Tính đa dạng về HST bao gồm rừng, biển, đất ngập nước, sự phong phú, giàu có về các loài và nguồn gen sinh vật, dịch vụ sinh thái - môi trường do chúng mang lại, cùng hệ thống các kiến t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ BẢO TỒN
ĐA DẠNG SINH HỌC: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI KHU NAM CÁT TIÊN THUỘC VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN
GVHD: ThS CHUNG KIM NHỰT NHÓM SVTH: NHÓM 1
LỚP : 13CMT1 NIÊN KHOÁ: 2013-2016
ĐỒNG NAI, THÁNG 7 NĂM 2016
Trang 2iv
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU viii
DANH MỤC HÌNH ẢNH ix
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Lý do chọn đề tài 2
1.3 Tầm quan trọng của đề tài 2
1.4 Đối tượng và phạm vi của đề tài 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐDSH VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ BẢO TỒN ĐDSH TẠI VQG CÁT TIÊN 4
2.1 Tổng quan về ĐDSH 4
2.1.1 Khái niệm ĐDSH 4
2.1.2 Giá trị của ĐDSH 4
2.1.2.1 Giá trị trực tiếp 4
2.1.2.2 Giá trị gián tiếp 6
2.1.3 Nguyên lý của bảo tồn ĐDSH 8
2.1.4 Các phương pháp bảo tồn ĐDSH 9
2.1.4.1 Bảo tồn tại chỗ (In-situ conservation) 9
2.1.4.2 Bảo vệ chuyển chỗ (Ex-situ conservation) 12
2.1.4.3 Luật pháp liên quan đến bảo tồn ĐDSH 14
2.1.5 Suy thoái ĐDSH 15
2.1.5.1 Khái niệm suy thoái ĐDSH 15
2.1.5.2 Nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH 16
2.1.6 Thang bậc phân hạng mức đe dọa theo IUCN, 1994 16
2.2 Bảo tồn ĐDSH tại VQG Cát Tiên 19
2.2.1 Khái quát về VQG Cát Tiên 19
2.2.1.1 Lịch sử hình thành 19
2.2.1.2 Cơ cấu tổ chức 21
2.2.3 Hiện trạng ĐDSH tại VQG Cát Tiên 22
2.2.3.1 Hệ động vật 22
2.2.3.2 Hệ thực vật 24
Trang 3v
2.2.3 Công tác bảo tồn ĐDSH tại VQG Cát Tiên 27
2.2.3.1 Tổ chức quản lý và bảo tồn ĐDSH 27
2.2.3.2 Một số khó khăn và thách thức trong việc bảo tồn ĐDSH tại VQG Cát Tiên 28
2.2.3.3 Các thành tựu đã đạt được 28
2.2.4 Công tác tuyên truyền bảo tồn ĐDSH tại VQG Cát Tiên 29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHẰM ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ BẢO TỒN ĐDSH ĐỐI VỚI KHU NAM CÁT TIÊN – VQG CÁT TIÊN 31
3.1 Phương pháp kế thừa 31
3.2 Phương pháp thu thập số liệu 31
3.3 Phương pháp khảo sát thực địa 32
3.4 Phương pháp thống kê và xử lý dữ liệu 32
3.5 Phương pháp chuyên gia 32
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG VỀ BẢO TỒN ĐDSH ĐỐI VỚI KHU NAM CÁT TIÊN – VQG CÁT TIÊN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC 34
4.1 Đánh giá nhận thức của cộng đồng về bảo tồn ĐDSH đối với khu Nam Cát Tiên 34
4.1.1 Đánh giá hiểu biết của cộng đồng về ĐDSH 34
4.1.2 Đánh giá hiệu quả của việc vận động tuyên truyền bảo tồn ĐDSH 35
4.2 Giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn ĐDSH đối với khu Nam Cát Tiên 38
4.2.1 Chính sách pháp luật 38
4.2.2 Giải pháp bảo vệ nguồn gen, đa dạng sinh học 39
4.2.3 Phát triển dịch vụ du lịch sinh thái 40
4.2.4 Thành lập trung tâm triển lãm, giáo dục và bảo vệ động vật hoang dã 41
4.2.5 Nâng cao nhận thức cộng đồng 43
4.2.6 Nâng cao năng lực của BQL VQG Cát Tiên 45
4.2.7 Tăng cường hợp tác quốc tế 47
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 4vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CITES Convention on International Trade in Endangered Species of Wild
Fauna and Flora
IUCN International Union for Conservation of Nature
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
UNEP The United Nations Environment Programme
Trang 5vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng số lượng các loài động vật trong VQG Cát Tiên 22
Trang 6viii
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 4.1: Nguồn thông tin giúp người dân biết về VQG Cát Tiên 34
Biểu đồ 4.2: Kết quả khảo sát cộng đồng về các nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH 35 Biểu đồ 4.3: Các hình thức tuyên truyền bảo tồn ĐDSH cho cộng đồng 36 Biểu đồ 4.4: Ý kiến của người dân về những hoạt động chính quyền địa phương cần làm để nâng cao nhận thức về bảo tồn ĐDSH cho cộng đồng 38
Trang 7ix
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Nhà của cộng đồng dân tộc thiểu số trong VQG Cát Tiên 7
Hình 2.2: Bảo tồn tại chỗ tại VQG Cát Tiên 12
Hình 2.3: Bảo tồn chuyển chỗ vượn tại VQG Cát Tiên 13
Hình 2.4: Bảo tồn chuyển chỗ các loài cá 13
Hình 2.5: Ngân hàng giống tại Bắc Cực 14
Hình 2.6: Sơ đồ thang bậc phân hạng mức đe dọa theo IUCN 16
Hình 2.7: Bản đồ VQG Cát Tiên 21
Hình 2.8: Sơ đồ cơ cấu tổ chức BQL VQG Cát Tiên 21
Hình 2.9: Bảo tồn gấu tại VQG Cát Tiên 22
Hình 2.10: Chim chích chòe lửa tại VQG Cát Tiên 23
Hình 2.11: Kỳ đà tại VQG Cát Tiên 24
Hình 2.12: Quần thể bướm tại VQG Cát Tiên 24
Hình 2.13: Quần thể bằng lăng tại Nam Cát Tiên 25
Hinh 2.14: Hoa bằng lăng tại VQG Cát Tiên 25
Hình 2.15: Quần thể tre nứa tại VQG Cát Tiên 26
Hình 2.16: Đất ngập nước tại Bàu Sấu 26
Hình 2.17: Trụ sở BQL VQG Cát Tiên 27
Hình 2.18: Cá sấu tại VQG Cát Tiên 29
Hình 2.19: Hoạt động truyền của nhóm Yêu và Bảo vệ Cát Tiên 30
Hình 4.1: Poster tuyên truyền ngày Quốc tế Đa Dạng Sinh Học 22/05/2016 36
Hình 4.2: Lễ phát động ngày Môi trường Thế Giới 2016 tại huyện Thống Nhất 37
Hình 4.3: Mô hình trạm cứu hộ động vật hoang dã tại huyện Củ Chi, TP HCM 42
Hình 4.4: Poster tuyên truyền đa dạng sinh học cho cộng đồng 44
Hình 4.5: Thi vẽ tranh hưởng ứng bảo vệ ĐDSH 45
Trang 81
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Đặt vấn đề
ĐDSH là nền tảng cho sự sống và phát triển của con người ĐDSH được xem
là vốn tự nhiên giảm nghèo và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mất an ninh lương thực, khủng hoảng kinh tế mà nhiều khu vực, Quốc gia đang phải đối mặt Cam kết bảo tồn và đầu tư cho bảo tồn ĐDSH được quốc tế xem là sự đầu
tư cho tương lai và đang trở thành một điều kiện, nội dung bắt buộc trong các tiến trình đàm phán về hợp tác kinh tế và thương mại quốc tế
Vấn đề ĐDSH trọng tâm hiện nay là điều tra, nghiên cứu, xem xét để nhận biết ngày càng đầy đủ hơn sự phong phú và đa dạng các nguồn gen, các loài và các HST trên bề mặt Trái Đất, giá trị của nó đối với cuộc sống của con người, thấu hiểu hơn tình trạng mất ĐDSH đang ngày càng gia tăng, sử dụng công nghệ sinh học, công nghệ gen mà con người đang ngày càng làm giàu thêm ĐDSH, mà sự hiểu biết đó hiện nay đang còn quá ít ỏi Đặc biệt, ở vùng nhiệt đới trong đó có Việt Nam, nơi chứa đựng phần lớn ĐDSH của hành tinh chúng ta và cũng là nơi dân số đang tăng nhanh và phát triển mạnh, để trên cơ sở đó đề ra các giải pháp thích hợp cho việc bảo tồn ĐDSH và phát triển bền vững
Việt Nam là Quốc gia giàu có về ĐDSH, được xếp hạng thứ 16 trên Thế Giới
về mức độ đa dạng của tài nguyên sinh vật Tính đa dạng về HST bao gồm rừng, biển, đất ngập nước, sự phong phú, giàu có về các loài và nguồn gen sinh vật, dịch
vụ sinh thái - môi trường do chúng mang lại, cùng hệ thống các kiến thức truyền thống và văn hóa địa phương về quản lý và sử dụng tài nguyên đã làm cho ĐDSH
có vai trò và giá trị vô cùng to lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, nhất là lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản Du lịch sinh thái cũng đang trở thành ngành kinh tế đầy tiềm năng, thu hút đầu
tư trong và ngoài nước
Ngoài ra, ĐDSH còn giữ vai trò quan trọng trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường, trong quá trình phát triển và sinh tồn của loài người, là hơi thở của sự sống, là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá Vì vậy, loài người cần phải bảo vệ chúng, hay nói cách khác là cần phải nâng cao nhận thức hơn nữa để có thể thực hiện tốt công tác bảo tồn ĐDSH
Trang 9và ngày càng bị cạn kiệt, nhiều nơi rừng không thể tái sinh, gây thiệt hại nhiều về tài sản, tính mạng con người Vì vậy, rất cần sự chung tay của cộng đồng, cùng nhau tìm hiểu, cùng nhau nhận thức để ĐDSH ngày càng phát triển hơn.
Nâng cao nhận thức đi đôi với việc bảo tồn ĐDSH đang là vấn đề hết sức cần được quan tâm hàng đầu Không chỉ riêng BQL có trách nhiệm bảo tồn ĐDSH mà
đó còn là trách nhiệm của cả cộng đồng Cộng đồng có nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng trong việc bảo tồn ĐDSH thì mới có thể bảo vệ được rừng Để mọi người có thể hiểu rõ thêm về tầm quan trọng của việc bảo tồn ĐDSH trong rừng
như thế nào thì nhóm quyết định chọn đề tài: “Nhận thức của cộng đồng về bảo tồn ĐDSH: Trường hợp nghiên cứu tại khu Nam Cát Tiên thuộc VQG Cát Tiên”.
1.3 Tầm quan trọng của đề tài
Ngày nay, bảo vệ ĐDSH đang được quan tâm không chỉ ở phạm vi riêng lẻ của từng Quốc gia mà là mối quan tâm chung của toàn nhân loại Vì bảo tồn tài nguyên ĐDSH gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế xã hội Qua đó, nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng của mỗi Quốc gia cũng như hạn chế các tác động của sự thay đổi khí hậu Chính quyền địa phương cần có những giải pháp thực tế như: vận động tuyên truyền từng khu vực, tổ chức những buổi tập huấn hoặc hơn nữa là lập
ra những câu hỏi khảo sát đơn giản dựa theo từng nhóm tuổi tham vấn ý kiến cộng đồng để có thể đánh giá được một cách khái quát về sự hiểu biết cũng như nhận thức của người dân từng khu vực Vì chỉ có hiểu biết mới có thể tự nhận thức được bản thân mỗi người về tầm quan trọng của ĐDSH đối với cuộc sống của con người.Thông qua đề tài này, đánh giá được trình độ hiểu biết của cộng đồng về ĐDSH VQG Cát Tiên và từ đó tìm ra phương cách tối ưu nhất để cộng đồng nhận thức hơn nữa về bảo tồn ĐDSH
Trang 103
1.4 Đối tượng và phạm vi của đề tài
Vị trí địa lý: VQG Cát Tiên nằm trên địa phận ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng
và Bình Phước Trụ sở VQG Cát Tiên (khu Nam Cát Tiên) nằm trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai và cách thành phố Hồ Chí Minh 150 km theo Quốc Lộ 20.Toạ độ địa lý: từ 11o20’ đến 11o50’ vĩ độ Bắc và từ 107o09’ đến 107o35’ kinh
độ Đông
Đối tượng khảo sát:
- Cộng đồng dân cư xung quanh khu vực VQG Cát Tiên
- Khách du lịch tham quan tại VQG Cát Tiên
- Người dân tại khu vực Thành phố Biên Hòa
- BQL VQG Cát Tiên
- Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Đồng Nai
Trang 11Theo Công ước Đa Dạng Sinh Học (1993) thì ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa dạng HST)
Theo Luật Đa dạng Sinh học của Việt Nam năm 2008 thì ĐDSH là sự phong phú
về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và HST trong tự nhiên
Theo từ điển Đa Dạng Sinh Học và Phát Triển Bền Vững của Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường (NXB Khoa Học Kỹ Thuật, 2001): “ĐDSH là thuật ngữ
để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn trong cả HST trong đất liền, dưới biển, các HST dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái khác do chúng ta tạo nên” [5]
2.1.2 Giá trị của ĐDSH
2.1.2.1 Giá trị trực tiếp
Giá trị trực tiếp là những giá trị của sản phẩm sinh vật được con người trực tiếp khai thác sử dụng Các giá trị này thường được tính toán dựa trên số liệu điều tra ở những điểm khai thác và đối chiếu với số liệu thống kê việc xuất nhập khẩu của cả nước Giá trị kinh tế trực tiếp được chia thành giá trị sử dụng cho tiêu thụ và giá trị sử dụng cho sản xuất.[6]
Trang 125
a Giá trị sử dụng cho tiêu thụ
Giá trị sử dụng cho tiêu thụ được đánh giá bao gồm các sản phẩm tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như: củi đốt và các loại sản phẩm khác chi tiêu dùng cho gia đình Các sản phẩm này không xuất hiện trên thị trường nên hầu như chúng không đóng góp gì vào tổng thu nhập quốc dân (GDP), nhưng nếu không có những nguồn tài nguyên này thì cuộc sống con người sẽ gặp những khó khăn nhất định Sự tồn tại của con người không thể tách rời các loài sinh vật Thế Giới sinh vật mang lại cho con người nhiều sản phẩm mà con người đã, đang và sẽ sử dụng như: thức
ăn, nước uống, gỗ, củi, nguyên liệu, dược liệu,…[6]
Một trong những nhu cầu cần thiết của con người đối với tài nguyên sinh vật
là nguồn đạm động vật Ngoài nguồn từ vật nuôi, ở nhiều vùng miền núi hàng năm còn thu được một lượng thịt động vật rừng không nhỏ Ở nhiều vùng châu Phi, thịt động vật hoang dã chiếm một tỉ lệ lớn trong bữa ăn hàng ngày, ví dụ như ở Botswana khoảng 40%, Nigeria 20%, Zarie 75% (Myers, 1988) Ở Zarie khoảng một triệu tấn thịt chuột được tiêu thụ hàng năm Ở Botswana khoảng 3,0 triệu tấn thịt thỏ bị bắn hàng năm Cá cũng là nguồn đạm quan trọng, hàng năm trên Thế Giới tiêu thụ khoảng 100 triệu tấn cá (FAO, 1988) Phần lớn số cá đánh bắt này được sử dụng ngay tại địa phương Cho đến nay, đã thống kê được 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch và hàng nghìn loài thực vật bậc thấp như: rêu, tảo, nấm,… Theo dự đoán của các nhà khoa học, số loài thực vật bậc cao có mặt ở Việt Nam ít nhất là 20.000 loài trong đó có khoảng trên 5.000 đã được nhân dân ta dùng làm
nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc,… Hệ thống
động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú Hiện đã thống kê được 310 loài thú,
870 loài chim, 296 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, trên 1.000 loài cá nước ngọt, hơn 2.000 loài cá biển và thêm vào đó là hàng chục loài động vật không xương sống ở
cạn, ở biển và ở nước ngọt.[8]
Giá trị tiêu thụ của từng sản phẩm có thể xác định bằng cách khảo sát xem phải cần bao nhiêu tiền để mua một sản phẩm tương tự trên thị trường khi cộng đồng không còn khai thác tài nguyên thiên nhiên xung quanh Theo Mayr (1988): nếu quản lý tốt 1,0 ha rừng nhiệt đới thì hàng năm nó có thể cung cấp cho con người một lượng sản phẩm sinh vật hoang dã là 200 USD.[6]
Trang 136
b Giá trị sử dụng cho sản xuất
Giá trị sản xuất lớn nhất của nhiều loài là khả năng cung cấp nguồn nguyên vật liệu cho công nghiệp, nông nghiệp và là cơ sở để cải tiến giống vật nuôi, cây trồng trong sản xuất nông lâm nghiệp Đặc biệt quan trọng là nguồn gen lấy từ các loài hoang dã có khả năng kháng bệnh cao và chống chịu được điều ngoại cảnh bất lợi tốt hơn.[6]
Các loài hoang dã còn cung cấp nguồn dược liệu quan trọng Ở Mỹ có tới 25% các đơn thuốc sử dụng cho chế phẩm điều chế từ cây, cỏ, nấm và các loài vi sinh vật (Fam Sworth, 1988 và Eisner, 1991) Ở Việt Nam, qua điều tra sơ bộ có khoảng 3.200 loài cây và 64 loài động vật đã được con người sử dụng làm dược liệu, chữa bệnh (Võ Văn Chi, 1997).[6]
2.1.2.2 Giá trị gián tiếp
Giá trị gián tiếp là lợi ích ĐDSH mang lại giá trị cho cả cộng đồng Như vậy, giá trị kinh tế gián tiếp của ĐDSH bao gồm cả chất lượng nước, bảo vệ đất, dịch vụ nghỉ mát, thẩm mỹ, phục vụ giáo dục, nghiên cứu khoa học, điều hòa khí hậu và tích lũy cho xã hội tương lai.[6]
Giá trị gián tiếp được hiểu theo một khía cạnh khác gồm các quá trình xảy
ra trong môi trường và các chức năng bảo vệ của HST Đó là các mối lợi không đo đếm được và nhiều khi là vô giá Vì những lợi ích này không phải là hàng hóa nên thường không được tính đến trong quá trình tính GDP của Quốc gia Tuy nhiên chúng lại đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc duy trì những sản phẩm tự nhiên mà nền kinh tế Quốc gia phụ thuộc Giá trị kinh tế gián tiếp gồm:
a Giá trị sinh thái
Các HST là cơ sở sinh tồn của sự sống trên Trái Đất trong đó có loài người HST rừng được xem như là lá phổi xanh của Thế Giới ĐDSH là nhân tố quan trọng
để duy trì các quá trình sinh thái cơ bản như: quang hợp của thực vật, mối quan hệ giữa các loài, điều hòa nguồn nước, điều hòa khí hậu, bảo vệ và làm tăng độ phì của đất, hạn chế sự xói mòn của đất và bờ biển, tạo môi trường sống ổn định và bền vững cho con người
Nhiều nhà khoa học chuyên ngành và những người yêu thích sinh thái học đã tìm hiểu HST mà không phải tiêu tốn nhiều tiền và không đòi hỏi nhiều loại dịch vụ
Trang 147
cao cấp Những hoạt động khoa học này mang lại lợi nhuận kinh tế cho những khu vực họ tiến hành quan sát nghiên cứu Giá trị thực sự còn là khả năng nâng cao kiến thức, tăng cường tính giáo dục và tăng cường vốn sống cho con người
Ngược lại, thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học và giáo dục con người hiểu rõ hơn về giá trị của ĐDSH Sự đa dạng của các loài trên Thế Giới có thể được coi là cẩm nang để giữ cho Trái Đất của chúng ta vận hành một cách hữu hiệu, sự mất mát của các loài có thể ví như sự mất đi những trang sách của cuốn cẩm nang cần thiết Nếu như một lúc nào đó, chúng ta cần đến những thông tin của cuốn cẩm nang này để bảo vệ chúng ta và những loài khác trên Thế Giới thì chúng
ta không tìm đâu ra được nữa
b Giá trị văn hóa và dân tộc học
Ngoài những giá trị nêu trên, ĐDSH còn có nhiều giá trị về văn hóa và dân tộc
mà nó dựa trên các nền tảng về đạo đức cũng như kinh tế bền vững cho con người, con người không thể sống được nếu thiếu không khí, chính hệ thực vật đã và đang cung cấp miễn phí lượng oxy khổng lồ cho cuộc sống của hàng tỷ người trên Trái Đất trong cuộc sống của đời mình ĐDSH còn góp phần tạo ra các dịch vụ nghỉ ngơi và du lịch sinh thái
Hình 2.1: Nhà của cộng đồng dân tộc thiểu số trong VQG Cát Tiên
Du lịch sinh thái có thể là một trong những biện pháp hiệu quả đối với việc bảo vệ ĐDSH, nhất là khi chúng được tổ chức, phối hợp chặt chẽ với chương trình quản lý và bảo toàn tổng hợp (Munn, 1992) Tuy vậy, cần chú ý đến việc cho du khách quan sát những vấn đề cần thiết liên quan đến việc bảo vệ môi trường, tài
Trang 158
nguyên, tránh những hành động tiêu cực hay việc xây dựng những cơ sở hạ tầng quá khang trang, hiện đại có thể sẽ trở thành mối đe dọa đối với ĐDSH
c Giá trị giáo dục và khoa học
Nhiều sách giáo khoa được biên soạn, nhiều chương trình vô tuyến và phim ảnh được xậy dựng với chủ đề bảo tồn thiên nhiên, với mục đích giáo dục và giải trí Thêm vào đó là những tài liệu về lịch sử tự nhiên, cũng được đưa vào giáo trình giảng dạy trong các trường học (Hair và Pomerantz, 1987).[6]
2.1.3 Nguyên lý của bảo tồn ĐDSH
Theo khuyến nghị của các nhà nghiên cứu bảo tồn, khi tiến hành nghiên cứu
và phát triển thiên học của ĐDSH cần phải tuân thủ 10 nguyên tắc chỉ đạo cơ bản sau:
- Mọi dạng của sự sống là độc nhất và cần thiết nên mọi người phải nhận thức được điều đó
- Bảo tồn ĐDSH là một dạng đầu tư đem lại lợi ích lớn cho địa phương, cho đất nước và cho toàn cầu
- Chi phí và lợi ích của bảo tồn ĐDSH phải được chia đều cho mọi đất nước
và mọi người trong mỗi đất nước
- Vì là một phần của các cố gắng phát triển bền vững, bảo tồn ĐDSH đòi hỏi những biến đổi lớn, về hình mẫu và thực tiễn của phát triển kinh tế toàn cầu
- Tăng kinh phí cho bảo tồn ĐDSH, tự nó không làm giảm mất mát ĐDSH Cần phải thực hiện cải cách chính sách và tổ chức để tạo ra các điều kiện để nguồn kinh phí được sử dụng một cách có hiệu quả
- Mỗi địa phương, mỗi đất nước và toàn cầu đều có các ưu tiên khác nhau về bảo tồn ĐDSH và chúng cần được xem xét khi xây dựng chiến lược bảo tồn, mọi Quốc gia và mọi cộng đồng đều quan tâm đến bảo tồn ĐDSH riêng của mình, nhưng nên tập trung chỉ cho riêng một số HST hay các đất nước giàu có về loài
- Bảo tồn ĐDSH chỉ có thể được duy trì khi nhận thức và quan tâm của mọi người dân được đề cao và khi các nhà lập chính sách nhận được thông tin đáng tin cậy làm cơ sở xây dựng chính sách
Trang 169
- Hoạt động bảo tồn ĐDSH phải được lên kế hoạch và được thực hiện ở phạm vi
đã được các tiêu chuẩn sinh thái và xã hội xác định Hoạt động cần tập trung vào nơi có người dân hiện đang sinh sống, làm việc và trong các vùng rừng cấm hoang dại
- Đa dạng văn hóa gắn liền với ĐDSH, hiểu biết tập thể của nhân loại về ĐDSH cũng như việc quản lý, sử dụng ĐDSH đều nằm trong đa dạng văn hóa Bảo tồn ĐDSH góp phần tăng cường các giá trị và sự thống nhất văn hóa
- Tăng cường sự tham gia của người dân, quan tâm tới các quyền cơ bản của con người, tăng cường giáo dục thông tin và khả năng tổ chức là những nhân tố cơ
bản của bảo tồn ĐDSH.[10]
Liên Hiệp Quốc cũng đưa ra 9 nguyên tắc sống bền vững liên quan đến bảo tồn ĐDSH:
- Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
- Cải thiện chất lượng của cuộc sống con người
- Bảo vệ sự sống và tính đa dạng của Trái Đất
- Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm nguồn tài nguyên không tái tạo
- Giữ vững khả năng chịu đựng của Trái Đất
- Thay đổi thái độ và thói quen của con người
- Cho phép các cộng đồng tự quản lý lấy môi trường của mình
- Tạo ra một Quốc gia thống nhất thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ
- Kiến tạo một cơ cấu liên minh toàn cầu
2.1.4 Các phương pháp bảo tồn ĐDSH
Để bảo tồn nguồn tài nguyên động thực vật nói riêng và ĐDSH nói chung, hiện nay có 2 phương thức chủ yếu, đó là bảo tồn tại chỗ (In-situ) và bảo tồn chuyển chỗ (Ex-situ)
2.1.4.1 Bảo tồn tại chỗ (In-situ conservation)
Phương thức này nhằm bảo tồn các HST, các sinh cảnh tự nhiên để duy trì và khôi phục quần thể các loài trong môi trường tự nhiên của chúng Đối với các loài được thuần hóa, bảo tồn in-situ chính là bảo tồn chúng trong môi trường sống nơi
Trang 17Theo Luật Đa Dạng Sinh Học năm 2008, bảo tồn tại chỗ là bảo tồn loài hoang
dã trong môi trường sống tự nhiên của chúng, bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu, có giá trị trong môi trường sống, nơi hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trưng của chúng.[11]
Loại hình bảo tồn in-situ hiện đang phát triển mạnh trên Thế Giới là việc xây dựng các khu bảo vệ (protected areas) Khu bảo vệ là một vùng đất hay biển đặc biệt được dành cho việc bảo vệ và duy trì tính ĐDSH, các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa và được quản lý bằng các hình thức hợp pháp hay các hình thức hữu hiệu khác (IUCN, 1994)
Loại hình và phân hạng các loại hình khu bảo vệ ở những Quốc gia trên Thế Giới hiện có nhiều điểm khác nhau IUCN (1994) đã đưa ra sáu loại hình khu bảo
vệ như sau:
- Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt (Strict nature reserve): là vùng đất hoặc
biển chứa một HST hoặc đại diện, có những đặc điểm sinh vật, địa lý hoặc những loài nguyên sinh phục vụ cho nghiên cứu khoa học, quan trắc môi trường, giáo dục
và để duy trì nguồn tài nguyên di truyền trong một trạng thái động và tiến hóa
Vùng hoang dã (Wilderness area): là vùng đất rộng lớn chưa bị tác động hay biến
đổi đáng kể hoặc là vùng biển còn giữ lại được những đặc điểm tự nhiên của nó, không bị ảnh hưởng thường xuyên và là nơi sống đầy ý nghĩa mà việc bảo tồn nhằm
để giữ được các điều kiện tự nhiên của nó
- Vườn Quốc gia (National park) hay khu bảo tồn HST và giải trí (Ecosystem conservatuin and recreation): là một vùng đất hoặc biển tự nhiên được quy hoạch
để bảo vệ sự toàn vẹn sinh thái của một hoặc nhiều HST cho các thế hệ hiện tại và
Trang 1811
mai sau, loại bỏ sự khai thác hoặc chiếm dụng không mang tính tự nhiên đối với những mục đích của vùng đất và tạo cơ sở nền móng cho tất cả các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, vui chơi giải trí và tham quan mà các hoạt động đó phải phù hợp với văn hóa, môi trường
VQG hoặc khu bảo tồn HST và giải trí thể hiện một hình mẫu tiêu biểu cho trạng thái tự nhiên của một vùng địa lý, một quần xã sinh học và tài nguyên di truyền, những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng để tạo ra tính ổn định và đa dạng
- Thắng cảnh thiên nhiên (Natural monument)/Bảo tồn đặc điểm tự nhiên (Conservation of natural feature): là vùng đất bao gồm một hay nhiều đặc điểm tự
nhiên hoặc văn hóa nổi bật, có giá trị độc đáo phục vụ cho mục đích thuyết minh, giáo dục và thưởng ngoạn của nhân dân
- Khu dự trữ thiên nhiên có quản lý (Conservation through active management)/Khu bảo tồn sinh cảnh/bảo tồn loài (Habita/Species management area): là một vùng đất hay biển bắt buộc phải can thiệp tích cực cho mục tiêu quản
lý để đảm bảo những điều kiện cần thiết cho việc bảo vệ những loài có tầm quan trọng Quốc gia, những nhóm loài, quần xã sinh học hoặc các đặc điểm tự nhiên của môi trường nơi mà chúng cần có sự quản lý đặc biệt để tồn tại lâu dài Nghiên cứu khoa học, quan trắc môi trường và phục vụ giáo dục là những hoạt động thích hợp với những loại hình này
- Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/ cảnh quan biển (Protected Landscape/ Seascape): là một vùng đất hay biển lân cận, nơi tác động giữa con người với tự
nhiên được diễn ra thường xuyên Mục tiêu quản lý và duy trì những cảnh quan có tầm quan trọng Quốc gia thể hiện tính chất tác động qua lại giữa người với đất hoặc biển Những khu này mang tính chất kết hợp giữa văn hóa và cảnh quan tự nhiên có giá trị thẩm mĩ cao và đó cũng là nơi phục vụ mục đích đa dạng sinh thái, khoa học, văn hóa và giáo dục
- Sử dụng bền vững các HST tự nhiên (Sustainable use of natural ecosystem) hay khu quản lý tài nguyên (Managed resource protected area): một vùng chứa các
hệ thống tự nhiên chưa hoặc ít bị biến đổi được quản lý bảo vệ một cách chắc chắn dài hạn và duy trì tình trạng ĐDSH đồng thời với việc cung cấp bền vững các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của con người
Trang 1912
Hình 2.2: Bảo tồn tại chỗ tại VQG Cát Tiên
2.1.4.2 Bảo vệ chuyển chỗ (Ex-situ conservation)
Bảo tồn chuyển chỗ là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng hợp nhằm bảo vệ các loài đang có nguy cơ bị tuyệt diệt (Falk, 1991) Đây là phương thức bảo tồn các hợp phần của ĐDSH bên ngoài sinh cảnh tự nhiên của chúng Thực tế, bảo tồn chuyển chỗ hay bảo tồn nơi khác là phương thức bảo tồn các cá thể trong các điều kiện nhân tạo dưới sự giám sát của con người.[6]
Theo Luật Đa Dạng Sinh Học (2008): bảo tồn chuyển chỗ là bảo tồn loài hoang dã ngoài môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của chúng, bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu, có giá trị ngoài môi trường sống, nơi hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trưng của chúng, lưu giữ, bảo quản nguồn gen
và mẫu vật di truyền trong các cơ sở khoa học và công nghệ hoặc cơ sở lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền.[11]
Đối với nhiều loài hiếm thì bảo tồn tại chỗ chưa phải là giải pháp khả thi trong những điều kiện áp lực của con người ngày càng gia tăng Nếu quần thể còn lại là quá nhỏ để tiếp tục tồn tại, hoặc nếu như tất cả những cá thể còn lại được tìm thấy ở ngoài khu bảo vệ thì bảo tồn tại chỗ sẽ không có hiệu quả Trong trường hợp này, giải pháp duy nhất để ngăn cho loài khỏi bị tuyệt chủng là bảo tồn tại chỗ.[6]
Bảo tồn chuyển chỗ thường gặp phải những khó khăn như: chi phí lớn, khó nghiên cứu đối với các loài có vòng đời phức tạp, có chế độ dinh dưỡng thay đổi mỗi khi chúng lớn lên và do đó môi trường sống của chúng thay đổi theo, khó áp dụng cho những loài không thể sinh sản (động vật) hoặc tái sinh (thực vật) ngoài môi trường sống tự nhiên.[6]
Trang 2013
Một số hình thức bảo tồn chuyển chỗ thông dụng:
Vườn động vật hay vườn thú (Zoo): vườn động vật trước đây có truyền thống
là đặc biệt quan tâm đến các loài động vật có xương sống Trong vài ba chục năm trở lại đây, mục tiêu của các vườn động vật đã có nhiều thay đổi, là nơi nhận nuôi các loài động vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và phục vụ nghiên cứu.[6]
Hình 2.3: Bảo tồn chuyển chỗ vượn tại VQG Cát Tiên
Bể nuôi (Aquarium): truyền thống của bể nuôi là trưng bày các loài cá lạ và
hấp dẫn khách tham quan Gần đây, để đối phó với nguy cơ tuyệt chủng của nhiều sinh vật sống ở nước, các chuyên gia về cá, thú biển và san hô đã cùng hợp tác với các viện nghiên cứu biển, các thủy cung và các bể nuôi tổ chức nhân nuôi bảo tồn các loài đang được quan tâm
Hình 2.4: Bảo tồn chuyển chỗ các loài cá Vườn thực vật và vườn cây gỗ (Botanical garden and arboretum): hiện nay có
khoảng 1500 thực vật trên Thế Giới đã có các bộ sưu tập của các loài thực vật chính
Trang 2114
Vườn thực vật góp phần quan trọng trong việc bảo tồn thực vật vì các bộ sưu tập sống của chúng cũng như các bộ tiêu bản khô là một trong những nguồn thông tin tốt nhất về phân bố cũng như yêu cầu về nơi cư trú của thực vật
Ngân hàng hạt giống (Seed bank): hạt của nhiều loài thực vật có thể cất giữ và
bảo quản trong điều kiện khô, lạnh nên ngoài việc trồng cây, các vườn thực vật hay viện nghiên cứu đã xây dựng bộ sưu tập về hạt Đây được gọi là các bộ sưu tập hay ngân hàng giống
Một hầm ngầm hạt giống toàn cầu được xây dựng ở Bắc Cực để bảo vệ các loài thực vật trên Thế Giới tránh khỏi bị tuyệt chủng do biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên, chiến tranh Hàng triệu hạt giống ấy đang được lưu trữ trong một hầm ngầm, nằm sâu bên dưới lớp băng vĩnh cửu tại Svalbard, ở giữa Na Uy và Bắc Cực Khu vực này nằm ngoài vùng ảnh hưởng của chiến tranh và nước biển dâng nên có thể bảo vệ hạt giống tránh khỏi những thảm họa môi trường Ngoài ra, Svalbard có yếu tố địa chất ổn định, các chuyến bay diễn ra theo lịch trình thường xuyên, khiến
nó tương đối dễ tiếp cận.[1]
Hình 2.5: Ngân hàng giống tại Bắc Cực
2.1.4.3 Luật pháp liên quan đến bảo tồn ĐDSH
Vai trò của luật pháp trong bảo tồn: công cụ pháp chế hay luật pháp có thể
được áp dụng tại các cấp địa phương, Quốc gia hay quốc tế để bảo vệ tất cả các khía cạnh của ĐDSH Cần phải thấy rằng pháp luật là hết sức quan trọng nhưng chỉ là chỗ dựa chính, ngoài ra cần phải tổ chức tốt công tác bảo vệ cụ thể cũng như làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục để nhân dân trong vùng tự giác tham gia công tác bảo tồn ĐDSH thì mới thực hiện được bảo tồn ĐDSH một cách toàn diện
Trang 2215
Luật pháp Quốc gia: luật pháp là chỗ dựa hết sức quan trọng, là các căn cứ
pháp lý làm cơ sở cho việc tổ chức bảo tồn Ở mỗi Quốc gia, dựa trên tình hình kinh
tế, xã hội, điều kiện tự nhiên, đặc điểm và hiện trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhiều văn bản pháp luật, dưới luật và các chính sách, thể chế liên quan được soạn thảo và ban hành kịp thời nhằm hỗ trợ, tạo điều kiên thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động trong bảo tồn ĐDSH
Tại Việt Nam có các luật hiện hành liên quan đến bảo tồn ĐDSH như: Luật Bảo Vệ và Phát Triển Rừng (2004), Luật Đa Dạng Sinh Học (2008)
Các thỏa hiệp quốc tế về bảo tồn ĐDSH: Công ước đa dạng sinh học, Công ước Ramsar, Công ước CITES, nhưng cũng có nhiều công ước chỉ liên quan đến một số đối tượng cụ thể hay một số vùng cụ thể như Công ước về Bảo tồn sinh vật hoang dã và các nơi cư trú tự nhiên châu Âu, Công ước về Bảo tồn thiên nhiên Nam Thái Bình Dương, Công ước về quy chế săn bắt cá voi,
Tại Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế như: Công ước đa dạng sinh học, Công ước Ramsar, Công ước CITES,
2.1.5 Suy thoái ĐDSH
2.1.5.1 Khái niệm suy thoái ĐDSH
Suy thoái ĐDSH là sự suy giảm ĐDSH, bao gồm sự đa dạng loài, nguồn gen
và HST Từ đó làm giảm giá trị, chức năng của ĐDSH (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường 2001) Sự suy thoái ĐDSH có thể hiện ở các mặt: HST bị biến đổi, mất loài, mất đa dạng di truyền.[12]
Mất loài, sự xói mòn di truyền, sự du nhập xâm lấn của các loài sinh vật lạ sự suy thoái các HST tự nhiên, nhất là rừng nhiệt đới diễn ra cách nhanh chóng chưa từng có mà do tác động của con người.[12]
Một quần xã sinh vật, HST có thể bị suy thoái trong một vùng, song nếu nguyên tất cả các nguyên bản vẫn còn sống sót thì quần xã và HST đó vẫn còn tiềm năng phục hồi Tương tự, đa dạng di truyền sẽ giảm khi kích thước quần thể bị giảm, nhưng loài vẫn có khả năng tái tạo lại sự đa dạng di truyền nhờ đột biến, tái tổ hợp Loài bị tuyệt chủng thì những thông tin di truyền chứa trong bộ máy di truyền của loài sẽ mất đi, loài đó khó có khả năng để phục hồi và con người sẽ khó còn cơ hội để nhận biết tiềm năng của loài đó.[12]
Trang 2316
2.1.5.2 Nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH
ĐDSH suy thoái do hai nhóm nguyên nhân chính là: hiểm họa tự nhiên và tác động của con người
Các hiểm họa tự nhiên gây ra những tổn hại nặng nề cho ĐDSH trong những
kỷ nguyên cách đây hơn 60 triệu năm làm tuyệt chủng rất nhiều loài trên Trái Đất Trong những năm trở lại đây biến đổi khí hậu, El nino, la nina, nước biển dâng đang ngày càng tác động mạnh đến sự suy giảm ĐDSH [12]
Còn ảnh hưởng của các hoạt động do người gây nên đặc biệt nghiêm trọng từ giữa thế kỷ XIX đến nay Những ảnh hưởng do tác động của con người gây ra chủ yếu làm thay đổi, suy thoái và hủy hoại cảnh quan trên diện rộng Điều đó đẩy các loài và các quần xã vào nạn tuyệt chủng Mối nguy hại do con người gây ra đối với ĐDSH là việc phá hủy chia cắt, làm suy thoái sinh cảnh (nơi sống) Việc khai thác quá mức các loài phục vụ cho nhu cầu của con người, việc du nhập các loài và gia tăng bệnh dịch cũng là những nguyên nhân quan trọng làm suy thoái ĐDSH Các mối đe dọa trên có liên quan mật thiết đến sự gia tăng dân số của toàn Thế Giới Tốc độ tăng dân số thấp ở các nước công nghiệp phát triển nhưng còn cao, ở các nước kém phát triển ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh mà đây lại là những nơi giàu tính ĐDSH (WRI/UNEP/UNDP, 1994).[12]
2.1.6 Thang bậc phân hạng mức đe dọa theo IUCN, 1994
Hình 2.6: Sơ đồ thang bậc phân hạng mức đe dọa theo IUCN
Chưa được đánh giá (NE)
Trang 2417
Các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài đưa vào sách đỏ Việt Nam:
Các tiêu chuẩn do tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên IUCN đề xuất Các cấp đánh giá chính:[9]
E - Endangered - Đang nguy cấp (đang bị đe doạ tuyệt chủng) Là những
taxon đang bị đe doạ tuyệt chủng và không chắc còn có thể tồn tại nếu các nhân tố
đe doạ cứ tiếp diễn Gồm những taxon có số lượng giảm đến mức báo động ở trong điều kiện sống bị suy thoái mạnh mẽ đến mức có thể bị tuyệt chủng
V - Vulnerable - Sẽ nguy cấp (có thể bị đe doạ tuyệt chủng) Là những taxon
sắp bị đe doạ tuyệt chủng (trong tương lai gần) nếu các nhân tố đe doạ cứ tiếp diễn Gồm những taxon mà phần lớn hoặc tất cả các quần thể của nó đã bị giảm vì khai thác quá mức, nơi sống bị phá hoại mạnh mẽ hoặc do các biến động khác của môi trường sống Cũng gồm những taxon tuy số lượng còn khá nhưng vì chúng có giá trị kinh tế lớn nên việc tìm bắt, khai thác được tiến hành thường xuyên ở mọi nơi, dễ đưa tới bị đe dọa
R - Rare - Hiếm (có thể có nguy cấp) Gồm những taxon có phân bổ hẹp
(nhất là những chi đơn loài) có số lượng ít, tuy hiện tại chưa phải là đối tượng đang hoặc sẽ bị đe doạ, nhưng sự tồn tại lâu dài của chúng ta mỏng manh
Ngoài ba cấp chính trên đây, khi soạn thảo, sách đỏ Việt Nam còn sử dụng một trong các cấp sau:
T - Threatened - Bị đe doạ Là những taxon thuộc một trong những cấp trên,
nhưng chưa đủ tư liệu để xếp chúng vào cấp cụ thể nào
K - Insuffciently Known - Không biết chính xác Là những taxon nghi ngờ
và không biết chắc chắn chúng thuộc loại nào trong các cấp trên vì thiếu thông tin Các loại nêu trong cấp này để hy vọng chờ các tác giả xác định mức cụ thể của chúng
Các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài đưa vào sách đỏ Thế Giới IUCN
(The IUCN Red List of Threatened Animals), tổ chức bảo tồn thiên nhiên Thế Giới (Intemational Union of Conservation of Nature and Natural resources - IUCN) và trung tâm giám sát bảo tồn quốc tế (World Conservation Monitoring Center - WCMC) đã xây dựng những quy định về tình trạng các loài có nguy cơ tuyệt chủng
và các danh mục xếp mục đe doạ của các loài Sự xếp bậc này căn cứ vào các dữ
Trang 2518
liệu về phân loại học (Taxonomy), tình trạng quần thể (Population status), xu hướng quần thể (Population trends), sự phân bố (Distribution), tình trạng sinh cảnh (Habitat availability), xu hướng địa lý (Geographic trends) và các mối đe doạ (Threats) và tham khảo ý kiến của các chuyên gia phân loại học, các chuyên gia về
các họ động vật riêng biệt của IUCN và của các nhà khoa học các nước Sự xếp bậc này cũng xem xét tình hình pháp luật liên quan của các nước có loài trên phân bố Trong khi điều tra xác định tình trạng các loài, IUCN luôn xem xét lại các thông tin cũ, cập nhật hai năm một lần và phổ biến rộng rãi IUCN còn nghiên cứu
để sửa nội dung và nguyên tắc xác định tình trạng các loài để đáp ứng những đòi hỏi mới Năm 1994, IUCN đã sử dụng một số nguyên tắc mới để xác định tình trạng các loài bị đe dọa Năm 1996, danh mục mới được bổ sung những chi tiết cụ thể về tình trạng các loài và phân chia theo các cấp độ sau:
EX - Extinct - Tuyệt chủng Một taxon được coi là tuyệt chủng khi không
còn nghi ngờ là cá thể cuối cùng của taxon đó đã chết
EW - Extinct in the Wild - Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên Một taxon được
coi là tuyệt chủng ngoài thiên nhiên khi chỉ còn thấy trong điều kiện gây trồng, nuôi
nhốt (in captivity) hoặc chỉ là một hoặc nhiều quần thể đã tự nhiên hóa trở lại bên ngoài vùng phân bố cũ
CR - Critically Endangered - Rất nguy cấp Một taxon được coi là rất nguy
cấp khi đang đứng trước một nguy cơ cực kỳ lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên
trong một tương lai trước mắt
EN - Endangered - Nguy cấp Một taxon được coi là nguy cấp khi chưa phải
là rất nguy cấp nhưng đang đứng trước một nguy cơ rất lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong một tương lai gần
VU - Vulnerable - Sẽ nguy cấp Một taxon được coi là sẽ nguy cấp khi chưa
phải là rất nguy cấp hoặc nguy cấp nhưng đang đứng trước một nguy cơ lớn sẽ bị
tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong một tương lai tương đối gần
LR - Lower Risk - Ít nguy cấp Một taxon được coi là ít nguy cấp khi không
đáp ứng một tiêu chuẩn nào của các thứ hạng rất nguy cấp, nguy cấp hoặc sẽ nguy
cấp Thứ hạng này có thể phân thành 3 thứ hạng phụ:
Trang 2619
+ CD - Conservation Dependent - Phụ thuộc bảo tồn Bao gồm các taxon
hiện là đối tượng của một chương trình bảo tồn liên tục, riêng biệt cho taxon đó hoặc nơi ở của nó, nếu chương trình này ngừng lại, sẽ dẫn tới taxon này bị chuyển sang một trong các thứ hạng trên trong khoảng thời gian 5 năm
+ NT - Near Threatened - Sắp bị đe doạ Bao gồm các taxon không được coi
là phụ thuộc bảo tồn nhưng lại rất gần với sẽ nguy cấp
+ LC - Least Concern - Ít lo ngại Bao gồm các taxon không được coi là phụ
thuộc bảo tồn hoặc sắp bị đe doạ
DD - Data Deficient - Thiếu dữ liệu Một taxon được coi là thiếu dẫn liệu khi
chưa đủ thông tin để có thể đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp về nguy cơ tuyệt chủng, căn cứ trên sự phân bố và tình trạng quần thể Một taxon trong thứ hạng này
có thể đã được nghiên cứu kỹ, đã được biết nhiều về sinh học, song vẫn thiếu các dẫn liệu thích hợp về sự phân bố và độ phong phú Như vậy, taxon loại này không thuộc một thứ hạng bị đe dọa nào, cũng không tương ứng với thứ hạng LR (ít nguy cấp)
NE - Not Evaluated - Không đánh giá Một taxon được coi là không đánh
giá khi chưa được đối chiếu với các tiêu chuẩn phân hạng
2.2 Bảo tồn ĐDSH tại VQG Cát Tiên
2.2.1 Khái quát về VQG Cát Tiên
2.2.1.1 Lịch sử hình thành
VQG Cát Tiên được đánh giá là điểm nóng về ĐDSH, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Trong thời gian qua, công tác quản lí, bảo vệ rừng có hiệu quả là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tài nguyên động và thực vật rừng ở VQG Cát Tiên Trong những năm chiến tranh rừng bị ảnh hưởng bởi những chất độc hóa học Sau khi hòa bình, Cát Tiên được lực lượng quân đội Sư đoàn 600 thuộc Bộ quốc phòng tiếp quản Nhiệm vụ lực lượng quân đội là đóng quân tại chỗ, gia tăng sản xuất, làm kinh tế sau chiến tranh
Vào năm 1976, đồng chí cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đến thăm và làm việc ở Sư đoàn 600, đồng chí Tổng Bí thư đã thấy tài nguyên quý giá của rừng và đề nghị đưa vào khu bảo tồn Chủ trương này được lãnh đạo Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ NN&PTNT), lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Nai và các ngành chức năng, các nhà khoa
Trang 2720
học khẩn trương thực hiện, tiến hành điều tra quy hoạch, xây dựng luận chứng kinh
tế kỹ thuật trình Chính Phủ
Ngày 7/7/1978, Thủ Tướng Chính Phủ có quyết định số 360 của Thủ Tướng
về việc thành lập khu rừng cấm Nam bãi Cát Tiên thuộc địa phận Tân Phú, tỉnh Đồng nai UBND tỉnh Đồng Nai có quyết định thành lập Hạt Kiểm Lâm Nam bãi Cát Tiên làm nhiệm vụ quản lí và bảo vệ khu bảo tồn do một đồng chí Đại úy là hạt trưởng
Năm 1986, UBND tỉnh Đồng Nai thành lập BQL khu rừng cấm Nam Cát Tiên Cũng vào thời điểm này, UBND tỉnh Đồng Nai đã có quyết định di dời toàn
bộ lực lượng quân đội đang đóng chân trên địa bàn ra khỏi khu bảo tồn
Ngày 13/01/1992, Thủ Tướng Chính phủ có quyết định số 08 về việc thành lập VQG Cát Tiên trên cơ sở diện tích của khu Bảo tồn Nam Cát Tiên của tỉnh Đồng Nai và chuẩn bị mở rộng thêm diện tích về phía tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Bình Phước Ngày 16/02/1998, Thủ Tướng Chính Phủ quyết định số 38/1998 của Thủ Tướng về việc chuyển giao VQG Cát Tiên cho Bộ NN & PTNT quản lý
Tháng 12/1998, VQG Cát Tiên được chính thức bàn giao trực thuộc Bộ NN & PTNT và mở rộng với tổng diện tích 71.920 ha
Ngày 10/11/2001, tổ chức UNESSCO công nhận VQG Cát Tiên là khu lưu trữ sinh quyển thứ 411 của Thế Giới và cũng là khu dự trữ sinh quyển thứ hai của Việt Nam (sau khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ)
Ngày 04 tháng 8 năm 2005, khu đất ngập nước Bàu Sấu của vườn được Ban thư ký Công ước Ramsar công nhận đưa vào danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế Đây là khu đất ngập nước thứ 1.499 của Thế Giới và là khu thứ hai của Việt Nam
Trụ sở của VQG Cát Tiên nằm trên địa phận huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, cách Thành Phố Hồ Chí Minh khoảng 150 Km theo quốc lộ 20 Trên đường đi từ Thành Phố
Hồ Chí Minh tới Đà Lạt đến Km 125 (thị trấn Tân Phú) rẽ trái theo con đường dài 24
Km dẫn đến trụ sở VQG Cát Tiên Hiện nay, VQG Cát Tiên là một trong những khu bảo tồn có diện tích lớn nhất trong các khu rừng đặc trưng ở Việt Nam.[4]
Trang 28Phòng
tổ chức hành chính
Đơn vị trực thuộc
Trạm
Y tế phòng Văn
đại diện
Hạt Kiểm lâm
Trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái và giáo dục môi trường
Trang 29Khu hệ động vật của VQG Cát Tiên có những nét đặc trưng của khu hệ động thực
vật vùng bình nguyên Đông Trường Sơn và có quan hệ chặt chẽ với Tây Nguyên.[2]
Hình 2.9: Bảo tồn gấu tại VQG Cát Tiên
a Nhóm thú
Cho đến nay, các nghiên cứu đã ghi nhận được ở VQG Cát Tiên có 113 loài thú, thuộc 38 họ và 12 bộ Trong đó có tới 43 loài thú đang bị đe doạ tuyệt chủng trong nước và trên toàn cầu với 38 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) Ngoài ra, còn có 18 loài và phân loài thú là đặc hữu cho tiểu vùng địa sinh học Đông Dương và đặc biệt có 3 loài và phân loài đặc hữu cho Việt Nam là chà vá chân đen, tê giác một sừng Việt Nam và hoẵng Nam bộ Tỷ lệ các loài đặc hữu cao
Trang 3023
đã nâng cao tầm quan trọng của VQG Cát Tiên đối với công tác bảo tồn ĐDSH
trong nước và trên Thế Giới [2] (Xem phụ lục 2)
b Nhóm chim
Gồm 351 loài thuộc 64 họ của 18 bộ Trong đó có 17 loài quý hiếm đã được phát hiện và có tên trong sách đỏ Việt Nam Nếu so sánh với cấu trúc thành phần loài của khu hệ chim Việt Nam, thì có thể nói Cát Tiên là một “đất nước thu nhỏ” của các loài chim rừng Việt Nam Khu hệ chim Việt Nam có 19 bộ thì Cát Tiên có
18 bộ (94.74% tổng số bộ chim Việt Nam), 64 họ chiếm đến 79.01% tổng số họ chim của Việt Nam (81 họ) Với 351 loài chim chiếm 42.39% tổng số loài chim của Việt Nam (828 loài) Một số loài chim quý hiếm có ở Cát Tiên như: hạc cổ trắng, công, già đẫy Java, quắm cánh xanh, ngan cánh trắng, gà so cổ hung VQG Cát Tiên nằm trong vùng chim đặc hữu (EBA) vùng đất thấp nam Việt Nam, có quần thể của
3 loài chim trong vùng chim đặc hữu là: gà so cổ hung, gà tiền mặt vàng, chích
chạch má xám.[2] (Xem phụ lục 2)
Hình 2.10: Chim chích chòe lửa tại VQG Cát Tiên
c Nhóm bò sát và lưỡng cư
Các loài bò sát có 109 loài thuộc 17 họ và phân họ, 4 bộ, trong đó có 18 loài
có tên trong Sách đỏ Việt Nam như: cá sấu Xiêm, trăn gấm, trăn đen,… Các loài lưỡng cư có 41 loài thuộc 6 họ, 2 bộ trong đó có 3 loài được ghi tên trong sách đỏ
Việt Nam như cóc mắt chân dài, cóc rừng, chàng andecson.[2] (Xem phụ lục 2)
Trang 3124
Hình 2.11: Kỳ đà tại VQG Cát Tiên
d Nhóm côn trùng
Hiện nay đã ghi nhận được 756 loài thuộc 68 họ, 10 bộ Riêng các loài bướm
đã xác định được 450 loài, chiếm hơn 50% tổng số loài bướm được ghi nhận ở Việt Nam Các loài quý hiếm có 2 loài là bướm phượng (Sách đỏ Việt Nam năm 2007)
và bướm phượng cánh sau vàng, bướm phượng cánh kiếm.[2] (Xem phụ lục 2)
Hình 2.12: Quần thể bướm tại VQG Cát Tiên
e Nhóm cá nước ngọt
Gồm 159 loài, thuộc 29 họ, 9 bộ Trong đó, một loài nằm trong Sách đỏ Việt
Nam năm 2007 và Sách đỏ IUCN 2008.[2] (Xem phụ lục 2)
2.2.3.2 Hệ thực vật
VQG Cát Tiên nằm giữa hai vùng sinh học địa lý từ vùng cao nguyên Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Nam Bộ, do vậy hội tụ được các luồng hệ thực vật phong phú, đa dạng Đặc trưng là các kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới với thành phần các loài cây gỗ, chủ yếu thuộc các họ sao dầu
Trang 3225
(Dipterocarpaceae) và họ đậu (Fabaceae), đại diện cho các kiểu rừng, thảm thực
vật, thành phần các loài thực vật miền Đông Nam Bộ.[3]
Hình 2.13: Quần thể bằng lăng tại Nam Cát Tiên
Danh mục thực vật tại VQG Cát Tiên hiện nay đã xác định được 1.610 loài thuộc
724 chi, 162 họ và phụ họ, 75 bộ thực vật bậc cao có mạch, với thành phần loài chiếm
ưu thế thuộc họ sao dầu (Dipterocarpaceae), họ đậu (Fabaceae) Có thể kể tên một số loài cây quý hiếm có tên trong sách đỏ như: gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), gõ mật (Sindora siamensis), cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariensis), cẩm lai nam (D cochinchinensis), cẩm lai vú (Dalbergia mammosa), giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), [3]
Hệ thực vật VQG Cát Tiên được chia thành năm kiểu rừng chính:[3]
- Rừng lá rộng thường xanh nửa rụng lá: thành phần các loài cây gỗ rụng lá trong mùa khô như bằng lăng (Lagerstoemia calyculata), tung (Tetrameles nudiflora), râm (Anogeissus acuminata),…
Hinh 2.14: Hoa bằng lăng tại VQG Cát Tiên
Trang 3326
- Rừng lá rộng thường xanh: ưu thế là các loài cây gỗ thuộc họ dầu như dầu
rái, dầu lông, cẩm lai Bà Rịa, gỗ đỏ, giáng hương,
- Rừng hỗn giao gỗ, tre nứa: đây là kiểu rừng thứ sinh nhân tác của rừng
thường xanh và nửa rụng lá, do bị lửa rừng, chất độc hóa học, rừng bị mở tán và tre
nứa xen vào Thành phần cây gỗ thường gặp là vấp (Mesua sp), bằng lăng (Lagerstoemia calyculata),… hai loài tre chủ yếu là lồ ô (Bambusa procera) và mum (Gigantochloa sp)
- Rừng tre nứa thuần loại: đây cũng là kiểu rừng phụ thứ sinh nhân tác, sau khi
rừng bị phá làm nương rẫy rồi bỏ hoang hóa, các loài tre nứa xâm nhập và phát triển
Hình 2.15: Quần thể tre nứa tại VQG Cát Tiên
- Thảm thực vật đất ngập nước: thực vật ưu thế là các loài cây gỗ chịu nước như bồ am (Colona sp), lộc vừng (Barringtonia racemosa) xen lẫn với lau (Erianthus arundinaceus), lách (Saccharum spontaneum),
Hình 2.16: Đất ngập nước tại Bàu Sấu