DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTAFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á DNNVV : Doanh nghiệp vừa và nhỏ CSR : Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FTA : Hiệp
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Logo học viện
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Họ và tên học viên : NGUYỄN THỊ THU HẰNG
Mã số học viên: AP150621 Chức vụ, cơ quan công tác: Trưởng phòng Tư vấn và Đào tạo, Viện tin học doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam
Lớp, khoá học : K66B07.
Hà Nội - Năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Đề án về “ Đổi mới và hoàn thiện Chính sách Phát triển bền vững doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở nước ta hiện nay” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với
các Đề án khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả Đề án
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 31.6 Phương pháp nghiên cứu
1.7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của Đề án.
2.2.1 Khái quát thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta hiện nay
2.2.2 Chính sách phát triển bền vững tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiệnnay
2.2.2 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển bền vững doanh nghiệp vừa và nhỏtại Việt nam
2.3 Giái pháp về Đổi mới và hoàn thiện chính sách Phát triển bền vững doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt nam
2.3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách phát triển bềnvững doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
2.3.2 Các giải pháp và kiến nghị Đổi mới và hoàn thiện chính sách phát triển bềnvững doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Phần 3 : Kiến nghị và Kết luận.
3.1 Kiến nghị
Trang 43.2 Kết luận
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
DNNVV : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
CSR : Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
FTA : Hiệp định Thương mại tự do
PTBV : Phát triển bền vững
WBCSD : Hội đồng Doanh nghiệp vì sự Phát triển bền vững Thế giớiVBCSD : Hội đồng doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt nam VCCI : Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam
Trang 6MỞ ĐẦU
1.1 Lý do lựa chọn Đề án
Phát triển bền vững là một chủ trương lớn của Việt nam ngày càng được quantâm và ghi nhận trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước Trong những năm qua,Chính phủ, các Bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp đã có nhiều nỗ lực xây dựng vàtriển khai các giải pháp theo định hướng của chương trình Nghị sự 21 góp phần thúcđẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường của Việt nam
Khái niệm “ Phát triển bền vững” (PTBV) xuất hiện tử những thập niêm 70 củathế kỷ 20 Hội đồng Thế giới về Môi trường định nghĩa Phát triển bền vững là “sự pháttriển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đápứng nhu cầu của thế hệ mai sau”
Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển diễn ra ở Rio deJaneiro năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chứctại Johannesburg năm 2002 đã xác định PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợpchặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm : Phát triển kinh tế(nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ công bằng
xã hội, xóa đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là
xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòngchống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiênnhiên)
Hòa nhập với cộng đồng Quốc tế, trong quá trình đổi mới kinh tế và xã hội, pháttriển bền vững với những nội hàm phát triển toàn diện và có hiệu quả về kinh tế, đi đôivới thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường luôn luôn là mục tiêuphát triển trong từng thời kỳ kế hoạch của đất nước
Hiện nay trên thế giới đã có 191 nước xây dựng Chương trình PTBV (gọi làchương trình nghị sự 21) cấp quốc gia và hơn 6500 chương trình nghị sự 21 cấp ngành
và địa phương Ngày 17/8/2004, Chính phủ Việt nam đã thông qua Định hướng chiếnlược phát triển bền vững ở Việt nam Định hướng này là một chiến lược khung, baogồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ ngành, địa phương, các tổchức, cá nhân có liên quan triển khai thực hiện, đồng thời thể hiện sự cam kết của Việtnam với cộng đồng quốc tế Ngày 27/9/2005, Thủ tướng Chính phủ đã quyết địnhthành lập Hội đồng Phát triển Bền vững Quốc gia Ngày 24/02/2009, Thủ tướng chính
Trang 7phủ ra quyết định số 248/QĐ-Ttg về việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổchức của Hội đồng PTBV quốc gia Đây là một quá trình quan trọng tiến tới tạo ra mộtkhuôn khổ liên kết trong đó đề cập đến phát triển bền vững là một nhân tố trung tâm,phân bổ trách nhiệm và xây dựng giải pháp liên quan đến PTBV Ngày 12/4/2012, Thủtướng Chính phủ ra quyết định 432/QĐ-Ttg phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vữngViệt nam giai đoạn 2011-2020 Ngày 18/03/2014, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị quyết19/NQ-CP về những nhiệm vụ giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng caonăng lực cạnh tranh quốc gia.
Phát triển bền vững cũng là một nội dung được triển khai trong thực hiện cácmục tiêu thiên niên kỷ (MDGs) của Việt nam đặc biệt là các mục tiêu về tăng trưởng
và xóa đói giảm nghèo, phòng chống HIV/AIDS, bảo vệ môi trường, tạo công ăn việclàm, Việc lồng ghép các mục tiêu đó vào các chương trình phát triển kinh tế xã hội,từng chương trình mục tiêu quốc gia, nhờ đó đã huy động được nhiều nguồn lực hơn,với mức độ ưu tiên cao hơn cho quá trình thực hiện mục tiêu phát triển của Việt nam
Việc thông qua Định hướng chiến lược PTBV ở nước ta là một bước đi chiếnlược, tạo ra một nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững trong tương lai
Sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp vào việc thực hiện định hướng chiếnlược này thông qua Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI) – tổ chức đạidiện cho cộng đồng doanh nghiệp và giới sử dụng lao động ở Việt nam – là nhân tốquyết định sự thành công và tạo ra một quan hệ đối tác năng động liên kết chặt chẽgiữa Chính phủ, doanh nghiệp và các thành phần khác trong xã hội vì mục tiêu, lợi íchchung
Nhằm hỗ trợ cho cộng đồng doanh nghiệp và đặc biệt là doanh nghiệp vừa vànhỏ của nước ta nâng cao nhận thức và hiểu biết về PTBV, hỗ trợ doanh nghiệp Việtnam triển khai các nội dung PTBV, hội nhập quốc tế, thực hiện chương trình Nghị sự
21 của Việt nam là điều rất cần thiết, và đó cũng là lý do mà tác giả đã lựa chọn đề án “ Đổi mới và hoàn thiện Chính sách Phát triển bền vững doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay” đề làm đề án tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị lớp Cao cấp
lý luận chính trị các cơ quan trung ương K66B07.
1.2 Mục đích của Đề án
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chính sách Phát triển bền vữngdoanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay, thực trạng thực hiện chính sách
Trang 8PTBV doanh nghiệp vừa và nhỏ và đề xuất các quan điểm, giải pháp hiệu quảnhằm nâng cao hoạt động chính sách PTBV doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việtnam.
1.3 Nhiệm vụ của Đề án
Để thực hiện được mục đích trên, Đề án có những nhiệm vụ sau đây:
- Trên cơ sở khái quát những vấn đề có tính lý luận về chính sách PTBV, Đề án phântích và làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và vai trò của chính sách PTBV doanh nghiệpvừa và nhỏ ở Việt Nam
- Tổng kết, đánh giá về thực trạng và phân tích nguyên nhân của thực trạng thực hiệnchính sách PTBV doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay
- Đề xuất khuyến nghị 1 số giải pháp hoàn thiện chính sách và thực thi chính sách PTBVdoanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập
và phát triển kinh tế toàn cầu
1.4 Đối tượng của Đề án
Đề án tập trung vào những vấn đề lý luận về chính sách PTBV doanh nghiệpvừa nhỏ ở nước ta hiện nay
Tại Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là loại hình chiếm đa sốtrong cộng đồng DN Việt Nam Thực tế DNNVV chiếm khoảng 90% trong 600.000doanh nghiệp hiện nay đang còn hoạt động
Tuy là nhỏ, nhưng thực tế DNNVV lại đóng vai trò quan trọng, đặc biệt làtạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hộicho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo…
Hiện nay DNNVV sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40%GDP của toàn bộ nền kinh tế, hàng năm tạo thêm công ăn việc làm mới cho khoảnggần nửa triệu người lao động Vì vậy, không chỉ với Việt Nam, mà tất cả các nướcđang phát triển đều coi trọng loại hình DNNVV và tạo mọi thuận lợi cho hoạt độngcủa DNNVV
1.5 Phương pháp luận
Trang 9Đề án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tưtưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế bền vững; quan điểm, đường lối, chủtrương chính sách của Đảng định hướng chiến lược phát triển bền vững (chươngtrình nghị sự 21) để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững như Nghị quyêt Đại hộiĐảng toàn quốc đề ra và thực hiện cam kết quốc tế về phát triển bền vững Vậndụng lý luận chung về chính sách PTBV
Trong Đề án này, mong muốn được làm rõ thêm dưới góc độ thực tiễn các yếu
tố cấu thành chính sách PTBV, vị trí của chính sách và ảnh hưởng của nó đến quá trìnhphát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta hiện nay
Đề án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Đề án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: Phươngpháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, định tính và địnhlượng;
1.7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Đề án
Ý nghĩa lý luận
Đề án góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chính sách PTBV nói chung vàdoanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt nam nói riêng Đồng thời đánh giá thực trạnghoạt động chính sách PTBV doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta hiện nay, từ đó đềxuất phương hướng, giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường hoạt động chínhsách trong thời gian tới Đề án cung cấp những nghiên cứu, tư liệu, khảo sát thực
tế qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sáchcông
Ý nghĩa thực tiễn
Qua thực tiễn nghiên cứu chính sách PTBV doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ rađược những khó khăn, hạn chế trong việc hoạch định và thực thi chính sách, đồngthời kết quả nghiên cứu giúp cho lãnh đạo các bộ ngành, đơn vị liên quan, các nhàhoạch định chính sách có cơ sở khoa học và thực tiễn để vận dụng, điều chỉnh chínhsách và tổ chức thực hiện chính sách PTBV cho doanh nghiệp nói chung và doanhnghiệp vừa nhỏ Việt Nam một cách hiệu quả hơn
Trang 10PHẦN HAI : NỘI DUNG 2.1 Căn cứ xây dựng Đề án
2.1.1 Căn cứ Khoa học và Lý luận
2.1.1.1 Khái niệm
Khái niệm chính sách PTBV đến nay ở nước ta vẫn là một khái niệm mớichưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống Có nhiều quan điểm khácnhau về khái niệm chính sách PTBV Về cơ bản có các quan niệm sau đây:
Khi tìm hiểu về chính sách PTBV thì trước hết chúng ta cần phải nắm rõ kháiniệm về chính sách Đây là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống
xã hội, đặc biệt được sử dụng nhiều trong các vấn đề liên quan đến chính trị và phápquyền
Nếu nhìn nhận chính sách như một hiệu tượng tĩnh và tương đối độc lập,chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cầnhướng tới, cần đạt được
Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung Dựa vàođường lối này, cương lĩnh chính trị của đảng cẩm quyền mà người ta định ra chínhsách
Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật Hay nói cách khác,chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với bộ máyquyền lực công- Nhà nước
Chính sách PTBV đã được thể hiện trong đường lối quan điểm của Đảng,chủ trương, chính sách của Nhà nước và được thể hiện rõ nét trong các chiến lược,quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia cũng như của các ngành vàđịa phương của Việt Nam
Để thực hiện các mục tiêu PTBV ở Việt Nam, hàng loạt chính sách đã đượcban hành trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường và thực hiện các cam kếtquốc tế về PTBV mà Việt Nam đã ký kết Trong các văn bản này, quan điểm PTBV
Trang 11tế - xã hội 1991– 2000, Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị vềtăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước và được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX , X và XI của Đảng Cộng sản Việt Nam Chiến lược Phát triển kinh tế -
xã hội 2011- 2020 cũng nhấn mạnh “Phát triển nhanh gắn liền với PTBV, PTBV làyêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” PTBV đã trở thành đường lối, quan điểm củaĐảng và chính sách của Nhà nước Để thực hiện mục tiêu PTBV đất nước, Chínhphủ Việt Nam đã ban hành "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở ViệtNam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Chương trình của một số ngành vàđịa phương cũng đã được xây dựng và ban hành Trong giai đoạn vừa qua, ViệtNam đã ký những công ước quốc tế có liên quan tới PTBV Các cam kết này đãđược Chính phủ giao cho các Bộ, ngành có liên quan làm đầu mối, chịu trách nhiệmquản lý, phối hợp tổ chức, lồng ghép trong các kế hoạch và chương trình phát triển
ở các cấp để thực hiện
Tìm hiểu về khái niệm chính sách PTBV trước hết cần tìm hiểu các quanniệm sau đây về PTBV:
Thuật ngữ “ Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên vàTài nguyên Thiên nhiên Quốc tế- IUCN) với nội dung đơn giản“ Sự phát triển củanhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng nhữngnhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Khái niệmnày được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ báo cáo Brundtland (còn gọi là Báocáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới- WCED.Báo cáo này ghi rõ : Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được nhữngnhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầucủa các thế hệ tương lai Nói cách khác, phát triển bền vững phải đảm đảo có sựphát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng, môi trường được bảo vệ, giữ gìn
Định nghĩa này có thể mở rộng ra với 3 cấu thành cơ bản về sự PTBV
Về mặt kinh tế : Một hệ thống bền vững về kinh tế phải tạo ra hàng hóa và dịch
vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát được, tránh sự mất cân đối giữa cáckhu vực làm tổn hại đến sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
Trang 12Về mặt xã hội : một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự côngbằng trong phân phối, cung cấp đủ các dịch vụ xã hội bao gồm : y tế, giáo dục, côngbằng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị.
Về môi trường: Một hệ thống phát triển bền vững phải duy trì nền tảngnguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức Điều này bao gồm việc duy trì sự đadạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác Trong đó, cácđiều kiện có tính nguyên tắc về PTBV là : duy trì dân số ở mức tối thiểu, khai tháctối ưu các nguồn tài nguyên (không thể tái tạo và có thể tái tạo được); ngăn cản sựthoái hóa môi trường; cải thiện hiệu quả năng lượng
Năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường vàPhát triển của Liên Hợp Quốc đã xác nhận lại khái niệm này, đã gửi đi một thông điệp
rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòahợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (Hội nghịRio +10) nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnhđạo cũng như các chuyên gia kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đãtổng kết lại kế hoạch hành động về sự phát triển bền vững 10 năm qua và đưa raquyết sách liên quan đến các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và
sự đang dạng sinh thái
Theo tổ chức Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB) : Phát triển bền vững làmột loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên vànâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầucủa thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng cácnhu cầu của thế hệ trong tương lai
Để xây dựng một xã hội PTBV Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã
đề ra 9 nguyên tắc:
1. Tôn trọng và quan tâm đến đời sống cộng đồng
2. Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người
3. Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất
4. Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được
5. Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất
6. Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân
Trang 137. Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
8. Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ
9. Xây dựng một khối liên minh toàn cầu
Phát triển bền vững doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vừa nhỏ nóiriêng là sự phát triển hài hòa trong doanh nghiệp trên 3 mặt : Phát triển kinh tế (nhất
là tăng trưởng kinh tế)- Trách nhiệm xã hội – Bảo vệ môi trường để đáp ứng đượcnhững nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của doanh nghiệp hiện tại màkhông làm tổn hại và trở ngại đến nguồn tài nguyên khai thác trong tương lai,không làm giảm chất lượng cuộc sống các thế hệ trong tương lai
Với định nghĩa này, doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ cần tuân thủ các chuẩn mựcsau :
1. Hiệu quả kinh tế : Doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năngsuất lạo động, nâng cao doanh thu và lợi nhuận, nâng cao uy tín và Thương hiệu củadoanh nghiệp trên Thương trường
2. Bảo vệ môi trường: Sản phẩm sản xuất ra phải sử dụng công nghệ sạch, đảm bảosức khỏe người tiêu dùng, đảm bảo vệ sinh môi trường (trong việc xử lý nướcthải, .); chất lượng sản phẩm ngày càng nâng cao; ví dụ như sản xuất rau sạch, tráicây sạch, (hạn chế tối đa sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, ) Sản phẩm đượcsản xuất ra từ áp dụng công nghệ sạch, quy trình sản xuất nhằm giảm thiểu chấtphát thải gây hiệu ứng nhà kính và bảo vệ môi trường chống biến đổi khí hậu
3. Bảo vệ người lao động : Thực hiện bình đẳng về giới, tổ chức sản xuất an toàn laođộng, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên (quyền lợi được học tập,đào tạo, ) không được sử dụng lao động chưa đến tuổi vị thành niên
4. Chấp hành luật pháp: Chấp hành những quy định của Pháp luật trong việc đảm bảonộp thuế, đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động và nhiều quy định của quốc gia, .thực hiện những quy định của luật doanh nghiệp…
5. Tham gia các công tác xã hội, cộng đồng, đóng góp từ thiện các chương trình giúp
“xóa đói giảm nghèo”; giúp thanh thiếu niên khó khăn có điều kiện đến trường, xâynhà tình nghĩa,….thể hiện trách nhiệm đối với xã hội, thể hiện đạo đức kinh doanh củamột doanh nghiệp
Như vậy, Chính sách PTBV doanh nghiệp vừa và nhỏ là việc Nhà nước sửdụng những công cụ khác nhau để tác động có hệ thống và thường xuyên tới doanh
Trang 14nghiệp nhằm trang bị cho cộng đồng doanh nghiệp những kiến thức nhất định, để từ
đó họ có những định hướng đúng đắn về PTBV doanh nghiệp trên 3 mặt (kinh
tế-xã hội- môi trường)
Định hướng chính sách phát triển bền vững doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2011-2020
Trên nhiều diễn đàn và văn kiện của cộng đồng quốc tế cũng như trong cácchính sách, chương trình hành động của các quốc gia, vấn đề phát triển bền vữngđang nổi lên như một trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại ỞViệt Nam, phát triển bền vững là một trong những nội dung cơ bản để thực hiện đổimới mô hình tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng là mục tiêu quan trọng hàng đầu
mà nền kinh tế hướng tới Việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giaiđoạn 2011-2020 được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI với quanđiểm “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, Phát triển bền vững là yêucầu xuyên suốt trong Chiến lược” và tiếp tục khẳng định“ Khoa học và công nghệgiữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tàinguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển
và sức cạnh tranh của nền kinh tế”
Định hướng chính sách PTBV DNNVV ở nước ta hiện nay cần bắt kịp vớiToàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng khách quan tạo nhiều cơ hội phát triểncho các quốc gia, nhất là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, sử dụng hiệu quảmọi nguồn lực, trước hết là nguồn nhân lực, tạo công ăn việc làm, giải quyết tốt cácvấn đề xã hội, cải thiện đời sống nhân dân
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và cạnhtranh, vừa có nhiều cơ hội vừa có không ít thách thức Một trong những thách thức
đó chính là việc thực hiện “ Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp”- CSR liên quanđến một số nội dung chủ yếu thuộc lĩnh vực lao động, môi trường, thông qua những
“ Bộ Quy tắc ứng xử” ( Code of Conduct)
Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp (CSR) là cam kết của doanh nghiệpđang hoạt động góp phần vào Phát triển kinh tế bền vững thông qua việc làm vớingười lao động, gia đình họ, cộng đồng với địa phương và xã hội nói chung nhằmcải thiện cuộc sống bằng những cách có lợi cho việc kinh doanh và cho sự phát triển( theo Công ty tài chính quốc tế)
Trang 15Các khái niệm về kinh doanh có trách nhiệm, đạo đức kinh doanh, doanhnghiệp bền vững, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, dùng để chỉ các hành vi kinhdoanh có trách nhiệm Các hành vi này được thể hiện qua ba yếu tố : Tuân thủ phápluật, tôn trọng quyền lợi của các bên có liên quan đến doanh nghiệp\toàn cầu LHQđưa ra 10 nguyên tắc trên 4 lĩnh vực : Quyền con người, tiêu chuẩn lao động, Môitrường và chống tham nhũng Mười nguyên tắc chung của Hiệp ước Toàn cầu, baogồm:
Quyền con người
Nguyên tắc 1: Doanh nghiệp phải ủng hộ và tôn trọng các Quyền con người đã
được Quốc tế công bố
Nguyên tắc 2: Cam kết không đồng lõa với việc lạm dụng nhân quyền
Lao động
Nguyên tắc 3: Doanh nghiệp phải ủng hộ việc tự do thành lập hiệp hội và thừa
nhận quyền thương lượng tập thể
Nguyên tắc 4: Loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức và lao động bắt
buộc
Nguyên tắc 5: Thật sự xóa bỏ tình trạng lao động trẻ em.
Nguyên tắc 6: Loại bỏ sự phân biệt đối xử trong tuyển dụng lao động và việc làm.
Trang 16- Đổi mới và sáng tạo trong quá trình thích nghi với môi trường kinh doanh thay đổi sẽtạo ra những nguồn lực dồi dào và bền vững cho doanh nghiệp
Đánh giá được tầm quan trọng của CSR, trong Chiến lược phát triển bềnvững giai đoạn 2011-2020, Chính phủ luôn coi trọng việc thúc đẩy thực hiện CSRnhư một biện pháp tăng cường năng lực quản lý và thực hiện phát triển bền vữngViệc thực hiện tốt CSR có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Việtnam
Mặc dù đã có nhiều doanh nghiệp thực hiện tốt CSR, vẫn còn không ít doanhnghiệp chưa nhận thức đúng đắn về CSR và chưa thực hiện CSR vào chiến lược dàihạn của mình mà chỉ coi CSR đơn thuần là công cụ quảng bá hình ảnh Bên cạnh
đó, việc thiếu thông tin về các chính sách của Nhà nước, các thông lệ tốt và kinhnghiệm triển khai các hoạt động CSR cũng là các nguyên nhân dẫn đến tình trạngnói trên
2.1.2 Căn cứ Lý luận Chính trị và Pháp lý
Thứ nhất, ở nước ta Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, Đảng có
nhiều chủ trương biện pháp quan trọng Nhà nước là cơ quan triển khai thực thi chínhsách, đồng thời doanh nghiệp là đơn vị trực tiếp, tiếp thu thực hiện chính sách PTBV.Trải qua các Đại hội X (2006) và XI (2011) của Đảng, tư tưởng phát triển bền vững đãtrở thành chính sách xuyên suốt của Việt Nam trong phát triển đất nước Mục tiêu tổngquát của Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam là “Đạt được sự đầy
đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sựđồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợpchặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệmôi trường”
Như vậy, với những chủ trương và định hướng trên sự lãnh đạo của Đảng đãtrở thành điều kiện tiên quyết bảo đảm hoạt động chính sách PTBV doanh nghiệpnói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng đạt hiệu quả
Thứ 2, Nhà nước xác định chiến lược, chương trình, nội dung kế hoạch chính
sách PTBV cho các đối tượng doanh nghiệp Nhà nước triển khai thực hiện chươngtrình chính sách PTBV ở tất cả các cấp, các ngành, xây dựng và đào tạo đội ngũ cán
bộ, công chức quản lý và thực hiện chính sách PTBV Nhà nước đảm bảo kinh phí,
Trang 17cơ sở vật chất cho chính sách PTBV, tổ chức hệ thống thông tin, tuyên truyền phápluật, cung cấp các dịch vụ pháp lý.
Thứ 3, Tổ chức chính trị xã hội, hiệp hội ngành hàng trong đó có đảm bảo
hoạt động chính sách PTBV của doanh nghiệp, đó là Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt nam (VCCI) và hiệp hội ngành hàng Hội đồng Doanh nghiệp vì sựphát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) của VCCI đã tập hợp các doanh nghiệp,các tập đoàn kinh tế, công ty đa quốc gia, các hiệp hội ngành nghề liên quan đến sựnghiệp phát triển bền vững để thực hiện các vai trò và chức năng chính sau:
- Góp phần thúc đẩy cộng đồng doanh nghiệp đi đầu trong việc thực hiện Định hướngchiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam;
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách về PTBV đến khối doanhnghiệp nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam nhằm thu hút đầu tư nước ngoàicũng như quảng bá hình ảnh Việt Nam;
- Hỗ trợ các doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp đề ra và thực hiện chính sáchphát triển bền vững, cũng như khuyến khích họ đề xuất mục tiêu và chương trìnhhành động PTBV của từng đơn vị;
- Làm cầu nối giữa các cơ quan chính phủ và khu vực doanh nghiệp nhằm truyền tảithông tin và phản ánh nhu cầu thực tế của doanh nghiệp trong quá trình triển khaichương trình PTBV;
- Tăng cường vai trò tư vấn và kiến nghị chính sách;
- Tham gia các hoạt động của Chính phủ, của các Bộ, ngành và của Hội đồng Pháttriển bền vững quốc gia khi được yêu cầu
Thứ 4, Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong thực hiện các mục tiêu
PTBV đất nước trên cả 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Sự phát triển mạnh
mẽ của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua đã có những đónggóp quan trọng trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế và tiến trình PTBV củaViệt Nam Thông qua việc thực hiện các chính sách, chương trình về phát triển KT -
XH và BVMT như “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm2020”; “Chương trình mục tiêu quốc gia Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quảgiai đoạn 2006 - 2015”; “Chương trình Tiết kiệm điện giai đoạn 2006 - 2010”; “Kếhoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010”… các doanh nghiệp
đã có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp PTBV của đất nước Nhiều doanhnghiệp đã đi tiên phong trong thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững, triển khai
Trang 18áp dụng sản xuất sạch hơn và đã thu được lợi ích từ các hoạt động này Nhiều doanhnghiệp cũng đã tham gia tích cực trong các chương trình thúc đẩy thực hiện tráchnhiệm xã hội của doanh nghiệp, Chương trình quốc gia về an toàn lao động, bảohiểm lao động… Việc thực hiện trách nhiệm xã hội vừa đem lại lợi ích cho doanhnghiệp, vừa mang lại lợi ích cho xã hội, đặc biệt là nâng cao năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp, của quốc gia và hỗ trợ thực hiện tốt hơn pháp luật lao động tạiViệt Nam
và cả trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á, với nhiều giải pháp chính sách quantrọng hỗ trợ cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế được cải thiện, một phần quantrọng nhờ có chính sách kinh tế đúng và điều hành tốt của các cấp chính quyền, sựủng hộ của các tầng lớp nhân dân và cộng đồng quốc tế cho doanh nghiệp Việt nam
Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết của Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, ngày 17 tháng
8 năm 2004, Chính phủ Việt Nam ban hành "Định hướng chiến lược phát triển bềnvững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Trong Định hướngchiến lược, mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổnđịnh với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân
Trang 19dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợnần cho các thế hệ mai sau Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là đạt kết quảcao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng
và chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi ngườiđều có cơ hội học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chếkhoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội,nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữacác thế hệ trong một xã hội Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường Quyếtđịnh số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2003 là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và
có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát cóhiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; khắc phục suy thoái vàcải thiện chất lượng môi trường Định hướng chiến lược về phát triển bền vững ởViệt Nam nêu lên những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, đề ra nhữngchủ trương, chính sách, công cụ pháp luật và những lĩnh vực hoạt động ưu tiên cầnđược thực hiện để phát triển bền vững trong thế kỷ 21 Trên cơ sở hệ thống kếhoạch hóa hiện hành, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam tậptrung vào 19 hoạt động ưu tiên cần được chọn lựa và triển khai thực hiện, bao gồm:
5 hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, 5 hoạt động trong lĩnh vực xã hội và 9 hoạt độngtrong lĩnh vực tài nguyên và môi trường Định hướng chiến lược phát triển bềnvững ở Việt Nam là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ
sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan triểnkhai thực hiện và phối hợp hành động nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nướctrong thế kỷ 21 Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam là căn cứ
để xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của các ngành, địaphương, nhằm kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, thực hiệntiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm sự phát triển bền vững đấtnước Trong quá trình triển khai, thực hiện, Định hướng chiến lược phát triển bềnvững ở Việt Nam thường xuyên được xem xét để bổ sung và điều chỉnh cho phùhợp với từng giai đoạn phát triển
Hai là, Quy định cơ sở pháp lý cho cơ chế phối hợp trong chính sách PTBVCông tác tuyên truyền chính sách PTBV cho mọi đối tượng doanh nghiệp có
1 vị trí hết sức quan trọng, nó không chỉ giúp doanh nghiệp hiểu rõ về đinh hướng
mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển tốt trên 3 mặt kinh tế, môi trường
Trang 20và trách nhiệm xã hội Việc triển khai thực hiện chính sách PTBV cho doanhnghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp họ nâng cao nhận thức có một vaitrò hết sức quan trọng, đây không phải trách nhiệm riêng của doanh nghiệp mà cần
có sự tham gia của các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể xã hội
Bảo đảm cơ chế trên là bảo đảm phát huy được sức mạnh tổng hợp và cóhiệu quả trong công tác thực hiện chính sách PTBV trong mọi đối tượng doanhnghiệp cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, đoàn thể, trong đó chútrọng đến việc phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể, rõ ràng với sự tham giacủa cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, của các cấp, các ngành để tránh
sự chồng chéo cũng như đùn đẩy trách nhiệm
Điều kiện đảm bảo chính sách PTBV cho doanh nghiệp không thể thiếu kinhphí, phương tiện vật chất để tiến hành các hoạt động cụ thể Để có được điều này,vấn đề không chỉ dựa vào chế độ của Nhà nước, các chủ thể chính sách PTBV làdoanh nghiệp mà đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam cần phát huy khảnăng sáng tạo, năng động, tích cực học hỏi mô hình, cải tiến và ứng dụng công nghệcao, nâng cao tầm nhìn lãnh đạo,
Chính sách riêng về PTBV doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta là lĩnh vực rấtmới, do vậy muốn nâng cao được hiệu quả của công tác này thì việc đầu tư cả vềnhân lực và kinh phí là rất quan trọng
2.2 Nội dung của Đề án
2.2.1 Khái quát thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt nam
Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến rất phức tạp, kinh tế thế giới phụchồi chậm Tình hình chính trị, an ninh quốc phòng diễn biến căng thẳng, có nhiềuxung đột Ở tại cấp quốc gia như Việt Nam, vấn đề lạm phát đã được kiểm soát,kinh tế vi mô ổn định hơn, tăng trưởng kinh tế có bước phục hồi, môi trường kinhdoanh có bước được cải thiện, huy động và sử dụng ngày càng tốt hơn các nguồnlực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển Cùng với đà tăng trưởng GDP, cáccon số thống kê khác về kinh tế, lao động việc làm cho thấy bức tranh sáng sủa củaViệt Nam trong năm vừa qua Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,6%, chỉ số giátiêu dùng tăng 0,136%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 2.945 nghìn tỷ
Trang 21đồng, đầu tư từ ngân sách đạt 108 nghìn tỷ đồng, tổng vốn FDI đăng ký đạt 20,2 tỷUSD, xuất khẩu đạt con số kỷ lục từ trước tới nay 150 tỷ USD và xuất siêu 2 tỷUSD Về lao động việc làm, năm 2014 số doanh nghiệp được thành lập mới đạt74.842 doanh nghiệp so với 67.823 doanh nghiệp bị giải thể trong cùng năm, vốnđăng ký trung bình mỗi doanh nghiệp đạt 5,8 tỷ đồng và tạo ra hơn 1 triệu việc làm,con số lao động thất nghiệp và thiếu việc làm giảm xuống tương ứng còn 2,08% và2,45% (so với con số 2,18% và 2,75% năm 2013), tổng số lao động đang làm việc
là 53,02 triệu người trong đó 47% trong nông nghiệp, 21% trong công nghiệp và32% trong dịch vụ
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được trong năm vừa qua còn
có nhiều hạn chế, vướng mắc vẫn còn cần phải tiếp tục tháo gỡ trong những nămtiếp theo Thủ tục hành chính vẫn còn nhiều tồn tại, vướng mắc Sản xuất kinhdoanh còn gặp không ít khó khăn, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng vẫn chưa dễdàng Năng lực tài chính và quản trị của phần lớn doanh nghiệp trong nước còn hạnchế Số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn lớn Tỷ trọng đầu tư của khuvực ngoài nhà nước giảm
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) Việt Nam có vị trí quan trọng trongphát triển kinh tế và xã hội, chiếm khoảng 97% tổng số DNNVV đăng ký thành lập,
là khu vực Doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhậpcho người lao động, huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và đónggóp vào ngân sách nhà nước DNNVV có vốn đầu tư ban đầu tuy không lớn nhưngđược hình thành và phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, ở hầu hết cácngành nghề, lĩnh vực; là khu vực khai thác và huy động các nguồn lực, tiềm năng,tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư và tạo ra một thị trường cạnhtranh lành mạnh hơn
Trong chương trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta luônchú trọng đến việc hình thành, phát triển DNNVV và coi đó là lực lượng chủ lựccủa phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết Hội nghịTrung ương 7 khóa IX, đã đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Namcùng với nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức Đạihội X của Đảng đã đặt ra yêu cầu xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển
Trang 22DNNVV, trong đó đưa ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 cả nước có 500.000DNNVV Năm 2020 có 1triệu doanh nghiệp.
Trong bối cảnh của toàn cầu hóa, Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàndân, Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 10/04/2013 của Bộ chính trị về hội nhập kinh tếquốc tế Nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước, có quan hệkinh tế - Thương mại với hơn 160 nước và 70 vùng lãnh thổ, là thành viên của hầuhết các tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng với vị thế và vai trò ngày càng đượckhẳng định Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới từ 2007,31/2/2015 thành lập Cộng đồng ASEAN ( AEC), năm 2015 sẽ ký 7 Hiệp định FTA
và nếu kết thúc , Việt nam có FTA với 55 nền kinh tế (Hiệp định FTA EU- Việtnam Bao gồm 28 thành viên; Hiệp định FTA Việt nam- Hàn quốc; Hiệp định FTAViệt nam- EFTA bao gồm Thụy sỹ, Lichtenstein, Nauy, Iceland; Hiệp định FTAViệt nam liên minh thuế quan Nga- Kazachstan- Belarus ( VCUFTA); năm 2015 sẽ
ký TPP, RCEP dự kiến sẽ ký kết 2015 , đến 2018, theo cam kết WTO, nước taphải hoàn tất thể chế kinh tế thị trường ( KTTT) Như vậy, có thể nói nước ta sẽ hộinhập đầy đủ với thị trường toàn cầu Khi đó, DNNVV Việt Nam phải đối mặt vớicác đối thủ mới (các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, côngnghệ, kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh cao), phải cạnh tranh quyết liệt trong điềukiện mới (thị trường toàn cầu với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chếthương mại và luật pháp quốc tế) Nói cách khác, DNNVV Việt Nam đang phải đốimặt với những thách thức thật sự to lớn
Nhằm tiếp tục khuyến khích, trợ giúp phát triển DNNVV đáp ứng các yêucầu mới về hội nhập và phát triển, ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ ban hànhNghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV thay thế Nghị định số90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triểnDNNVV
Cơ chế thị trường là sự cạnh tranh không mang tính nhân nhượng, nhữngdoanh nghiệp nào thích ứng được, tuân theo các quy luật của thị trường sẽ tồn tại
và phát triển Môi trường luôn luôn biến động, vậy làm thế nào để đứng vữngđược trong nên kinh tế thị trường đầy sự thay đổi này? Đó chính là lý do tại saodoanh nghiệp nhất là DNNVV lại cần phải hoạch định một chiến lược phát triểnbền vững nhằm thích ứng với môi trường, tập trung mọi nguồn lực thực hiện
Trang 23những mục tiêu đã đặt ra nhằm tận dụng tối đa các cơ hội và giảm thiểu các khókhăn, thách thức để DNNVV phát triển bền vững cả về kinh tế - xã hội – môitrường.
DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật,được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổngnguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán củaDNNVV) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụthể như sau:
Khu vực
DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồngtrở xuống
từ trên
10 đến200
từ trên 20 đến 100
tỷ đồng
từ trên
200 đến300người
II Công nghiệp
và xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồngtrở xuống
từ trên 10đến 200
từ trên 20 đến 100
tỷ đồng
từ trên
200 đến300người
III Thương mại
và dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồngtrở xuống
từ trên
10 đến50
từ trên 10 đến 50
tỷ đồng
từ trên
50 đến100người
Trang 24xuât kinh doanh đã tăng 121,3%) góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho xãhội
Thứ hai, cơ cấu ngành của các cơ sở sản xuất kinh doanh đã có chuyển biếntích cực, số DNNVV kinh doanh các ngành dịch vụ đã tăng lên
Thứ ba, sự phát triển nhanh của DNNVV của mỗi tỉnh/thành phố đã phản ánhkết quả cải thiện hoạt động điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh
Xét về hiệu quả kinh doanh, tuy khu vực này chiếm tỷ trọng chi phối về sốDNNVV, lao động, vốn kinh doanh và doanh thu nhưng các chỉ tiêu về lợi nhuậntrước thuế và đóng góp cho ngân sách nhà nước lại có tỷ trọng thấp, khu vựcDNNVV chủ yếu phát triển nhanh về chiều rộng, giải quyết được nhiều việc làm,góp phần quan trọng vào việc xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội cho đấtnước Tuy nhiên, kết quả sản xuất kinh doanh cũng cho thấy, hầu hết các DNNVV
là các DNNVV vừa và nhỏ, kinh doanh còn nhỏ lẻ, hiệu quả còn thấp
- Khu vực DNNVV có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tuy số lượng DNNVV ít,nhưng phát triển nhanh về quy mô đầu tư và đặc biệt đạt hiệu quả kinh doanh caonhất trong các loại hình DNNVV
- Khu vực DNNVV nhà nước ngày càng được thu hẹp về quy mô theo chủtrương cổ phần hóa và sắp xếp lại của nhà nước để đảm bảo kinh doanh ngày cànghiệu quả hơn
2.2.2 Chính sách phát triển bền vững của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay
a Thực tế của việc hoạch định chính sách Phát triển bền vững DNNVV
Chỉ 2% doanh nghiệp (DN) nhỏ của nước ta phát triển thành DN vừa Đó làmột thực trạng rất đáng báo động, nhất là trong xu hướng hội nhập đang diễn rangày một mạnh mẽ hơn như hiện nay Trước sức ép cạnh tranh đang gia tăngnhanh chóng, làm sao để doanh nghiệp phát triển bền vững theo cả hai khía cạnh:lớn mạnh và thân thiện với môi trường, cộng đồng là bài toán đặt ra với các nhàhoạch định chính sách
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, mặc dù môi trường kinh doanh vànăng lực cạnh tranh của nước ta có bước được cải thiện nhưng so với các nướctrong khu vực thì vẫn còn thấp Thể chế luật pháp, cơ chế chính sách, thủ tục hànhchính, thực thi công vụ vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập gây khó khăn, phiền
Trang 25hà, tốn kém thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và người dân Vì vậy, trên thực tế,các doanh nghiệp của nước ta thường khó khăn trong việc lớn lên.
Một số quy định không tạo thuận lợi cho DNVVV phát triển vẫn đang đượccác cơ quan hoạch định chính sách ban hành Ví dụ : theo TS Nguyễn Bá Ân, TổngThư ký Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh,thời gian nộp thuế của DN nước ta dù đã được cải thiện nhưng vẫn cao, hiện nay là
247 giờ/năm, gấp đôi mức trung bình của các DN trong ASEAN là 121 giờ/năm,bảo hiểm xã hội còn 263 thủ tục "Cần tiếp tục cải cách để rút ngắn thời gian thựchiện các thủ tục hành chính của DN", TS Nguyễn Bá Ân nhấn mạnh
Trong khi đó, dưới áp lực hội nhập, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, chuyêngia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, thời điểm thành lập cộng đồng AEC đã đến rấtgần, thị trường của DN không còn là thị trường của 90 triệu dân Việt Nam nữa mà
là thị trường ASEAN với 600 triệu dân, thậm chí là thị trường ASEAN + 6 chiếmtới 40% dân số toàn cầu Do vậy, DN nếu muốn tồn tại và phát triển mạnh phảitính toán những chiến lược lớn Nhưng hiện tại các DN Việt Nam hầu hết ở quy
mô nhỏ và vừa Vốn đã hạn chế về quy mô lại gặp các đợt suy giảm kinh tế hồinăm 2008 và 2012 nên đội ngũ DN đã teo đi đáng kể
b Áp lực cho các nhà hoạch định chính sách phát triển bền vững doanh nghiệp nhỏ và vừa
Làm cách nào để doanh nghiệp phát triển bền vững, có thể lớn mạnh được
và đủ tiềm lực để đầu tư vào khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động và chọnlựa được những công nghệ tốt thân thiện với môi trường là vấn đề đang được đặt
ra cấp bách
Vào tháng 3-2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 19 về những nhiệm
vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnhtranh quốc gia Nghị quyết đã đưa ra các mục tiêu và giải pháp cụ thể, yêu cầu các
bộ, ngành phải vào cuộc để rà soát lại các thủ tục, điều kiện, giảm thời gian và chiphí thực hiện các thủ tục hành chính, thực hiện các giải pháp công khai, minh bạch
ở các cơ quan hành chính TS Nguyễn Bá Ân cho rằng, sau một năm Nghị quyết
19 được ban hành và có hiệu lực, môi trường kinh doanh ở nước ta đã có nhữngcải thiện đáng kể Thí dụ như Nghị quyết đề ra bảy giải pháp tổng thể và 49 giải
Trang 26pháp cụ thể cho các bộ và cơ quan, địa phương thì đã có bốn giải pháp tổng thể vàtám giải pháp cụ thể được thực hiện và có kết quả, 16 giải pháp cụ thể được thựchiện nhưng chưa có kết quả rõ ràng và 25 giải pháp cụ thể chưa được thực hiện.Nhờ đó, báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu công bố tháng 9 năm 2014 của Diễnđàn kinh tế thế giới (WEF), đã xếp chỉ số năng lực cạnh tranh của nước ta tăng lênhai bậc, từ bậc 70 lên 68 trong 148 nền kinh tế Các tổ chức xếp hạng tín nhiệmquốc tế đã nâng mức xếp hạng tín nhiệm của nước ta và đều đánh giá triển vọng ổnđịnh.
Tuy nhiên, đó mới chỉ là đánh giá bước đầu Trong thực tế, những sự cảithiện đó tác động như thế nào đến đời sống doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, tạođiều kiện, cơ hội thực sự cho DN phát triển là câu chuyện không đơn giản như vậy.Đưa ra các giải pháp để bảo đảm các loại thị trường hàng hóa, lao động, chứngkhoán, bất động sản, khoa học công nghệ vận hành đầy đủ, thông suốt và ngàycàng trở thành yếu tố quyết định trong huy động, phân bố các nguồn lực cho pháttriển sẽ là chìa khóa để thúc đẩy sự phát triển minh bạch của thị trường, qua đóthúc đẩy doanh nghiệp phát triển
Mặc dù đã áp đặt các chỉ tiêu thực hiện quyết liệt cải thiện môi trường kinhdoanh, nhưng đến nay nhiều bộ, ngành, địa phương chưa thực sự vào cuộc quyếtliệt để thực hiện các mục tiêu này Chỉ khi nào lãnh đạo các bộ, ngành và địaphương xác định rõ ràng tầm quan trọng để ưu tiên thực hiện thì khi đó môi trườngkinh doanh mới được cải thiện rõ rệt
Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới về năng lực cạnh tranh, Singapo xếp thứ 02, Malaysia thứ 20, Thailan thứ 31, Indonesia thứ 34, Philippine thứ 52, Việt Nam thứ 68
2.2.3 Tổ chức thực hiện chính sách phát triến bền vững tại doanh nghiệp vừa