Sự phát triển của xã hội cùng với sự bùng nổ thông tin tri thức đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống thư viện đại học đặc biệt là các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện mới đã đáp ứng đư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -***** -
LÃ THỊ VÂN
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC THÔNG TIN - THƯ VIỆN
MÃ SỐ: 60 32 02 03
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Minh Nguyệt
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn
PGS TS Trần Thị Minh Nguyệt
Chủ tịch Hội đồng chấm Luận văn Thạc sĩ
PGS TS Trần Thị Quý
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo, PGS TS Trần Thị Minh Nguyệt, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Thông tin - Thư viện của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã truyền đạt, chỉ dạy cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các anh chị em tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã hết sức tạo điều kiện giúp đỡ tôi có tư liệu hoàn thành Luận văn
Xin được cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã dành cho tôi sự quan tâm
và động viên trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này
Trong quá trình làm Luận văn, với tất cả nỗ lực của bản thân, nhưng do chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc nghiên cứu khoa học cũng như hạn chế về trình độ hiểu biết nên Luận văn không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự cảm thông và góp ý của Quý Thầy, Cô và các đồng nghiệp để Luận văn được hoàn thiện tốt hơn,
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên thực hiện
Lã Thị Vân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Giả thuyết nghiên cứu 13
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 14
8 Bố cục của đề tài 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI 15
1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 15
1.1.1 Khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 15
1.1.2 Các yếu tố tác động đến sự phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 24
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 29
1.2 Khái quát về trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và Trung tâm thông tin - thư viện của trường 31
1.2.1 Khái quát về Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 31
1.2.2 Khái quát về Trung tâm thông tin - thư viện trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 36
1.2.3 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 45
1.3 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 50
1.3.1 Sản phẩm và dịch vụ thông tin –thư viện là phương tiện kết nối giữa nguồn lực thông tin của Trung tâm thông tin – thư viện và người dùng tin 50
1.3.2 Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện là phương tiện đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin 50
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI
TRƯỜNG HÀ NỘI 52
2.1 Sản phẩm thông tin - thư viện 52
2.1.1 Các cơ sở dữ liệu thư mục 52
2.1.2 Thư mục 57
2.1.3 Trang web 62
2.1.4 Danh mục 65
2.2 Dịch vụ thông tin - thư viện 67
2.2.1 Dịch vụ đọc tại chỗ 67
2.2.2 Dịch vụ mượn tài liệu 70
2.2.3 Dịch vụ sao chụp tài liệu 73
2.2.4 Dịch vụ trao đổi thông tin 75
2.2.5.Dịch vụ tra cứu thông tin 75
2.2.6 Dịch vụ đào tạo người dùng tin 79
2.3 Thực trạng các yếu tố tác động đến sản phẩm và dịch vụ thông tin -thư viện tại Trung tâm 80
2.3.1 Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng thông tin 80
2.3.2 Đội ngũ cán bộ thư viện 82
2.3.3 Người dùng tin và nhu cầu tin 83
2.3.4 Nguồn lực thông tin 83
2.3.5 Công cụ hỗ trợ tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 83
2.4 Đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện của Trung tâm 84
2.4.1 Đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 84
2.4.2 Đánh giá chung 88
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI RƯỜNG HÀ NỘI 91
3.1 Đa dạng hoá các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 91
3.1.1 Đa dạng hóa các sản phẩm thông tin - thư viện 91
3.1.2 Phát triển các dịch vụ thông tin - thư viện hiện đại 97
Trang 63.2 Chuẩn hóa các công cụ và quy trình tổ chức sản phẩm và dịch vụ thông
tin - thư viện 100
3.2.1 Chuẩn hóa các công cụ hỗ trợ tổ chức sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 101
3.2.2 Chuẩn hóa quy trình tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 103
3.3 Tăng cường hoạt động marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 104
3.3.1 Tăng cường truyền thông về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 104
3.3.2 Nắm vững nhu cầu tin và thông tin phản hồi từ người dùng tin 106
3.3.3 Nâng cao hiệu quả đào tạo người dùng tin 108
3.4 Các giải pháp khác 109
3.4.1 Phát triển nguồn lực thông tin 109
3.4.2 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện 110
3.4.3 Hoàn thiện cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng thông tin 111
3.4.4 Đẩy mạnh hợp tác giữa các thư viện 113
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 119
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Bảng chữ viết tắt tiếng Việt
CNTT Công nghệ thông tin
SP TT-TV Sản phẩm thông tin – thư viện
SP&DV TT-TV Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
TT-TV Thông tin – thư viện
TT TT-TV Trung tâm Thông tin - Thư viện
2 Bảng chữ viết tắt tiếng Anh
AACR2 Anglo - American Cataloguing Rules 2nd
(Quy tắc biên mục Anh - Mỹ) DDC Dewey Decimal Classification
(Khung phân loại thập phân Dewey) ILL Inter Library Loan
((Mượn liên thư viện) MARC21 Machine Readable Cataloging
(Khổ mẫu biên mục đọc máy) OPAC Online Public Access Catalog
(Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Mục đích thu thập thông tin của NDT 48
Bảng 1.2: Loại hình tài liệu NDT thường sử dụng 49
Bảng 2.1: NDTđánh giá về Cơ sở dữ liệu thư mục 54
Bảng 2.2: Thống kê mức độ bạn đọc thường xuyên sử dụng các sản phẩm TT-TV tại TT TT-TT-TV trường ĐHTN&MTHN 55
Bảng 2.3: NDT đánh giá về Thư mục giới thiệu sách mới 59
Bảng 2.4: NDT đánh giá về Trang Web của Trung tâm 65
Bảng 2.5: NDT đánh giá về Danh mục của Trung tâm 65
Bảng 2.6: NDT đánh giá về dịch vụ đọc tại chỗ 70
Bảng 2.7: Thống kê mức độ bạn đọc thường xuyên sử dụng các dịch vụ thông tin – thư viện tại Trung tâm 72
Bảng 2.8: NDT đánh giá về dịch vụ mượn tài liệu 73
Bảng 2.9: NDT đánh giá về dịch vụ sao chụp tài liệu 74
Bảng 2.10: NDT đánh giá về dịch vụ trao đổi thông tin 79
Bảng 2.11: NDT đánh giá về dịch vụ tra cứu thông tin tại Trung tâm 76
Bảng 2.12: NDT đánh giá về dịch vụ đào tạo người dùng tin 80
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH MINH HỌA Hình 2.1: Giao diện thư mục giới thiệu sách mới 59
Hình 2.2: Giao diện Trang chủ của TT TT-TV trường ĐHTN&MTHN 63
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của TT TT-TV trường ĐHTN&MTHN 40
Biểu đồ 2.1: NDT đánh giá chất lượng sản phẩm TT-TV tại Trung tâm 86
Biểu đồ 2.2: NDT đánh giá chất lượng các dịch vụ TT-TV tại Trung tâm 87
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông đã tác động sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực thông tin - thư viện (TT-TV) Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại này đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội từ xã hội công nghiệp sang xã hội tri thức với nền kinh tế thông tin Trong nền kinh tế tri thức thông tin, vai trò của tri thức là động lực, nguồn lực phát triển nền kinh
tế tri thức phù hợp với điều kiện cụ thể của nước mình Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo cũng có ý nghĩa rất quan trọng Đó là nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước Để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực này, các Trung tâm TT-TV có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thông tin, tài liệu cho người dùng tin nhất là trong bối cảnh đổi mới phương thức đào tạo từ niên chế sang đào tạo theo tín chỉ hiện nay Hiệu quả hoạt động thông tin là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của bất cứ cơ quan TT-TV nào Vì vậy, trong quá trình hiện đại hóa hoạt động TT-TV trong các trường đại học, việc đảm bảo chất lượng các sản phẩm và đa dạng hóa các dịch vụ phục vụ người dùng tin (NDT) có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Sự phát triển của xã hội cùng với sự bùng nổ thông tin tri thức đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống thư viện đại học đặc biệt là các sản phẩm và dịch
vụ thông tin-thư viện mới đã đáp ứng được phần nào nhu cầu tin cho NDT Bên cạnh đó, còn nhiều sản phẩm thông tin hiện đại vẫn chưa được hoàn thiện
về nội dung và hình thức do chất lượng xử lý tài liệu chưa cao, tài liệu điện tử còn hạn chế về số lượng, dịch vụ TT-TV chưa đa dạng
Vậy làm thế nào để các sản phẩm và dịch vụ đạt được chất lượng, duy trì và phát triển không ngừng chất lượng dịch vụ ấy là vấn đền đề cấp thiết và cần có lời giải của các nhà lãnh đạo, nhà quản lý, nhà chuyên môn, Sản
Trang 10phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện chính là cầu nối giữa người dùng tin với nguồn lực thông tin/ tài liệu trong mỗi trường đại học Để có thể giúp NDT trong các trường đại học có thông tin/ tài liệu một cách nhanh chóng nhất và phù hợp với nhu cầu của mình đòi hỏi hệ thống các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của nhà trường phải đảm bảo được chất lượng Muốn vậy, việc triển khai, đánh giá nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện là vấn đề có tính cấp thiết với bất cứ cơ quan TT-TV nào
Trung tâm TT-TV trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (ĐHTN&MTHN) là một trong những Trung tâm lớn của Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hệ thống giáo dục đại học Việt Nam nói chung
và của trường ĐHTN&MTHN nói riêng Cùng với sự hội nhập và phát triển, Trung tâm TT-TV trường ĐHTN&MTHN cũng đang có những bước chuyển mạnh mẽ từ hình thức truyền thống sang hiện đại, kết hợp giữa thư viện truyền thống và thư viện điện tử Vì vậy, việc phát triển, đảm bảo chất lượng các sản phẩm và đa dạng hóa các dịch vụ mới, hiện đại phục vụ người dùng tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp và đảm bảo thông tin góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên, học viên cao học và sinh viên trong trường Tuy nhiên, việc phát triển và nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện hiện đang còn là vấn đề mới của hệ thống các trường đại học nói chung và của trường ĐHTN&MTHN nói riêng
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Sản phẩm
và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội” làm đề tài Luận văn Vận dụng những kiến thức đã học
cùng với những kinh nghiệm thực tế tác giả đã nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng các SP&DV TT-TV Từ đó, tìm ra một số giải
Trang 11pháp nhằm góp phần nhỏ lý luận, hoàn thiện, đa dạng và nâng cao chất lượng SP&DV TT-TV tại trường ĐHTN&MTHN
2 Tình hình nghiên cứu
Sự phát triển của một cơ quan TT-TV được nhìn nhận và đánh giá bằng chính các SP&DV mà cơ quan TT-TV đó tạo ra Việc tạo ra SP&DV thư viện luôn luôn là đề tài quen thuộc và được quan tâm hàng đầu, được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu tại các cơ quan, đơn vị khác nhau trong nước và trên thế
Đã có nhiều giáo trình, bài báo trình bày về vấn đề này nhưng hoạt động
TT-TV trong bối cảnh nước ta là một nước đang phát triển, trong quá trình hội nhập, có nhiều chuyển biến Đặc biệt trong những năm gần đây SP&DV TT-
TV xuất hiện trong các cơ quan TT-TV ngày càng phong phú và đa dạng Nhưng làm sao để đa dạng hóa, hiện đại hóa các SP&DV, bắt kịp với sự phát triển chung của thế giới mà vẫn phù hợp với tình hình cụ thể của các cơ quan TT-TV trong nước là vấn đề còn gặp nhiều khó khăn và thách thức
Về sản phẩm TT-TV có một số nghiên cứu trên cơ sở sách tham khảo và
bài viết như: "Các giải pháp xây dựng và phát triển sản phẩm thông tin - thư
viện phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ tại thư viện điện tử trường cao đẳng
Sư phạm Thừa Thiên Huế" của Hứa Văn Thành, 2012;
Về dịch vụ TT-TV có một số nghiên cứu và bài viết như:
Trên thế giới có "Giới thiệu dịch vụ thư viện công cộng" (Introduction to Library Public Services) của G Edward Evans, Thomas L Carter; "Hiểu biết
giá trị của chúng tôi: đánh giá bản chất tác động của dịch vụ thư viện"
(Understanding our valua: Assessing the Nature of the Inpact of Library Services) của David Bawden Các bài viết này cũng đã đề cập đến các dịch vụ TT-TV nhưng chưa đi sâu phân tích từng loại dịch vụ cụ thể với từng loại hình thư viện cụ thể
Trang 12Trong nước có một số bài viết được đăng trong tạp chí chuyên ngành và
luận văn thạc sĩ như: trong tạp chí Thông tin và Tư liệu có bài viết "Đánh giá
các dịch vụ thông tin và thư viện" của Vũ Văn Sơn (số 4/2007); trong tạp chí
Thư viện Việt Nam có bài "Hình thành dịch vụ thông tin - thư viện sẵn sàng
đáp ứng trong trường đại học" của Dương Thị Vân số (3/2008); "Sử dụng blog để phổ biến dịch vụ thông tin thư viện" của Trương Đại Lượng (số
4/2008); "Dịch vụ thông tin tại các Trung tâm học liệu: Hiện trạng và một số
tính chất phát triển của dịch vụ tại các thư viện" của Trần Mạnh Tuấn (số
2/2010); "Định giá dịch vụ thông tin thư viện" của Ngô Thanh Thảo, Tạp chí
Thư viện số 1, 2011; Các bài viết trên đã đi sâu phân tích các vấn đề lý thuyết mang tính chất khái quát, nhưng chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể ở một phạm vi, không gian nhất định nên khi sử dụng làm tài liệu tham khảo chỉ dừng lại ở mức độ cơ sở lý luận về vấn đề DV TT-TV nói chung đồng thời đề cập đến những đánh giá cũng như phân tích các quan điểm tiếp cận về tính
hiệu quả của các dịch vụ TT-TV; Luận văn thạc sĩ có "Dịch vụ phổ biến thông
tin có chọn lọc" của Nguyễn Vĩnh Hà (2001); "Dịch vụ thông tin - thư viện hiện đại tại đại học Quốc gia Hà Nội" của Vũ Thị Thu Hà (2014) Các đề tài
trên đều nghiên cứu SP&DV TT-TV ở một địa bàn cụ thể với những đặc điểm riêng biệt
Đối với SP&DV TT-TV được đề cập khá nhiều trong các giáo trình, bài
báo tạp chí, kỷ yếu, hội thảo và công trình nghiên cứu, Luận văn của nhiều tác giả:
Về mặt lí luận, có tuyển tập: "Thông tin: từ lý luận tới thực tiễn" của
PGS TS Nguyễn Hữu Hùng đã đề cập đến cơ sở lý luận của thông tin và tổ
chức nguồn lực thông tin trong các tổ chức xã hội; cuốn giáo trình: "Sản
phẩm và dịch vụ thông tin thư viện" của Trần Mạnh Tuấn, 1998 đã đề cập đến
các khái niệm và quy trình để tạo lập các dạng SP&DV TT-TV cơ bản
Trang 13Trong các tạp chí chuyên ngành: "Về hệ thống sản phẩm và dịch vụ
thông tin" của Trần Mạnh Tuấn (số 4/2003); "Một số vấn đề về sự phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin" của Trần Mạnh Tuấn (số 4/2003); "Sản phẩm và dịch vụ thông tin" của Trần Mạnh Trí, 2003; "Quản lý chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong thư viện đại học" của Bạch Thị
Nhu Nhi (số 4/2010); "Đẩy mạnh hợp tác giữa các thưu viện đại học ở Việt
Nam - Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện" của Đức Lương,
Khánh Linh (số 5/2011); "Một số vấn đề về chính sách phát triển sản phẩm và
dịch vụ thông tin tại Việt Nam" của Nguyễn Hữu Hùng, số 2/2012; Các bài
viết đã mô tả khái lược một số sản phẩm, dịch vụ thông tin tiêu biểu và phổ biến hiện nay giúp nhận dạng, liệt kê các nhóm sản phẩm và dịch vụ theo những mục đích, khía cạnh khác nhau Trong thời gian gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này, thể hiện trong một số bài báo khoa học
như: "Nâng cao chất lượng sản phẩm - dịch vụ thông tin thư viện tại Trung
tâm Thông tin thư viện tại trường Đại học Vinh" của Vũ Duy Hiệp; "Các giải pháp xây dựng và phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ tại thư viện điện tử trường Cao đẳng sư phạm Thừa Thiên Huế" của Hứa Văn Thành, 2012
Về mặt thực tiễn tại một số cơ quan, xây dựng và phát triển các SP&DV
TT-TV đã được khảo sát và nghiên cứu trong các Luận văn: "Nghiên cứu về
sản phẩm và dịch vụ thông tin tại các thư viện thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam" của Phùng Thị Bình, 2007; "Hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch
vụ thông tin - thư viện tại Học viện Công nghệ Bưu chính - Viễn thông" của
Trần Thị Ngọc Diệp, 2011; "Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện tại Trường Đại học Ngoại thương" của Thạch Lương Giang, 2012 "Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Học viện Chính trị Hành chính quốc gia" của Nguyễn Văn Trọng, 2013 "Nghiên cứu phát triển sản phẩm và dịch
Trang 14vụ thông tin - thư viện tại các thư viện trường Đại học trên địa bàn tỉnh Nam Định" của Vũ Thị Thanh, 2014 "Sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện tạiTrung tâm Thông tin - Thư viện Học viện Ngân hàng" của Dương Thị
Tuyết, 2014 "Sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện tạiCục Thông tin Khoa
học Công nghệ Quốc gia" của Nguyễn Thị Huệ, 2014 "Phát triển sản phẩm
và dịch vụ thông tin-thư viện tại Đại học FPT" của Giáp Thị Quỳnh Nga,
2014 "Sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện tại Viện Chiến lược và chính
sách Khoa học và Công nghệ" của Nguyễn Thị Yến Như, 2015 "Sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện tại Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên"
của Nguyễn Minh Nguyệt, 2015 "Sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện tại
các trường Đại học trên địa bàn Hà Nội" của Nguyễn Thị Thùy Dung, 2015
Nhìn chung, các đề tài trên đều nghiên cứu về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện ở một cơ quan cụ thể, với những đặc điểm riêng Nhưng
có điểm chung là các đề tài này đã khảo sát và đánh giá hiện trạng từ đó đưa
ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng SP&DV TT-TV của đơn vị đó
Hoạt động TT-TV tại trường ĐHTN&MTHN mới được nghiên cứu ở
luận văn: "Nhu cầu tin tại trường ĐHTN&MTHN" của Trần Thị Hiền, 2014
Luận văn đi sâu nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng nhu cầu tin của NDT hiện nay tại trường ĐHTN&MTHN Tuy nhiên, đề tài trên mới chỉ giải quyết được một số khía cạnh chủ yếu là nhu cầu tin của NDT trong hoạt động TT-TV tại trường ĐHTN&MTHN
Cho đến nay, vẫn chưa có một đề tài nào nghiên cứu, đánh giá tổng thể
về chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện cũng như chưa có đánh giá, kiến nghị, giải pháp chung về nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch
vụ thông tin – thư viện tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Đề tài: “Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện tại trường Đại học Tài
Trang 15nguyên và Môi trường Hà Nội” là đề tài hoàn toàn mới, không trùng lặp với
bất kỳ đề tài nghiên cứu nào, có những tính mới nhất định và có tính cấp thiết cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện hiện có tại trường ĐHTN&MTHN, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư việntại trường
ĐHTN&MTHN
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện -Nghiên cứu thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường ĐHTN&MTHN
- Nghiên cứu một số giải pháp nhằm phát triển, nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường ĐHTN&MTHN
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường ĐHTN&MTHN
4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu, khảo sát, phân tíchthực trạng các sản phẩm
và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường ĐHTN&MTHN
- Về thời gian: Từ năm 2010 đến nay
Trang 165 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp với các quan điểm mới của Đảng và Nhà nước về hoạt động thông tin- thư viện
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu
- Phương pháp quan sát trực tiếp
- Phương pháp thống kê, so sánh - đối chiếu các số liệu
- Điều tra, khảo sát thực tiễn bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu điều tra và thực hiện điều tra tại Trường ĐHTN&MTHN
Để có sơ sở khoa học cho việc hoàn thành Luận văn, tác giả đã tiến hành phát phiếu điều tra tại trường ĐHTN&MTHN Căn cứ vào điều kiện thực tế khảo sát tác giả thống kê lại kết quả khảo sát như sau:
- Số phiếu phát ra: 280 phiếu
- Số phiếu thu về: 200 phiếu (Đạt tỷ lệ 71.4%)
6 Giả thuyết nghiên cứu
Đối với hệ thống thư viện các trường đại học trong nước ,việc tạo lập các SP&DV TT-TV đã được phát triển mạnh mẽ và đưa yếu tố thông tin trở thành nguồn lực cấu thành trong hệ thống đổi mới của đất nước
Các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường ĐHTN&MTHN hiện tại chưa đa dạng về hình thức, chưa phong phú về nội dung, chưa đáp ứng tốt việc tra cứu và tìm tin của NDT trong Trung tâm hiệu quả của vòng quay tài liệu chưa cao, các sản phẩm và dịch vụ còn mang nặng tính truyền thống Nếu đa dạng các loại hình và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện thì sẽ nâng cao được hiệu quả phục vụ thông tin, đáp ứng
Trang 17cao NCT của NDT trong giai đoạn hội nhập và phát triển sự nghiệp giáo dục
và đào tạo, góp phần đẩy mạnh chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
nghiên cứu và giảng dạy
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt và phụ lục Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Chương 2: Thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI 1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
1.1.1 Khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Sản phẩm thông tin - thư viện
* Sản phẩm
Sản phẩm là một khái niệm được sử dụng trước, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế và sản xuất Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sản phẩm
Khái niệm sản phẩm theo quan điểm của Marketing: “Sản phẩm là thứ
có khả năng thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng” Theo đó, sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản sau đây:
- Yếu tố vật chất
- Yếu tố phi vật chất Theo quan điểm này, sản phẩm vừa là cái "đã có", vừa là cái “đang và tiếp tục phát sinh” trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu
Theo định nghĩa của Kinh tế chính trị Mác - Lênin: "Sản phẩm là kết quả của sản xuất Tổng hợp các thuộc tính về cơ học, lý học, hóa học và các thuộc tính có ích khác làm cho sản phẩm có công dụng nhất định và có thể thỏa mãn những nhu cầu của con người" [6 , tr 39]
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: "Sản phẩm là cái do con người lao động
tạo ra hoặc cái được tạo ra như một kết quả của tự nhiên" [10, tr.1427]
Theo Đại từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), Tập 3: "Sản phẩm là kết
quả của các hoạt động hoặc các quá trình Sản phẩm có thể là vật chất (ví dụ: Các vật liệu đã qua chế biến; caccs bộ phận lắp ghép ), hoặc phi vật chất
Trang 19(thông tin, khái niệm, định nghĩa, ) và được tạo ra có chủ định (Ví dụ: để cho khách hàng) hoặc không có chủ định (ví dụ: chất ô nhiễm, kết quả không như mong muốn)" [23, tr 723]
Khi sản phẩm là vật chất, là hữu hình thì chúng ta có thể nhìn thấy, cân
đo đong đếm và kiểm tra chất lượng bằng các phương tiện hóa lí Sản phẩm phi vật chất là sản phẩm vô hình, không mang lại hình thái vật chất hữu hình Như vậy, có thể hiểu sản phẩm là kết quả của các hoạt động và chúng ra đời do ý muốn chủ quan của con người
* Sản phẩm thông tin – thư viện
Theo khái niệm trên, sản phẩm trong lĩnh vực thông tin – thư viện là kết quả của hoạt động thông tin – thư viện Trong giáo trình "Sản phẩm và dịch
vụ thông tin - thư viện" năm 1998, Trần Mạnh Tuấn cho rằng: "Sản phẩm
thông tin - thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông tin do cá nhân/tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT" (bao gồm nhu cầu tra cứu thông tin và nhu cầu về chính bản thân thông tin) [17,tr.21]
Quá trình lao động để tạo ra các sản phẩm là quá trình xử lý thông tin bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như: mô tả, phân loại, biên mục, định từ khóa, tóm tắt, chú giải biên soạn tổng quan và các quá trình phân tích, tổng hợp thông tin khác Sản phẩm thông tin thư viện có nhiều hình thức khác nhau gồm cả những sản phẩm mang tính truyền thống ( Hệ thống mục lục, các thư mục, tổng quan, tổng luận, ) và những sản phẩm mang tính hiện đại (cơ sở
dữ liệu, các bản tin điện tử, ) Chủ thể của quá trình này là: NDT, cán bộ TT-TV, các chuyên gia, các nhà khoa học
Sản phẩm TT-TV được hình thành nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin cầu NDT Vì vậy, nó phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu cũng như sự thay đổi nhu cầu cả về nội dung lẫn hình thức
* Các loại sản phẩm thông tin – thư viện
Trang 20- Mục lục phiếu
Mục lục là tập hợp các đơn vị/phiếu mục lục được sắp xếp theo một trình tự nhất định, phản ánh nguồn tin của một/một nhóm cơ quan thông tin, thư viện [17, tr.37]
Một trong những chức năng chủ yếu của mục lục là giúp người dùng tin xác định được vị trí lưu trữ tài liệu trong kho, là công cụ quan trọng hỗ trợ cho NDT trong việc tra cứu, tìm kiếm những thông tin phù hợp với yêu cầu của họ theo các dấu hiệu đã có Hệ thống mục lục là cầu nối cho NDT và cán
bộ thư viện tiếp cận với kho tài liệu Ưu điểm của hệ thống mục lục phiếu là
có tính linh hoạt cao trong việc phản ánh tài liệu mới bổ sung Việc sử dụng mục lục phiếu đơn giản, giá thành xây dựng thấp, công tác bảo trì tương đối tiện lợi
Trong các cơ quan TT-TV, mục lục phiếu được đánh giá là một trong những sản phẩm quan trọng nhất, là công cụ tra cứu không thể thiếu trong các thư viện Đánh giá về vai trò, vị trí của mục lục đối với cơ quan TT-TV, M.Blooberg và G E Evans đã chỉ rõ: "Mục lục - sản phẩm chủ yếu của quá trình biên mục là công cụ tra cứu quan trọng vào bậc nhất trong thư viện Khó
có thể hình dung rằng có thể sử dụng được một cơ quan TT-TV dù chỉ có trữ lượng tài liệu ở mức độ bình thường mà lại thiếu hệ thống mục lục"
Bên cạnh sự tồn tại của mục lục dạng phiếu, có thể nói, sự xuất hiện của công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo ra những tác động to lớn đến
mọi hoạt động trong lĩnh vực thư viện - thông tin và thiết kế mục lục truy cập
trực tuyến - OPAC (Online Public Access Catalog) là một trong những bằng
chứng rõ ràng về những tác động của công nghệ Cộng đồng thư viện đã nắm lấy công nghệ thông tin và máy tính để xây dựng những công cụ tra cứu chính trong thư viện được biết đến đó là: OPAC
Trang 21OPAC có tác dụng của trong việc hỗ trợ người dùng tin cũng như các cán bộ thư viện tìm và tra cứu thông tin trên máy tính:dễ dàng sử dụng, tốc độ tìm tin nhanh, khả năng thuận tiện của các máy tìm tin trên web, tính chính xác, độ tin cậy của thông tin trong các kết quả tìm kiếm…
- Thư mục
Thư mục là một sản phẩm thông tin - thư viện mà phần chính là tập hợp các biểu ghi thư mục (có/không có tóm tắt/chú giải) được sắp xếp theo một trật tự xác định phản ánh các tài liệu có chung một/một số dấu hiệu về nội dung và/hoặc hình thức [17, tr.49]
Đối tượng chủ yếu được phản ánh trong thư mục là tài liệu nói chung, trong đó có tài liệu bậc 1 (được/ không được xuất bản), tài liệu bậc 2.[17, tr.49]
Xuất phát từ nội dung của vốn tài liệu, đặc điểm NDT và nhu cầu tin trong Trường, Trung tâm TT-TV đã biên soạn và xuất bản các loại thư mục sau:
- Thư mục giới thiệu sách mới
- Thư mục tóm tắt luận án, luận văn, Đồ án tốt nghiệp
Trang 22người sử dụng có thể thực hiện những chức năng cơ bản trong việc quản lý dữ liệu, đó là:
- Mô tả dữ liệu
- Cập nhật và bảo trì dữ liệu
- Tìm kiếm dữ liệu CSDL là một loại hình sản phẩm thông tin được ra đời khi xử lý tài liệu của thư viện được tin học hóa Việc xây dựng tốt CSDL có ý nghĩa rất lớn trong việc tìm tin nhanh chóng của bạn đọc, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ thông tin
- Trang Web
Trang Web là một cẩm nang bách khoa giới thiệu các thông tin và cách thức truy nhập tới thông tin về một thực thể nào đó (cơ quan, cá nhân, đơn vị hành chính ) trên mạng máy tính [17, tr.101]
Trang Web có chức năng chủ yếu sau:
- Thông tin về cơ cấu tổ chức của đối tượng được phản ánh Trong số các thông tin đó, thường là các thông tin về nhân lực của từng cơ quan, về chức năng nhiệm vụ, những vấn đề liên quan, các quan hệ,
- Giới thiệu và có thể truy cập được tới các nguồn thông tin trên CSDL Loại sản phẩm này đặc biệt phổ biến và quan trọng
- Danh mục
Danh mục là một bảng liệt kê cho phép xác định được thông tin về một/một nhóm đối tượng nào đó thuộc các lĩnh vực hoạt động xã hội/hoặc khu vực địa lý [17, tr.72]
Nhu cầu về sản phẩm thông tin - thư viện luôn luôn thay đổi, nó tương ứng và phát triển phù hợp với sự phát triển các nguồn tin cũng như nhu cầu nhận thức của con người Sản phẩm thông tin - thư viện luôn biến đổi và phát triển không ngừng để thích ứng cả về nội dung lẫn hình thức với nhu cầu mà
Trang 23nó hướng tới.Do đó, các cơ quan thông tin - thư viện phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả phương diện: tăng cường nguồn lực thông tin (xây dựng các CSDL TM), đa dạng hóa các sản phẩm thông tin - thư viện, đa dạng hóa phương thức phục vụ, phải có kiến thức và kỹ năng nền tảng, kỹ năng bổ trợ và những biến động của môi trường thông tin
Dịch vụ thông tin - thư viện
* Dịch vụ
Cũng giống như thuật ngữ sản phẩm, dịch vụ là thuật ngữ được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế học và thực tiễn hoạt động của nhiều lĩnh vực trong xã hội: dịch vụ phục vụ sản xuất, dịch vụ công, dịch vụ ăn uống, dịch vụ cho vay vốn, để chỉ các hoạt động phục vụ nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó trong cuộc sống
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "Dịch vụ là công việc phục vụ
cho đông đảo quần chúng" [10, tr.537]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì :"Dịch vụ là những hoạt động
phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt” [24,
tr.761]
Dịch vụ là một loại hình hoạt động kinh tế nên cũng có người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ
* Dịch vụ thông tin – thư viện
Theo những khái niệm trên, cùng với sự phát triển của hoạt động thông tin - thư viện, dịch vụ thông tin - thư viện ngày càng đa dạng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin của NDT
Theo Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh - Việt, “Dịch vụ
thư viện (library service) là một từ chung dùng để chỉ tất cả các hoạt động cũng như chương trình được thư viện cung cấp để đáp ứng nhu cầu về thông tin của cộng đồng độc giả ” [25, tr.119]
Trang 24Trong giáo trình "Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện” Trần Mạnh
Tuấn", 1998 cho rằng: "Dịch vụ thông tin - thư viện bao gồm những hoạt
động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện nói chung" [17, tr.24-25]
Nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin thuộc nhóm nhu cầu tinh thần, đòi hỏi phải có những nghiệp vụ, có tính chuyên môn hóa cao trong cung cấp dịch vụ Hiện nay nhiều cơ quan thông tin - thư viện đã và đang cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau phục vụ cho nhu cầu của NDT như: Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc, dịch vụ tìm tin, dịch vụ phổ biến thông tin, Các dịch vụ này đều hướng tới mục tiêu nâng cao khả năng khai thác nguồn lực thông tin, đáp ứng nhu cầu tin của NDT với hiệu quả cao nhất
* Các loại dịch vụ thông tin – thư viện bao gồm:
- Dịch vụ đọc tại chỗ: Là dịch vụ phục vụ tài liệu gốc cho NDT sử dụng
ngay tại cơ quan thông tin - thư viện Thông thường, tài liệu được sử dụng tại chỗ là những tài liệu có số lượng bản ít hoặc là tài liệu quý hiếm chỉ có một bản duy nhất Đây là dịch vụ mang tính truyền thống và được sử dụng rộng rãi nhất
- Dịch vụ mượn tài liệu: Đây là dịch vụ khá phổ biến ở rất nhiều thư
viện Dịch vụ này đảm bảo việc khai thác và sử dụng tối đa thông tin của NDT Dịch vụ này, NDT có thể đăng ký, tìm kiếm tài liệu, sau đó bạn đọc mang tài liệu về nhà sử dụng trong thời gian quy định để nghiên cứu và sử dụng Thời gian sử dụng tài liệu sẽ nhiều hơn đọc tại chỗ, bạn đọc có thể chủ động khai thác tài liệu mà không phụ thuộc vào giờ đóng, mở cửa của thư viện
- Dịch vụ sao chụp tài liệu: Dịch vụ sao chụp tài liệu gốc giúp cung cấp
cho người dùng tin 1 bản sao những tài liệu không được mượn về nhà, tài liệu giáo trình không tái bản nhiều lần cũng như các loại tài liệu báo, tạp chí, tài
Trang 25liệu tham khảo mà NDT muốn sở hữu và sử dụng trong thời gian lâu dài Tâm
lý của NDT khi tìm kiếm và sử dụng thông tin cho các mục đích khác nhau của mình luôn có mong muốn được khai thác và sử dụng lâu dài hoặc làm tài liệu riêng của mình Chính vì thế, dịch vụ này trở nên cần thiết và được quan tâm sử dụng nhiều với tần suất lớn
- Dịch vụ tra cứu thông tin: nhằm mục đích cung cấp cho NDT những
thông tin phù hợp với yêu cầu theo các dấu hiệu đã có để thõa mãn nhu cầu của NDT, thông qua công cụ dùng để tra cứu như: Máy tính, các mục lục, thư mục, các CSDL, internet…
- Dịch vụ trao đổi thông tin: là hoạt động giới thiệu trực tiếp cho NDT
các sản phẩm thông tin nhằm mục đích tạo ra môi trường giao tiếp thân thiện giữa NDT và cán bộ thư viện
- Dịch vụ hướng dẫn người dùng tin: là dịch vụ rất quan trọng trong việc
nâng cao hiệu quả phục vụ thông tin của các thư viện Dịch vụ này cung cấp cho NDT những thông tin về tài liệu, cách khai thác sử dụng thư viện như thế nào, quyền lợi và nghĩa vụ người sử dụng đối với thư viện, nội quy, chính sách của thư viện
Dịch vụ thông tin - thư viện có mối quan hệ chặt chẽ giữa NDT và cán
bộ thư viện Dựa vào những yêu cầu về thông tin của NDT, cán bộ thư viện triển khai các dịch vụ, ngược lại nhờ các dịch vụ do cán bộ thư viện tạo ra NDT được thỏa mãn yêu cầu thông tin của mình
Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Tuy có sự khác biệt khá rõ nét nhưng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện lại luôn gắn kết chặt chẽ và tương tác với nhau, chuyển hóa cho nhau trong hoạt động thông tin – thư viện Mục đích của việc tổ chức các sản phẩm
và dịch vụ thông tin - thư viện là để đáp ứng nhu cầu tin của NDT Tuy nhiên, mỗi loại sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện chỉ có thể đáp ứng một số
Trang 26loại nhu cầu cũng như một số nhóm NDT nhất định Để đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của NDT cần phải tổ chức đồng thời nhiều loại hình sản phẩm và dịch
vụ thông tin - thư viện khác nhau, bổ sung cho nhau
Chất lượng và sự đa dạng của sản phẩm thông tin - thư viện có ảnh hưởng lớn đến chất lượng và sự đa dạng của dịch vụ thông tin - thư viện
Mặt khác, mỗi loại sản phẩm hay dịch vụ thông tin – thư viện này có thể làm cơ sở để tổ chức các sản phẩm hay dịch vụ thông tin – thư viện khác Để đáp ứng yêu cầu của NDT, thông thường các cán bộ TT - TV phải tiến hành đồng thời việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ TT - TV tương ứng Với mỗi sản phẩm đều có một hoặc một số dịch vụ tương ứng, mục đích là nhằm giúp cho sản phẩm được sử dụng, khai thác Ngược lại, ứng với mỗi dịch vụ đều có một hoặc một số sản phẩm phù hợp để dịch vụ đó được triển khai tốt nhất, hiệu quả nhất
Mối liên hệ giữa các loại sản phẩm và dịch vụ TT - TV là hết sức chặt chẽ, ảnh hưởng, tác động, hỗ trợ nhau và nhiều khi không thể tách rời để hướng tới mục đích cao nhất là thỏa mãn và đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin của NDT Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch
vụ TT - TV có tính liên kết chặt chẽ và tương tác cao như vậy nên vấn đề hoàn thiện, phát triển sản phẩm TT - TV phải luôn đi liền với việc tổ chức, đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ dịch vụ TT - TV phù hợp Đây là vấn
đề cần được quan tâm, nhận định và triển khai toàn diện, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của cơ quan TT - TV
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện là kết quả của hoạt động thông tin và xử lý thông tin của một cá nhân hay một cơ quan thông tin - thư viện nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và
Trang 27trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện nói
chung
1.1.2.Các yếu tố tác động đến sự phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
* Môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội
Môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội trong nước và trên thế giới có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đặc biệt là NCT của NDT bởi vì đời sống văn hóa tinh thần phong phú là tiền đề cho NCT phát triển, tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến NCT; đời sống được nâng cao tạo điều kiện phát triển NCT; chế
độ dân chủ làm cho con người tự do, đời sống tinh thần phong phú hơn kích thích NCT phát triển cao hơn Trong khi đó, các SP&DVTT-TV được tạo ra
là để thỏa mãn NCT của NDT nên việc tạo lập, phát triển các TVchịu ảnh hưởng từ môi trường, kinh tế, văn hóa, xã hội
SP&DVTT-Trên thế giới hiện nay xu thế hội nhập mang lại những thuận lợi không nhỏ cho việc phát triển các SP&DVTT-TV như: việc chia sẻ thông tin, học tập kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ thông tin (CNTT) và các tiện ích to lớn khác Bên cạnh đó, còn có không ít khó khăn đó là vấn đề cạnh tranh giữa các SP&DVTT-TV với nhau, hoặc giữa các SP&DVTT-TV với các SP&DV khác Chính vì vậy, các SP&DVTT-TV không ngừng thay đổi và phát triển cả
về số lượng và chất lượng cho phù hợp với xu thế phát triển của thế giới để đáp ứng NCT của NDT hiện nay
Hiện nay, thông tin được coi là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tếxã hội Vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã và đang tiến hành xây dựng chính sách thông tin quốc gia để hoạt động của các cơ quan thông tin được đảm bảo theo hệ thống chính sách phù hợp Các quốc gia đều thừa nhận