1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Quán ngữ tình thái trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

39 296 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 431,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tồn tại của các QNTT với ý nghĩa, vai trò của chúng trong cơ chế giao tiếp liên nhân đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu, khảo sát đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa – chức năng của loại đơn vị

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội - 2016

Footer Page 1 of 126

Trang 2

ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ NHUNG

QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TÁC PHẨM

CỦA BA NHÀ VĂN THẠCH LAM, VŨ BẰNG, TÔ HOÀI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực, chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả luận văn

Phạm Thị Nhung

Footer Page 3 of 126

Trang 4

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN

Bảng 1.1 Bảng phân loại ngữ cố định theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp 15

Bảng 2.1 Bảng phân loại QNTT dựa vào số lƣợng thành tố cấu tạo 34

Bảng 2.2 Bảng phân loại QNTT dựa vào tổ chức cú pháp 37

Bảng 2.3 Bảng phân loại QNTT dựa vào vị trí phân bố của QNTT trong cấu trúc câu 44

Bảng 3.1 Bảng phân loại QNTT theo đặc điểm ngữ nghĩa – chức năng 51

Bảng 3.2 Bảng số liệu thống kê, phân loại các QNTT đƣa đẩy 52

Bảng 3.3 Bảng tổng hợp một số QNTT đƣa đẩy đa giá trị 73

Bảng 3.4 Bảng số liệu thống kê, phân loại các QNTT rào đón 74

Bảng 3.5 Bảng tổng hợp một số QNTT rào đón đa giá trị 87

Footer Page 4 of 126

Trang 5

v

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa của đề tài……….4

4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Vấn đề tình thái 8

1.1.1 Khái niệm tình thái………6

1.1.1.1 Vấn đề tình thái trong logic học và trong ngôn ngữ học………… 6

1.1.1.2 Vấn đề tình thái trong Việt ngữ học…… ……… 8

1.2 Quán ngữ tình thái tiếng Việt 12

1.2.1 Vài nét về quán ngữ tiếng Việt………12

1.2.2 Khái niệm quán ngữ tình thái tiếng Việt 18

1.2.3 Một số đặc điểm của quán ngữ tình thái tiếng Việt 19

1.2.3.1 Đặc điểm về hình thức 20

1.2.3.2 Đặc điểm về ngữ nghĩa – chức năng 23

1.3 Tiểu kết Chương 1 32

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CỦA QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TÁC PHẨM CỦA BA NHÀ VĂN THẠCH LAM, VŨ BẰNG, TÔ HOÀI 33

2.1 Đặc điểm về số lượng thành tố cấu tạo quán ngữ tình thái 33

2.1.1 Kết quả thống kê, phân loại 33

2.1.2 Phân tích kết quả 34

2.1.2.1 Nhóm quán ngữ tình thái có cấu tạo gồm 2 thành tố (từ) 34

2.1.2.2 Nhóm quán ngữ tình thái có cấu tạp gồm 3 thành tố (từ) 35

2.1.2.3 Nhóm quán ngữ tình thái có cấu tạo gồm 4 thành tố (từ) 36

Footer Page 5 of 126

Trang 6

vi

2.1.2.4 Nhóm quán ngữ tình thái có cấu tạo gồm 5 thành tố (từ) 36

2.2 Đặc điểm về tổ chức cú pháp của quán ngữ tính thái 37

2.2.1 Kết quả thống kê, phân loại 37

2.2.2 Phân tích kết quả 38

2.2.2.1 Nhóm quán ngữ tình thái có cấu tạo là một cụm chính phụ 38

2.2.2.2 Nhóm quán ngữ tình thái có hình thức kết cấu khuôn 42

2.2.2.3 Nhóm quán ngữ tình thái có hình thức kết cấu cụm chủ - vị …… 42

2.3 Đặc điểm về vị trí phân bố của quán ngữ tính thái trong cấu trúc câu 44

2.3.1 Kết quả thống kê, phân loại 44

2.3.2 Phân tích kết quả 44

2.3.2.1 Nhóm quán ngữ tình thái đứng đầu phát ngôn 45

2.3.2.2 Nhóm quán ngữ tình thái có vị trí cố định ở cuối phát ngôn 46

2.3.2.3 Nhóm quán ngữ tình thái đứng sau chủ ngữ, trước vị ngữ 47

2.3.2.4 Nhóm quán ngữ tình thái có vị trí xen kẽ 48

2.4 Tiểu kết Chương 2 50

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA – CHỨC NĂNG CỦA QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TÁC PHẨM CỦA BA NHÀ VĂN THẠCH LAM, VŨ BẰNG, TÔ HOÀI 51

3.1 Đặc điểm của các quán ngữ tình thái đưa đẩy trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài 52

3.1.1 Kết quả khảo sát, phân loại 52

3.1.2 Phân tích kết quả 53

3.1.2.1 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để đánh giá 53

3.1.2.2 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để phỏng đoán – giả định 55

3.1.2.3 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để phủ định - phản bác 61

3.1.2.4 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để hỏi 64

3.1.2.5 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để tỏ thái độ thừa nhận – chấp thuận 65

3.1.2.6 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để cảnh báo – nhắc nhở 70

Footer Page 6 of 126

Trang 7

vii

3.1.2.7 Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để khơi mào 71

3.2 Đặc điểm của các quán ngữ tình thái rào đón trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài 74

3.2.1 Kết quả khảo sát, phân loại 74

3.2.2 Phân tích kết quả 75

3.2.2.1 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm về lượng 75

3.2.2.2 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm về chất 77

3.2.2.3 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm quan hệ 81

3.2.2.4 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm cách thức 82

3.2.2.5 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến điều kiện và hiệu quả sử dụng hành động ở lời 83

3.2.2.6 Nhóm quán ngữ tình thái rào đón lịch sự 84

3.3 Tiểu kết Chương 3 88

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC………95

Footer Page 7 of 126

Trang 8

và trong hoạt động ngôn ngữ, giới nghiên cứu Việt ngữ học quan tâm nhiều đến vấn đề tính tình thái trong ngôn ngữ Đó cũng là lẽ tất yếu bởi không có một nội dung nhận thức và giao tiếp hiện thực nào lại có thể tách khỏi những nhân tố như mục đích, nhu cầu, thái độ đánh giá… của người nói đối với điều được nói ra xét trong mối quan hệ với hiện thực, với đối tượng giao tiếp và các nhân tố khác của ngữ cảnh giao tiếp

Như đã biết, một trong những mục đích chính của giao tiếp là trao đổi thông tin Độ phức tạp trong việc xử lí thông tin và hiệu ứng mà phát ngôn tác động đến người nghe đòi hỏi người nói có những thao tác xử lí nhất định về mặt ngôn ngữ Việc sử dụng ngữ điệu hay các phương tiện từ vựng không giống nhau giúp người nói thể hiện các thái độ khác nhau đối với nội dung phát ngôn Các thông tin liên nhân được truyền đạt bên cạnh những thông tin ngôn liệu được gọi là thông tin tình thái nhận thức

Đặc trưng chung nhất của tình thái là phản ánh những mối quan hệ khác nhau của nội dung thông tin trong câu với hiện thực và những quan điểm, thái độ của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu xét trong mối

Footer Page 8 of 126

Trang 9

2

quan hệ với người tiếp nhận, với hoàn cảnh giao tiếp Đặc trưng này được thể hiện qua nhiều cách định nghĩa tình thái khác nhau, tuy rằng ở mỗi tác giả có cách thể hiện khái quát hay cụ thể, tường minh hay hàm ẩn

Quan điểm của Benveniste (1966) xem tình thái là “một phạm trù rộng lớn, nó gắn với những chờ đợi, mong muốn, đánh giá, thái độ của người nói đối với nội dung phát ngôn, với người đối thoại, những kiểu mục đích phát ngôn: hỏi, cầu khiến, trần thuật, v v.” W Frawley (1992) quan niệm tình thái

là “liên quan đến các thông tin về trạng thái của sự kiện, phản ánh quan hệ về tính hiện thực, sự đánh giá và độ tin cậy của nội dung một biểu thức” [17, tr

84 – 85]

J Lyons (1977) xem “tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung của mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả”

Theo F Palmer (1986) cho rằng “tình thái là những thông tin ngữ nghĩa

có liên quan đến thái độ hay sự đánh giá của người nói về những gì được nói ra”, sau đó ông viết thêm “tình thái đạo lý lại liên quan đến tính hợp thức về đạo lý của hành động do một người nào đó hay do chính người nói thực hiện”

Trong Việt ngữ, vấn đề tình thái cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Hoàng Tuệ, Phạm Hùng Việt, v v

Chẳng hạn, Hoàng Tuệ đã nhận xét “tình thái là một khái niệm trong sự phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của người nói trong hoạt động phát ngôn tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng, tác động mà người nói muốn tạo

ra ở người nghe trong thực tế hoạt động ngôn ngữ” [24, tr 136]

Cao Xuân Hạo cho rằng tình thái của câu được biểu thị trong cấu trúc

cú pháp cơ bản (mà tác giả gọi là cấu trúc Đề – Thuyết)

Footer Page 9 of 126

Trang 10

3

Như vậy, trong bức tranh nghiên cứu về vấn đề tình thái trong ngôn ngữ thì còn có nhiều nét tương đồng và dị biệt giữa các tác giả

Trong số những đơn vị từ vựng biểu đạt thông tin tình thái nhận thức,

có một loại ngữ cố định chuyên biểu thị ý nghĩa tình thái, thường được gọi là quán ngữ tình thái (QNTT) Loại đơn vị này có những nét đặc thù về cấu tạo, chức năng và ngữ nghĩa Sự tồn tại của các QNTT với ý nghĩa, vai trò của chúng trong cơ chế giao tiếp liên nhân đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu, khảo sát đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa – chức năng của loại đơn vị này trong ngữ

cảnh giao tiếp cụ thể với đề tài: Quán ngữ tình thái trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là chỉ ra những đặc điểm cơ bản về hình thức và ngữ nghĩa – chức năng của QNTT được sử dụng trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài Từ đó, góp phần thấy được nét đặc trưng trong phong cách giao tiếp, nói năng của các nhân vật trong tác phẩm của ba nhà văn này

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên đây, luận văn đặt ra các nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa một số vấn đề về lý thuyết giao tiếp, về tính tình thái trong ngôn ngữ và QNTT với những vấn đề liên quan đến ngữ nghĩa, ngữ dụng của chúng trong ngôn ngữ trong giao tiếp

- Thu thập tư liệu là các QNTT và ngữ cảnh sử dụng chúng trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Footer Page 10 of 126

Trang 11

4

- Phân tích và mô tả đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa – chức năng của các QNTT đã thu thập được nhằm chỉ ra một số đặc trưng của chung trong ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong các tác phẩm

3 Ý nghĩa của đề tài

Về mặt lí luận: luận văn giúp khái quát được những đặc điểm về ngữ

pháp, ngữ nghĩa – chức năng của QNTT trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài Thông qua đó, chúng tôi hi vọng kết quả của luận văn có thể làm phong phú thêm những nghiên cứu về phong cách sáng tác của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Về mặt thực tiễn: quá trình giải quyết những vấn đề cụ thể về QNTT

trong luận văn giúp cho người người Việt giao tiếp với nhau lịch sự và đạt được hiệu quả cao hơn

4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các QNTT được sử dụng trong ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng một số thủ pháp và phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Thủ pháp thống kê, phân loại: để khảo sát, thống kê, phân loại các QNTT trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

- Phương pháp phân tích và mô tả ngôn ngữ học: là phương pháp chủ

đạo được sử dụng trong luận văn để phân tích và mô tả đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa chức năng của các QNTT trong các tác phẩm của ba nhà văn được

lựa chọn

Footer Page 11 of 126

Trang 12

5

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn dự kiến chia làm 3 chương sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận

Trong chương này, dựa trên việc tiếp thu và chọn lọc từ các quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, luận văn đưa ra cách hiểu về khái niệm tình thái, vấn đề quán ngữ và quán ngữ tình thái Đồng thời khái lược lại những đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa chức năng của QNTT Từ đó có sự phân loại khái quát nhất về QNTT

Chương 2 Đặc điểm hình thức của quán ngữ tình thái trong tác phẩm

của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Dựa trên những ngữ liệu cụ thể, Chương 2 triển khai khảo sát thống kê, phân loại các QNTT rồi dùng phương pháp mô tả, phân tích ngôn ngữ học để chỉ ra những đặc điểm về hình thức của QNTT trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Chương 3 Đặc điểm ngữ nghĩa – chức năng của quán ngữ tình thái

trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Trong chương này, luận văn khảo sát, thống kê, phân tích tác dụng, chức năng trong sự hoạt động của QNTT Từ đó rút ra những kết luận khách quan về đặc trưng sử dụng ngôn ngữ và phong cách khi giao tiếp của các nhân vật trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

Footer Page 12 of 126

Trang 13

6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Vấn đề tình thái

1.1.1 Khái niệm tình thái

1.1.1.1 Vấn đề tình thái trong logic học và trong ngôn ngữ học

Tình thái (modality), một vấn đề rất rộng và phức tạp, đã được logic học, ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Logic học đi đầu trong nghiên cứu tình thái Ngay từ thời cổ đại, Aristote đã bàn về mệnh đề tình thái, khi đó tình thái gắn với sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở góc độ phù hợp của phán đoán với thực tế Khi đưa tình thái vào câu nói, với tư cách là thành tố định tính cho mệnh đề, các nhà logic học dựa theo các tiêu chí về tính tất yếu, tính khả năng, tính hiện thực để phân loại phán đoán Lúc này, tình thái chỉ được nghiên cứu ở phương diện logic học

Đến 1932, việc đưa khái niệm tình thái vào ngôn ngữ mới được thể hiện rõ Trong tác phẩm Linguistique générale et linguistique française, Ch Bally đã chủ trương phân biệt trong câu hai yếu tố: nội dung biểu hiện có tính chất cốt lõi về ngữ nghĩa của câu; thái độ của người nói đối với nội dung ấy Trong đó, Ch Bally dùng thuật ngữ dictum để chỉ nội dung cốt lõi của câu và modus hoặc modalité để chỉ thái

độ của người nói, tức tình thái [24, tr 734] Khi bàn về tình thái, nhà ngôn ngữ học

V V Vinogradov cho rằng “tình thái thuộc vào số những phạm trù ngôn ngữ học trung tâm, cơ bản” và tác giả xem tình thái như phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song song với phạm trù vị tính, biểu hiện những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế Tác giả còn cho rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái như dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan hệ đối với hiện thực” Nội dung thông báo,

có thể được người nói hiểu như là hiện thực hay phi hiện thực, là đã tồn tại trong

Footer Page 13 of 126

Trang 14

7

quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ được thực hiện trong tương lai, là điều mà người nói mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó Còn theo cách định nghĩa của O B Xirotinina, tình thái lại nằm trong vị tính của câu Đối lập với các ngôn ngữ biến hình thì “Thời tính, tình thái tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và cùng nhau tạo nên cái gọi là vị tính mà thiếu nó thì không thể có thông báo” (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp (2008) [17, tr 84]) Trong khi đó, tác giả V N Bondarenko thì cho rằng, “tính tình thái là một phạm trù ngôn ngữ chỉ ra đặc điểm của các mối quan

hệ khách quan (tình thái khách quan) được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ

ra mức độ của tính xác thực về nội dung của chính câu đó theo quan niệm của người nói (tình thái chủ quan)” Một quan điểm rất gần với V N Bondarenko là M V Liapon, tác giả xem “tình thái là một phạm trù chức năng ngữ nghĩa thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn đối với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau của điều được thông báo” [24, tr 31]

Ngoài ra, M A K Halliday (1994) cũng có nhiều ý kiến bàn về tính tình thái Một mặt, ông chú trọng vào phạm trù thức (mood), một mặt lại đặt ra yêu cầu về việc cần phải xem xét tính tình thái qua việc sử dụng động từ Với phạm trù trợ động từ (auxiliaries), tác giả hy vọng sẽ giải thích được những gì còn sót lại của tính tình thái mà nếu chỉ dùng riêng khái niệm vị tính thì chưa giải quyết trọn vẹn Thành phần thức gồm hai tiểu thành phần: (i) chủ ngữ (subject) là một cụm danh từ, (ii) tác tử hữu định (finite) là một phần của cụm động từ Thành phần hữu định là một trong số ít những tác tử động từ biểu đạt thì (tense) (ví dụ: is, has) hay tình thái (ví dụ: can, must) [13, tr 156]

Đáng chú ý, J R Searle đã dùng lý thuyết hành động ngôn từ để thảo luận những vấn đề về thức và tình thái J R Searle nêu ra năm phạm trù cơ bản của hành động ở lời như sau: xác quyết, khuyến lệnh, kết ước, tuyên bố và biểu lộ Cách tiếp cận vấn đề của J R Searle đã cung cấp một khung ngữ nghĩa rộng lớn cho việc thảo luận tình thái Bởi với cách tiếp cận này, vai trò của người nói (với tư cách là chủ thể nhận thức, chủ thể tác động trong quan hệ liên nhân) được đặc biệt nhấn mạnh

Footer Page 14 of 126

Trang 15

Và ông xem tình thái là “thái độ của người nói đối với nội dung của mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả”

Những quan niệm về tình thái nêu trên đã cho thấy cách giải quyết ý nghĩa của tính tình thái có nhiều điểm khác nhau giữa các tác giả

1.1.1.2 Vấn đề tình thái trong Việt ngữ học

Hiện nay, trong Việt ngữ học, vấn đề tình thái đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, nhưng chưa có nhiều công trình tập trung nghiên cứu toàn diện về tình thái Tình hình này có lẽ vì những nguyên nhân sau:

- Trong một thời gian rất dài, tình thái được xem thuộc lĩnh vực lời nói (parole) chứ không thuộc ngôn ngữ (langue) theo quan điểm của F D Saussure Vì tuân thủ sự phân biệt giữa parole và langue nên các nhà nghiên cứu ngữ pháp không

đề cập tới nó [24, tr 729]

- Cách hiểu về tình thái trong giới Việt ngữ học còn chưa thống nhất, thậm chí có sự hiểu lầm Cao Xuân Hạo có nhận xét xác đáng như sau: “Hai chữ tình thái nếu có được quan tâm lại thường đi đôi với những định kiến sai lạc Sự hiểu lầm phổ biến nhất là nghĩ rằng tình thái tức là những sắc thái tình cảm, cảm xúc của người nói trong khi phát ngôn” [6, tr 66]

Footer Page 15 of 126

Trang 16

9

Khảo cứu tài liệu, chúng tôi thấy có hai nhóm tác giả đề cập đến vấn đề tình thái, nhóm không trực tiếp quan tâm đến tình thái và nhóm trực tiếp quan tâm đến tình thái Tình hình nghiên cứu lớp này cụ thể như sau:

- Nhóm không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái:

Đây là nhóm các tác giả không trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái nhưng trong quá trình xử lý những vấn đề khác họ đã nhắc đến tình thái Tiêu biểu cho nhóm này là các tác giả: Bùi Đức Tịnh (1952), Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963), Lê Văn Lý (1968), Nguyễn Kim Thản (1977), Đái Xuân Ninh (1978), Lê Cận, Phan Thiều (1983), Đinh Văn Đức (1986), Hoàng Phê (1987), Đỗ Hữu Châu (1993), Lê Biên (1995), Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1998), v v Điểm chung của các nghiên cứu liên quan đến vấn đề tình thái trong nhóm này thể hiện qua các nội dung sau:

+ Vấn đề tình thái không được chính thức nhắc đến trong các nội dung ngữ pháp, ngữ nghĩa của các công trình nghiên cứu Các tác giả không đề cập đến sự đối lập giữa phạm trù ngôn liệu và phạm trù tình thái mà chỉ sắp xếp từ tiếng Việt vào hai lớp từ loại lớn là thực từ và hư từ

+ Khi được xếp vào lớp thực từ hoặc hư từ, những yếu tố tình thái nào được các tác giả này xem là có nghĩa từ vựng thì xếp vào lớp thực từ (như: nỡ, toan, định…), còn những yếu tố còn lại (không có nghĩa từ vựng) thì xếp vào lớp hư từ (như: hả, à, ư, nhỉ…) chứ hoàn toàn không nói đến tư cách tác tử, có vai trò thể hiện

ý nghĩa tình thái trong câu

- Nhóm trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái:

Các tác giả này có chú ý khảo sát vấn đề tình thái ở nhiều phương diện khác nhau, tiêu biểu là các tác giả: Phan Mạnh Hùng (1982), Hoàng Tuệ (1984, 1988), Nguyễn Minh Thuyết (1986, 1995), Nguyễn Đức Dân (1987, 1998), Lê Đông (1991), Hồ Lê (1992), Cao Xuân Hạo (1991, 1999, 2001, 2002), Phạm Hùng Việt (1994, 1996, 2003), Nguyễn Văn Hiệp (1994, 1998, 2001, 2002, 2008), v v Quan

Footer Page 16 of 126

Trang 17

10

điểm chung của các tác giả này đều phân biệt rạch ròi hai phạm trù: ngôn liệu và tình thái Tuy nhiên, khi đi vào từng vấn đề cụ thể, ở mỗi tác giả có những kiến giải khác nhau, nhiều khi chưa sáng tỏ Dù rằng có những hạn chế nhất định, nhưng những kết quả của những công trình này mang lại là rất lớn, giúp giới Việt ngữ học

có thái độ quan tâm đến vấn đề tình thái Trong đó, đáng chú ý nhất là các tác giả sau đây:

+ Nguyễn Đức Dân (1976) đã bàn đến vấn đề logic – tình thái trong tiếng Việt Sau này (1998) ông đã nêu lên những khái niệm căn bản về tình thái trong logic học Tác giả cho thấy mối quan hệ giữa logic tình thái và ngôn ngữ, trong đó tính tất yếu và tính có thể được coi là nền tảng của vấn đề tình thái trong ngôn ngữ

+ Từ năm 1979, Cao Xuân Hạo đã có bài đi sâu miêu tả, phân tích những phương tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái qua việc phân tích tiền giả định và hàm ý của một số vị từ tình thái Ông còn phân biệt rõ tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Từ đó, ông cho rằng: “Nội dung của bất kỳ một lời phát ngôn nào cũng chứa đựng một tình thái (nếu không phải là kết hợp nhiều lớp tình thái)” [16, tr 51]

+ Hoàng Tuệ (1988) cho người đọc thấy được những nét khái quát về tình thái khi bàn về thời, thể, tình thái trong tiếng Việt và khái niệm tình thái Trong đó, ông có phân biệt rõ hai yếu tố khác nhau trong câu tiếng Việt đó là ngôn liệu (dictum) và tình thái (modus)

+ Đỗ Hữu Châu (1993) cho rằng phạm trù tình thái truyền đạt quan hệ giữa nhận thức của người nói với nội dung của câu và quan hệ của nội dung này với thực

tế ngoài ngôn ngữ Nội dung câu nói có thể được khẳng định, được phủ định, được yêu cầu hay bị cấm đoán, được cầu mong hay đề nghị, v v

+ Nguyễn Văn Hiệp (2008) đã cho thấy sự đối lập giữa phạm trù tình thái và phạm trù ngôn liệu Tác giả viết: “Đối lập cơ bản nhất để hiểu tình thái là đối lập giữa tình thái và ngôn liệu hay nội dung mệnh đề Đây là một sự đối lập được thừa

Footer Page 17 of 126

Trang 18

11

nhận rộng rãi, được coi là then chốt trong những nghiên cứu về tình thái Ngôn liệu thực chất là thông tin miêu tả ở dạng tiềm năng, còn tình thái là phần định tính cho thông tin miêu tả ấy” [17, tr 85 - 86]

Điểm qua một số quan điểm về tình thái của một số tác giả tiêu biểu, chúng tôi nhận thấy rằng càng tìm hiểu chi tiết về tình thái thì càng thấy rõ tính phức tạp, gắn với những quan niệm, cách hiểu khác nhau Mặc dù, cách diễn đạt của các tác giả là khác nhau nhưng ở họ đều có điểm chung: thừa nhận tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa – chức năng phản ánh mối quan hệ, thái độ, cách đánh giá của người nói đối với nội dung của phần còn lại trong câu

Chắt lọc, khái quát từ những quan điểm nêu trên, chúng tôi hiểu về tình thái

như sau: Tình thái là một phạm trù thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói

đối với nội dung giao tiếp, với người đối thoại hoặc giữa nội dung giao tiếp với mục đích giao tiếp, với các nhân tố khác có liên quan đến sự tình được nêu ra Nó là một trong hai thành phần trọng yếu tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của câu, góp phần thực tại hoá câu, gắn câu với điều kiện giao tiếp hiện thực

1.1.2 Các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ

Cùng với sự phong phú của các ý nghĩa tình thái, các phương tiện biểu hiện tình thái trong ngôn ngữ tự nhiên rất đa dạng Xét về đại thể, có thể chia làm ba

nhóm cơ bản: các phương tiện ngôn điệu, các phương tiện ngữ pháp và các phương

tiện từ vựng Ở những ngôn ngữ có biến đổi hình thái, thức và các hình thái khác

của động từ (như thời, thể) đóng một vai trò quan trọng trong việc biểu hiện tình thái Dĩ nhiên, những ngôn ngữ này cũng huy động các phương tiện khác như ngữ điệu, các phương tiện từ vựng, hoặc phối hợp đồng thời nhiều kiểu phương tiện đó

Trong tiếng Việt, một ngôn ngữ không biến đổi hình thái, ngoài ngữ âm (dùng ngữ điệu để thể hiện thái độ, tình cảm hoặc để nhấn mạnh vào điểm mà người nói cho là cần chú ý) thì các phương tiện từ vựng đóng một vai trò rất quan trọng,

có thể kể ra các nhóm chính:

Footer Page 18 of 126

Trang 19

12

- Các phó từ làm thành phần phụ của vị từ: sẽ, đang, từng, vừa, mới,…

- Các vị từ tình thái làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan, định, muốn, cố,

đành, được, bị,…

- Các động từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: Tôi e

rằng, tôi nghĩ rằng, tôi sợ rằng,

- Các động từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện về

ngôi, về chỉ tố thời,…) như: ra lệnh, van, xin, đề nghị, yêu cầu,…

- Các thán từ: ôi, chao ôi, ồ, eo ôi,…

- Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp tương đương: à, ư, nhỉ, nhé, thôi,

chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết,…

- Các trợ từ tình thái: đến, những, mỗi, nào, ngay, cả, chính, đích thị, mới,

đã, chỉ,…

- Các kiểu câu điều kiện, giả định: nếu…thì…, giá…thì…, cứ….thì…

Đặc biệt trong đó cũng có các tổ hợp từ kiểu như: nói gì thì nói, nói của đáng

tội, nói khí không phải, nói bỏ ngoài tai,… mà ta thường thấy xuất hiện trong giao

tiếp Đó là những tổ hợp từ, những lối nói đã tạo thành những đơn vị, khối hay khuôn cấu trúc tướng đối ổn định được người nói dùng như một công cụ chức năng của những tác tử tình thái tác động vào nội dung mệnh đề theo một kiểu nào đó Và

chúng tôi tạm gọi những tổ hợp từ trên là quán ngữ tình thái (QNTT) – đối tượng

nghiên cứu của luận văn trên ngữ liệu là ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài

1.2 Quán ngữ tình thái tiếng Việt

1.2.1 Vài nét về quán ngữ tiếng Việt

Quán ngữ (QN) là đơn vị ngôn ngữ thuộc phạm vi quan tâm trước hết của các nhà nghiên cứu từ vựng Chính vì thế mà đơn vị này thường được thấy trong công trình nghiên cứu về từ vựng hơn là trong các sách ngữ pháp Bản thân thuật

Footer Page 19 of 126

Ngày đăng: 12/05/2017, 21:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm