Tuy nhiên với sự phong phú về chủng loại, sự gia tăng về diện tích, đa dạng về sinh thái cùng với sự hình thành và mở rộng các vùng chuyên canh, thâm canh nhằm đáp ứng nhu cầu của thị tr
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rau là loại thực phẩm quan trọng, chúng cung cấp cho cơ thể những chất quan trọng có tác dụng điều hoà cân bằng kiềm tan trong máu làm tăng khả năng đồng hoá prôtein Ngoài ra, rau còn bổ sung lượng vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ và chất thơm giúp cơ thể chống bị bệnh phù thũng, mỏi mệt khi làm việc, tăng sự dẻo dai cho hệ tuần hoàn, hệ thần kinh,
Trong trồng trọt hiện nay thì ngành trồng rau là ngành mang lại lợi nhuận cao, tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động, giá trị sản xuất 1 ha rau cao gấp 1 - 3 lần lúa Rau cũng là loại hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao
Trong số các loại rau trồng ở Việt Nam thì rau họ hoa thập
tự là một nhóm rau có giá trị dinh dưỡng và đem lại giá trị kinh
tế cao Chính vì vậy, mà các loại rau họ hoa thập tự được rất nhiều người ưa thích, và chúng được trồng rộng rãi trên khắp cả nước
Tuy nhiên với sự phong phú về chủng loại, sự gia tăng về diện tích, đa dạng về sinh thái cùng với sự hình thành và mở rộng các vùng chuyên canh, thâm canh nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, cây rau đã chịu sự phá hại ngày càng tăng của nhiều loại sâu bệnh Các loài dịch hại này là những lực lượng thiên nhiên lớn đã, đang và sẽ là mối đe doạ thường xuyên đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và đối với sản xuất rau nói riêng trên toàn thế giới Trong số các loại dịch hại rau họ hoa thập tự thì sâu tơ là loài gây hại chủ yếu thường gặp rất nhiều ở các vùng trồng rau trên thế giới và các vùng chuyên canh rau ở
Trang 2sống, của sâu sơ giúp ta phòng trừ có hiệu quả hơn Chính vì
vây, tôi chọn đề tài : “Tình hình sâu tơ (Plutella
maculipennis Curtis) gây hại trên một số cây trồng họ
thập tự và biện pháp phòng trừ.”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nắm được đặc điểm sinh học, sinh thái, điều kiện phát sinh, phát triển của sâu tơ hại cây họ thập tự
Biết được các biện pháp phòng trị sâu tơ có hiệu quả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Sâu tơ hại cây họ thập tự
Phạm vi nghiên cứu: Trên các cây trồng họ thập tự tại một
số vùng chuyên canh rau ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra thu nhập, xử lí số liệu
Phân tích, tổng hợp tài liệu
Trang 3B NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình phân bố, gây hại của sâu tơ
1.1.1 Trên thế giới
Sâu tơ đầu tiên được ghi nhận là có nguồn gốc từ Thổ Nhỉ Kỳ; sau đó phát triển ở hầu hết các quốc gia trồng rau cải trên thế giới cùng với sự phát triển của cây rau họ thập tự nhờ khả năng di chuyển rất xa của bướm Ở Bắc Mỹ, phần phía nam của Nam Mỹ, Nam Phi, Châu Âu, Ấn Độ, Đông Nam Á, New Zealand,
và một số phần Australia
Chúng tình cờ được phát hiện ở Châu Âu, lần đầu tiên được báo cáo ở Bắc Mỹ bang Illinois năm 1854 và từ phía tây Canada năm 1885 Hiện nay, nó có mặt trên khắp nước Mỹ và Canada
Ở Hawaii, lần đầu tiên xuất hiện năm 1892 và hiện nay có mặt trên khắp các hòn đảo
Ở châu Âu đặc biệt ở Anh, sâu tơ có lịch sử phá hoại gần
160 năm nay, nhưng ở các nước khác thuộc Châu Á và Châu Mỹ mới chỉ ghi nhận sự phá hoại của sâu tơ ở đầu thế kỷ 20 Ở Argentina, Australia,
Trang 4New Zealand và Nam Phi sâu tơ trở thành dịch hại nguy hiểm từ trước năm 1930, từ đó đến năm 1939 sâu gây hại nghiêm trọng ở các nước Chile, Columbia, Jamaica, Và sau đó là gây hại tại Brazil (1981), Bulgaria (1957), Hong Kong (1960), India (1968), Indonesia (1950) Tổng kết đến năm 1972 tối thiểu đã có 128 nước ghi nhận sự phá hoại của nó
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở cuối thập niên 40, nhiều vùng ở Hà Nội và Hải Phòng, nông dân đã phải sử dụng thuốc trừ sâu để hạn chế sâu tơ gây hại trên các ruộng cải Hiện nay sâu tìm thấy hầu như ở tất cả các vùng trồng rau cải Năm 1967 - 1968, theo ban điều tra cơ bản côn trùng Bộ Nông nghiệp ghi nhận sâu ở Bắc Thái, Hà Nội, Hải Phòng,Lạng Sơn, Thái Bình, Nghệ An Tuy nhiên, đặc biệt gây hại nghiêm trọng ở vùng Hà Nội, Hải Phòng, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh và Tiền Giang là các tỉnh có nhiều diện tích trồng rau cải Hiện nay, sâu tơ phân bố khắp các vùng trồng rau
họ thập tử trên cả nước
1.2 Kí chủ
Sâu tơ là loại côn trùng ăn hep Chúng sống và phá hoại chủ yếu trên cây họ thập tự Ở hầu hết các nước cũng như ở Việt Nam, sâu tơ gây hại nặng ở các loại rau thuộc nhóm cải bắp (Brassica oleracea) như bắp cải, su hào, súp lơ,
Ngoài ra, sâu tơ còn gây hại trên một số loại cây họ cà như khoai tây, cà chua,
1.3 Cây họ thập tự
Họ Thập tự (hay họ Cải) có tên khoa học là Brassicaceae,
là những cây thân thảo, hoa có 4 cánh, đa số dùng làm rau ăn
Trang 5Họ thập tự tập trung trong khu vực ôn đới và có sự đa dạng về loài lớn nhất tại khu vực ven Địa Trung Hải Họ này chứa khoảng 338- 350 chi và khoảng 3.700 loài
Ở Việt Nam, có khoảng 20 loài như: cải thìa, cải bẹ trắng, cải sen, cải bắp, bắp sú, su hào, cải bông xanh, cải thảo,
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM GÂY HẠI CỦA SÂU TƠ
(Plutella maculipennis Curtis) TRÊN CÂY HỌ THẬP TỰ
Sâu tơ có tên khoa học: Plutella maculipennis Curtis còn
gọi là
Plutella xylostella Curtis
Họ: Plutellidae, Bộ: Lepidoptera
2.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của sâu tơ
Bướm dài từ 6 - 10 mm, sải cánh rộng từ 10 - 15 mm Cánh trước màu nâu, giữa lưng có một dãi gợn sóng, màu trắng
Trang 6trên bướm đực và màu vàng trên bướm cái, chạy dài đến cuối cánh Hai cánh phía sau có màu xám, mép ngoài có lông rất dài Khi đậu cánh xếp xuôi theo thân và dựng đứng phía trên thân mình, đuôi cánh hơi nhô lên cao Râu đầu dài từ 3 - 3,5
mm và luôn đưa tới trước rất linh hoạt Bướm có thể sống đến 2 tuần và đẻ độ 200 trứng
Trứng hình bầu dục, dẹp, màu vàng nhạt, đường kính từ 0,3 - 0,5mm Trứng đẻ rời rạc ở mặt dưới lá, gần gân chính và
nở trong vòng 3 - 4 ngày
Sâu non có màu xanh nhạt, lớn đẫy sức có thể dài tới 13mm, màu đen khi lớn chuyển dần thành hơi vàng
Sâu có 4 tuổi với thời gian phát triển lâu độ 7 - 15 ngày tùy điều kiện thúc ăn và thời tiết Mình nở to chính giữa, 2 đầu
nhọn, thân chia đốt rõ ràng và có 3 cặp chân giả từ đốt bụng thứ năm, lớn đủ sức mình sâu dài từ 8 đến 11mm
Trang 7Thời gian làm nhộng lâu 4 - 7 ngày Khi mới hình thành nhộng có màu xanh nhạt, khoảng 2 ngày sau thành màu vàng nhạt, chiều dài nhộng từ 5 - 7mm, chung quanh nhộng có kén bằng tơ bao phủ
* Vòng đời của sâu tơ:
Vòng đời sâu tơ thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường Nhiệt độ không khí càng cao thì vòng đời sâu tơ càng ngắn
Vòng đời của một lứa khoảng 30-40 ngày, các lứa sâu tơ
nở gối nhau liên tiếp trong suốt vụ rau
+ Thời gian trứng 3-4 ngày
+ Sâu non có 4 tuổi, thời gian sâu non khoảng 7-15 ngày + Thời gian nhộng 4-7 ngày
+ Tuổi thọ của trưởng thành 4-10 ngày
Trang 8
Một năm có khoảng 17 đỉnh cao mật độ sâu tơ phát triển trên đồng ruộng và thời gian giữa 2 đỉnh cao mật độ sâu từ
10-36 ngày Mật độ sâu tơ tại đỉnh cao biến động từ 2-62 con/cây Mật độ sâu tơ tăng dần từ tháng 9, đạt đỉnh cao số lượng vào tháng 2 và 3
2.2 Tác hại
Sâu tơ ăn và phá hủy toàn bộ lá của hầu hết các cây họ thập tự, phá hại nghiêm trọng ở giai đoạn cây con hoặc mới trồng Sâu non ăn thịt lá, trừ lại gân khiến cho lá bị lủng lỗ chỗ, biến dạng, tạo điều kiện cho một số bệnh phát triển Khi mật độ sâu cao và gây hại nặng, diện tích lá gây hại cũng lớn hơn và các lá có thể bị phá hủy hoàn toàn Sâu lây lan nhanh chỉ sau
2-3 ngày ruộng rau đã xơ xác còn trơ lại gân lá, tạo điều kiện cho một số bệnh phát triển, làm giảm chất lượng và sản lượng rau, gây thiệt hại lớn về kinh tế
Ngoài ra chúng còn tiết ra 1 loại dịch làm thối nhũn những phần còn non của cây như búp non, lá non, hoa non, Có thể làm chết cây, cây sinh trưởng, phát triển kém
Sâu tơ làm rau cải giảm chất lượng do lá bị thủng lỗ chỗ
2.3 Triệu chứng gây hại của sâu tơ trên cây họ thập tự
Trang 9Sâu ăn lá Ban đầu trên lá có các đường rãnh trông giống dòi đục lá, sau đó tạo thành các lỗ thủng trong mờ Sau một thời gian khiến lá bị thủng lỗ chỗ -> toàn bộ lá bị thủng, chỉ còn lại gân lá
Triệu chứng trên bắp cải
2.4 Đặc điểm gây hại
Bướm hoạt động về đêm, ban ngày bướm thường ẩn ở mặt dưới lá rau cải, ngài ít bay mà thường di chuyển theo gió Sau
vũ hóa 1-2 ngày bướm giao phối và đẻ trứng Trứng được đẻ phân tán hoặc thành cụm 3-5 quả ở mặt dưới lá Ngài có thể đẻ tới 400 trứng Trứng được đẻ phân tán hay tập trung thành từng khóm từ 3-5 quả ở mạt dưới lá, ở hai bên gân lá hoặc chỗ lõm trên lá Ở giai đoạn này bướm chưa gây hại cho cây trồng
Sâu tuổi 1 đục một lỗ nhỏ ở mặt lá, xong chui đầu vào ăn nhu mô lá, chỉ chừa lại biểu bì
Sâu tuổi 2 gặm ăn mặt dưới lá để lại lớp biểu bì mặt trên lá tạo thành những đốm trong mờ Cuối tuổi 2 trở đi sâu gặm thủng lá
2.5 Đặc điểm phát sinh, phát triển của sâu tơ
Sâu tơ gây hại quanh năm, gây hại nặng trong vụ đông xuân
Trang 10Theo kết quả nghiên cứu của Lê Văn Trịnh và Trần Huy Thọ trên rau họ hoa thập tự ở Mai Dịch và các cùng phụ cận cho thấy, trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1991 xuất hiện 10 đợt sâu tơ phát sinh rộ trên đồng ruộng Mật độ giảm dần từ 24,1 (con/cây) xuống 0,2 (con/cây) Khoảng cách giữa 2 đỉnh cao sâu rộ giảm dần từ 25 - 26 ngày trong tháng 3 còn 15
- 16 ngày trong tháng 8 Qua đó cho thấy mật độ và vòng đời sâu hại có quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên Các giai đoạn phát dục và vòng đời của sâu tơ chịu ảnh hưởng nhất định của các yếu tố nhiệt độ không khí, ở 21,7ºC vòng đời là 20,8 ngày Khi nhiệt độ xuống 17,2ºC thì vòng đời tăng là 33,3 ngày
Sâu tơ có khả năng chịu đựng dao động nhiệt cao (10-40°C), nhiệt độ thích hợp cho sâu non gây hại là 20-30°C Con trưởng thành có chịu nhiệt độ dưới 0°C trong 2-3 tháng Vào mùa mưa mật độ sâu tơ giảm
Độ ẩm ảnh hưởng rõ đến khả năng đẻ trứng của trưởng thành, ẩm độ thấp dưới 70% kèm theo nhiệt độ thấp thì ngài không đẻ trứng Ẩm độ thích hợp là 80-90 %
Bướm có khả năng di chuyển xa, bay đến và bám trên bề mặt lá của cây trồng để đẻ trứng, vớ số lượng trứng nhiều Sâu non tuổi 1 ăn lá như dòi đục lá ở bên trong thịt lá, ba tuổi sau chúng ăn ở mặt dưới lá Khi bị đánh động chúng nhanh nhẹn chuyển mình lẩn trốn và nhả tơ đưa mình rơi xuống khỏi bề mặt
lá lẩn trốn Khi đã đẫy sức sâu nhả tơ làm kén ngay trên mặt lá, hóa nhộng trong kén
Trang 11CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ SÂU TƠ 3.1 Biện pháp canh tác
Đây là phương pháp cơ bản, rất quan trọng, mang ý nghĩa tích cực, đơn giãn, dễ làm, ít tốn kém nhưng mang lại hiệu quả
rõ rệt
3.1.1 Chọn giống
Dùng giống ngắn ngày để dịch hại không hoàn thành chu
kỳ (vòng đời) nhằm làm giảm mật số sâu và giảm nhẹ thiệt hại
do sâu gây ra Chọn những giống rau có khả năng chống chịu sâu tơ tốt Nếu không có những giống đủ sức đề kháng sâu tơ thì nên chọn những loại giống tốt, không có những vết bệnh để gieo trồng
3.1.2 Vệ sinh đồng ruộng
Dọn sạch cỏ dại, tiêu hủy tàn dư thực vật mang mầm móng sâu bệnh nhằm làm giảm nhẹ sự gây hại của sâu lên cây trồng vụ sau
3.1.3 Làm đất
Tiến hành làm đất tơi xốp và phơi ải đất Mục đích của việc phơi ải, giúp cho vi sinh vật hảo khí trong đất hoạt động tốt, làm cho đất tơi xốp, thông thoáng và cây dễ hấp thu các chất dinh dưỡng có trong đất Ngoài ra, phơi ải đất còn có tác dụng diệt một số mầm bệnh, cỏ dại còn tồn dư trong đất ở vụ trước
-Tùy thuộc loại rau chọn trồng và điều kiện của từng hộ gia đình mà có thời gian phơi ải đất dài hoặc ngắn nhưng ít nhất thời gian phơi ải phải đạt từ 5 – 7 ngày
Trang 12Bố trí thời vụ thích hợp, trong vụ đông xuân nếu trồng muộn sâu tơ hại nhiều Xuống giống đúng thời vụ tạo lợi thế cho cây trồng phát triển tốt vì thời tiết trong vụ mùa thích hợp cho cây trồng sinh trưởng tốt do đó cây trồng sung mản, chống chịu tốt với sâu hại và cho năng suất cao Mặt khác việc xuống giống đúng thời vụ giúp cây trồng tránh được những rủi ro do thời tiết gây ra như hạn hán, nhiệt độ nóng, lạnh, sương muối, lũ lụt, …, làm mất mùa
Xuống giống đồng loạt, thu hoạch nhanh nhằm cắt dứt nguồn thức ăn của sâu trên đồng làm giảm mật số sâu hại và giảm nhẹ thiệt hại do chúng gây ra
3.1.5 Mật độ gieo trồng thích hợp
Mật độ gieo trồng rất quan trọng, mỗi loại cây trồng khác nhau có mật độ gieo trồng thích hợp khác nhau Mật độ gieo trồng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng mà còn ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của sâu bệnh và cỏ dại Gieo trồng đúng mật độ thích hợp giúp cây trồng phát triển tốt, cho năng suất cao đồng thời hạn chế sâu bệnh phát triển, giúp cây trồng chống chịu tốt với sâu bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho thiên địch hoạt động làm giảm nhẹ thiệt hại do sâu bệnh gây ra Do đó gieo trồng với mật độ thích hợp cũng là biện pháp phòng ngừa sâu bệnh
Trang 13Rau trồng với mật độ thích hợp, gieo theo hàng
3.1.6 Luân canh, xen canh
Luân canh với cây trồng không cùng ký chủ như lúa, bắp… nên trồng xen với cây họ cà, hành, tỏi để gián đoạn nguồn thức
ăn và xua đuổi con trưởng thành đến đẻ trứng
- Xen canh cây cà chua và cây bắp cải, mật số sâu tơ giảm nhiều vì cây cà chua tiết ra chất tomatine có thể xua đuổi bướm sâu tơ Hơn nữa, khi trồng xen kẽ có nhiều loài thiên địch có thể tấn công sâu tơ
- Xen canh cây cải lấy dầu với bắp cải cũng làm giảm mật độ sâu
3.2 Biện pháp thủ công
Trong quá trình chăm sóc thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, ngắt bỏ ổ trứng mới nở và giết nhộng của chúng Khi thấy mật số sâu tơ tăng nhanh phải phun thuốc diệt trừ kịp thời
Nên tưới rau bằng vòi phun mưa vào buổi chiều mát để ngăn cản việc giao phối của con trưởng thành và rửa trôi bớt trứng, sâu non Tuy nhiên lưu ý nếu cây đang bị bệnh, bệnh sẽ
dễ lây lan hơn
Do bướm sâu tơ thường không bay cao, nên có thể dùng lưới cao 2 m bao xung quanh để hạn chế bướm sâu tơ từ bên ngoài bay vào ruộng rau đẻ trứng
Trang 14
Ngắt bỏ trứng mới nở
3.3 Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học phòng trừ sâu bệnh hại rau là lợi dụng các thiên địch để tiêu diệt sâu hại trên đồng ruộng
Sử dụng thiên địch của sâu tơ như :
- Nhóm ăn mồi như : gồm các loài nhện bắt mồi như nhện linh miêu, nhện sói, nhện nhảy, nhện hàm dài; côn trùng ăn thịt như bọ chân chạy, bọ rùa, bọ ngựa, chuồn chuồn cỏ…
- Nhóm ong ký sinh: Ong kén trắng Cotesia plutellae kí
sinh sâu tơ non và ong cự nâu vàng Diadromus collaris
Gravenhorst kí sinh nhộng, ong mắt đỏ ký sinh trứng
- Nhóm vi sinh vật gây bệnh: nấm Entomophthore
gây bệnh cho sâu tơ
Để bảo vệ được các loài có ích này, không nên sử dụng sử dụng thuốc hóa học
Bên cạnh đó, có thể sử dụng bẫy freromol treo trên ruộng rau để thu hút con trưởng thành cái đến các bẫy mà không giao phối được, không đẻ được trứng và không hình thành được sâu
Feromol là hợp chất hóa học có hoạt tính sinh học rất cao,
Trang 15sâu hại Bẫy feromol đặc biệt có hiệu quả đối với các loại sâu hại không thể phát hiện sớm bằng phương pháp thông thường, như sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ, sâu keo da láng trên các loại rau, hoa, đậu, lạc, nho, bông…
* Cách đặt bẫy feromol: Sử dụng lọ nhựa hoặc bát nhựa đã dùng một lần, có đường kính 18-22cm, buộc mồi vào dây thép theo kiểu quang treo, sau đó đổ nước 1/3 thể tích bát có pha thêm một ít xà phòng, xà phòng có tác dụng khi bướm bay vào bẫy, rơi xuống nước, sẽ bị bịt lỗ thở lại và chết rất nhanh Đặt bẫy ở vị trí cao hơn bề mặt tán cây trên ruộng chừng 20- 30cm
Đặt bẫy feromol
3.4 Biện pháp hóa học:
Dùng các chế phẩm sinh học được điều chế từ gốc vi khuẩn
Bacillus thuringiensis như: Biocin 16 WP hoặc 8000 SC, Olong 55
WP, Bacterin BT-WP, Xentari 35 WDG…
Khi dùng thuốc hóa học phun phòng trị bệnh, cần phải điều tra mức độ bệnh hại, sau đó mới tiến hành phun Khi điều tra số lá trên cây bị mắc bệnh từ 5-10 % thì chúng ta mới tiến