Điều này được thể hiện qua Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về “Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng” hay trong Nghị quyết số 26 NQ/TƯ cũng nêu rõ: “Có chính
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
CHẤM LUẬN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin và số liệu sử dụng trong luận văn đƣợc trích dẫn từ các nguồn tài liệu đầy
đủ Kết quả phân tích trong luận văn này là trung thực Luận văn không trùng với bất kì đề tài nghiên cứu khoa học nào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Đỗ Kim Chung người đã hết sức tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và định hướng cho tôi chọn đề tài nghiên cứu, cơ sở lý luận cũng như khảo sát thực tế trong quá trình thực hiện viết luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo tại Khoa Kinh tế chính trị - Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN đã dạy dỗ tôi, cung cấp cho tôi những kiến thức trong suốt quá trình học tập để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp tại Công ty Cổ phần Traphaco, Lãnh đạo và nhân dân hai huyện Văn Lâm - Hưng Yên, Hải Hậu - Nam Định đã cho tôi nhiều lời khuyên quý báu, đã cung cấp cho tôi những tài liệu, thông tin, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu, tham khảo các tài liệu phục vụ cho bản luận văn cũng như đã giúp đỡ và giành thời gian trả lời phỏng vấn, khảo sát để tôi
có số liệu cho việc phân tích luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với gia đình tôi, đã động viên, khuyến khích, tạo điều kiện tốt nhất về thời gian, vật chất và tinh thần để tôi có thể hoàn thành tốt bài luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Quân
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.2 Cơ sở lý luận về liên kết trong phát triển cây dược liệu 16
1.2.1 Một số khái niệm về liên kết 16
1.2.2 Tính tất yếu của liên kết 19
1.2.3 Đặc trưng của liên kết 20
1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản của liên kết 21
1.2.5 Các hình thức, phương thức và mô hình liên kết 23
1.2.6 Các nội dung liên kết 30
1.2.7 Tác động của liên kết 33
1.2.8 Nhu cầu liên kết 35
1.3 Cơ sở thực tiễn 35
1.3.1 Liên kết trong sản xuất - kinh doanh cây dược liệu trên thế giới 35
1.3.2 Liên kết trong sản xuất - kinh doanh cây dược liệu tại Việt Nam 37
1.3.3 Bài học rút ra từ thực tiễn liên kết trong sản xuất - kinh doanh cây dược liệu trên thế giới và tại Việt Nam 38
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 2.1 Qui trinh thực hiện nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2 Phương pháp thu thập thông tin Error! Bookmark not defined 2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp Error! Bookmark not defined 2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp Error! Bookmark not defined 2.3 Phương pháp xử lý số liệu Error! Bookmark not defined 2.3.1 Phương pháp thống kê kinh tế Error! Bookmark not defined 2.3.2 Phương pháp phân tích lợi ích, chi phí Error! Bookmark not defined
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT TRONG PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC
LIỆU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRAPHACO Error! Bookmark not defined
3.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần TRAPHACOError! Bookmark not defined
3.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển Error! Bookmark not defined
3.1.2 Mục tiêu và tầm nhìn Error! Bookmark not defined
3.1.3 Chức năng, nhiệm vụ Error! Bookmark not defined
3.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy Error! Bookmark not defined
3.1.5 Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhError! Bookmark not defined
3.1.6 Chiến lược Con đường sức khỏe xanh Error! Bookmark not defined
3.2 Thực trạng liên kết trong phát triển dược liệu Cúc hoa vàng và dược liệu
Đinh lăng cung cấp cho công ty Traphaco tại Hưng Yên và Nam ĐịnhError! Bookmark not defined
3.2.1 Chuỗi liên kết trong phát triển chuỗi dược liệu Cúc hoa vàng và Đinh lăngError! Bookmark not defined 3.2.2 Kết quả sản xuất Error! Bookmark not defined
3.2.3 Thực trạng trong cung ứng đầu vào Error! Bookmark not defined
3.3.3 Chuyển giao khoa học kỹ thuật Error! Bookmark not defined
3.3.4 Thực trạng trong tiêu thụ sản phẩm đầu ra Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP THÚC ĐẨY LIÊN KẾT TRONG PHÁT
TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU CHO CÔNG TY CỔ PHẦN TRAPHACO Error!
Bookmark not defined
4.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế về liên kết phát triển dược liệuError! Bookmark not defined
4.1.1 Bối cảnh quốc tế Error! Bookmark not defined
4.1.2 Bối cảnh trong nước Error! Bookmark not defined
4.2 Quan điểm và định hướng về liên kết phát triển dược liệuError! Bookmark not defined
4.2.1 Quan điểm Error! Bookmark not defined
4.2.2 Định hướng Error! Bookmark not defined
4.3 Một số giải pháp chung nhằm thúc đẩy liên kết trong phát triển cây dược
liệu cho công ty cổ phần traphaco Error! Bookmark not defined
4.3.1 Hoàn thiện các quy tắc ràng buộc phù hợp với từng trường hợp liên kết
trong phát triển cây dược liệu tại Công ty Error! Bookmark not defined
Trang 74.3.2 Nâng cao hiệu quả công tác quản trị thực hiện hợp đồng trong phát
triển cây dƣợc liệu tại Công ty Error! Bookmark not defined
4.3.3 Nhóm giải pháp mang tính chiến lƣợc Error! Bookmark not defined
4.4 Nhóm giải pháp cụ thể đối với các vùng trồng dƣợc liệu của công ty
Traphaco Error! Bookmark not defined
4.4.1 Đối với dƣợc liệu Đinh Lăng tại Hải Hậu, Nam ĐịnhError! Bookmark not defined 4.4.2 Đối với dƣợc liệu Cúc hoa vàng tại Văn Lâm, Hƣng YênError! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 EU Liên minh Châu Âu
2 GACP - WHO Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc
theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới
3 PTNT Phát triển nông thôn
Trang 92 Bảng
2.2 Số lƣợng đối tƣợng tham gia phỏng vấn PRA
Error! Bookmark not defined
3 Bảng
3.1 Thực trạng sản xuất dƣợc liệu Cúc hoa tại thôn Nghĩa Trai
Error! Bookmark not defined
Trang 107 Bảng
3.5 Giá bán dƣợc liệu Cúc hoa qua các năm
Error! Bookmark not defined
8 Bảng
3.6 Giá bán dƣợc liệu Đinh lăng qua các năm
Error! Bookmark not defined
Trang 112 Sơ đồ
3.2 Sơ đồ liên kết trong sản xuất dƣợc liệu Đinh lăng
Error! Bookmark not defined.
3 Sơ đồ
4.1 Mô hình liên kết và quản lý chất lƣợng dƣợc liệu 74
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Đảng, Chính phủ và Nhà nước rất chú trọng đến việc tăng cường liên kết trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Điều này được thể hiện qua Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về “Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng” hay trong Nghị quyết số 26 NQ/TƯ cũng nêu rõ: “Có chính sách khuyến khích phát triển các mối liên kết giữa hộ nông dân với các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khoa học, hiệp hội ngành hàng và thị trường tiêu thụ sản phẩm để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng gia trại, trang trại có quy mô phù hợp, sản xuất hàng hoá lớn”…
Tuy nhiên, thực tiễn quá trình triển khai mặc dù có những thành công nhưng cũng có nhiều hạn chế tồn tại Tỷ lệ nông sản tiêu thụ qua hợp đồng còn thấp, chưa
tương xứng với tiềm năng (Minh Hoài, 2006); chưa có liết kết thực sự giữa nhà
nông, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học mà chỉ là các liên kết đôi, trong đó vai trò
của nhà khoa học còn mờ nhạt (Phạm Thu Hồng, 2009); chưa thống nhất được lợi
ích giữa các bên tham gia liên kết dẫn đến tình trạng không tuân thủ hợp đồng của
cả người sản xuất và doanh nghiệp (Lê Xuân Đình, 2009)…
Dược liệu là một loại “nông sản” đặc biệt với những đặc thù riêng phục vụ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Hiện nay, nhu cầu của thị trường dược liệu và thuốc có nguồn gốc từ dược liệu, có xu hướng ngày càng tăng Chỉ tính riêng các loại thuốc có nguồn gốc từ dược liệu của tất cả các hãng dược phẩm, đã có doanh số bán ra đạt khoảng 30% tổng doanh số bán thuốc ở các quốc gia Bên cạnh đó, các sản phẩm cũng có nguồn gốc từ thảo dược, như “thực phẩm chức năng”, “chất bổ sung dinh dưỡng” hoặc “thuốc thay thế hoặc bổ sung”… đang phát triển với một tốc độ đáng kinh ngạc Sự bùng nổ này được các chuyên gia đánh giá là một “xu thế dinh dưỡng” của thế kỷ 2 Đối với các loại mỹ phẩm sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên thay thế nguyên liệu tổng hợp, hiện cũng đã chiếm tới 90% trong tổng số các loại mỹ phẩm được sản xuất ra, cùng với mức độ tăng trưởng cao tới 11,7% /năm
Việt Nam là nước được thiên nhiên ưu đãi có nguồn dược liệu phong phú
Trang 13đứng thứ 4 thế giới Những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam là nước xuất khẩu dược liệu và thu được nhiều ngoại tệ nhưng giờ đây đến 90% dược liệu sử dụng
trong nước phải phụ thuộc vào nhập khẩu (Bộ Y tế, 2007) Một trong những nguyên
nhân đó là liên kết trong sản xuất cây dược liệu còn lỏng lẻo dẫn đến sự thiếu bền vững của các chuỗi giá trị ngành hàng cây dược liệu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm Đông Nam Á, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật hết sức phong phú và đa dạng, trong đó có hàng ngàn loài có công dụng làm thuốc Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu, tính đến năm 2005 đã ghi nhận được ở nước ta từ 3.948 loài thực vật và nấm lớn được
dùng làm thuốc (Nguyễn Tập, 2007) đến 4.745 loài (Võ Văn Chi, 2012)
Trong nguồn cây thuốc đã biết ở Việt Nam hiện nay, có tới trên 85% tổng số loài là những cây mọc tự nhiên; số còn lại là cây thuốc trồng (trồng để làm thuốc và thuộc nhóm cây trồng khác nhưng có bộ phận được dùng làm thuốc) Nguyên bản, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam không chỉ phong phú về thành phần loài
mà còn phong phú về trữ lượng và số lượng các loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao Bên cạnh đó, với tiềm năng đất đai và các vùng tiểu khí hậu đa dạng, nước ta
còn có thể trồng được nhiều loại cây thuốc có xuất xứ khác nhau (Nguyễn Tập,
2007) Khẳng định rằng, trong nhiều thập kỷ qua, từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên
và cây thuốc trồng, đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp thuốc chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho toàn dân và dược liệu được xuất khẩu
Trong thời kỳ bao cấp trước kia, toàn bộ các khâu tổ chức khai thác, trồng trọt cây thuốc, thu mua và lưu thông phân phối dược liệu…đều do các doanh nghiệp Dược nhà nước và hợp tác xã nông nghiệp đảm nhiệm Cách làm này, bị gò bó trong một khuôn mẫu tập trung, kìm hãm năng lực sản xuất, song dưới góc độ quản
lý nhà nước và quản lý tài nguyên, thì lại có những ưu điểm nhất định Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang cơ chế thị trường, công tác dược liệu không còn là nhiệm vụ riêng của ngành Y tế, mà do nhiều thành phần kinh tế khác tham gia Ưu điểm nổi bật của cơ chế hiện hành là sự năng động, luôn tìm cách đáp ứng thỏa mãn giữa cung và cầu
Trang 14Tuy nhiên, do khai thác liên tục nhiều năm, ít chú ý bảo vệ tái sinh, cùng với nhiều nguyên nhân khác và công tác quản lý tài nguyên không đồng bộ, đã làm cho nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam bị giảm sút nghiêm trọng Hầu hết các loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao đang mất nhanh khả năng khai thác lớn, hay đã trở nên hiếm gặp Một số loài cây thuốc được coi là quý hiếm đều đang đứng trước
nguy cơ bị tuyệt chủng (Nguyễn Tập, 2009) Đối với cây thuốc trồng, hiện cũng
đang vấp phải nhiều khó khăn, bất cập Nổi cộm lên đó là sự tràn ngập các loại dược liệu nhập khẩu giá rẻ, đã triệt tiêu từng phần việc phát triển trồng cây thuốc ở
trong nước, dẫn đến nguy cơ tái phụ thuộc vào dược liệu từ Trung Quốc (Vụ KH &
Đào tạo Bộ Y tế, 2009) (Nguyễn Tập, et al., 2009) Bảo tồn đi đôi với khai thác hợp
lý nguồn cây thuốc mọc tự nhiên và phát triển trồng cây thuốc ở nước ta, hiện đang
là vấn đề cần được quan tâm
Để thực hiện được định hướng trên, bên cạnh sự chỉ đạo của Nhà nước và của
Bộ chủ quản, nhiều Doanh nghiệp Dược trong nước đã chủ động, xây dựng được các vùng trồng - vùng cung cấp dược liệu ổn định cho sản xuất Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập và nâng cao chất lượng dược liệu, việc khai thác và trồng trọt cây thuốc hiện nay, cần tiếp cận với các tiêu chí Quốc gia và Quốc tế (VietGAP; GACP-WHO, Organic, FairWild)
Công ty CP Traphaco là công ty dược hàng đầu trong nước về phát triển dược liệu và thuốc từ dược liệu với lượng dược liệu công ty sử dụng hàng năm trên
bảy nghìn tấn trong đó 90% là dược liệu trong nước (Traphaco, Báo cáo thường
niên, 2015) Hiện nay, có rất nhiều vùng trồng dược liệu trong cả nước cung cấp
dược liệu cho công ty như huyện Sa Pa, huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), huyện Văn Lâm (tỉnh Hưng Yên); huyện Nghĩa Hưng, huyện Hải Hậu, huyện Giao Thủy (tỉnh Nam Định); huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh)… Để đảm bảo hiệu quả chữa bệnh của sản phẩm thuốc cũng như đảm bảo quá trình sản xuất, kinh doanh, việc ổn định các vùng trồng dược liệu cung cấp đầu vào của công ty chiếm vị trí quan trọng hàng đầu
Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định là 2
Trang 15huyện đồng bằng Sông Hồng cung cấp nguồn dược liệu lớn cho công ty Traphaco Huyện Văn Lâm là địa phương có truyền thống trồng cây thuốc hàng trăm năm và
là nơi cung cấp chủ yếu dược liệu Cúc hoa cho công ty Huyện Hải Hậu mới triển khai phát triển cây dược liệu trong khoảng hai mươi năm trở lại đây và là nơi cung cấp số lượng lớn dược liệu Đinh lăng
Để góp phần ổn định nguồn dược liệu Cúc hoa và Đinh lăng đầu vào cho công
ty tại huyện Văn Lâm và huyện Hải Hậu, việc nghiên cứu, đánh giá, so sánh các liên kết trong chuỗi giá trị cây Cúc hoa và cây Đinh lăng tại hai huyện Văn Lâm và Hải Hậu từ đó đưa ra một số giải pháp tăng cường liên kết là cần thiết Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Liên kết trong phát triển cây dược liệu cho công ty cp Traphaco: trường hợp nghiên cứu tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định”
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn: Đâu là giải pháp giúp hoàn thiện liên kết
trong phát triển cây dược liệu cho công ty Cổ phần Traphaco trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực trạng liên kết trong phát triển cây dược liệu cho Công ty cổ phần TRAPHACO đối với sản phẩm dược liệu Cúc hoa vàng trên địa bàn thôn Nghĩa Trai, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và dược liệu Đinh lăng trên địa bàn tổ 9, xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Qua đó đề xuất một số giải pháp giúp thúc đẩy nhanh và bền vững mối liên kết trong phát triển cây dược liệu giữa các nông hộ và Công ty cổ phần TRAPHACO, từng bước nâng cao đời sống người dân, phát triển ngành nông nghiệp trong nước, đặc biệt trong ngành dược liệu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn thực hiện các nhiệm vụ chính sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về liên kết trong sản xuất nông nghiệp, trong đó đặc
Trang 16biệt tập trung vào hai loại dược liệu chính là Cúc hoa vàng và cây Đinh lăng
- Phân tích thực trạng liên kết trong phát triển cây dược liệu cho công ty cổ phần TRAPHACO đối với phát triển cây dược liệu Cúc hoa vàng và cây Đinh lăng trên địa bàn huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Những thành tựu đạt được trong liên kết và những tồn tại khó khăn, nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy liên kết trong phát triển cây dược liệu giữa công ty và các nông hộ trên địa bàn hai huyện, từ đó giúp nâng cao hiệu quả liên kết, phát triển kinh tế, đời sống người dân ngày càng được cải thiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập trung vào các chủ thể tham gia
liên kết trong phát triển cây dược liệu bao gồm Công ty cổ phần TRAPHACO và các hộ dân thuộc hai huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định, trong đó chủ thể quản lý là công ty cổ phần Traphaco Ngoài ra, luận văn cũng tập trung đánh giá mức độ liên kết nhằm đề xuất những giải pháp tăng cường liên kết trong thời gian tới
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Số liệu được thu thập trong vòng 3 năm từ năm 2011 - 2015
- Về không gian: Nghiên cứu về liên kết trong phát triển cây dược liệu cho Công ty cổ phần TRAPHACO được tác giả lựa chọn là hai cây dược liệu chủ yếu của TRAPHACO hiện nay là Cúc hoa vàng và Đinh lăng Trong đó, cây dược liệu Cúc hoa vàng hiện đang được trồng chủ yếu trên địa bàn làng Nghĩa Trai, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và dược liệu Đinh Lăng trên địa bàn tổ 9,
xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
3.2.1 Dược liệu Cúc hoa vàng tại Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Dược liệu Cúc hoa vàng được phân bố, tập trung chủ yếu tại thôn Nghĩa Trai, xã Tân Quang (Văn Lâm) Hoa Cúc có thể được sử dụng trực tiếp như trà thảo dược hoặc trở thành một vị trong các bài thuốc nam, thuốc bắc Hoa Cúc có vị đắng, hơi ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, có thể sử dụng để chữa các bệnh hoa
Trang 17mắt, chóng mặt, đau đầu, cao huyết áp…
Thu hoạch và chăm sóc Cúc hoa vàng
Huyện Văn Lâm có khoảng 20 ha trồng Cúc hoa vàng; trong đó tập chung chủ yếu tại thôn Nghĩa Trai, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm (8 - 10 ha) chiếm khoảng 50% diện tích và sản lượng (8 - 10 tấn dược liệu/năm)
Cúc hoa vàng là một dược liệu được sử dụng với sản lượng lớn bởi công ty
CP Traphaco (5 - 6 tấn dược liệu/năm) trong sản phẩm Sáng mắt với doanh thu 20 -
30 tỷ/năm Công ty cũng đã xây dựng nhà máy công nghệ cao Traphaco trên địa bàn huyện để thu mua và sản xuất các sản phẩm đông dược
3.2.2 Dược liệu Đinh Lăng tại Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Cây dược liệu Đinh lăng đã được trồng rất nhiều năm trên đồng đất của huyện Hải Hậu và trong mười năm gần đây diện tích trồng đinh lăng ngày càng được mở rộng Trước năm 2013, tổng diện tích trồng Đinh lăng toàn huyện có khoảng 36,12 ha và duy trì ổn định với quy mô điện tích này Từ năm 2013 đến nay, Công ty cổ phần Traphaco đã đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm, do đó diện tích không ngừng tăng lên Đến năm 2015, tổng diện tích trồng Đinh lăng tại các xã Hải Ninh, Hải Quang, Hải Châu, Hải Giang, Hải Lộc, Hải Đông, Hải Hà lên đến 46,30 ha
Trang 18Thu hoạch và chăm sóc Đinh lăng
Xóm 9, xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu là địa phương có diện tích và sản lượng Đinh lăng lớn nhất toàn huyện (với diện tích năm 2015 lên tới 16ha) và cung cấp sản lượng lên tới 160 tấn dược liệu/năm
Công ty Traphaco với các sản phẩm Hoạt huyết dưỡng não và Cebraton mỗi năm tiêu thụ từ 800 - 1000 tấn dược liệu Đinh lăng Công ty đã tập trung phát triển vùng dược liệu tại huyện Hải Hậu và huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định Trong đó xóm 9, xã Hải Toàn là đơn vị điển hình trong phát triển dược liệu Đinh lăng cung
ứng cho công ty
3.2 Phạm vi nghiên cứu
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng liên kết trong phát triển cây dược liệu cho Công ty cổ
phần Traphaco tại huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu tỉnh Nam
Định
Chương 4 Một số giải pháp giúp thúc đẩy liên kết trong phát triển cây dược
liệu cho Công ty cổ phần Traphaco
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, vấn đề liên kết sản xuất - kinh doanh dược liệu giữa doanh nghiệp, Nhà khoa học, Nhà nông và Nhà nước vẫn là vấn đề bức xúc, nhất là khi quá trình hội nhập kinh tế đòi hỏi phải tổ chức lại cơ bản nền sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu để đồng thời thỏa mãn yêu cầu về số lượng và chất lượng của người tiêu dùng Ngoài ra, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở các vùng nông thôn ven các thành phố lại đặt cho ngành dược liệu ven đô nhiều thách thức lớn Từ đó, hình thành nhu cầu phát triển dược liệu với những đặc thù riêng biệt, khác với các vùng nông nghiệp truyền thống, phát triển dược liệu không chỉ thỏa mãn nhu cầu chữa bệnh, thực phẩm chức năng mà còn là nhu cầu làm đẹp, chăm sóc sức khỏe từ những sản phẩm chế biến từ dược liệu thiên nhiên ở trong nước của mọi tầng lớp người dân
Nông dân ngày nay, đặc biệt là nông dân các vùng có tiềm năng lợi thế về phát triển dược liệu không phải chỉ sản xuất dược liệu phục vụ tiêu dùng của hộ mà chủ yếu là hàng hóa Đặc điểm sản xuất hàng hóa nảy sinh một số yêu cầu lớn:
- Sản xuất hàng hóa đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao hơn để giảm chi phí sản xuất, do vậy họ bắt buộc phải có các liên kết với các tổ chức cung cấp dịch vụ đầu vào cũng như đầu ra trong sản xuất (các tổ chức cung cấp vốn; các đơn vị cung ứng vật tư sản xuất; các đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng chỉ dẫn địa lý, xuất xứ hàng hóa cho sản phẩm và kiểm soát chất lượng dược liệu; các hệ thống kho chứa điều tiết hàng hóa, các đơn vị vận chuyển, giao hàng ) đặc biệt là các tổ chức giúp giải quyết các mối quan hệ với bên ngoài như tiếp xúc với thị trường, tiếp thị, quảng bá… Tổ chức nông dân sẽ giúp các hộ dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn vay
- Nhu cầu về sử dụng các sản phẩm được chế biến từ dược liệu tự nhiên của người dân ở trong nước và phục vụ xuất khẩu đang là vấn đề cấp bách, “cung không
đủ cầu” đây chính là thị trường tiêu thụ rộng lớn và đều đặn trong tương lai Tuy nhiên, để tiếp cận được thị trường này, người dân phải liên kết với các doanh
Trang 20nghiệp, các nhà khoa học và Nhà nước để nâng cao chất lượng dược liệu nhằm và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Trên thế giới, cụ thể là ở hầu hết các nước đang phát triển, 70-95% dân số sử dụng thuốc cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, đặc biệt là các quốc gia Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh và Trung Đông Ở nhiều nước phát triển như Canada, Pháp, Đức, Ý, sử dụng thuốc cổ truyền cũng tăng đáng kể, 70-90% dân số
sử dụng các sản phẩm thảo dược dưới các tiêu đề “thực phẩm bổ sung”, “sản phẩm thay thế” hay “sản phẩm không thông thường” Điều này dẫn đến các đơn vị quản
lý, sản xuất - kinh doanh phải tăng cường các hoạt động nghiên cứu, kiểm soát, kinh doanh, tiếp thị các sản phẩm thuốc y học cổ truyền ở cấp quốc tế WHO đã công bố nhiều văn bản về nhận thức vai trò của thuốc YHCT và phát triển thuốc từ thảo dược như:
+ WHO và UNICEF đã thông qua Tuyên bố Alma-Ata năm 1978;
+ Đã đưa ra bản hướng dẫn thực hành thu hái và trồng trọt cây thuốc tốt (GACP) năm 2003;
+ Đã thông qua bản “Chiến lược toàn cầu và kế hoạch hành động vì sức khoẻ cộng đồng, phát minh và sở hữu trí tuệ” (24/05/2008);
+ Đã đưa ra Tuyên bố Bắc Kinh (08/11/2008);
+ Đã mở nhiều hội thảo về Thuốc dân tộc (2009)
Rõ ràng, chính sách phát triển thuốc Y học cổ truyền của WHO, trong đó có dược liệu, đòi hỏi sự tham gia đầy đủ của nhiều ban ngành, đơn vị từ Nhà quản lý đến người dân, từ Nhà khoa học đến Doanh nghiệp WHO không đưa ra mô hình nhất định để phát triển dược liệu ở các quốc gia khác nhau Tuy nhiên, một số văn phòng của WHO tại địa phương ở Châu Phi, Trung Đông và Đông Nam Á cũng đã đưa ra các hướng dẫn phù hợp với địa phương về qui định, đăng ký thuốc cổ truyền cũng như các đề xuất về tiêu chuẩn tiếp thị (WHO, 2011)
Tại Châu Á, có những mô hình phát triển các sản phẩm trong đó Nhà nước là người đóng vai trò chủ chốt Kinh nghiệm của các nước lân cận như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc cho thấy việc xây dựng chiến lược quy hoạch phát triển dược
Trang 21liệu tại các vùng có tiềm năng lợi thế trên vùng lãnh thổ được triển khai mạnh mẽ Việc này được triển khai cụ thể từ khâu tuyên truyền, quảng bá đến đầu tư về khoa học - kỹ thuật và tài chính cho phát triển Vấn đề này được thực hiện đồng bộ giữa các cấp các ngành ở các địa phương, nhất là trong việc phối hợp xây dựng các phương án phát triển mang tính đặc thù của mỗi địa phương dựa trên chiến lược, quy hoạch tổng thể chung của vùng lãnh thổ (WHO, 2011) Do vậy, việc xây dựng
mô hình liên kết phát triển phù hợp với từng địa phương, từng vùng của mỗi quốc gia là vấn đề được các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam được quan tâm và nghiên cứu
Tại Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát triển dược liệu đối với công tác chăm sóc sức khỏe và chữa trị bệnh tật cũng như phát triển kinh tế đất nước, ngay từ thời kỳ chiến tranh, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về phát triển dược liệu
Trước yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước ngày nay, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng của nguồn nguyên liệu làm thuốc ở Việt Nam, Trong giai đoạn từ 2000 đến nay, Nhà nước nhận thấy rõ vai trò của y dược học cổ truyền và công tác phát triển dược liệu đối với phát triển kinh tế
Từ đó, Nhà nước và các Bộ ngành đã đưa ra các Nghị quyết, quyết định chú trọng đến công tác dược liệu như: Quyết định 108/2002/QĐ-TTg về phê duyệt chiến lược phát triển ngành Dược giai đoạn đến năm 2010, Quyết định 222/2003/QĐ-TTg về phê duyệt chính sách quốc gia về Y dược học cổ truyền, Quyết định 765/2005/QĐ-BYT về phê duyệt kế hoạch thực hiện chính sách quốc gia về Y dược học cổ truyền; Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm
2020
Tuy nhiên, thực tế việc hợp tác, liên kết giữa nghiên cứu còn rời rạc, phát triển, sản xuất, thị trường tiêu thụ dược liệu, thiếu tổ chức Mặt khác, những kết quả đạt được trong khảo sát, nghiên cứu về dược liệu của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương trong những năm qua còn khiêm tốn, các giải pháp đưa ra
Trang 22chưa phù hợp với thực tế dẫn tới khi tiến hành ứng dụng, dụng triển khai trong thực
tế chưa đem lại hiệu quả, còn nhiều thiếu sót hạn chế Gần đây, để khắc phục những tồn tại này, trong công trình nghiên cứu của (Trần Ngọc Ca, cùng các cộng sự, 2013) thuộc Hội đồng Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia với đề tài “phân tích và đề xuất một số giải pháp chính sách về liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) trong phát triển dược liệu ở Việt Nam” đã đề cập cụ thể hơn về cơ chế, chính sách dành cho “các nhà” khi tham gia liên kết, trong
đó nhấn mạnh việc Nhà nước phải đứng vai trò chủ đạo trong liên kết này, đồng thời đưa ra các chính sách cho “các nhà” phù hợp với thực tế ở từng địa phương
Tiếp theo, ngày 30/10/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 1976/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”
Mặc dù các chính phủ của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã có nhiều chủ trương trong việc phát triển dược liệu, nhưng trong những năm qua những công trình nghiên cứu về chủ đề này trên thế giới và Việt Nam cũng còn ít, chưa được quan tâm nghiên cứu một cách bài bản và có hệ thống Tuy nhiên, có thể thấy trong những năm qua, đã có một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về chủ đề này như:
Nghiên cứu của Chengzi (2013), Tăng cường mối quan hệ nông dân và doanh nghiệp trong phát triển dược liệu ở Trung Quốc hiện nay, Tạp chí cây thuốc
số 121 Tác giả đã chỉ ra được tiềm năng, lợi thế của Trung Quốc trong phát triển dược liệu ở tất cả các vùng trên đất nước, đặc biệt là nếu tăng cường sự liên kết chặt chẽ giữa các bên tham gia thì tiềm năng dược liệu của Trung Quốc có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu chính đứng sau các sản phẩm rau, quả trong hệ thống các sản phẩm nông nghiệp chủ đạo Bên cạnh đó, tác giả cũng đã khái quát thực trạng phát triển dược liệu tại Trung Quốc từ những năm 80 của thế kỷ 20 cho đến nay và mối quan hệ hợp tác giữa người nông dân với doanh nghiệp trong phát triển dược liệu tại Trung Quốc Tác giả chỉ ra những khó khăn thách thức của quá trình hợp tác giữa nông dân và doanh nghiệp trong từng giai đoạn là những cam kết về cung cấp giống
Trang 23và tiêu thụ dược liệu giữa người dân và doanh nghiệp chưa chặt chẽ Mặt khác, do yêu cầu của doanh nghiệp đối với chất lượng dược liệu đòi hỏi cao hơn so với thực tiễn khiến cho mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp bị rạn nứt Tác giả cũng đưa ra kiến nghị cần có Nhà nước tham gia sâu vào quá trình này vừa có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển dược liệu theo quy hoạch vừa làm trọng tài để mối quan hệ này được cải thiện hơn
Trong nghiên cứu của Trần Văn Ơn (2015) về “phát triển dược liệu Quảng Ninh trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập” đưa ra quan điểm: Việc phát triển được liệu ở Quảng Ninh - Việt Nam cần được triển khai một cách có hệ thống, đồng bộ và đột phá Nghĩa là việc phát triển dược liệu không đơn thuần là chỉ
là mời gọi một số doanh nghiệp lập dự án đầu tư, giãn dân lấy đất,… để trồng một
số cây thuốc như cách làm bấy lâu nay mà cần phát triển hệ thống các chủ thể kinh
tế tham gia, được gắn kết với nhau theo chuỗi giá trị, từ hệ thống cung ứng đầu vào đến chủ thể sản xuất sơ cấp, thứ cấp, đến thị trường mục tiêu; các hệ thống hỗ trợ và chính sách của tỉnh, trong đó các chủ thể kinh tế được đặt ở vị trí trung tâm Đặt cộng đồng vào trung tâm của sự phát triển, trong đó các doanh nghiệp cộng đồng (bao gồm các HTX theo luật HTX năm 2012 và các công ty cổ phần) là động lực phát triển Có như vậy mới huy động được sự tham gia của người dân, nhằm tạo ra bước chuyển lớn
Cùng với quan điểm này, (năm 2014) UBND tỉnh Hà Giang thực hiện dự án phát triển cây dược liệu gắn với xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang Dự
án đã đưa ra quan điểm phát triển một cách có hệ thống, đồng bộ và đột phá Hệ thống các chủ thể kinh tế tham gia phát triển được gắn kết với nhau theo chuỗi giá trị, từ hệ thống cung ứng đầu vào đến chủ thể sản xuất sơ cấp, thứ cấp, đến thị trường mục tiêu; các hệ thống hỗ trợ và chính sách của Nhà nước cũng như của tỉnh
Hà Giang - Việt Nam (theo hướng hỗ trợ), trong đó các chủ thể kinh tế được đặt ở
vị trí trung tâm
Cũng trong (năm 2014) này, trong “Mô hình triển khai gắn lợi ích, trách nhiệm 4 nhà trong chuỗi giá trị phát triển dược liệu tại 6 huyện 30A- Hà Giang - An
Trang 24Vy” đã đề cập cụ thể hơn về mô hình liên kết này Trong đó, phân định rõ vai trò của “các nhà” như:
- Nhà doanh nghiệp Anvy sẽ đặt hàng trồng đối với hộ gia đình từng vụ: Anvy sẽ ứng giống, hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật qui trình GACP cho các hộ, lo thiết bị sản xuất, đầu tư cải tạo đồng ruộng, tham gia điều hành sản xuất mua toàn
bộ sản phẩm đạt chất lượng theo tiêu chuẩn xác nhận 2 bên với giá thị trường
- Nhà nước: Tạo ra các hành lang để 3 nhà trên hợp tác, đảm bảo quyền lợi
và nghĩa vụ, tạo ra sự hấp dẫn cho doanh nghiệp đầu tư vào ngành chứa đựng rủi ro, đầu tư vào vùng khó khăn, lựa chọn đúng doanh nghiệp có tâm, có tầm, có hướng đi
và chiến lược phát triển khả thi để hỗ trợ khuyến khích, chia sẻ những rủi ro do các điều kiện tự nhiên gây ra, mong muốn 3 nhà trên hài lòng với công việc, cuộc sống
và thành quả đầu tư, ổn định đời sống xã hội, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, từng bước cân đối ngân sách
- Nhà khoa học: Đối tượng nghiên cứu, lựa chọn, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật để tạo ra các sản phẩm vượt trội về chất lượng, năng suất - Mong muốn được có các đơn đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp (Anvy) một cách rõ ràng, có tính chất cam kết, được ghi nhận, tôn vinh, được nhận lương xứng đáng và có thu nhập gia tăng từ các công trình đề tài chuyển giao thành công cho Anvy)
- Nhà nông (Hộ dân): Đầu tư đất, công cụ, công lao động, phân bón, chi phí cải tạo đồng ruộng, trồng gia công theo đơn đặt hàng cho Anvy (chủng loại, số lượng, chất lượng) Đội liên kết: gồm 2-3 hộ có diện tích đất tập trung thành khoảng 3-5 ha liên kết cùng Anvy, ký biên bản cam kết tham gia có chứng kiến của chính quyền thôn, xã Cánh đồng xa những cánh đồng tập trung của HTX Anvy, nhưng có thể ứng dụng được máy nông cụ vào sản xuất, đội sẽ gồm đại diện của Anvy và các đội viên (cứ góp 3000 - 5000 m2 đất được 1 người tham gia vào đội), bầu đội trưởng, đội sản xuất sẽ trở thành vệ tinh cho HTX Anvy trong vùng, sẽ trồng theo
kế hoạch chung của Anvy và bán 100 % sản phẩm cho Anvy Đội viên sẽ tự nguyện góp đất, một số công cụ sản xuất, một phần chi phí cải tạo đồng ruộng tương ứng
Trang 25với đất vào đội, làm việc có tổ chức, chấm công làm việc, ứng trả lương tháng mức tối thiểu, cuối kỳ thu hoạch bán theo giá thị trường cho Anvy, sẽ hạch toán, trừ chi phí của Anvy, chi phí đất…hiệu quả, rủi ro sẽ phân chia theo tỷ lệ góp đất của từng đội viên và vốn ứng ra của Anvy
Gần đây, trong nghiên cứu của (Trần Văn Ơn, 2016) với chủ đề “Xây dựng chuỗi cung ứng dược liệu Việt Nam” đã chỉ ra thực trạng phát triển và cung ứng dược liệu ở Việt Nam còn nhiều bất cập Phần lớn dược liệu trong nước không có tiêu chuẩn, xuất xứ rõ ràng và khó kiểm soát chất lượng; Lúng túng trong xác định chủ thể sản xuất và cung ứng; Chưa có liên kết theo chuỗi; Vai trò của nhà nước còn mờ nhạt, chủ yếu mới dừng ở văn bản Từ những vấn đề này, tác giả đề xuất mô hình cung ứng dược liệu của Việt Nam, trong đó các doanh nghiệp dược giữ vai trò chủ chốt Theo đó, mô hình tổ chức như sau:
Thành lập các HTX và công ty cổ phần, trong đó cổ đông là các hộ gia đình trong khu vực từ 1-3 xã góp vốn dưới hình thức đa dạng từ đất đai đến nguyên vật liệu và sức lao động để xây dựng cơ bản ban đầu, tiền mặt…các phần góp này được quy thành cổ phần
Các doanh nghiệp giữ vai trò chủ chốt từ nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến tiêu thụ sản phẩm, biến các dược liệu thô thành sản phẩm cao cấp hơn, bao gồm: dược liệu đóng gói, cao định chuẩn, thuốc phiến yêu cầu chế biến phức tạp, các chế phẩm hoàn thiện (viên nén, viên nang, trà tan…) cung cấp cho thị trường thuốc YHCT và thị trường bán lẻ
- Cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng chung cho các vùng quy hoạch:
+ Cải tạo hệ thống tưới tiêu tại các khu trồng cây dược liệu hàng năm để đáp ứng được yêu cầu sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng dược liệu
+ Cải tạo và nâng cấp đường giao thông kết nối vùng sản xuất dược liệu với tuyến đường quốc lộ, đường giao thông trục chính để đảm bảo vận chuyển sản phẩm được thuận lợi
+ Hoàn thiện hệ thống lưới điện đến khu sản xuất, tập kết vật tư, sản phẩm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu sản xuất
Trang 26- Xây dựng hệ thống nhà thu gom, sơ chế, đóng gói và bảo quản sản phẩm tại các vùng quy hoạch để tạo ra sản phẩm dược liệu có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu
- Xây dựng các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất cây dược liệu
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu thụ sản phẩm, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh cây dược liệu phát triển
- Xây dựng các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất cây dược liệu; Xây dựng các mô hình ứng dụng các công nghệ mới tiên tiến trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu
- Hỗ trợ thành lập các mô hình điểm về kinh tế hợp tác, liên kết 4 nhà theo các hình thức khác nhau để tạo mối liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất và người tiêu thụ, tạo đầu ra ổn định cho cây dược liệu trên địa vùng quy hoạch
Như vậy, có thể thấy điểm chung của các nghiên cứu này đều cho rằng: cần
có Nhà nước tham gia sâu vào quá trình này vừa có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển dược liệu theo quy hoạch vừa làm trọng tài để mối quan hệ này được cải thiện hơn Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về liên kết phát triển dược liệu như thế nào, theo hình thức, phương thức nào? vẫn là vấn đề mà các nghiên cứu còn chưa đề cập đến Chính vì lẽ đó, trong thời gian qua ở Việt Nam đã bên cạnh một số mô hình liên kết phát triển dược liệu thành công đã đem lại hiệu quả, còn có các mô hình liên kết phát triển dược liệu theo hình thức tự phát hoặc đã có sự liên kết nhưng mô hình liên kết còn lỏng lẻo chưa đem lại hiệu quả cao dẫn đến những thất bại
Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới và trong trong quá trình liên kết phát triển dược liệu trong những năm qua có thể nhận thấy: người nông dân và nhà doanh nghiệp liên kết với nhau thông qua hệ thống hợp đồng Hệ thống hợp đồng đem lại các tác dụng to lớn như sau:
- Chuyển một phần lợi nhuận của người mua bán trung gian cho người dân sản xuất, trực tiếp đầu tư phát triển vùng nguyên liệu
- Chia một phần rủi ro về tiếp thị và tiêu thụ trong quá trình sản xuất - chế