1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sáng kiến Sử dụng sơ đồ tư duy để hình thành năng lực tự học cho học sinh trong môn Ngữ văn 12

33 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên sáng kiến: “Sử dụng sơ đồ tư duy để hình thành năng lực tự học cho học sinh trong môn Ngữ văn 12” 2.. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiệnthành công phương thức dạy học

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH

TRƯỜNG THPT B HẢI HẬU

- -S¸ng kiÕn dù thi cÊp tØnh

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ HÌNH THÀNH NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG

MÔN NGỮ VĂN 12

Tác giả : Nguyễn Thị Huyền

Trình độ chuyên môn : Cử nhân Ngữ văn

Chức vụ : Giáo viên

Nơi công tác : Trường THPTB Hải Hậu

Hải Hậu, tháng 05 năm 2016

Trang 2

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: “Sử dụng sơ đồ tư duy để hình thành năng lực tự

học cho học sinh trong môn Ngữ văn 12”

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng giảng dạy Ngữ văn 12

3 Thời gian áp dụng sáng kiến : Từ ngày 25 tháng 8 năm 2015

đến 28 tháng 5 năm 2016

4 Tác giả

Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền

Năm sinh: 1983

Nơi thường trú: Hải Phú – Hải Hậu – Nam Định

Trình độ chuyên môn: Cử nhân sư phạm Ngữ văn

Chức vụ công tác: Giáo viên

Nơi làm việc: Trường THPT B Hải Hậu

Điện thoại: 01233853818

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến

Tên đơn vị: Trường THPT B Hải Hậu

Địa chỉ: Hải Phú – Hải Hậu – Nam Định

Điện thoại: 03503874470

Trang 3

NỘI DUNG Trang

Thông tin chung về sáng kiến 1

Bảng danh mục chữ viết tắt 3

I Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến 4

II Mô tả giải pháp 6

3 Các biện pháp cụ thể 9

3.1 Cách vẽ sơ đồ tư duy 9 3.2 Cách đọc sơ đồ tư duy 10

3.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong môn Ngữ văn 12 11

III Hiệu quả do sáng kiến mang lại 27

1 Hiệu quả xã hội 27

2 Hiệu quả kinh tế 28

IV Kiến nghị, đề xuất 29

V Cam kết 29

Tài liệu tham khảo 30

Trang 4

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

Trang 5

I ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

1 Cơ sở lí luận

Có thể thấy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, chưa baogiờ nền giáo dục và đào tạo nước ta lại đứng trước thử thách to lớn như hiệnnay, nhất là khi nó được xem như là một khâu của quá trình sản xuất, là bộphận chủ yếu của nền kinh tế tri thức Trước tình hình đó, ngành Giáo dục

và Đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướngtiếp cận năng lực người học, nghĩa là quan tâm đến việc học sinh làm đượccái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiệnthành công phương thức dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cáchhọc, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực vàphẩm chất, đồng thời phải chuyển từ cách đánh giá kết quả giáo dục nặng vềkiểm tra trí nhớ sang kiểm tra đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giảiquyết vấn đề, chú trọng kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học để có thểtác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học vàgiáo dục

Nghị quyết TW 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và

đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng

hiện đại; phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức mới, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo

cơ sở để người học tự cập nhật tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực”.

Trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 ban hànhkèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính

phủ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập,

rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”.

Rõ ràng, một trong những vấn đề cơ bản của đổi mới PPDH hiện nay

là phát huy nội lực của người học, hình thành năng lực tự học của học sinh

qua mỗi bài học Vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với giáo viên làphải đổi mới cách dạy Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức cho họcsinh đi tìm kiến thức mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Chính vìvậy, học sinh phải là người tự giác, chủ động, tìm tòi phát hiện các kiến thứcmới một cách linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống thông qua sự địnhhướng dẫn dắt của giáo viên trong tiết dạy

Do đó, việc lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp và pháthuy được sự yêu thích, tính chủ động của học sinh đối với môn học là mộtvấn đề rất quan trọng Đó vừa là kĩ thuật vừa là nghệ thuật sư phạm của

Trang 6

người giáo viên Môn Ngữ văn cũng chia sẻ sứ mệnh đầy khó khăn và vẻvang ấy.

2 Cơ sở thực tiễn.

Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy môn Ngữ văn nói chung vàmôn Ngữ văn 12 nói riêng ở trường THPT B Hải Hậu, tôi nhận thấy rằngkhối lượng kiến thức mà học sinh phải tiếp cận và nắm bắt là rất bề bộn,nhất là ở môn Ngữ văn 12 Trong khi đó, với môn Ngữ văn học sinh khi đọcsách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin,lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình, không biết vận dụng kiến thức

đã học vào giải quyết các vấn đề của môn học cũng như trong thực tiễn đờisống Nhất là đến các kì thi các em cuống cuồng không vì biết làm thế nào

để tiêu thụ kiến thức của môn Ngữ văn Đặc biệt khi môn Ngữ văn 12 lại làmôn thi bắt buộc trong kì thi THPT Quốc gia Chính điều này làm cho việchọc tập môn Ngữ văn trở nên nhàm chán, máy móc, thụ động, không sáng

tạo, học văn trở thành một cuộc “đấu vật” mệt mỏi và buồn tẻ Vấn đề ở đây

là các em chưa có phương pháp học hiệu quả, chưa thực sự biết biến kiếnthức từ sách vở, từ bài giảng của thầy cô thành tri thức, kinh nghiệm và vốnsống sở hữu của bản thân Hay nói khác đi là các em chưa có năng lực tựhọc, tự nghiên cứu

Bởi vậy, để giúp học sinh nắm được kiến thức sâu hơn, bền vững hơn,hiệu quả vận dụng được tốt hơn, hình thành cho các em năng lực tự học đốivới bộ môn, tôi đã nghiên cứu và tìm đến kĩ thuật sơ đồ tư duy (SĐTD)trong các tiết dạy môn Ngữ văn 12 như là một giải pháp nhằm góp phần đổi

mới phương pháp dạy học cũng như để hướng dẫn học sinh học tập hiệu

quả Trong qúa trình nghiên cứu và thử nghiệm, tôi nhận thấy rằng kĩ thuật

dạy học này thực sự cần thiết bởi với việc sử dụng SĐTD sẽ góp phần hỗ trợđặc lực trong việc biến quá trình dạy học của giáo viên thành quá trình tựhọc của học sinh trong môn Ngữ văn Dưới sự hướng dẫn của giáo viên họcsinh sẽ tự tìm ra chân lí

Trang 7

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP.

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Hiện nay, thuật ngữ SĐTD không còn xa lạ với các giáo viên và học

sinh trong trường phổ thông SĐTD được mệnh danh là “công cụ vạn năng

cho bộ não”, là phương pháp tư duy đầy sáng tạo, hiện đang được hơn 250

triệu người trên thế giới sử dụng Có thể nói, SĐTD đã và đang mang lạihiệu quả thực sự cho con người nhất là trong lĩnh vực giáo dục Đây đượcxem là kĩ thuật dạy học tích cực góp phần đổi mới PPDH và mang đến chohọc sinh phương pháp học tập hiệu quả Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng

phương pháp học là một công cụ cơ bản của tự học.

Song qua dự giờ, thăm lớp, trao đổi với các động nghiệp môn Ngữvăn, tôi thấy các thầy cô đưa kĩ thuật SĐTD vào các tiết dạy của mình cònhạn chế Hoặc nếu có thì cũng chỉ dừng lại ở việc ôn tập kiến thức trong các

kì thi và còn số này cũng không nhiều Qua tìm hiểu, tôi thấy nguyên nhânchủ yếu là để thiết kế được một SĐTD cho tiết dạy, thực tế, giáo viên phảiđầu tư nhiều thời gian, công sức mà nhiều khi lại không biết phải tổ chứcthiết kế hoạt động dạy học như thế nào với SĐTD để phát huy năng lực tựhọc của học sinh Do đó, đa số học sinh cũng chưa biết sử dụng SĐTD đểghi nhớ, khắc sâu kiến thức bài học hay giải quyết các bài tập của môn Ngữvăn Điều này dẫn đến hệ quả là giáo viên dạy Ngữ văn vất vả cứ như đi càykhi truyền đạt tri thức tới học sinh Như thế sẽ thật khó khơi dậy ở các emniềm yêu thích đối với môn học đầy tính nhân văn này Còn học sinh luôn tỏ

ra rất thụ động trong các giờ Ngữ văn, dẫn đến tâm lí “ngại”, “lười” thậm chí là “sợ” học môn Ngữ văn Trong khi đó môn Ngữ văn là một trong

những môn thi bắt buộc của Bộ trong kì thi THPT Quốc gia thì đây quả là

một “vấn đề” nan giải Từ thực trạng trên, trong bài viết này chúng tôi xin

mạnh dạn đề cập đến việc sử dụng SĐTD để hình thành năng lực tự học chohọc sinh trong môn Ngữ văn 12 với mong muốn và hi vọng chia sẻ tới cácđồng nghiệp một phương pháp dạy và học hiệu quả

Trang 8

2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

2.1 Quan niệm về năng lực tự học

2.1.1 Năng lực

Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái

độ và vận hành (kết nối) chúng hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực là một cấu

trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong

nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, thái độ … mà cả niềm tin, giá trị, tráchnhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiệnthực tế, hoàn cảnh thay đổi Năng lực của học sinh phổ thông là năng lựclàm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi

và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm

vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trongđời sống

Theo PGS.TS Nguyễn Công Khanh ( Đại học sư phạm Hà Nội) thìnăng lực của học sinh phổ thông gồm: Năng lực chung và năng lực chuyênbiệt Các năng lực chung gồm: Nhóm năng lực làm chủ phát triển bản thân :

tự học, tự giải quyết vấn đề, sáng tạo, quản lí; nhóm năng lực về quan hệ xãhội: giao tiếp, hợp tác; nhóm năng lực công cụ: sử dụng công nghệ thông tin,

sử dụng ngôn ngữ, tính toán Các năng lực chuyên biệt môn học (lĩnh vựchoc tập) gồm: Tiếng Việt, Tiếng nước ngoài, Toán; khoa học tự nhiên; khoahọc xã hội và nhân văn; thể chất; nghệ thuật…

2.1.2 Năng lực tự học của học sinh THPT

Tự học là một vấn đề đề quan trọng phương pháp đổi mới đổi mớigiáo dục Tự học đặt ra vấn đề giải phóng tiềm năng sáng tạo cho mỗi người,hình thành phương pháp tư duy, đạt được hiệu quả bền vững của giáo dụcnhà trường Đây là tư tưởng đầy tính nhân văn, dân chủ Nó giúp con người

có được công cụ để học tập suốt đời

Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là tự mình dùng các giác quan

để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực, trí tuệ(quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (phải sử dụngcông cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm cả nhân sinhquan, thế giới quan để chiếm lĩnh được một lĩnh vực hiểu biết nào đó, một

số kĩ năng nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng đồng rồibiến chúng thành sở hữu của chính mình Phát minh ra cái mới cũng đượccoi là một hình thức tự học cao cấp

Trang 9

Theo tác giả Nguyễn Kì, tự học của học sinh THPT có bốn đặc trưng

cơ bản sau:

- Thứ nhất là học sinh phải biết tìm ra kiến thức.

- Thứ hai là người học tự thể hiện mình, đặt mình vào tình huống tự

trình bày bảo vệ sản phẩm, tỏ rõ thái độ của mình trước môi trường xungquanh

- Thứ ba người thầy là người tự tổ chức hướng dẫn cho học sinh tự

nghiên cứu tìm ra tri thức và thể hiện mình trước tập thể, trước cộng đồng

- Thứ tư người học tự kiểm tra, tự đánh giá tri thức của mình với bạn

bè và dựa vào kết luận của thầy cô tự mình sửa chữa, tự mình điều chỉnh, tựmình hoàn thiện và tự mình rút ra được kinh nghiệm về cách học, cách xử lítình huống, cách giải quyết vấn đề của mình của mình

Như vậy, năng lực tự học là nội lực phát triển của bản thân người học như tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới sáng tạo trong công việc hàng ngày Thực chất năng lực tự học của học sinh THPT chủ yếu là năng lực nghiên cứu sách giáo khoa, ghi chép thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình,vận dụng kiến thức đã học vào làm các bài tập …nhằm phát huy một cách tối đa tính tích cực chủ động, độc lập, tự giác nhằm nắm vững những tri thức mà loài người đang tích lũy, biến nó thành tài sản, thành vốn hiểu biết riêng của bản thân.

2.2 Khái quát về SĐTD

2.2.1 Khái niệm

Sơ đồ tư duy (Mind Map) hay còn gọi là lược đồ tư duy, bản đồ tưduy đựơc giáo sư người Anh Tony Buzan phát minh ra vào cuối thế ki XXdựa trên những nghiên cứu về hoạt động của bộ não Vậy SĐTD là gì?

SĐTD là một hình thức ghi chép phi tuyến tính dưới dạng biểu đồ mở rộng;

sử dụng đường nét, màu sắc và hình ảnh để biểu thị, phát triển hay đào sâu một ý tưởng nào đó Nó phản ánh quá trình diễn ra bên trong đầu óc con người; có tác dụng hệ thống hoá các nội dung tri thức, thúc đẩy hoạt động ghi nhớ và tiềm năng sáng tạo vô biên Xét theo nghĩa như vậy SĐTD không

chỉ là sản phẩm của quá trình tư duy mà hơn thế còn phản ánh chính xác sựdiễn tiến của tư duy Nó vừa là kết quả, vừa là quá trình

Trang 10

- Là công cụ hỗ trợ đắc lực quá trình tự học của người học

- Tạo niềm hứng thú và đặc biệt yêu thích đối với môn học

2.2.3 Bản chất của dạy học bằng sơ đồ tư duy

Tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng bao gồm:

+ Sự hình dung: SĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về

kiến thức cần nhớ Đối với não bộ, SĐTD giống như một bức tranh lớn đầyhình ảnh và màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán

+ Sự liên tưởng: SĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một các

rất rõ ràng, logic

+ Làm nổi bật ý tưởng: SĐTD cho phép bạn làm nổi bật các ý tưởng

trọng tâm bằng một bức tranh đầy màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng và có

sự liên kết chặt chẽ với nhau

3 Các giải pháp cụ thể

3.1 Cách vẽ một sơ đồ tư duy

Giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh cách vẽ một SĐTD Để vẽmột bản đồ tư duy hoàn chỉnh, chúng ta thống nhất cách vẽ từ trái qua phải(ngược chiều kim đồng hồ) bao và gồm có các bước cơ bản sau đây:

- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm.

Bước đầu tiên trong việc tạo ra một bản đồ tư duy là vẽ chủ đề ở trungtâm trên một mảnh giấy

Trang 11

- Bước 2 : Vẽ các nhánh chính.

Bước tiếp theo là tìm các ý chính làm rõ cho chủ đề trung tâm, từ đó,

vẽ ra các nhánh chính đầu tiên

Quy tắc vẽ nhánh chính:

+ Nhánh chính nên được vẽ gắn liền với trung tâm

+ Nhánh chính nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụkhác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng

Mỗi từ khóa - hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêngtrên nhánh Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm Tất cả cácnhánh tỏa ra từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng một màu Chúng

ta thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn

- Bước 4: Lặp lại bước 3, để trí tưởng tượng và sáng tạo bằng cách

thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng nhưgiúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn

* Lưu ý học sinh những điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy:

- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng

- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết

- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép

3.2 Cách đọc một SĐTD

Vẽ từ đâu thì bắt đầu đọc từ đó Nghĩa là, ta sẽ đọc theo ngược chiều kim đồng hồ.

Trang 12

3.3 Sử dụng SĐTD trong môn Ngữ văn 12

3.3.1 Dạy bài mới.

Để hình thành kiến thức mới, giáo viên điều hành, hướng dẫn, tổ chứchoạt động dạy và học bằng cách đưa ra những câu hỏi mang tính địnhhướng Sau đó, giáo viên sử dụng SĐTD thể hiện nội dung bài dạy Cáchnày, có thể áp dụng rất hiệu quả đối với những bài mang tính chất tái hiện

kiến thức như các bài về Tác gia văn học, Khái quát văn học, Tiếng Việt,

Làm văn, Lí luận văn học.

Ví dụ: Với bài “ Tuyên ngôn độc lập”, phần: Tác giả Hồ Chí Minh,

sau khi tiến hành hoạt động khởi động, giáo viên vẽ chủ đề trung tâm lênbảng Sau đó, sử dụng các câu hỏi định hướng đưa học sinh chiếm lĩnh kiếnthức mới như sau

+ Theo các em, khi học bài này, chúng ta cần phải đảm bảo đượcnhững luận điểm cơ bản nào?

- HS trả lời: Tiểu sử, sự nghiệp văn học hoặc tiểu sử, quan điểm sángtác, di sản văn học, phong cách nghệ thuật

+ Giáo viên định hướng cách hai và đây cũng là 4 nhánh chính của sơ

đồ tư duy bài học.

Tiếp tục tiếp cận bài học bằng cách hoàn thiện những nhánh chínhcủa SĐTD

Trang 13

Mục quan điểm sáng tác

+ GV: Quan điểm sáng tác là chỗ đứng để nhìn nhận nghệ thuật, là

lập trường, quan niệm, ý kiến của mỗi nhà văn về văn học Quan điểm đó được thể hiện trong các tác phẩm của họ Em hãy cho biết, quan điểm sáng

tác của Hồ Chí Minh có mấy nội dung? Cụ thể mỗi nội dung ấy là gì?

- HS: trả lời 3 nội dung

+ GV nhận xét, có thể lấy dẫn chứng chứng minh để tăng tính thuyếtphục của bài học, sau đó thể hiện trên SĐTD

Mục di sản văn học

+ GV: Những áng văn chính luận, Truyện và kí, Thơ ca của Bác viếtnhằm mục đích gì? Ở mỗi thể loại, em hãy kể tên một số tác phẩm tiêubiểu?

- HS trả lời, GV thể hiện trên SĐTD

Mục phong cách nghệ thuật

+ GV: Phong cách nghệ thuật là những đặc điểm riêng biệt về tư

tưởng và hình thức nghệ thuật của mỗi nhà văn trong cách nhìn, cách cảm nhận cuộc sống và con người trong cách chọn đề tài, chủ đề và cấu trúc của tác phẩm… Mỗi nhà văn đều có phong cách riêng, nhà văn càng lớn, phong cách càng đậm nét Dựa vào SGK, em hãy nêu những nhận định chung cũng

như đặc điểm riêng về từng thể loại trong phong cách nghệ của Bác ?

- HS: Trả lời

+ GV: Nhận xét, lấy dẫn chứng để chứng minh và thể hiện trên SĐTD

Với bài “ Tuyên ngôn độc lập” phần một: Tác giả Hồ Chí Minh, ta có

SĐTD như hình trang 13

Trang 15

Ví dụ 2: Với bài “Phong cách ngôn ngữ khoa học”, GV giới thiệu

bài mới và đưa ra các câu hỏi liên quan đến việc hình thành kiến thức mới

( Văn bản khoa học có mấy loại? Ngôn ngữ khoa học tồn tại ở những

dạng nào? Những đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ khoa học? ).

Cuối bài học ta có SĐTD như hình trang 15

Ngày đăng: 13/05/2017, 11:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5- nguvan.hnue.du.vn “Hướng dẫn học sinh trung học phổ thông lập ý bài văn nghị luận bằng sơ đồ tư duy” của tác giả Trần Hoài Phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn học sinh trung học phổ thông lập ý bài văn nghị luận bằng sơ đồ tư duy
1. Trần Đình Châu, Sử dụng bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn toán- Tạp chí Giáo dục, kì 2- tháng 9/2009 Khác
2. Tony Buzan - Bản đồ Tư duy trong công việc – NXB Lao động – Xã hội Khác
3- Tạp chí văn học các số từ 2010 đến nay Khác
4- Phan Trọng Luận, Thiết kế bài học ngữ văn 12 - NXBGD Việt Nam Khác
6- Nguyễn Kì, Xã hội hoá giáo dục và phát huy nội lực. Tạp chí tự học số 7 (tháng 3/2000) Khác
7- Nguyễn Cảnh Toàn, Luận bàn kinh nghiệm về tự học. NXBGD 1999 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tư duy bài làm của em Nguyễn Thị Tho lớp 12C6 - sáng kiến Sử dụng sơ đồ tư duy để hình thành năng lực tự học cho học sinh trong môn Ngữ văn 12
Sơ đồ t ư duy bài làm của em Nguyễn Thị Tho lớp 12C6 (Trang 20)
Sơ đồ tư duy bài làm của em Nguyễn Thị Thoa lớp 12C6 - sáng kiến Sử dụng sơ đồ tư duy để hình thành năng lực tự học cho học sinh trong môn Ngữ văn 12
Sơ đồ t ư duy bài làm của em Nguyễn Thị Thoa lớp 12C6 (Trang 21)
Bảng khảo sát về sự hứng thú của học sinh khi học môn - sáng kiến Sử dụng sơ đồ tư duy để hình thành năng lực tự học cho học sinh trong môn Ngữ văn 12
Bảng kh ảo sát về sự hứng thú của học sinh khi học môn (Trang 28)
Bảng thống kê kết quả điểm thi môn Ngữ văn Học kì II - sáng kiến Sử dụng sơ đồ tư duy để hình thành năng lực tự học cho học sinh trong môn Ngữ văn 12
Bảng th ống kê kết quả điểm thi môn Ngữ văn Học kì II (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w