcnăng được trang bị máy chiếu hiện đại, có kết nối Internet…
Đội ngũ giáo viên nhà trường hầu hết còn rất trẻ, có trình độ chuyên môn đạtchuẩn và trên chuẩn (100% có trình độ đại học, 8/49 đồng chí là thạc sỹ).Hầu hết đều lànhững thầy cô nhiệt tình, tâm huyết với nghề
- Tổ Văn – Sử - Địa – GDCD trường THPT Lý Nhân Tông:
Tổ Văn – Sử - Địa – GDCD là tổ tổng hợp các môn xã hội, nhiều năm đạt danh
hiệu là : Tập thể lao động xuất sắc.
Nhóm Ngữ văn nằm trong tổ Văn – Sử - Địa – GDCD gồm có 6 đồng chí, hầu hếtđều là những đồng chí trẻ có nhiệt huyết với nghề, có trình độ chuyên môn vững vàng,trong đó có 2/6 đồng chí là thạc sỹ
- Học sinh của nhà trường:
Học sinh của nhà trường tuy điểm đầu vào bình quân trung còn thấp so với cáctrường trong huyện song ý thức học tập khá tốt Trong đó, hầu hết các em học sinh đềuchăm ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập Mặc dù vậy, vẫn còn tồn tại tình trạng họcsinh nhận thức chậm, chưa có phương pháp học hiệu quả nên chất lượng qua các kỳ kiểmtra chưa cao
2.2 Tình hình dạy học tác giả văn học trong chương trình Ngữ văn THPT
Theo nhu yêu cầu mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung thì việc đổi
Trang 10a Thuận lợi
Những bài về tác giả văn học đều cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản
về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Đây là những yếu tố chi phối,ảnh hưởng rất lớn đến các tác phẩm văn học cũng như phong cách nghệ thuật của tác giả.Nếu nắm vững kiến thức về tác giả, học sinh sẽ hiểu đúng, hiểu sâu hơn về tác phẩm
b Khó khăn:
Theo phân phối chương trình Ngữ văn THPT, trong số 6 tác giả thì có 4 tác giảhọc sinh được học riêng 1 tiết (Nguyễn Trãi, Nam Cao, Hồ Chí Minh, Tố Hữu), 2 tác giảcòn lại (Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu) học sinh phải học kết hợp với tác phẩm trongthời gian 90 phút Điều này dẫn đến tình trạng: giáo viên xem nhẹ phần kiến thức tác giả
để đi sâu vào kiến thức phần tác phẩm Vì lý do thời gian, giáo viên chủ yếu giảng kiếnthức cơ bản, ít quan tâm mở rộng, nâng cao kiến thức bài học dẫn đến tâm lý nhàm chán
mà thiếu đi năng lực cảm thụ văn chương
Nếu có giáo viên sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy bộ môn Văn thì họ tỏ ra bănkhoăn không biết sử dụng Sơ đồ tư duy vào khâu nào trong quá trình dạy học? Phươngpháp thiết kế Sơ đồ tư duy ra sao? Hướng dẫn cách thức sử dụng cho học sinh như thếnào?
b Tình hình sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Lý Nhân Tông:
- Phần lớn giáo viên còn e dè khi sử dụng bởi vì để có một tiết giảng thành công
khi sử dụng Sơ đồ tư duy, giáo viên và học sinh phải chuẩn bị khá công phu
- Giáo viên Ngữ văn của nhà trường chưa được tập huấn về phương pháp sử dụng
Sơ đồ tư duy trong dạy học bộ môn nên chỉ có thể tham khảo các phần mềm vẽ Sơ đồ tưduy, cách sử dụng Sơ đồ tư duy… trên các trang mạng xã hội hay kinh nghiệm của cácđồng nghiệp khác
Trang 11- Hiện nay, trong nhóm Ngữ văn có 2/6 đồng chí sử dụng phương pháp này nhưngchủ yếu áp dụng ở khâu ôn tập kiến thức cho học sinh, chưa mạnh dạn đưa vào giảng dạybài mới.
Từ điều kiện hoàn cảnh như trên, tôi nảy sinh sáng kiến sử dụng Sơ đồ tư duygiảng dạy về tác giả văn học trong chương trình Ngữ văn THPT của cả 3 khối lớp : Ngữvăn 10, Ngữ văn 11, Ngữ văn 12
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
1 Giải pháp trước khi có sáng kiến
- Lâu nay, trong quá trình dạy học, giáo viên thường sử dụng sơ đồ hóa để côđọng, khái quát kiến thức cho học sinh, nhất là ở những bài văn học sử (bài khái quát, bài
về tác gia văn học,…)
Bản thân tôi, trước đây, khi dạy những bài về tác gia văn học cũng tiến hành theophương pháp này Đây là phương pháp dạy học mà trong đó giáo viên truyền đạt nộidung bài giảng cho học sinh qua 1 sơ đồ, học sinh ghi chép và học thuộc
+ Ưu điểm của giải pháp này là:
Cách làm này có thể nói đã đem lại những hiệu quả thiết thực nhất định trong việc
ôn tập, củng cố, hệ thống kiến thức cho học sinh bởi cách trình bày gọn, rõ ràng và logic
Tác
Hình 3: Sơ đồ hóa về một tác gia văn học
+ Nhược điểm của giải pháp này là:
Cả lớp cùng có chung cách trình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tàiliệu, chứ không phải do học sinh tự xây dựng theo cách hiểu của mình
Cuộc đời
Quan điểm sáng tác tác
Giá trị thơ văn
Vị trí trong vhdt
Trang 12Cách làm này chưa thật sự phát huy được tư duy sáng tạo, chưa thật sự kích thích,lôi cuốn được các em trong việc tích cực, chủ động tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh kiếnthức của bài học
Như vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học bài đọc – hiểu về tác gia văn học
là rất cần thiết Tôi hy vọng rằng sáng kiến kinh nghiệm này của tôi sẽ góp một phần nhỏ bé để nâng cao chất lượng giảng dạy của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường THPT nói chung và trong trường THPT Lý Nhân Tông nói riêng.
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
2.1 Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ:
Lập bảng so sánh giữa phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa và phương pháp sửdụng Sơ đồ tư duy :
Giáo viên tổ chức, hướng dẫn chohọc sinh; định hướng, kiểm tra hoạtđộng nhận thức; kết luận, chốt lạikiến thức bài học
Chủ động chiếm lĩnh kiến thức; tìmhiểu, nghiên cứu và giải quyết nhiệm
Tạo điều kiện thuận lợi để học sinhbộc lộ và phát triển năng lực; tácđộng đến tình cảm, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho học sinh
Dạy học cá nhân, dạy học theonhóm…
Trang 13viên,bảng đen, phấntrắng.
- Học sinh : Sách giáokhoa,vở ghi, bút…
giáo viên còn phải sử dụng máychiếu, các phần mềm vẽ Sơ đồ tưduy, phấn màu…
- Học sinh : Ngoài sách giáo khoa,vởghi, bút, cần chuẩn bị thêm bút màu,giấy A0…
Qua việc so sánh trên, có thể nhận thấy những ưu thế của phương pháp mới so vớiphương pháp cũ:
- Giáo viên không thuyết giảng kiến thức mà chủ yếu truyền đạt cho học sinh kỹnăng để học sinh có thể xử lý những tình huống tương tự trong cuộc sống
- Học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức, vận dụng sáng tạo vào thực tế những gìmình học được
- Lớp học sẽ sôi nổi, cuốn hút hơn bởi giáo viên có thể vận dụng nhiều hình thứcdạy học khác nhau trong giờ học
2.2 Các bước thực hiện của giải pháp :
2.2.1 “Làm quen” với Sơ đồ tư duy
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về sơ đồ tư duy : khái niệm,
đặc điểm về cấu tạo, cách vẽ
- Giáo viên chọn những Sơ đồ tư duy có kết cấu đơn giản cho học sinh quan sát Sau đó, cho các em dựa vào Sơ đồ tư duy để thuyết trình nội dung bài học được vẽ
trong sơ đồ
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tập vẽ: đưa ra chủ đề bằng từ khóa (hoặc hình
ảnh) ở trung tâm màn hình (hoặc trên bảng đen) Cho học sinh thực hành vẽ Sơ đồ tư duytrên giấy hay trên bảng Giáo viên đặt các câu hỏi gợi ý để các em suy nghĩ và vẽ các
nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3
* Nguyên tắc :
+ Giáo viên nên chọn những bài các em đã học, có kiến thức đơn giản, dễ nhớ, dễvẽ
+ Giáo viên có thể linh hoạt cho học sinh vẽ theo nhóm vào giấy, vẽ cá nhân vào
vở hoặc gọi 2-3 em lên bảng vẽ
+ Lưu ý các em không dùng câu, đoạn quá dài, nên thể hiện các ý bằng những cụm
từ ngắn gọn
Trang 14- Sau khi các em vẽ xong sườn của Sơ đồ tư duy, giáo viên gợi ý cho các em vẽ chèn thêm những hình ảnh cần thiết để minh họa cho nội dung của sơ đồ, gợi ý cho
các em chỉnh sửa đường nét, sử dụng màu sắc để phân biệt, làm nổi bật mạng lưới các ý
+ Nhắc các em sau mỗi bài học nên lưu các Sơ đồ tư duy lại để sau này tiện việc
ôn tập, hệ thống kiến thức
2.2.2 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
* Đối với giáo viên:
- Giáo viên đọc trước và kỹ nội dung bài học, nắm bắt những ý cơ bản về tác giả
văn học cần vẽ sơ đồ tư duy
- Giáo viên nghiên cứu kĩ những tài liệu liên quan đến việc hướng dẫn sử dụng Sơ
đồ tư duy và phần mềm Mind Map để có những tri thức cơ bản về nó
- Giáo viên cần có thời gian tập vẽ, cả vẽ trên giấy và trên phần mềm trong máy vitính (Nhớ là phải nghiên cứu kĩ cách sử dụng phần mềm để thực hiện thao tác cho nhanhnhẹn, thuần thục) Sau khi đã hiểu kĩ, nắm chắc về vai trò, công dụng của Sơ đồ tư duy,
sử dụng thành thạo phần mềm, nắm vững phương pháp vẽ một Sơ đồ tư duy, thì việc ứngdụng nó vào quá trình dạy học là việc dễ dàng
- Giáo viên cần chuẩn bị trước: phòng máy, máy chiếu, bảng phụ, phấn màu, vàmột số Sơ đồ tư duy đã vẽ sẵn trên trên máy, trên giấy A0, trên bảng phụ
Trang 15* Đối với học sinh:
- Học sinh đọc trước bài học ở nhà theo hướng dẫn của giáo viên
- Học sinh làm quen với một số Sơ đồ tư duy có sẵn, để các em bước đầu có cáinhìn khái quát về Sơ đồ tư duy (tiếp xúc, hiểu và “bắt chước” vẽ theo Sơ đồ tư duy cósẵn) Đây là bước chuẩn bị hết sức quan trọng Tuy nhiên, rất nhiều giáo viên bỏ quabước này hoặc giới thiệu một cách rất sơ sài, qua loa Vì thế, học sinh chưa hiểu biết cặn
kẽ, cụ thể về nó, chưa nắm vững phương pháp tạo lập, chưa có kĩ năng vẽ Sơ đồ tư duynên dẫn đến nhiều tiết dạy không thành công do các em mãi loay hoay với giấy bút màkhông biết vẽ cái gì, vẽ như thế nào, bắt đầu từ đâu, vì các em chưa hình dung được Sơ
đồ tư duy của bài học trong đầu mình cũng như chưa biết cách thức, phương pháp vẽ
- Học sinh cần chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ: giấy vở, giấy A0, bút chì, hộp màu,tẩy,
2.2.3 Các bước sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học
2.2.3.1 Sử dụng Sơ đồ tư duy kiểm tra bài cũ :
- Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đề củakiến thức cũ mà các em đã học
- Sau đó giáo viên yêu cầu các em vẽ Sơ đồ tư duy thông qua câu hỏi gợi ý
- Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm) ấy kết hợp với câu hỏi định hướngcủa giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định hình được cách vẽ Sơ đồ tư duy theoyêu cầu
Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhận xét, góp
ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm
* Ví dụ: Khi kiểm tra bài cũ về tác gia Nguyễn Đình Chiểu:
- Giáo viên ghi lên bảng từ khóa trung tâm “Nguyễn Đình Chiểu”.
- Yêu cầu 1 học sinh lên bảng, dựa vào kiến thức đã học vẽ các nhánh cấp 1, cấp
2…
- Học sinh dưới lớp vẽ ra giấy
- Giáo viên kiểm tra bài của học sinh và chỉnh sửa, bổ sung
- Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một Sơ đồ tư duy hoàn chỉnh về tác giảNguyễn Đình Chiểu
Trang 16Hình 4: Sơ đồ tư duy về tác gia Nguyễn Đình Chiểu
*Lưu ý:
+ Giáo viên có thể cho cả lớp cùng lập Sơ đồ tư duy trên giấy theo cách hoạt động
cá nhân trong một thời gian nhất định để lôi cuốn tất cả học sinh vào việc ôn kiến thứcđồng thời rèn luyện kĩ năng tạo lập Sơ đồ tư duy và thói quen tư duy cho các em
+ Hết thời gian quy định, giáo viên chọn sơ đồ của một vài em (có thể vẽ xongtrước, có thể cần lấy điểm, ), chấm, nhận xét và ghi điểm cho các em; biểu dương, khenngợi những em vẽ tốt để khích lệ các em nhằm tạo không khí học tập sôi nổi
+ Giáo viên chỉ cần dựa vào Sơ đồ tư duy chấm và ghi nhận điểm cho học sinh màkhông cần phải yêu cầu gì thêm ở các em, vì ta đã chọn dạng đề khá đơn giản, nên những
gì cần trả lời, các em đã thể hiện trong Sơ đồ tư duy, hơn nữa thời gian kiểm tra bài cũ cóhạn
2.2.3.2 Sử dụng Sơ đồ tư duy dạy học bài mới :
Lâu nay, việc sử dụng Sơ đồ tư duy như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc dạyhọc bài mới thì ít nhiều giáo viên chúng ta đã và đang ứng dụng Tuy nhiên, việc sử dụng
Sơ đồ tư duy vừa để tổ chức, dẫn dắt cho học sinh tự tìm hiểu, khám phá, chiếm lĩnh kiếnthức bài học lại vừa thay thế cho việc ghi bảng cô đọng kiến thức tiết dạy, bài dạy củagiáo viên thì quả là việc làm còn hết sức mới mẻ
Sau đây là một số hình thức vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy bài mới xin được chia
sẻ với các đồng nghiệp:
Trang 17a Sử dụng Sơ đồ tư duy trên máy chiếu:
* Các bước lên lớp:
+Tìm từ khóa trung tâm : Giáo viên gợi mở để học sinh tìm từ khóa trung
tâm Giáo viên trình chiếu từ khóa (hình ảnh trung tâm) lên máy chiếu
- Giáo viên có thể tổ chức hoạt động nhóm để học sinh tìm từ khóa cấp 2,3 (thực
chất là những luận cứ, luận chứng để làm sáng tỏ cho luận điểm) … Bao nhiêu từ khóacấp 1 thì chia lớp ra thành bấy nhiêu nhóm, mỗi nhóm trình bày 1 từ khóa cấp 1
- Các nhóm cử đại diện trình bày
- Giáo viên điều chỉnh, bổ sung và trình chiếu trên máy
+ Giáo viên chốt lại và hoàn thiện sơ đồ tư duy Giáo viên kết hợp với các hình
ảnh minh họa, thuyết giảng để học sinh hiểu sâu hơn bài học
+ Đây là hình thức dạy học mà giáo viên tách rời bảng đen, phấn trắng.
+ Giáo viên và học sinh phải chuẩn khá công phu trước mỗi giờ học
* Ví dụ : Trong bài “Bình Ngô đại cáo”, phần I: tìm hiểu về tác giả Nguyễn Trãi,
giáo viên có thể tổ chức dạy học bài mới về tác giả như sau :
- Tìm từ khóa trung tâm :Giáo viên giới thiệu bài học với nội dung chính là tìm
hiểu về tác giả Nguyễn Trãi.Sau đó, đưa hình ảnh trung tâm lên máy chiếu
Trang 18- Tìm từ khóa cấp 1: Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào sách Ngữ văn 10, tập 2,
nêu những nét cơ bản về tác giả Nguyễn Trãi Học sinh trả lời : cuộc đời, sự nghiệp thơ
văn, kết luận.
- Tìm từ khóa cấp 2,3… phần cuộc đời.
Sinh năm 1380, mất 1442
Gia đình có truyền thống yêu nước, văn hóa, văn học
Quê quán : Thường Tín, Hà Tây
Trước khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn:5 tuổi mất mẹ, 10 tuổi mất ông ngoại,năm
1400 đỗ Thái học sinh- ra làm quan cho triều Hồ,năm 1407 : giặc Minh xâm lược,Nguyễn Trãi đi theo Lê Lợi
Trang 19Sau khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn :góp phần to lớn vào chiến thắng quân Minh
1428, thay mặt Lê Lợi viết Đại cáo bình Ngô; ông hăm hở tham gia xây dựng đấtnước;ông không còn được tin dùng; năm 1439: xin về ở ẩn ở Côn Sơn; Năm 1440: LêThái Tông mời ra giúp việc nước; năm 1442: vướng vào vụ án Lệ Chi Viên - tru di tamtộc; năm 1464:Lê Thánh Tông minh oan ; năm 1980: UNESCO công nhận là danh nhânvăn hóa thế giới
- Tìm từ khóa cấp 2,3…phần sự nghiệp thơ văn.
1.Tác phẩm chính:
+ Tác phẩm chữ Hán :Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi
tập, Chí Linh sơn phú, Băng Hồ di sự lục, Lam Sơn thực lục, Văn bia Vĩnh Lăng, Văn loại.
+ Tác phẩm chữ Nôm : Quốc âm thi tập
+Tác phẩm viết về địa lý : Dư địa chí
2 Nguyễn Trãi - nhà văn chính luận kiệt xuất.
- Vị trí : là nhà văn chính luận lỗi lạc nhất trong văn học trung đại Việt Nam.
- Tác phẩm chính luận tiêu biểu :
Trang 20+ Quân trung từ mệnh tập :thư từ, giấy tờ giao thiệp với nhà Minh; thể hiện tư
tưởng nhân nghĩa, tư tưởng yêu nước; nghệ thuật luận chiến bậc thầy; được đánh giá “có
sức mạnh của mười vạn quân” ( Phan Huy Chú)
+ Bình Ngô đại cáo : thay mặt Lê Lợi viết cho toàn dân; đây là áng văn yêu nước,
là tuyên ngôn về chủ quyền của dân tộc, là bản cáo trạng tố cáo kẻ thù, là bản anh hùng
ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; đây được coi là áng thiên cổ hùng văn
- Giá trị nội dung : Tư tưởng chủ đạo là tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương
dân
- Giá trị nghệ thuật :đạt tới trình độ nghệ thuật mẫu mực từ xác định đối tượng,
mục đích, bút pháp, kết cấu chạt chẽ, lập luận sắc bén
3 Nguyễn Trãi – nhà thơ trữ tình sâu sắc.
- Vị trí : Nguyễn Trãi là nhà thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình.
- Tác phẩm tiêu biểu :
+ Ức Trai thi tập.
+ Quốc âm thi tập.
- Giá trị nội dung :
+ Nguyễn Trãi là người anh hùng vĩ đại của dân tộc :
Lý tưởng của người anh hùng : hòa quyện yêu nước và thương dân
Phẩm chất, ý chí người anh hùng :dáng ngay thẳng, cứng cỏi của cây trúc; vẻthanh tao, trong trắng của cây mai; sức sống khỏe khoắn của cây tùng
+ Nguyễn Trãi là con người trần thế :
Đau đớn khi chứng kiến nghịch cảnh éo le của xã hội
Mơ ước về một xã hội thái bình, thịnh trị
Dành nhiều tình yêu cho thiên nhiên, đất nước, con người và cuộc sống
Nguyễn Trãi đề cập tới nghĩa vua tôi, tình cha con và tình bạn
Nguyễn Trãi gắn bó tha thiết với quê hương
Trang 21- Tìm từ khóa cấp 2,3… phần kết luận
+ Vị trí trong nền văn học dân tộc : 1 hiện tượng văn học : kết tinh truyền thống
văn học Lý – Trần, mở đường cho 1 giai đoạn phát triển mới
Trang 22+ Nội dung thơ văn : kết hợp giữa nội dung yêu nước và nội dung nhân đạo.
+ Nghệ thuật thơ văn : đóng góp nhiều nhất là về thể loại và ngôn ngữ.
Hình 4: Sơ đồ tư duy về tác gia Nguyễn Trãi
*Hình ảnh minh họa: Một số sơ đồ tư duy vẽ trên phần mềm các tác gia trong
chương trình Ngữ văn
Trang 23Hình 5 : Sơ đồ tư duy tác gia Nguyễn Du
Trang 24Hình 6 : Sơ đồ tư duy tác gia Hồ Chí Minh
Trang 25Hình 7: Sơ đồ tư duy tác gia Tố Hữu
Trang 26Hình 8: Sơ đồ tư duy tác gia Nam Cao
Trang 27b Sử dụng Sơ đồ tư duy trên bảng đen :
*Các bước lên lớp :
+Tìm từ khóa trung tâm :
- Giáo viên gợi mở để học sinh tìm từ khóa trung tâm
- Gv viết từ khóa trung tâm lên bảng ( giáo viên có thể trang trí từ khóatrung tâm bằng 1 hình ảnh sinh động có tính chất minh họa…)
+ Tìm từ khóa cấp 1,2,3…:
- Giáo viên gợi mở để học sinh tìm từ khóa cấp 1
- Giáo viên viết từ khóa cấp 1 lên bảng ( giáo viên sử dụng phấn màu để vẽnhánh của từ khóa cấp 1)
Giáo viên có thể tổ chức hoạt động nhóm :
- Giáo viên có thể tổ chức hoạt động nhóm để học sinh tìm từ khóa cấp 2.Bao nhiêu từ khóa cấp 1 thì chia lớp ra thành bấy nhiêu nhóm, mỗi nhóm trình bày kiếnthức bài học liên quan đến từ khóa cấp 1
- Các nhóm cử đại diện trình bày
- Giáo viên điều chỉnh, bổ sung
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh làm việc cá nhân :
- Giáo viên vẽ nhánh cấp 2, 3 lên bảng ( dạng sơ đồ tư duy trống )
- Sau đó yêu cầu học sinh lên điền thông tin, thuyết minh kiến thức liênquan đến từ khóa của nhánh