1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sáng kiến giúp học sinh xác định nhanh và chính xác các thao tác lập luận trong văn bản nghị luận

42 1,4K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 398 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng em hay nhầm giữa giải thích và bình luận, chứng minh và phân tích, hay phân tích và giải thích, … Tôi nhận thấy không chỉ học sinh, mà cả giáo viên cũng lúng túng trong việc xác đị

Trang 1

1 Tên sáng kiến:

GIÚP HỌC SINH XÁC ĐỊNH NHANH VÀ CHÍNH XÁC CÁC THAO

TÁC LẬP LUẬN TRONG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy phân môn Làm văn trong nhà

Nơi thường trú: Yên Phong – Ý Yên – Nam Định.

Trình độ chuyên môn: Cử nhân văn học.

Chức vụ công tác: Giáo viên

Nơi làm việc: Trường THPT Mỹ Tho, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

Trang 2

MỤC LỤC

I HOÀN CẢNH NẢY SINH SÁNG KIẾN………. 1

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP……… 2

1 MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN………. 2

1.1 Khái niệm thao tác lập luận trong chương trình Ngữ văn chưa rõ ràng… 3

1.2 Quan điểm giảng dạy của giáo viên chưa đổi mới…… ……… 4

1.3 Học sinh chưa hứng thú với môn học ……… 4

2 MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN 2.1 Một số khái niệm trong văn nghị luận………

2.1.1 Khái niệm văn nghị luận ………

5 5 2.1.2 Khái niệm lập luận trong văn nghị luận……… 5

2.2 Các thao tác lập luận trong văn nghị luận ………. 6

2.3 Cách xác định các thao tác lập luận trong văn nghị luận……….

2.3.1 Bước 1: Ghi nhớ mục đích lập luận của từng thao tác………

8 8 2.3.2 Bước 2: Xác định mục đích nghị luận của văn bản……… 9

2.3.3 Bước 3: Tìm hiểu đối tượng tiếp nhận……… 9

2.3.4 Bước 4: Xác định dấu hiệu nhận biết của từng thao tác……… 11

2.3.4.1 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận giải thích………. 11

2.3.4.2 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận phân tích……… 13

2.3.4.3 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận chứng minh……… 15

2.3.4.4 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận bình luận……… 17

2.3.4.5 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận so sánh……… 18

2.3.4.6 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận bác bỏ………. 19

2.3.5 Một số nhầm lẫn thường gặp của học sinh Nguyên nhân và cách sửa chữa………

2.3.5.1 Nhầm giữa thao tác lập luận so sánh với phân tích và giải thích……… ………

19 19 2.3.5.2 Nhầm giữa thao tác lập luận phân tích với giải thích……… 21

2.3.5.3 Nhầm thao tác lập luận chứng minh với phân tích………. 23

2.4 Thực nghiệm sư phạm………

2.4.1 Mục đích thực nghiệm………

24 24 2.4.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm……….……… 24

2.4.3 Bài tập thực nghiệm……… 25

2.4.4 Bài kiểm tra thực nghiệm……….……… 30

2.4.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm……… 32

III HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI……… 33

IV CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN…… 35

CÁC PHỤ LỤC………. 36

2

Trang 3

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

I HOÀN CẢNH NẢY SINH SÁNG KIẾN

Nền giáo dục Việt Nam đang trên đà đổi mới Trọng tâm của vấn đề đổi mới giáodục là đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triểnnăng lực, phẩm chất của học sinh (HS) Đây là một hướng đi đúng đắn, nâng cao vai tròcủa giáo dục trong nhà trường

Là một môn học công cụ quan trọng, Ngữ văn có vai trò rất lớn trong việc hìnhthành và phát triển năng lực cho HS Bên cạnh đó, môn học này còn góp phần hình thànhnhững phẩm chất tốt đẹp cho con người sau khi tham gia vào quá trình học tập Vì vậyđổi mới môn Ngữ văn là vô cùng cần thiết Để đáp ứng với yêu cầu dạy học môn Ngữvăn theo hướng hình thành và phát triển năng lực, cần chú ý đến việc dạy học môn Ngữvăn theo hướng tích hợp, tức là tổ chức phối hợp các phân môn Văn học, Tiếng Việt vàLàm văn trong các bài học, giúp HS từng bước nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việttrong việc tiếp nhận và tạo lập các loại văn bản

Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục đã có những đổi mới rõ rệt trong cấu trúc

đề thi môn Ngữ văn Năm 2008, đề thi có thêm phần nghị luận xã hội Từ năm học 2013– 2014, đề thi Ngữ văn bao gồm hai phần chính: phần đọc – hiểu văn bản và phần làmvăn Với cấu trúc đề thi như thế, tránh cho HS việc học tủ, học vẹt, đồng thời đánh giáđược năng lực của các em một cách khách quan, trung thực

Để làm tốt phần đọc – hiểu trong đề thi, đòi hỏi HS phải nắm chắc kiến thức bộmôn Một trong những phân môn quan trọng trong chương trình Ngữ văn là phân mônLàm văn HS đã được rèn luyện kiến thức làm văn từ những năm THCS Những kháiniệm như phương thức biểu đạt, thao tác lập luận, hay phương pháp lập luận, khôngphải là mới nhưng hình như HS không để ý tới Vì vậy, rất nhiều HS tỏ ra hoang mangkhi bắt gặp câu hỏi trong đề thi minh họa THPT Quốc gia (được Bộ Giáo dục và Đào tạo

công bố vào tháng 3/ 2015) Câu hỏi như sau: Trong đoạn (1), tác giả chủ yếu sử dụng

thao tác lập luận nào?

(1) Cái thú tự học cũng giống cái thú đi chơi bộ ấy Tự học cũng là một cuộc du

lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gấp trăm lần du lịch bằng chân, vì nó là

du lịch trong không gian lẫn thời gian Những sự hiểu biết của loài người là một thế giới mênh mông Kể làm sao hết được những vật hữu hình và vô hình mà ta sẽ thấy trong cuộc du lịch bằng sách vở ?

[…]

Trang 4

(Trích Tự học - một nhu cầu thời đại - Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hóa - Thông tin,

Hà Nội, 2003

HS thường xuyên hỏi tôi: cô chỉ cho chúng em cách thức làm thế nào phân biệt

các thao tác lập luận? Căn cứ vào đâu để xác định thao tác lập luận chính trong một văn bản? Chúng em hay nhầm giữa giải thích và bình luận, chứng minh và phân tích, hay phân tích và giải thích, … Tôi nhận thấy không chỉ học sinh, mà cả giáo viên cũng lúng

túng trong việc xác định chính xác các thao tác lập luận trong một văn bản Câu hỏi làm thế nào để xác định nhanh và chính xác các thao tác lập luận trong văn bản nghị luận thường trực trong tôi kể từ đó

Để giúp HS giải quyết những thắc mắc, nhầm lẫn khi ôn tập kiến thức về các thaotác lập luận trong văn bản nghị luận, tôi quyết định bỏ thời gian, công sức và trí tuệ củamình để nghiên cứu vấn đề này Hơn nữa, việc hiểu và vận dụng thành thạo các thao táclập luận còn giúp các em tự tin hơn trong cuộc sống, mạnh dạn bày tỏ quan điểm củamình Đây là phẩm chất rất cần thiết của con người hiện đại

Vì những lẽ trên thôi thúc tôi nghiên cứu để tạo ra sáng kiến này, với mong muốngiúp HS xác định nhanh và chính xác nhất các thao tác lập luận trong văn bản nghị luận.Tôi tin rằng với những công sức và trí tuệ tôi đã bỏ ra để nghiên cứu, tìm tòi, sáng kiếnnày sẽ trở thành một tài liệu hữu dụng cho đồng nghiệp và học trò trong quá trình ôn tập,kiểm tra môn học Ngữ văn

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP.

1 MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN.

Như trên tôi đã nói, HS đã được học và rèn luyện về kiến thức phân môn Làm văn

từ những năm THCS Có lẽ vì trước đây, đề thi không bao giờ hỏi riêng về kiến thức này,nên HS không để ý, hoặc chỉ học chiếu lệ Nhiều giáo viên dạy học Ngữ văn cũng chỉ chútrọng đến làm văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học Vì vậy, mặc dù những thao tácnhư phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận, giải thích, bác bỏ học sinh thường xuyênvận dụng để làm rõ một vấn đề nào đó, không chỉ trong văn chương mà cả trong cuộcsống, nhưng các em vẫn không hiểu bản chất

Vấn đề về các thao tác lập luận trong văn nghị luận chỉ thực sự được quan tâm vànghiên cứu từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đổi mới phương pháp dạy học Ngữvăn theo định hướng phát triển năng lực Cho nên khi bắt tay vào nghiên cứu để tạo rasáng kiến này, tôi gặp không ít những khó khăn

4

Trang 5

1.1 Khái niệm thao tác lập luận trong chương trình Ngữ văn chưa rõ ràng.

Các thao tác lập luận trong văn nghị luận là kiến thức trọng tâm của phần Làm vănchương trình Ngữ văn lớp 11 hiện hành Khi bắt tay vào nghiên cứu vấn đề này, tôi nhậnthấy quan điểm về các thao tác lập luận của các tác giả sách giáo khoa THCS và THPT,ban cơ bản và nâng cao chưa có sự thống nhất

Theo chuẩn kiến thức kĩ năng(1) môn Ngữ văn lớp 11 cơ bản và nâng cao, các thaotác lập luận cơ bản là: giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh, bình luận, bác bỏ.Trong đó, lớp 11, học sinh được học bốn thao tác lập luận là phân tích, so sánh, bìnhluận, bác bỏ Nhưng ở THCS sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập 2, trang 67 gọi hai thao tác

lập luận giải thích và chứng minh là phương pháp lập luận Cụ thể phần ghi nhớ có ghi

“Bài văn nghị luận nào cũng có đối tượng (hay đề tài) nghị luận, các luận điểm, luận cứ

và lập luận Các phương pháp lập luận chính thường gặp là: chứng minh, giải thích Vậy

giải thích và chứng minh là phương pháp lập luận hay thao tác lập luận?

Trong Ngữ văn 10, tập 2, trang 134 phần ghi nhớ viết: “Phân tích, tổng hợp, diễn

dịch, quy nạp, so sánh là những thao tác thường gặp trong hoạt động nghị luận”

Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1, trang 176 nhận xét “Học sinh đã được học và

luyện tập tới 6 thao tác lập luận: phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận, giải thích, chứng minh.”

Ngữ văn 10 tập 2, nâng cao, trang 147 lại cho rằng chứng minh, giải thích, diễn

dịch, quy nạp là các thao tác nghị luận.

Thực tế trên cho thấy, quan điểm về các thao tác lập luận và phương pháp lập luậnchưa rõ ràng Tuy nhiên, trong các đề thi THPT Quốc gia thường xuyên xuất hiện câu hỏi

để kiểm tra kiến thức này Vì vậy, giáo viên cần có sự nhất quán trong giảng dạy, tránh

để tâm lí hoang mang cho học sinh

Trên cơ sở nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu liên quan, dựa theo chuẩnkiến thức kĩ năng chương trình giáo dục phổ thông cấp THPT môn Ngữ văn, sáng kiến

của tôi giúp HS phân biệt 6 thao tác lập luận cơ bản: chứng minh, giải thích, phân tích,

so sánh, bác bỏ, bình luận

Trong 6 thao tác lập luận trên, học sinh thường xuyên nhầm lẫn giữa các thao tác,nhất là thao tác giải thích, bình luận, phân tích Có học sinh cho rằng: bình luận chẳngqua là sự kết hợp của hai kiểu lập luận giải thích và chứng minh Sáng kiến của tôi giúpcác em hiểu rõ vấn đề, tránh nhầm lẫn trong khi làm bài

Trang 6

1.2 Quan điểm giảng dạy của giáo viên chưa đổi mới.

Một thực tế không thể phủ nhận là giáo viên ở ta quen với phương pháp dạy học

cũ, chỉ dựa vào giảng, bình, diễn giảng Dạy văn hầu như chỉ có một đường là “giảng”,

“bình”, “luận”, “phân tích” Dạy Tiếng Việt và Làm văn thì nặng về dạy lí thuyết, ít thựchành Cho nên những kiến thức làm văn nhất là thao tác lập luận trong văn nghị luận,giáo viên còn mơ hồ, trong khi không có tài liệu nào ghi chép đầy đủ về những kiến thứcnày, cũng không có những buổi tập huấn cho giáo viên để hàm thụ thêm kiến thức Do

đó, giáo viên phải tự mày mò nghiên cứu và rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy vàhọc hỏi từ đồng nghiệp

Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy nhiều giáo viên cho rằng: một thao tác lậpluận được coi là chính trong văn bản khi thao tác đó được sử dụng với tần số nhiều hơn,nghĩa là đoạn văn sử dụng thao tác đó dài hơn Đó là quan điểm sai lầm Tôi hoàn toànnhất trí với các tác giả viết Sách giáo viên Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Giáo dục, ở trang 130

nhận xét: “Vị trí hay vai trò của từng thao tác trong sự kết hợp được quyết định bởi mục

đích nghị luận”, “Chỉ khi đã hiểu được mục đích nghị luận, xuất phát từ mục đích nghị luận, người nghe (người đọc) mới có thể nhận ra chính xác thao tác lập luận nào là chủ yếu, thao tác lập luận nào là bổ trợ …”.

Sáng kiến của tôi sẽ từng bước lí giải những quan điểm sai lầm đó

1.3 Học sinh chưa hứng thú với môn học Ngữ văn

HS hiện nay tỏ rõ thái độ coi thường môn học Ngữ văn, không hứng thú với mônhọc vì nhiều lẽ

Xét về xã hội, thời đại chúng ta đang sống là thời đại khoa học công nghệ, dễ hiểu

là đại đa số HS chỉ muốn học các ngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật, kinh tế…ít có HShứng thú học văn, bởi phần đông HS nghĩ rằng năng lực văn là năng lực tự nhiên của conngười xã hội, không học vẫn biết đọc, biết nói; học văn không thiết thực Văn có kémmột chút, ra đời vẫn không sao, vẫn nói và viết được, còn không học ngoại ngữ, khônghọc khoa học, kĩ thuật thì coi như mù kiến thức, chịu lép vế Có thể đó là lí do làm cho đa

số HS không cố gắng học ngữ văn Rõ ràng tâm lí cá nhân, môi trường học tập, nếp sống,quan niệm sống của đông đảo dân cư đã có nhiều thay đổi

Tuy nhiên ở đây còn có vấn đề thuộc phương pháp dạy học ngữ văn, cách thứckiểm tra đánh giá học sinh Nền giáo dục của chúng ta đang có những bước chuyển mình,đổi mới hướng vào phát triển năng lực phẩm chất của học sinh Đó là hướng đi đúng đắn,

6

Trang 7

nhưng không phải ngày một ngày hai là có thể thay đổi được HS vẫn còn học thụ động,thiếu sáng tạo, không hứng thú, say mê.

Vì vậy chúng tôi rất vất vả trong việc giảng dạy bởi những quan điểm thiên lệchkhông chỉ của HS mà của cả những bậc làm cha làm mẹ, và đâu đó vẫn tồn tại quan điểmcoi trọng, xem nhẹ môn học trong một số giáo viên

Vượt qua tất cả những khó khăn trên tôi nỗ lực tạo ra sáng kiến này, trước hết là đểcủng cố kiến thức cho bản thân, sau đó giúp HS nhận diện được các thao tác lập luậntrong một văn bản nghị luận một cách dễ dàng, nâng cao hiệu quả ôn tập và kiểm tra

2 MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN.

Muốn làm tốt bài tập xác định thao tác lập luận trong văn bản nghị luận, trước hết

HS cần hiểu rõ bản chất của vấn đề lập luận trong văn nghị luận Cụ thể, HS phải nắmchắc một số các khái niệm cơ bản về văn nghị luận

2.1 Một số khái niệm trong văn nghị luận.

2.1.1 Khái niệm văn nghị luận.

Văn nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, HS được làm quen từ THCS Dựa

vào mục đích giao tiếp, phương thức biểu đạt của từng văn bản, mà sách giáo khoachương trình Ngữ văn THCS hiện hành phân thành 6 kiểu loại văn bản: tự sự, miêu tả,biểu cảm, thuyết minh, nghị luận và điều hành Trong đó, đặc trưng của văn nghị luận làdùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn họcnghệ thuật, đạo đức…) Xét theo nội dung luận bàn, văn nghị luận phân làm hai thể: vănchính luận (bàn về các vấn đề chính trị, xã hội, triết học, đạo đức), văn phê bình văn học(bàn về các vấn đề văn học nghệ thuật)

Mục đích của văn nghị luận là: nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tưtưởng, quan điểm nào đó Muốn vậy, người viết phải biết trình bày ý kiến của mình vàđưa ra những lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục, nghĩa là phải biết lập luận Vậy thế nào là lậpluận?

2.1.2 Khái niệm lập luận trong văn nghị luận:

“Lập luận là đưa ra luận cứ (lí lẽ và bằng chứng) nhằm dẫn dắt người nghe, người đọc đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận mà kết luận đó là tư tưởng (hay quan điểm, ý kiến) của người viết (2) ”

Muốn việc nghị luận đạt chất lượng cao hơn, có hiệu quả thuyết phục lớn hơn, khi

tiến hành quá trình lập luận, đòi hỏi người viết phải tuân thủ những thao tác, tức là những

Trang 8

việc làm đã được đúc kết thành quy trình chặt chẽ Chứng minh, phân tích, so sánh, bác

bỏ, bình luận, giải thích là những thao tác lập luận cơ bản

2.2 Các thao tác lập luận trong văn nghị luận.

Như trên đã nói, chứng minh, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận, giải thích là

những thao tác lập luận cơ bản trong một bài văn nghị luận Các thao tác này phân biệtvới nhau là bởi chúng hướng tới các mục đích khác nhau

Sau đây là bảng hệ thống, giúp HS phân biệt 6 thao tác lập luận, theo mục đích vàcách thức lập luận Đây là những kiến thức rất cơ bản mà HS đã được học trong chươngtrình Ngữ văn các cấp

Là làm cho người đọc hiểu

rõ các tư tưởng, đạo lí,

phẩm chất, quan hệ, … cần

được giải thích nhằm nâng

cao nhận thức, trí tuệ, bồi

dưỡng tư tưởng, tình cảm

cho con người

Thường giải thích bằng các cách: nêu địnhnghĩa, kể ra các biểu hiện, so sánh, đối chiếuvới các hiện tượng khác, chỉ ra các mặt lợihại, nguyên nhân, hậu quả, cách đề phònghoặc noi theo, … của hiện tượng hoặc vấn đềđược giải thích

điểm mới (cần được chứng

minh) là đáng tin cậy

Muốn chứng minh có 2 cách lập luận: nêu dẫnchứng xác thực, nêu lí lẽ

3 Phân

tích

Làm rõ đặc điểm về nội

dung và hình thức, cấu trúc

và các mối quan hệ bên

trong, bên ngoài của đối

tượng (sự vật, hiện tượng)

- Cần chia tách đối tượng thành các yếu tốtheo những tiêu chí, quan hệ nhất định

- Phân tích căn cứ vào các mối quan hệ cụthể: quan hệ nội bộ của đối tượng; quan hệnguyên nhân – kết quả, kết quả - nguyênnhân, quan hệ giữa đối tượng với các đốitượng liên quan; phân tích theo sự đánh giáchủ quan của người lập luận

- Phân tích cần đi sâu vào từng yếu tố, từngkhía cạnh, song cần đặc biệt lưu ý đến quan

hệ giữa chúng với nhau trong một chỉnh thể8

Trang 9

toàn vẹn, thống nhất.

4 So sánh Làm rõ đối tượng đang

nghiên cứu trong tương

quan với đối tượng khác

Khi so sánh phải đặt đối tượng vào cùng bìnhdiện, đánh giá trên cùng một tiêu chí mới thấyđược sự giống và khác nhau giữa chúng, đồngthời phải nêu rõ ý kiến, quan điểm của ngườinói (người viết)

hoặc trong văn học

- Trình bày rõ ràng trung thực, nhưng ngắngọn hiện tượng (vấn đề) được bình luận

- Đề xuất và chứng tỏ được ý kiến nhận định,đánh giá của mình là xác đáng

- Có những lời bàn sâu rộng về chủ đề bìnhluận

Bảng hệ thống cung cấp cho HS những lí thuyết cơ bản, giúp HS bước đầu hiểu về

các thao tác lập luận trong văn nghị luận Tuy nhiên nếu chỉ nắm lí thuyết mà không

thường xuyên luyện tập, HS khó có thể xác định được chính xác các thao tác được sửdụng trong mỗi văn bản Bởi vì trong một bài văn nghị luận luôn có sự kết hợp các thao

tác lập luận Vai trò, vị trí của từng thao tác lập luận được quyết định bởi mục đích nghị

Trang 10

2.3 Cách xác định nhanh và chính xác các thao tác lập luận trong văn bản nghị luận.

2.3.1 Bước 1: Ghi nhớ mục đích lập luận của từng thao tác.

Đây là yêu cầu cần thiết, bắt buộc HS phải nắm được trước khi xác định thao táclập luận trong văn bản

Các thao tác lập luận phân biệt với nhau là bởi chúng hướng tới các mục đích khácnhau Mỗi thao tác có một mục đích riêng Trong bảng hệ thống tôi đã trình bày mục đích

lập luận của từng thao tác Để HS dễ nhớ nhất, tôi nhấn mạnh vào các từ ngữ đặc trưng,

và trình bày theo bảng sau:

Thao tác lập luận Mục đích của từng thao tác.

Giải thích Giảng giải, cắt nghĩa cho người ta hiểu

Chứng minh Để cho người ta tin

So sánh Giúp người ta nhận rõ giá trị của sự vật (hiện tượng, tư tưởng, …)

này bằng cách chỉ ra sự giống nhau và khác nhau giữa nó với một

sự vật (hiện tượng, tư tưởng, …) khác.

Phân tích Đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh giúp người ta hiểu một

cách cặn kẽ, thấu đáo.

Bác bỏ Mục đích phủ nhận, làm sáng tỏ sự thật, sáng tỏ chân lí, bảo vệ cái

đúng

Bình luận Nhằm đề xuất và thuyết phục người ta nghe theo sự đánh giá, bàn

bạc của người nói (người viết) về một hiện tượng hoặc vấn đề nào

đó

2.3.2 Bước 2: Xác định mục đích nghị luận của văn bản.

Sau khi đã nắm chắc mục đích của từng thao tác, HS sẽ tiến hành xác định mụcđích nghị luận của văn bản

10

Trang 11

*Mục đích của bước 2: giúp HS xác định được thao tác lập luận chính trong một

văn bản Nghĩa là văn bản nghị luận có thể vận dụng nhiều thao tác lập luận khác nhau để

làm rõ vấn đề, song chỉ có một thao tác chính được xác định dựa trên mục đích nghị luận cơ bản của văn bản đó Vì mỗi văn bản nghị luận bao giờ cũng thực hiện một mục

đích nghị luận nhất định

Ví dụ: Cho văn bản nghị luận sau:

“Chớ tự kiêu tự đại Tự kiêu tự đại là khờ dại Vì mình hay, còn nhiều người hay

hơn mình Mình giỏi còn nhiều người giỏi hơn mình Tự kiêu tự đại tức là thoái bộ Sông

to bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ Người mà tự kiêu tự mãn thì cũng như cái chén, cái đĩa cạn.”

(Hồ Chí Minh, “Cần kiệm liêm chính”)

Văn bản trên sử dụng hai thao tác lập luận là phân tích và so sánh, bởi:

- Đối tượng phân tích là thái độ tự kiêu tự đại của con người Hồ Chí Minh đã phân tích bằng cách chia tách ra hai lí do khiến người ta trở nên tự kiêu tự đại: tự kiêu tự đại là

khờ dại và tự kiêu tự đại tức là thoái bộ

- So sánh người tự kiêu tự đại cũng như cái chén nhỏ, cái đĩa cạn hay sông to bểrộng

Tuy nhiên, mục đích nghị luận của văn bản trên: là muốn cho người đọc hiểu một

cách cặn kẽ về thái độ “tự kiêu tự đại” của con người, đó là một thói xấu, đáng phê phán,

không nên có Do đó thao tác lập luận chính là phân tích, không phải so sánh.

2.3.3 Bước 3: Tìm hiểu đối tượng tiếp nhận.

Thực chất của bước làm này là chúng ta phải xác định được văn bản nghị luận đóđang bàn bạc với ai? Họ là những người như thế nào (xét về thái độ, trình độ hiểu biết đốivới vấn đề nghị luận)? Họ đang mong chờ gì ở cuộc bàn bạc này?

Dựa vào đối tượng tham gia bàn luận, chúng ta có thể phân loại được các nhómthao tác sau:

Thao tác lập luận Đặc điểm đối tượng tiếp nhận.

Nhóm 1: Giải

thích

Viết cho người chưa có hiểu biết gì về vấn đề nghị luận Người

viết giúp họ đi từ chỗ chưa biết đến biết, từ chỗ chưa hiểu đến

Trang 12

hiểu (Nghĩa là mọi đối tượng đều có thể tham gia bàn luận)Nhóm 2 Bình

luận

Viết cho người đã hiểu rất kĩ, rất quan tâm về vấn đề bàn luận.

Điều họ mong mỏi ở người viết là có thêm ý kiến nào mới mẻ vềvấn đề đó không

- Bác bỏ: Người tiếp nhận chưa có quan điểm rõ ràng, thậm chísai lệch, họ mong muốn hiểu rõ các mặt sai – trái, hay – dở củamột vấn đề để có quan điểm đúng đắn

Nhóm 4: Chứng

minh

Văn bản hướng tới những người chưa rõ, chưa tin Yêu cầu

người viết phải có nhiều dẫn chứng và lí lẽ xác thực

xử con người đối với thiên nhiên, đối với xã hội và đối với chính mình…”

(Trích Văn hóa ứng xử, Nói thêm những điều cần nói, Hồ Sĩ Vịnh, Tạp chí Văn

học nghệ thuật, số 332, tháng 2/2012).

12

Trang 13

Vấn đề nghị luận trong văn bản trên là văn hóa ứng xử Một người không biết gì về khái niệm này, khi đọc văn bản cũng hiểu được thế nào là văn hóa ứng xử Do đó thao tác

lập luận của văn bản là giải thích.

Ví dụ 2:

“Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố

quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi, (…) Vì thế đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình (…)”

(Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức – Nguyễn An Ninh)

Vấn đề nghị luận của văn bản trên là bàn về vai trò, ý nghĩa của tiếng nói đối vớinền độc lập của một quốc gia dân tộc Vậy nên, người lắng nghe tác giả bàn luận cũngphải là người hiểu rất rõ về vấn đề này, nếu không họ sẽ chẳng hiểu gì Do đó, thao táclập luận chính ở đây không phải là giải thích Tác giả lại là người hiểu rất sâu sắc vấn đề,còn đưa ra những ý kiến riêng nhằm tranh luận và thuyết phục người đọc Vậy thao tác

chính của văn bản trên là bình luận.

2.3.4 Bước 4: Xác định dấu hiệu nhận biết của từng thao tác.

Đây là bước làm quan trọng nhất giúp HS nhận diện từng thao tác lập luận Thực

tế cho thấy, HS hay nhầm lẫn các thao tác, đặc biệt là thao tác giải thích, bình luận, phântích và chứng minh Vì vậy các em cần nhận ra những dấu hiệu riêng để phân biệt cácthao tác này

Sau đây tôi sẽ chỉ ra những dấu hiệu nhận biết cơ bản của từng thao tác Sau đóphân tích nguyên nhân của sự nhầm lẫn và cách khắc phục cho HS

2.3.4.1 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận giải thích.

Trong một bài văn nghị luận, để giải thích một vấn đề, người ta thường vận dụngcác phương pháp sau:

- Phương pháp nêu định nghĩa (thường xuất hiện các kiểu câu có quan hệ từ “là”)

- Kể ra các biểu hiện của vấn đề

- So sánh, đối chiếu với các hiện tượng khác

Trang 14

- Chỉ ra các mặt lợi hại, nguyên nhân, hậu quả, cách đề phòng hoặc noi theo, …của hiện tượng hoặc vấn đề được giải thích.

*Để dễ nhận biết, học sinh có thể hình dung, văn bản sử dụng thao tác lập luận

giải thích thường trả lời cho các câu hỏi sau: Là gì? Thế nào? Tại sao?(Vì sao)

Ví dụ 1:

“Văn hóa – đó có phải là sự phát triển nội tại bên trong một con người hay

không? Tất nhiên rồi Đó có phải là cách ứng xử của anh ta với người khác không? Nhất định là phải Đó có phải là khả năng hiểu người khác không? Tôi cho là thế Đó có phải

là khả năng làm cho người khác hiểu mình không? Tôi cho là như vậy Văn hóa nghĩa là tất cả những cái đó Một người không thể hiểu được quan điểm của người khác tức là trong chừng mực nào đó anh ta có hạn chế về trí tuệ và văn hóa” (Gi Nê-ru) (3)

Văn bản trên chính là câu trả lời cho câu hỏi: Văn hóa là gì? Tác giả giải thích bằng cách nêu định nghĩa về văn hóa Cách nêu định nghĩa cũng rất độc đáo, bằng việc

đặt ra các câu hỏi rồi tự trả lời, vì thế người đọc rất dễ hiểu

Ví dụ 2:

“Hằng ngày chúng ta thường có dịp tiếp xúc với đời sống bên ngoài, trước mắt chúng ta, loài người còn đầy rẫy những cảnh khổ Từ một ông lão già nua răng long tóc bạc, lẽ ra phải được sống trong sự chăm sóc đùm bọc của con cháu, thế mà ông lão ấy phải sống kiếp đời hành khất sống bằng của bố thí của kẻ qua đường, đến một đứa trẻ thơ, quá bé bỏng mà lại sống bằng cách đi nhặt từng mẩu bánh của người khác ăn dở, thay vì được cha mẹ nuôi nấng, dạy dỗ

Những hình ảnh ấy và thảm trạng ấy khiến cho mọi người xót thương, và tìm cách giúp đỡ Đó chính là lòng nhân đạo.”

(Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa xử thế)

Vấn đề cần giải thích ở đây là lòng nhân đạo Văn bản trên giải thích bằng cách

chỉ ra các biểu hiện của lòng nhân đạo Đó là sự xót thương và tìm cách giúp đỡ những

con người khốn khổ trong cuộc sống Lòng nhân đạo đã được định nghĩa một cách cụ thểqua những biểu hiện đó

Ví dụ 3:

3() Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục, 2012, trang 21.

14

Trang 15

“ Vậy khiêm tốn là gì? Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhún nhường, luôn luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, bao giờ cũng không ngừng học hỏi Hoài bão lớn nhất của con người là tiến mãi không ngừng, nhưng không nhằm mục đích tự khoe khoang, tự đề cao cá nhân mình trước người khác.

Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so sánh với mọi người cùng chung sống với mình Vì thế, dù tài năng đến đâu cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi.

(Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa xử thế)

Văn bản vừa định nghĩa thế nào là khiêm tốn, vừa chỉ ra nguyên nhân vì sao con

người phải khiêm tốn Đó cũng là một phương pháp giải thích trong văn nghị luận

(Lược dẫn theo J Krishnamurti, Bạn làm gì với đời mình?) (4)

Văn bản trên đối chiếu hai đối tượng trái ngược trong cuộc sống là: người dốt nát

và người được dạy dỗ Từ việc đánh giá về hai đối tượng này, tác giả cắt nghĩa thế nào là

giáo dục: “Do đó giáo dục chính là sự am hiểu về chính bản thân mình, bởi vì trong mỗi

chúng ta luôn tụ hợp toàn bộ quá trình tồn tại” Như vậy, đoạn văn đã sử dụng thao tác

lập luận giải thích bằng cách đối chiếu hai đối tượng.

2.3.4.2 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận phân tích.

Văn bản nghị luận sử dụng thao tác lập luận phân tích thường có các biểu hiện cơbản sau:

Trang 16

Thứ nhất: Chia nhỏ đối tượng phân tích (ý kiến, quan niệm) ra từng yếu tố theo

các tiêu chí, quan hệ nhất định để tìm hiểu sâu hơn Việc phân tích này dựa trên các mốiquan hệ:

+ Phân tích căn cứ vào quan hệ nội bộ của đối tượng

+ Phân tích theo các mối quan hệ nguyên nhân – kết quả, quan hệ kết quả - nguyênnhân

+ Phân tích theo quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên quan

+ Phân tích theo sự đánh giá chủ quan của người lập luận

Thứ hai: Phân tích luôn kết hợp chặt chẽ với tổng hợp.

Để nhận diện được thao tác lập luận phân tích, HS lần lượt xác định các vấn đềsau:

1- Xác định được đối tượng phân tích là gì?(Đối tượng thường được nêu ở những câu văn mở đầu đoạn, có khi được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn)

2- Đối tượng được phân tích theo các mối quan hệ nào?

3- Xác định nội dung khái quát tổng hợp vấn đề.

có hạn dẫn đến thiếu việc làm, thất nghiệp ngày càng tăng, dân số tăng càng nhanh thì chất lượng cuộc sống của cộng đồng, của gia đình và cá nhân sẽ giảm sút.”

(Sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr.27)

- Đối tượng phân tích trong văn bản trên là sự bùng nổ của dân số thế giới, đượcnêu ở câu văn mở đầu đoạn, và cũng được nhắc lại nhiều lần trong đoạn

- Cách thức phân tích:

+ Phân tích theo quan hệ nguyên nhân – kết quả: dân số tăng → ảnh hưởng rấtnhiều đến đời sống của con người

16

Trang 17

+ Phân tích theo quan hệ nội bộ của đối tượng: các ảnh hưởng xấu của việc giatăng dân số đến con người.

- Phân tích kết hợp chặt chẽ với tổng hợp: Dân số tăng → ảnh hưởng đến nhiềumặt cuộc sống của con người → dân số tăng càng nhanh thì chất lượng cuộc sống củacộng đồng, của gia đình và cá nhân sẽ giảm sút

2.3.4.3 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận chứng minh.

Có 2 dấu hiệu cơ bản sau để xác định văn bản sử dụng thao tác lập luận chứngminh:

Thứ nhất: văn bản sử dụng lí lẽ và dẫn chứng thực tế.

Thứ hai: văn bản sử dụng lí lẽ và phân tích lí lẽ

Để nhận diện thao tác này, HS phải:

1- Xác định những câu văn mang luận điểm (thường ở những câu văn mở đầu)

2- Chỉ ra lí lẽ và dẫn chứng được sử dụng để làm rõ đối tượng

Ví dụ 1:

“Đã bao lần bạn vấp ngã mà không hề nhớ Lần đầu tiên chập chững bước đi, bạn đã bị ngã Lần đầu tiên tập bơi, bạn uống nước và suýt chết đuối phải không? Lần đầu tiên chơi bóng bàn, bạn có đánh trúng bóng không? Không sao đâu vì

Oan Đi-xnây từng bị toà báo sa thải vì thiếu ý tưởng Ông cũng nếm mùi phá sản nhiều lần trước khi sáng tạo nên Đi-xnây-len.

Lúc còn học phổ thông, Lu-i Pa-xtơ chỉ là một học sinh trung bình Về môn Hoá, ông đứng hạng 15 trong số 22 học sinh của lớp.

Lép Tôn-xtôi, tác giả của bộ tiểu thuyết nổi tiếng Chiến tranh và hoà bình, bị đình chỉ học đại học vì "vừa không có năng lực, vừa thiếu ý chí học tập".

Hen-ri Pho thất bại và cháy túi tới năm lần trước khi thành công.

Ca sĩ ô-pê-ra nổi tiếng En-ri-cô Ca-ru-xô bị thầy giáo cho là thiếu chất giọng và không thể nào hát được.

Vậy xin bạn chớ lo sợ thất bại Điều đáng sợ hơn là bạn đã bỏ qua nhiều cơ hội chỉ vì không cố gắng hết mình.”

(Đừng sợ vấp ngã, Theo Trái tim có điều kì diệu)

- Nhan đề của bài văn thể hiện luận điểm chính: Đừng sợ vấp ngã

- Những lí lẽ triển khai vấn đề:

+ Đã bao lần bạn vấp ngã mà không hề nhớ

Trang 18

+ Vậy xin bạn chớ lo sợ thất bại Điều đáng sợ hơn là bạn đã bỏ qua nhiều cơ hội

chỉ vì không cố gắng hết mình.

- Để chứng minh cho luận điểm “Đừng sợ vấp ngã”, người viết còn đưa ra những

dẫn chứng xác thực Toàn là những tên tuổi lừng lẫy mà không ai không biết Nghĩa lànhững sự thực dẫn ra mặc nhiên đều được thừa nhận Điều này quyết định đến độ thuyếtphục của luận điểm và cùng với lí lẽ chặt chẽ tạo nên một lập luận chứng minh hoànchỉnh

Như vậy với văn bản Đừng sợ thất bại, người viết đã sử dụng lí lẽ và đưa ra dẫn

Khi tiến bước vào tương lai, bạn làm sao tránh được sai lầm? Nếu bạn sợ sai thì bạn chẳng dám làm gì Người khác bảo bạn sai chưa chắc bạn đã sai, vì tiêu chuẩn đúng sai khác nhau Lúc đó bạn chớ ngừng tay, mà cứ tiếp tục làm, dù cho có gặp trắc trở Thất bại là mẹ của thành công.

Tất nhiên bạn không phải là người liều lĩnh, mù quáng, cố ý mà phạm sai lầm Chẳng ai thích sai lầm cả Có người phạm sai lầm thì chán nản Có kẻ sai lầm rồi thì tiếp tục sai lầm thêm Nhưng có người biết suy nghĩ, rút kinh nghiệm, tìm con đường khác để tiến lên.

Những người sáng suốt dám làm, không sợ sai lầm, mới là người làm chủ số phận của mình.”

(Không sợ sai lầm, Theo Hồng Diễm) Vấn đề chứng minh là: không sợ sai lầm Để chứng minh cho luận điểm, bài viết

đã triển khai những luận điểm nhỏ Các câu mang luận điểm là:

- Bạn ơi, nếu bạn muốn sống một đời mà không phạm chút sai lầm nào, làm gì

được nấy, thì đó hoặc là bạn ảo tưởng, hoặc là bạn hèn nhát trước cuộc đời.

18

Trang 19

- Sai lầm cũng có hai mặt Tuy nó đem lại tổn thất, nhưng nó cũng đem đến bài

học cho đời.

- Thất bại là mẹ của thành công.

- Những người sáng suốt dám làm, không sợ sai lầm, mới là người làm chủ số

phận của mình.

Để chứng minh luận điểm, người viết còn đưa ra những lí lẽ:

- Không chịu mất thì cũng chẳng được gì: Một người mà lúc nào cũng sợ thất bại,

làm gì cũng sợ sai lầm là một người sợ hãi thực tế, trốn tránh thực tế, và suốt đời không bao giờ có thể tự lập được Bạn sợ sặc nước thì bạn không biết bơi; bạn sợ nói sai thì bạn không nói được ngoại ngữ!

- Khó tránh được sai lầm trên con đường bước vào tương lai: Nếu bạn sợ sai thì

bạn chẳng dám làm gì Người khác bảo bạn sai chưa chắc bạn đã sai, vì tiêu chuẩn đúng sai khác nhau Lúc đó bạn chớ ngừng tay, mà cứ tiếp tục làm, dù cho có gặp trắc trở.

- Không liều lĩnh, mù quáng, cố ý mà phạm sai lầm mà phải biết suy nghĩ, rút kinh

nghiệm: Tất nhiên bạn không phải là người liều lĩnh, mù quáng, cố ý mà phạm sai lầm.

Chẳng ai thích sai lầm cả Có người phạm sai lầm thì chán nản Có kẻ sai lầm rồi tiếp tục sai lầm thêm Nhưng có người biết suy nghĩ, rút kinh nghiệm, tìm con đường khác để tiến lên.

Như vậy bài viết Không sợ sai lầm, người viết sử dụng lí lẽ và phân tích lí lẽ 2.3.4.4 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận bình luận.

Một văn bản bình luận phải đề xuất được ý kiến (tức là bày tỏ suy nghĩ, thái độ về vấn đề nghị luận) và bảo vệ quan điểm riêng của mình về vấn đề đó Có thể tiến hành

Trang 20

Ví dụ:

“Thấy người bị tai nạn xe cộ quằn quại trên vũng máu, ngoảnh mặt, đi thẳng Thấy trẻ em lang thang cầm tập vé số trong tay mời chào khản giọng, đã chẳng ai mua thì chớ, có kẻ còn nhẫn tâm giật cướp cả nắm vé số rồi vù xe biến thẳng Cả một đám thanh niên sức dài vai rộng ngồi ngả ngốn cà phê, một chú bé đánh giầy xong ngửa tay xin tiền công, tiền đâu chẳng thấy, một gã co chân phóng thẳng vào ngực chú bé, quát

“Cút!” Rồi cả bọn cười hô hố Thấy nhà hàng xóm cháy, dửng dưng bình chân như vại

… Rồi từ những hành động riêng lẻ ấy, quen dần thành thói “ăn bẩn” có tổ chức như ăn bớt tiền cứu trợ bão lụt, biển thủ tiền dành cho các gia đình chính sách, rút ruột công trình để gây ra bao thảm họa … Tất cả đều từ thói vô cảm mà ra Vô cảm với mồ hôi, nước mắt của người lao động còng lưng đóng thuế Vô cảm trước nỗi thống khổ của đồng loại Và thói vô cảm bao giờ cũng đồng hành với thói ích kỉ, ích kỉ một cách tối tăm

mù quáng Đến một chừng mực nào đó thì thói ích kỉ trở thành một tội ác Đáng sợ lắm thay!”

(Hoài Giang) (5)

Đoạn văn bàn về sự vô cảm của con người trong xã hội ngày nay Tác giả nêu rahiện tượng một cách trung thực, sau đó đưa ra ý kiến đánh giá của mình: kịch liệt phêphán thái độ dửng dưng của con người đối với con người

2.3.4.5 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận so sánh.

- Khi văn bản nghị luận có sự xuất hiện của hai hay nhiều đối tượng, được đặttrong mối quan hệ so sánh với nhau theo một tiêu chí nhất định nào đó, văn bản đó đã sửdụng thao tác lập luận so sánh

Có 2 cách so sánh: so sánh nhằm nhận ra sự giống nhau, so sánh nhằm nhận ra sựkhác nhau So sánh luôn đi đôi với nhận xét, đánh giá

- Để nhận diện dấu hiệu này, học sinh hãy xác định:

1- Những đối tượng được so sánh với nhau trong văn bản là gì? Theo tiêu chí nào?

2- Mục đích của sự so sánh?

Ví dụ:

“… Nhưng khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của nhà văn Nam Cao, thì người ta mới nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cùng ở một nước thuộc địa: bị giày đạp, bị cào

5() Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11 nâng cao, tập 2, Nxb Hà Nội, 2008, trang 227

20

Trang 21

xé, bị huỷ hoại từ nhân tính đến nhân hình Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa, nhưng chị còn được gọi là người Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình đi để trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.”

(Nhớ Nam Cao và những bài học của ông – Nguyễn Đăng Mạnh).

Tác giả so sánh sự khốn khổ của Chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố và sự

khốn khổ của Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao Cuối cùng đi đến kết

luận: Chí Phèo – “đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất

của người dân cùng ở một nước thuộc địa” Nhờ đó, người đọc hiểu hơn giá trị của

truyện ngắn “Chí Phèo”.

2.3.4.6 Dấu hiệu nhận biết thao tác lập luận bác bỏ.

Một văn bản nghị luận sử dụng thao tác lập luận bác bỏ khi:

- Văn bản nghị luận đưa ra một ý kiến (quan điểm) sai lệch hoặc thiếu chính xác

- Người viết bác bỏ (có thể là một luận điểm, luận cứ hoặc cách lập luận) bằngcách phân tích những khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác, hoặc chỉ ra nguyên nhân, nêutác hại, … của luận điểm, luận cứ, hoặc lập luận ấy

*Để nhận diện dấu hiệu này, HS phải xác định:

1- Văn bản nhằm phủ nhận ý kiến sai lệch nào?

2- Người viết phủ nhận ý kiến đó bằng cách nào?

Ví dụ:

“Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh cho việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?

Vì người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình,

mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?

Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?”

(Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức – Nguyễn An Ninh)

Văn bản trên bác bỏ ý kiến cho rằng: tiếng nước mình (tức tiếng Việt) nghèo nàn.Bác bỏ bằng cách chỉ ra nguyên nhân, phân tích khía cạnh sai lệch của quan điểm đó

2.3.5 Một số nhầm lẫn thường gặp của học sinh Nguyên nhân và cách sửa chữa.

2.3.5.1 Nhầm giữa thao tác lập luận so sánh với phân tích và giải thích.

Ngày đăng: 13/05/2017, 15:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2, Nxb Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 11
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 12
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6. Bài tập Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Ngữ văn 11
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Bài tập Ngữ văn 11, tập 2, Nxb Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Ngữ văn 11
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Bài tập Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Ngữ văn 12
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Sách giáo viên Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 11
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Sách giáo viên Ngữ văn 11, tập 2, Nxb Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 11
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 12
Nhà XB: Nxb Giáo dục
12. Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, nâng cao, tập 1, Nxb Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11
Nhà XB: Nxb Hà Nội
13. Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, nâng cao, tập 2, Nxb Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11
Nhà XB: Nxb Hà Nội
14. Văn học và tuổi trẻ, số 4 + 5 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và tuổi trẻ

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w