1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lễ cầu an đầu năm trong văn hóa người Việt tại Tp. Hồ Chí Minh (nghiên cứu trường hợp tại chùa Hoằng Pháp, huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh)

78 252 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểm đặc biệt là nhà chùa ngày càng mở rộng các hoạt động dành cho giới trẻ như: ngày tu sinh viên hướng về Phật Pháp, các khóa tu mùa hè dành cho sinh viên… Lễ cầu an đầu năm tại chùa H

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ TUYỀN

LỄ CẦU AN ĐẦU NĂM TRONG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI CHÙA HOẰNG PHÁP,

HUYỆN HÓC MÔN, TP HỒ CHÍ MINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ TUYỀN

LỄ CẦU AN ĐẦU NĂM TRONG VĂN HÓA NGƯỜI

VIỆT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI CHÙA HOẰNG PHÁP, HUYỆN HÓC MÔN, TP HỒ CHÍ MINH)

Chuyên ngành : VĂN HÓA HỌC

Mã số : 60 31 06 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐÀO THẾ ĐỨC

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Đào Thế Đức Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc trích dẫn cụ thể

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu kết quả là sản phẩm kế thừa hoặc đã được công bố của người khác

Tp Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2017

Tác giả

Hoàng Thị Tuyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều cá nhân và tổ chức

Trước hết, tôi chân thành biết ơn sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo –

TS Đào Thế Đức Thầy đã định hướng và có nhiều góp ý hữu ích trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này Tôi cũng xin được gửi lời tri ân sâu sắc tới quý Thầy, Cô thuộc Học viện Khoa học xã hội đã giảng dạy nhiệt tình trong suốt quá trình tôi học tập tại Trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý Tăng Ni chùa Hoằng Pháp và cán bộ văn hóa xã Tân Hiệp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc thực hiện nghiên cứu điền

dã tại địa phương

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập thông tin và các tài liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2017

Tác giả

Hoàng Thị Tuyền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9

7 Cơ cấu của luận văn 9

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 11

Tiểu kết chương 1 21

Chương 2: QUY TRÌNH THỰC HÀNH NGHI LỄ CẦU AN ĐẦU NĂM 22

2.1 Khái niệm, đặc điểm của lễ cầu an đầu năm 22

2.2 Quy trình thực hành nghi lễ cầu an đầu năm 25

Tiểu kết chương 2 41

Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA XUNG QUANH LỄ CẦU AN ĐẦU NĂM 43

3.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển về quy mô của lễ cầu an đầu năm 43

3.2 Vai trò của nhà chùa trong việc quảng bá và duy trì thực hành nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Việt ở Tp Hồ Chí Minh 51

3.3 Ý nghĩa của Lễ cầu an đầu năm trong đời sống xã hội hiện nay 57

Tiểu kết chương 3 61

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 67

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đi chùa cầu an đầu năm đã trở thành phong tục “truyền thống không thể thiếu nhân dịp Tết Nguyên Đán của một bộ phận lớn người Việt trong vài thập niên gần đây Vào những ngày đầu năm mới, ai cũng mang trong mình không khí vui tươi, mong muốn được gạt bỏ những phiền muộn, lo âu của năm cũ và cầu mong những điều may mắn, hạnh phúc, bình an cho cả gia đình trong năm mới Đây cũng là thời điểm tìm về thế giới tâm linh sau những ngày tháng mưu sinh của một năm đã qua Trong quan niệm của nhiều người Việt luôn luôn tồn tại một thế giới thần linh để bảo vệ, che chở, “phù hộ” cho

họ trong cuộc sống, và đồng thời răn đe, trừng phạt nếu con người có những lỗi lầm, sai trái hoặc gây ra những điều ác Tất cả những thành công hay thất bại của con người trong cuộc sống hầu như đều có thể được lý giải bằng sự can thiệp của Thần, Phật Chính vì vậy, nhu cầu hành lễ của người dân ngày càng lớn, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên Đán, khi gia đình được hội tụ, sum vầy và có nhiều thời gian rảnh rỗi để phục vụ nhu cầu tinh thần

Cũng để đáp ứng nhu cầu đó, với mục đích ban đầu là giáo dục con người hướng thiện, giúp cho con người thanh thản, có thêm niềm tin vào cuộc sống, đồng thời phát nguyện làm nhiều việc tốt cho đời, lễ cầu an đầu năm đã được rất nhiều chùa tổ chức và ngày càng phát triển về quy mô và mang tính chuyên nghiệp cao Hằng năm, sự kiện lễ cầu an thu hút đông đảo người dân tham dự tại các chùa khác nhau trên cả nước có thể dễ dàng tìm thấy trên các phương tiện truyền thông Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của lễ cầu an tới đời sống văn hóa tinh thần của người dân trong xã hội hiện tại Nói cách khác, lễ cầu an đầu năm đã dần trở thành một thực hành không thể thiếu trong đời sống văn hóa của một bộ phận lớn người Việt

Trang 7

Lễ cầu an được tổ chức vào nhiều thời gian trong năm, nhưng lễ cầu an được tổ chức tập trung và thu hút số lượng lớn người dân tham gia nhất là vào dịp đầu năm mới Trong những năm gần đây, lễ cầu an đầu năm ở thành phố

Hồ Chí Minh (Tp Hồ Chí Minh) đặc biệt được mở rộng về quy mô Tại chùa Hoằng Pháp, huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh - một không gian thờ Phật khá đặc trưng ở Tp Hồ Chí Minh hiện nay với rất nhiều hoạt động tôn giáo như: lễ cầu an, lễ Vu Lan, các khóa tu mùa hè Lễ cầu an do nhà chùa tổ chức không chỉ thu hút đông đảo người dân tham gia mà còn hấp dẫn sự quan tâm

của truyền thông và báo chí Báo Người Lao động qua bài “Lễ hội hoa đăng

lớn nhất Việt Nam” đã miêu tả buổi lễ diễn ra tại chùa Hoằng Pháp có tới

“hơn 40.000 Phật tử tham dự” [23] Báo điện tử VNexpress cũng cho rằng

chùa Hoằng Pháp là ngôi chùa “lớn nhất Sài Gòn” [22]…Các hoạt động diễn

ra tại chùa luôn thu hút tới hàng ngàn người tham dự Điểm đặc biệt là nhà chùa ngày càng mở rộng các hoạt động dành cho giới trẻ như: ngày tu sinh viên hướng về Phật Pháp, các khóa tu mùa hè dành cho sinh viên…

Lễ cầu an đầu năm tại chùa Hoằng Pháp được tổ chức thường niên vào ngày rằm tháng giêng và trở thành một trong những sự kiện thu hút đông đảo người dân tham gia Trong những năm gần đây, số lượng người tham dự lễ cầu an đầu năm tại chùa Hoằng Pháp lên tới vài chục ngàn người, bao gồm cả người dân địa phương tại huyện Hóc Môn, người dân Thành phố và các địa bàn lân cận Là một ngôi chùa được xây dựng chưa đầy 60 năm, bề dày lịch

sử chưa thể sánh với một số ngôi chùa nổi tiếng trong Thành phố nhưng chùa Hoằng Pháp ngày càng phát triển về quy mô và hoạt động của chùa luôn thu hút được đông đảo người dân tới tham dự Lễ cầu an đầu năm tại chùa Hoằng Pháp đang trở thành một hiện tượng khá đặc trưng trong đời sống tâm linh của người dân Tp Hồ Chí Minh Hiện tượng này đặt ra một số câu hỏi: Lễ

Trang 8

với những người tham gia thực hiện? Vì sao lễ cầu an đầu năm lại thu hút một

số lượng lớn người tham gia như vậy trong bối cảnh chính trị kinh tế xã hội hiện tại? Chùa Hoằng Pháp giữ vai trò gì trong việc quảng bá và duy trì thực hành nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Việt ở Tp Hồ Chí Minh?

Chính vì những lý do trên, người viết quyết định chọn đề tài “Lễ cầu an đầu năm trong văn hóa người Việt tại Tp Hồ Chí Minh (nghiên cứu trường hợp tại chùa Hoằng Pháp, huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về nghi lễ trong xã hội Việt Nam sau đổi mới đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó có các nghiên cứu về sự phục hồi và biến đổi của nghi lễ truyền thống trong xã hội hiện đại Đặc biệt là những nghiên cứu về mối quan hệ của kinh tế và sự phục hồi của nghi lễ truyền thống Lương Văn Hy (1993) với nghiên cứu về tác động của sự biến đổi kinh

tế đối với sự phục hồi của nghi lễ và lễ hội truyền thống tại làng Hoài Thị (Hà Bắc) và xã Sơn Dương (Vĩnh Phú) Lê Hồng Lý (2003) nghiên cứu về lễ hội đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh) trong đó có đánh giá tác động của nền kinh tế chuyển từ bao cấp sang kinh tế thị trường đã khiến cho người ta tin tưởng vào một lực lượng siêu nhiên chi phối cuộc sống của họ Phạm Quỳnh Phương (2006) với nghiên cứu về sự phục hồi của nghi lễ thờ cúng Đức Thánh Trần

đã cho rằng: “Sự phát triển của kinh tế thị trường, sự mở cửa của đất nước đối với thế giới bên ngoài, sự giàu có tương đối nhanh chóng của một bộ phận người dân được chứng kiến song hành với sự quan tâm ngày càng tăng vào thế giới tâm linh và sự phục hồi mạnh mẽ của các nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo…”[11, tr.38]

Nghi lễ cầu an cho người sống và cầu siêu cho người chết diễn ra rất phổ biến ở rất nhiều địa phương trong cả nước và đã có nhiều nhà nghiên cứu

Trang 9

quan tâm, phản ánh về nghi lễ này Tuy nhiên, những bài viết về nghi lễ cầu

an còn khá sơ sài và thường tập trung vào nghiên cứu về lễ cầu siêu và lễ cúng sao giải hạn - nghi lễ thường được tổ chức song hành với nghi lễ cầu an Việc nghiên cứu lễ cầu an một cách toàn diện ở một địa phương chưa có nhiều Đặc biệt, trong những năm gần đây, lễ cầu an đầu năm ở Tp Hồ Chí Minh có sự phát triển lớn về quy mô và mang những nét phong phú, đặc sắc riêng Vì vậy, việc nghiên cứu lễ cầu an đầu năm tại địa phương trong từng trường hợp cụ thể vẫn là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu

Nghiên cứu sớm nhất về lễ cầu an của người Việt có lẽ là cuốn Việt Nam phong tục của tác giả Phan Kế Bính và cuốn Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam của tác giả Toan Ánh Cả hai cuốn đều miêu tả về các phong tục Việt

nam, trong đó có lễ kỳ an (cầu an hoặc kỳ yên) “Vào cuối xuân đầu hạ nhiều nơi làm lễ kỳ an Vì mùa ấy thường có dịch khí, tục tin là việc quỷ thần cho nên cúng cấp để cầu cho dân làng được yên lành” [2, tr.108] Hai cuốn sách

đã phác thảo lại nghi thức của lễ cầu an, đem đến cho người đọc cái nhìn khái quát về nghi lễ cầu an của người Việt thời bấy giờ

Nghiên cứu về lễ cầu an của người Việt cần kể tới Phan Thị Yến Tuyết

(2005) Bài viết trên tạp chí Nghiên cứu tôn giáo gồm 11 trang chủ yếu miêu

tả nghi lễ cầu an – cầu siêu của một số dân tộc Việt Nam, trong đó có đề cập tới nghi lễ Trai đàn cầu siêu – cầu an và lễ cầu an cúng bổn xóm của người Việt Bài viết miêu tả nghi lễ cầu an – cầu siêu trong một số dân tộc ở Nam

Bộ và giải thích nguyên nhân sự tồn tại của lễ cầu an trong cộng đồng này Bài viết chủ yếu tập trung vào nghi lễ “cầu siêu các cô hồn vất vưởng, các vong linh ma quỷ để chúng không làm hại tới con người và từ đó cũng đem lại sự an lành cho dân cư, làng xóm” [20, tr 18]

Đề cập tới vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của

Trang 10

với nghiên cứu về Lễ cầu an của người Tày ở Bắc Kạn; tác giả Vũ Hồng Thuật (1999) với Lễ cầu an của người Ra-glai ở Ninh Thuận; Kim Chi với Lễ cầu an của người Tày ở Ba Bể đã đem đến cho người đọc cái nhìn toàn cảnh

về nghi lễ cầu an của một số dân tộc ít người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Từ đó thấy được giá trị, ý nghĩa của nghi lễ này đối với đời sống tâm linh của người dân trong các tộc người khác nhau

Với mục đích hướng dẫn cách thức thực hành một nghi lễ cúng cầu an

tại gia đình, các cuốn sách Khóa lễ cầu bình an – cầu siêu của dịch giả Thanh Tùng (1953), Nghi lễ xông đất và nghi lễ cầu an của Ngô Thiện Mãn (2014)

đã giới thiệu về các bài cúng lễ cầu an trong gia đình và cách thức thực hiện nghi lễ này

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xã hội học Thực trạng hoạt động Phật giáo và các dịch vụ nghi lễ ở Hà Nội của Nguyễn Thị Minh Ngọc đề cấp tới

nhiều hoạt động nghi lễ của Phật giáo trong nền kinh tế thị trường và những bất ổn của sự phát triển kinh tế sau đổi mới Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào khía cạnh các dịch vụ phật giáo và dịch vụ nghi lễ ở Hà Nội chứ không đi sâu vào từng nghi lễ cụ thể

Nghi lễ cầu an đầu năm là một nghi lễ lớn và diễn ra ở rất nhiều không gian thờ tự ở khắp các địa phương trong cả nước Chính vì vậy, trên các phương tiện truyền thông hiện nay có rất nhiều thông tin về lễ cầu an đầu năm, đặc biệt

là các bài viết trên các báo mạng Tuy nhiên, nội dung của những thông tin này chủ yếu xoay quanh việc mô tả về những vấn đề xung quanh buổi lễ và số lượng người dân tham dự, hoặc một số vấn đề về an ninh, trật tự và giao thông khi nghi

lễ diễn ra với số lượng người tham dự quá đông đúc

Nghi lễ cầu an là một nghi lễ phổ biến được tổ chức ở nhiều địa phương trong cả nước Việc nghiên cứu về lễ cầu an cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tuy nhiên các nguồn tài liệu vẫn chưa phong phú, chủ

Trang 11

yếu vẫn là các bài viết, công trình nghiên cứu nhỏ trên các tạp chí, phương tiện thông tin đại chúng Các tác giả chưa nghiên cứu cụ thể lễ cầu an đầu năm trong những năm gần đây, chưa nêu bật được ý nghĩa và những tác động của nghi lễ này tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và tâm linh của người dân, đặc biệt là trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh, nơi mà lễ cầu an đầu năm trong những năm gần đây được diễn ra thường niên và thu hút số lượng lớn người dân tham gia Các nghiên cứu gần đây cũng không có nhiều nên chưa chỉ ra được sự phát triển của nghi lễ này trong đời sống tinh thần của người dân ở những thành phố lớn và chưa có sự so sánh sự phát triển của nghi lễ này ở những không gian thờ tự khác nhau Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này đã đem lại nhiều thông tin bổ ích cho người viết trong quá trình nghiên cứu để thực hiện luận văn của mình

Trên cơ sở kế thừa những công trình, bài viết của những tác giả đi trước, cùng với những kiến thức có được từ quá trình học tập và quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tế, người viết sẽ đi sâu vào nghiên cứu những đặc điểm nổi bật của lễ cầu an đầu năm trong những năm gần đây tại Tp Hồ Chí Minh, những tác động của nó tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và tâm linh của người dân nơi đây Đồng thời có sự so sánh với những không gian thờ tự khác để làm rõ những đặc sắc của lễ cầu an đầu năm diễn ra tại chùa ở Tp Hồ Chí Minh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích cơ bản của luận văn khi nghiên cứu lễ cầu an đầu năm tại Tp

Hồ Chí Minh nói chung và nghiên cứu trường hợp tại chùa Hoằng Pháp, huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh nói riêng là tìm hiểu chức năng, ý nghĩa của nghi lễ tôn giáo trong đời sống văn hóa hiện đại cũng như vai trò của tổ chức tôn giáo trong việc quảng bá thực hành nghi lễ

Trang 12

Nhiệm vụ nghiên cứu: Mô tả quy trình thực hành nghi lễ cầu an đầu năm và sự phát triển về quy mô của nghi lễ; phân tích nguyên nhân của hiện tượng phát triển nghi lễ cầu an trong đời sống tinh thần của người Việt tại Tp

Hồ Chí Minh; phân tích những tác động của hiện tượng này với đời sống tinh

thần, kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân Tp Hồ Chí Minh hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Luận văn tập trung nghiên cứu về lễ cầu an đầu năm được tổ chức tại chùa để tìm hiểu về trình tự nghi lễ cũng như một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức nghi lễ này, những bối cảnh, động thái, yếu tố chi phối sẽ được luận văn chú ý xem xét

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, người viết sử dụng thuật ngữ “người Việt” là để chỉ người Việt Nam tham gia vào lễ cầu an đầu năm chứ không có ý định phân chia theo khái niệm tộc người

Về không gian, luận văn tập trung nghiên cứu tại địa bàn Tp Hồ Chí Minh Qua khảo sát thực tế, người viết nhận thấy có nhiều không gian tôn giáo khác nhau tổ chức lễ cầu an đầu năm, trong đó, việc tổ chức lễ cầu an đầu năm tại chùa là phổ biến và thu hút đông đảo người dân tham gia Bởi vậy, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, người viết tập trung nghiên cứu trường hợp thực hành nghi lễ tại chùa Hoằng Pháp, huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, người viết có tham khảo thêm nghi lễ cầu an được thực hiện tại đình Phú Nhuận, Tp Hồ Chí Minh

Thời gian nghiên cứu chính được thực hiện trong năm 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp định tính để nghiên cứu lễ cầu an đầu năm trong văn hóa người Việt tại Tp Hồ Chí Minh Trong đó, nghiên cứu sử dụng các phương pháp cụ thể là:

Trang 13

5.1 Phương pháp quan sát tham dự

Phương pháp quan sát tham dự là phương pháp chủ yếu được người viết sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài Người viết đã bắt đầu thực hiện phương pháp này bằng cách tham gia giống như một Phật tử đi lễ cầu an vào đầu năm 2016 Qua đó, có thể quan sát được từng chi tiết của nghi lễ để tìm hiểu ý nghĩa của hoạt động nghi lễ cũng như có được trải nghiệm cá nhân đối với nghi lễ này

5.2 Phương pháp phỏng vấn

Những đối tượng được người viết tiến hành phỏng vấn bao gồm chủ lễ, các nhà sư trong chùa Hoằng Pháp, cán bộ văn hóa của địa phương, người dân địa phương, một số người tham gia phục vụ nghi lễ và một số người đi lễ

Việc phỏng vấn chủ lễ đồng thời cũng là sư thầy trụ trì chùa Hoằng Pháp giúp người viết có được thông tin chính xác về nghi lễ cầu an, nguồn gốc, mục đích và ý nghĩa của việc tổ chức lễ cầu an đầu năm và định hướng phát triển nghi lễ này trong thời gian tiếp theo

Phỏng vấn một số nhà sư trong chùa Hoằng Pháp giúp người viết có được thông tin về cơ cấu tổ chức và những công việc chuẩn bị cho nghi lễ

Phỏng vấn và trò truyện với những Phật tử tham gia vào ban tổ chức nghi lễ giúp người viết hiểu được từng nội dung chuẩn bị và các hoạt động xung quanh nghi lễ Người viết cũng đã có những buổi trò truyện gần gũi với đối tượng này để tìm hiểu động cơ, mục đích cá nhân trong thực hành của họ

Qua thao tác phỏng vấn, người viết có cơ hội được trò chuyện với cán

bộ văn hóa của địa phương, tìm hiểu một số chính sách, định hướng phát triển các hoạt động văn hóa tâm linh trong khu vực Đồng thời tìm hiểu về sự hỗ trợ của chính quyền khi nghi lễ diễn ra

Việc trò chuyện với người dân địa phương xung quanh ngôi chùa giúp người viết có được cái nhìn tổng quát về ý nghĩa của lễ cầu an đầu năm trong đời sống văn hóa của người dân nơi đây

Trang 14

Cuộc phỏng vấn với Phật tử và người dân tham dự buổi lễ được thực hiện vào các thời điểm trước, trong và sau khi nghi lễ cầu an diễn ra Điều này giúp người viết tìm hiểu được những suy nghĩ và mục đích khác của người dân khi tham dự nghi lễ cầu an

5.3 Phương pháp phân tích tư liệu thứ cấp

Phương pháp này được sử dụng để phân tích những nghiên cứu của các tác giả đi trước, bao gồm sách, tư liệu đã được xuất bản và những bài báo, tạp chí về tết cổ truyền của người Việt và lễ cầu an

Bên cạnh đó, người viết sử dụng phương pháp này để phân tích những báo cáo, văn bản thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực địa

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Qua nghiên cứu về lễ cầu an đầu năm của người Việt tại Tp Hồ Chí Minh, luận văn đã phân tích sự tác động qua lại của thực hành nghi lễ tôn giáo với bối cảnh kinh tế, xã hội, làm rõ vai trò, ý nghĩa của nghi lễ tôn giáo trong

xã hội hiện đại Đồng thời, luận văn góp phần vào việc khẳng định sự phục hưng của tôn giáo trong xã hội hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ việc phân tích thực hành nghi lễ cầu an đầu năm, luận văn khẳng định được vai trò và lý do cần duy trì hoạt động của những nghi lễ tôn giáo trong xã hội hiện tại Bên cạnh đó, luận văn cũng chỉ ra vai trò của tổ chức tôn giáo trong việc quảng bá và duy trì thực hành nghi lễ trong đời sống của người Việt ở Tp Hồ Chí Minh

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Quy trình thực hành nghi lễ cầu an đầu năm

Chương 3: Một số vấn đề đặt ra xung quanh lễ cầu an đầu năm

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN

VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận

Từ “Nghi lễ” bắt nguồn từ tiếng La tinh là “ritus” có nghĩa để chỉ các hành vi có trật tự Durkheim (1912) cho rằng nghi lễ “là hoạt động chỉ ra những quy định con người biết để tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình trước những đối tượng thiêng” [12, tr 24]

Phát triển quan điểm của Arnold van Gennep trong “Nghi lễ chuyển đổi”

(Les rites de passage – 1909), trong các công trình nghiên cứu về nghi lễ của

mình, Victor Turner định nghĩa nghi lễ là “hành vi bắt buộc chính thức cho những dịp không dành cho lẽ thường mang tính kỹ thuật, có tham chiếu tới đức tin vào sự tồn tại và quyền lực thần bí” (1967: 19), “một sự tiếp nối rập khuôn các hành động liên quan tới động tác, từ ngữ và đồ vật, trình diễn trong một không gian riêng biệt, và nhằm ảnh hưởng tới thực thể hay lực lượng siêu nhiên thay mặt mục tiêu và lợi ích của người trình diễn” (1977: 183)

Xem xét hiện tượng “phục hưng” tôn giáo trong bối cảnh chính trị và kinh tế thế giới hiện nay, Charles Keyes (2006) cho rằng cần nghiên cứu những hoàn cảnh gợi nên những “mối quan tâm cơ bản” như cái chết, đau khổ

xã hội, khủng hoảng quyền lực; các “nguồn quyền lực của thông điệp tôn giáo” như ma lực của tu sĩ, kinh sách và nghi lễ; và “các phương pháp có tính nguyên tắc” Theo Keyes, “Thông điệp tôn giáo chỉ nắm được, cụ thể là trở thành cơ sở cho định hướng của con người tới hành động xã hội, thông qua việc đặt bản thân chúng vào các phương pháp có tính nguyên tắc được quảng

bá bởi thể chế tôn giáo và các nhà lãnh đạo tôn giáo Nghiên cứu về tôn giáo

do vậy cần phải mô tả dân tộc học những phương pháp này Nghi lễ vẫn là một phương pháp quan trọng đối với một số thể chế tôn giáo, một phần bởi vì nhiều người tìm thấy trong nghi lễ ý nghĩa của việc có một mối liên hệ với thế

Trang 16

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan về Tp Hồ Chí Minh

Tp Hồ Chí Minh với tên gọi cũ là Sài Gòn từ lâu đã được coi là một thành phố lớn nhất Việt Nam và được coi là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục lớn của cả nước Được hình thành từ năm 1698, với việc Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào Nam kinh lược, đặt cơ sở hành chính đầu tiên và lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời của vùng đất Tp Hồ Chí Minh ngày nay Trải qua quá trình lịch sử lâu dài với tên gọi Sài Gòn do người Pháp đặt tên, tới năm 1976 tên gọi Tp Hồ Chí Minh chính thức ra đời Hiện nay, Tp Hồ Chí Minh bao gồm 19 quận và 5 huyện, với 322 phường, xã và thị trấn

Theo kết quả điều tra của Cục Thống kê Tp Hồ Chí Minh thì ước tính dân số năm 2015 khoảng 8,2 triệu người với đa dạng thành phần tộc người (gần 50 tộc người) như: Kinh, Hoa, Khơ Me, Chăm…Mỗi tộc người lại có những nét văn hóa đặc trưng tạo nên sự đa dạng về văn hóa Những bổ sung

về thành phần tộc người ngày càng gia tăng, cùng với quá trình đô thị hóa và kinh tế ngày càng phát triển khiến cho quá trình giao lưu văn hóa tộc người thêm phong phú, đa dạng tác động tới nhu cầu về đời sống tâm linh của người dân nơi đây Nhu cầu về việc gìn giữ nét văn hóa truyền thống của tộc người, cùng với quá trình giao lưu, hội nhập về văn hóa khiến cho màu sắc văn hóa khu vực Tp Hồ Chí Minh ngày càng thêm đa dạng Bên cạnh đó, Tp Hồ Chí Minh cũng là khu vực tập trung lượng dân di cư từ khắp các tỉnh thành trong

cả nước, sự đa dạng về thành phần dân cư dẫn tới sự giao lưu về mặt văn hóa vùng miền Có thể nói, Tp Hồ Chí Minh là nơi hội tụ của nhiều dòng chảy văn hóa, các biểu hiện của văn hóa tộc người như Kinh, Chăm, Khơ Me, Hoa…cho tới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây…với đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng thể hiện rõ nét qua các lễ hội và sinh hoạt văn hóa của người dân

Trang 17

Với khí hậu ôn hòa hai mùa mưa, khô và những danh lam thắng cảnh, đồng thời là cửa ngõ và trạm trung chuyển tới những khu du lịch nổi tiếng của

cả nước, Tp Hồ Chí Minh trở thành một trong những địa điểm thu hút khách

du lịch đông nhất cả nước Đây là kết quả của chính sách mở cửa và hội nhập văn hóa thế giới Việc thu hút lượng lớn khách du lịch nước ngoài có những tác động không nhỏ tới sự phát triển văn hóa của vùng

Tp Hồ Chí Minh là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tốc độ phát triển kinh tế cao và trở thành trung tâm kinh tế lớn của cả nước Sự phát triển nhanh về kinh tế đưa tới những tác động nhiều chiều về mặt văn hóa, xã hội Kinh tế phát triển nhanh đưa con người đối mặt với nhiều rủi ro hơn, khiến con người trở nên mất lòng tin vào thực tại và “tìm kiếm sự an toàn tinh thần”

ở các thế lực siêu nhiên Những nhu cầu tâm linh ngày càng nhiều đưa tới các dịch vụ nghi lễ tôn giáo ngày càng thêm phong phú và đa dạng hơn

1.2.2 Tổng quan về huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh

Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: huyện Hóc Môn là một huyện ngoại thành ở phía Tây Bắc của Tp Hồ Chí Minh Huyện nằm giữa quận 12 và huyện Củ Chi Nơi đây còn nổi tiếng với tên gọi “Mười tám thôn vườn trầu” trong kháng chiến chống Pháp

Theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, tháng 2 năm

Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn ra lệnh cho Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý phía nam và quyết định thành lập chủ Gia Định gồm huyện Phước Long và huyệnTân Bình Thời điểm 1698, vùng đất phía Nam dân cư thưa thớt, đất đai còn hoang vu, địa danh "Hóc Môn" lúc đó chưa có tên gọi, là một vùng đất nằm trong huyện Tân Bình, thuộc phủ Gia Định

Từ năm 1698 đến năm 1731, một số lưu dân từ miền Bắc, miền Trung

do không cam chịu sự thống trị hà khắc của phong kiến triều Trịnh - Nguyễn phân tranh loạn lạc nên đã đến vùng đất này để sinh cơ, lập nghiệp; lập ra những thôn ấp và nông trại, lúc đầu hình thành 06 thôn dần dần phát triển

Trang 18

nét hoang dã, có cọp dữ nổi tiếng như "cọp vườn trầu" và có nhiều đầm môn nước mọc um tùm, nên trong dân gian địa danh "Hóc Môn" có tên gọi từ đây (hóc hẻm có nhiều cây môn)

Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho cải cách lại các đơn

vị hành chính, đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định Đến năm 1808, vua Gia Long lại đổi trấn Gia Định thành Gia Định Thành và nâng huyện Tân Bình lên thành Phủ Tân Bình Phủ Tân Bình có 04 huyện, trong đó có huyện Bình Dương Lúc đó, vùng đất Hóc Môn ngày nay có tên gọi là huyện Bình Dương thuộc phủ Tân Bình của Gia Định Thành, huyện lỵ Bình Dương đóng tại làng Tân Thới Nhì (nay là vùng Trung tâm Thị trấn Hóc Môn)

Năm 1832, vua Minh Mạng đổi tên Gia Định Thành thành tỉnh Phiên

An Đến năm 1836, lại tiếp tục đổi tên tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định Năm 1841, phủ Tân Bình lại tăng thêm 1 huyện là huyện Bình Long (do một phần huyện Bình Dương tách ra) Lúc đó, vùng đất Hóc Môn ngày nay có tên gọi là huyện Bình Long thuộc phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định

Năm 1862, thực dân Pháp đã chia lại địa giới hành chính tỉnh Gia Định bao gồm 03 phủ, 41 tổng; huyện Bình Long thuộc phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định Huyện lỵ Bình Long đóng tại làng Tân Thới Nhì (nay là vùng trung tâm thị trấn Hóc Môn)

Sau cuộc khởi nghĩa 18 thôn vườn trầu (1885), thực dân Pháp chính thức đổi tên huyện Bình Long thành quận Hóc Môn Quận Hóc Môn giai đoạn 1885-1945 thuộc tỉnh Gia Định là một vùng đất rộng lớn bao gồm 4 tổng: Tổng Long Tuy Thượng, Tổng Long Tuy Hạ, Tổng Long Tuy Trung và Tổng Bình Thạnh Trung nằm trên địa bàn của 3 quận huyện: Hóc Môn, Củ Chi và quận 12 ngày nay

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Hóc Môn là một trong 04 quận của tỉnh Gia Định (Hóc Môn, Thủ Đức, Gò Vấp, Nhà Bè) Đến

Trang 19

thời Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam (1954-1975), quận Hóc Môn tiếp tục thuộc tỉnh Gia Định Đối với cách mạng tùy theo yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng trong từng thời điểm, Hóc Môn có nhiều lần tách nhập, thay đổi ranh giới: từ năm 1954 đến cuối năm 1959, quận Hóc Môn bao gồm 3 quận – huyện là: Hóc Môn, Củ Chi và quận 12 ngày nay; từ năm 1960 đến năm 1961 tách ra thành 2 quận: Hóc Môn và Củ Chi; từ năm 1961 đến năm

1969, Hóc Môn và Gò Vấp sát nhập lại thành quận Gò Môn; sau đó nhập thêm một số xã của Củ Chi thành lập phân khu Gò Môn, từ năm 1969 đến năm 1972 phân khu Gò Môn tách ra thành 4 quận nhỏ, trong đó Hóc Môn tách thành 2 quận: Đông Môn và Tây Môn; từ năm 1972 đến năm 1975: Đông Môn và Tây Môn nhập lại thành quận Hóc Môn

Sau ngày thống nhất đất nước (30 tháng 4 năm 1975), Hóc Môn là một trong 5 huyện ngoại thành của Tp Hồ Chí Minh Hiện nay, Hóc Môn có 11

xã và 1 thị trấn

Nằm ở cửa ngõ của Thành phố, Hóc Môn có hệ thống đường quốc lộ, đường vành đai, tỉnh lộ, hương lộ khá hoàn chỉnh Sông, kênh rạch cũng là thế mạnh về giao thông đường thủy, tất cả tạo cho huyện một vị trí thuận lợi

để phát triển công nghiệp và đô thị hóa, hỗ trợ cho nội thành giảm áp lực dân

cư đồng thời là vành đai cung cấp thực phẩm cho Thành phố

Ngoài ra, huyện Hóc Môn còn sở hữu những địa điểm tham quan như

di tích Ngã Ba Giồng, vườn trầu Bà Điểm, Bảo tàng Hóc Môn cùng nhiều di tích tôn giáo khác như: chùa Hoằng Pháp, Chơn Đức Thiền Viện, đền Phan Công Hớn

Theo Báo cáo tổng kết hoạt động Phật sự năm 2015 (ngày 25/01/2016) tại Hội nghị tổng kết hoạt động phật sự năm 2015 thì huyện Hóc Môn có 117

cơ sở tự viện, trong đó: 65 ngôi chùa Bắc tông, 09 tịnh xá, 42 tịnh thất, 01 thiền viện, 01 chùa Nam tông Số tăng Ni khoảng 490 và gần 70.000 tín đồ Phật tử

Trang 20

Dân số huyện Hóc Môn khoảng gần 359 ngàn người (theo tài liệu thống kê của Viện nghiên cứu phát triển Tp Hồ Chí Minh) Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa tại huyện Hóc Môn tăng cao, ảnh hưởng tới thành phần dân cư tại Huyện Số lượng dân nhập cư tăng lên và

đa dạng về thành phần dân cư Đất đai dành cho quá trình đô thị hóa ngày càng tăng đồng nghĩa với việc giảm số lượng đất nông nghiệp, ảnh hưởng tới sinh kế của người dân Với mật độ các cơ sở tự viện Phật giáo dày đặc, cùng với sự đa dạng về thành phần dân cư điều này có tác động không nhỏ tới đời sống văn hóa và tâm linh của người dân tại khu vực

1.2.3 Tổng quan về chùa Hoằng Pháp

Chùa Hoằng Pháp được xây dựng trên diện tích 06 héc ta tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh Lịch sử hình thành và phát triển của chùa Hoằng Pháp gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng Ngộ Chân Tử và Thượng tọa Thích Chân Tính

Cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng Ngộ Chân Tử được Thượng tọa

Thích Chân Tính miêu tả chi tiết trong cuốn Lời người còn ghi lại do ông chủ

biên Theo đó, Hòa Thượng Ngộ Chân Tử (1901 – 1988) sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho giáo ở tỉnh Thái Bình Nhưng khi trưởng thành, ông chuyển sang nghiên cứu về Phật học và thâm nhập Phật pháp Trải qua quá trình tu học, ông tu tại nhiều chùa như Yên Tử, Côn Sơn, Tản Viên, Hương Tích, chùa Thầy và tham gia trùng tu nhiều chùa tại Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình

Năm 1935, ông mua đất tại Kiến An (Hải Phòng) và sáng lập ra chùa Hoằng Pháp Năm 1938 ông thành lập Viện Dục Anh, thu nhận các trẻ em nghèo khổ, mất cha mẹ, thiếu tình thương về nuôi dạy, cho ăn học thành tài Ngoài việc nuôi dạy cô nhi, ông còn mở thêm những cơ sở tiểu thủ công nghiệp để giúp đỡ những người nghèo khó có phương tiện sinh sống Việc

Trang 21

làm của ông được chính quyền đương thời và giới đạo Phật ca ngợi và ủng hộ

vì nó thể hiện được tinh thần từ bi cứu khổ của đạo Phật Ngoài ra, ông còn thực hiện nhiều việc thiện nguyện khác như lập viện dưỡng lão để giúp đỡ những người già yếu có nơi nương tựa, cứu giúp những người nghèo khó trong nạn đói năm 1945 và làm nhiều công việc thiện nguyện khác

Năm 1955, ông đạo hành tới miền Nam và qua các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ Năm 1957, ông mua đất tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh sáng lập chùa Hoằng Pháp làm nơi

tu hành Chùa Hoằng Pháp được xây dựng từ đó

Ban đầu, vùng đất xây dựng chùa Hoằng Pháp chỉ là một cánh rừng chồi Sau đó được Hòa thượng cho xây dựng chùa bằng gạch đinh, hai tầng mái ngói, mặt chùa quay về hướng Tây Bắc Năm 1971 chùa được mở rộng, kéo dài thêm mặt tiền chính điện để có chỗ cho Phật tử lễ bái và thuyết giảng

Sự uy linh và vẻ đẹp của chùa Hoằng Pháp được biết tới qua những lời thơ:

“Ngôi chùa Hoằng Pháp uy linh Mái cong ngói đỏ đậm tình quê hương Chuông chiều mõ sớm du dương Lời kinh tiếng pháp chỉ đường tu thân”

Sau khi thành lập chùa Hoằng Pháp, ông tiếp tục những công tác từ thiện xã hội như: đón nhận những gia đình bị chiến tranh làm cho nhà cửa tan nát tại Đồng Xoài về chùa, xây cất khu định cư và cấp cho họ các đồ dùng cần thiết trong gia đình để sinh hoạt, cưu mang những trẻ em không nơi nương tựa Năm 1968 ông thành lập Giáo Hội Đạo Tràng Thiện Học nhằm mở rộng việc truyền bá giáo lý đạo Phật đến khắp mọi miền đất nước và trùng tu chùa Thiện Phước (Quận 5) để làm nơi thuyết Pháp, phố biến kinh sách Thêm một lần nữa ông thành lập Viện Dục Anh tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Tp

Trang 22

Hồ Chí Minh để tiếp nhận những cô nhi về nuôi dạy Năm 1988, ông qua đời tại chùa Hoằng Pháp, trụ thế 88 năm, được 65 năm tuổi đạo

Cuộc đời của Hòa thượng Ngộ Chân Tử gắn liền với những công tác truyền giáo Phật pháp và công tác từ thiện xã hội Vì thế, uy tín và đức độ của ông được người dân hết sức ca gợi và tán dương Đặc biệt, với người dân huyện Hóc Môn thì danh tính và công đức của ông bất kỳ người dân nào cũng đều biết tới Uy tín của ông nói riêng và của chùa Hoằng Pháp vì thế mà ngày càng được lan rộng, có ảnh hưởng lớn trong dân chúng Hiện nay, người ta vẫn còn truyền tai nhau những lời thơ ca gợi công đức của ông:

“Đất thảm trời sầu Hòa thượng quy Đau lòng Phật tử với Tăng Ni Nhớ thương Đại lão tâm Bồ tát Kính mến cao Tăng hạnh đại bi

Giáo lý in kinh rèn đệ tử Đạo vàng lập trại cứu cô nhi Đại hiền rũ thoát nơi trần tục Nghĩa nặng ơn sâu đức độ trì.” [18, tr 35]

Kế tục sự nghiệp của Hòa thượng Ngộ Chân Tử tại chùa Hoằng Pháp là Thượng tọa Thích Chân Tính Thượng tọa Thích Chân Tính là đệ tử của Hòa thượng Ngộ Chân Tử Ông trụ trì tại chùa Hoằng Pháp từ năm 1988 tới nay

Năm 1995, ông cho tái thiết lại chính điện của chùa, mở rộng hơn nữa chính điện với diện tích chính điện hơn 750m2, kiến trúc theo lối chữ “công” Tuy hình thức mới xong ngôi chùa vẫn mang dáng vẻ cổ kính giống như những ngôi chùa ở miền Bắc với góc đao cong vút Toàn bộ cánh cửa, bao lam, án thờ đều làm bằng gỗ quý, chạm trổ rất tinh vi Hai bên bậc cấp dẫn lên thềm tiền đính chính điện là hai con sư tử lớn “Hai bên cửa chính điện là hai bức phù điêu khắc tượng thần Kim Cang với vẻ mặt cương nghị, thân hình mang dáng đẹp khỏe mạnh của người lực sĩ Nội điện gồm tiền Phật hậu Tổ

Trang 23

Tiền điện thờ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ngự trên tòa sen trong tư thế thiền định, chiều cao khoảng 4,50m Phía trên chung quanh vách tường là bảy bức phù điêu chạm khắc hình ảnh cuộc đời đức Phật từ lúc xuất gia cho đến khi nhập niết bàn Phía trên và dưới bức phù điêu đối diện với tượng Phật là hai hàng chữ “Phật Nhật Tăng Huy - Pháp Luân Thường Chuyển” Trước án thờ là bao lam bằng gỗ điêu khắc hình “cửu long chầu nguyệt” Phía trên bao lam là ba cuốn thư cũng bằng gỗ khắc chữ Hán; cuốn ở giữa đề “Thiên nhơn sư”, hai cuốn hai bên đề chữ “Từ bi” và “Trí tuệ”

Hậu Tổ thờ cố Hòa Thượng Ngộ Chân Tử, Tổ khai sơn chùa Hoằng Pháp Và trên tường là hai bức phù điêu miêu tả cuộc đời hành đạo của ông Hai bên tả hữu là bàn thờ chư hương linh

Đối diện với chính điện là tượng đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tọa thiền dưới gốc cây Bồ đề Phía trước cây Bồ đề là cổng tam quan mới đựơc xây dựng vào tháng 6 năm 1999 Từ ngoài nhìn vào cổng tam quan, cổng chính đề chữ “Chùa Hoằng Pháp”, hai cổng phụ bên trái đề chữ “Từ bi”, bên phải đề chữ “Trí tuệ” Dọc theo hai cột của cổng chính có hai câu đối:

“Hoằng dương đại đạo chỉ bày nhân loại nhận ra chân thật tính

Pháp Phật nhiệm màu khai thị chúng sinh ngộ được Bồ đề tâm”

Dọc theo hai cổng phụ có hai câu đối:

“Từ bi cứu bốn loài qua bể khổ đau Trí tuệ độ ba cõi đến bờ hạnh phúc”

Từ trong cổng tam quan nhìn ra, dọc theo hai cột chính có hai câu đối:

“Tri ân Hòa Thượng Tôn sư gây dựng cảnh thiền từ đất Bắc

Báo đáp Cao Tăng Tổ đức vun trồng vườn giác tại miền Nam”

Dọc theo hai cổng phụ có hai câu đối:

“Đến cửa chùa rũ bỏ trần duyên tính xấu Vào điện Phật giữ gìn mối đạo tâm lành”

Trang 24

Bên trái chính điện nhìn từ ngoài vào là tháp “Nhị Nghiêm”, nơi an trí nhục thân cố Hòa Thượng Ngộ Chân Tử Cách một khoảng là tháp các

vị Ni của chùa đã quá cố Tiếp đến là nhà ăn rộng rãi, thoáng mát có hòn non

bộ mới tạo Song song là dãy nhà dưỡng lão nữ, gồm mười phòng, mỗi phòng bốn người ở với đầy đủ tiện nghi Sau cuối là nhà trù Bên phải chính điện nhìn từ ngoài vào là vườn cây với thảm cỏ xanh tươi Sát bờ tre là một tòa non

bộ cao hơn 10m rộng 20m nằm trên một hồ nước Bên trong hồ ngay chính giữa tôn trí tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát bằng cẩm thạch trắng cao 5m Đây là công trình non bộ lớn và đẹp nhất trong các chùa tại Tp Hồ Chí Minh hiện nay Tiếp đến là hòn non bộ nhỏ trong hồ tròn Sau đó là tháp Phổ Độ, nơi để cốt của thập phương bá tánh Phía sau chính điện là Tăng đường, cũng dùng làm giảng đường có thể chứa khoảng trên 300 thính giả Trước tăng đường là hai bãi cỏ xanh tươi với cây me cổ thụ lâu đời.” [25]

Từ khi kế thừa sự nghiệp của Hòa thượng Ngộ Chân Tử tại chùa Hoằng pháp đến nay, Thượng tọa Thích Chân Tính tiếp tục quan tâm tới việc hoằng truyền chính pháp, đặc biệt là việc truyền pháp trong giới trẻ và quan tâm tới các hoạt động từ thiện Ông luôn sáng tạo ra nhiều hình thức tu học khác nhau phù hợp với từng lứa tuổi để có thể tổ chức thành công nhiều khóa tu dành cho nhiều người ở nhiều nơi về tham dự Những khóa tu dành cho bệnh nhân, hay những khóa tu dành cho học sinh, sinh viên, dành cho người lớn tuổi Ông được các tu sĩ ở trong chùa ca ngợi về tài tổ chức khoa học và hiện đại Những bài thuyết pháp của ông không dùng những ngôn ngữ cao sang, bóng bẩy mà sử dụng thứ ngôn ngữ bình dị, gần gũi, sống động, giúp cho bất kỳ ai nghe ông thuyết pháp đều cảm thấy được sự an lạc, nhẹ nhàng trong tâm hồn Các hoạt động từ thiện của chùa gắn liền với các hoạt động xã hội và các hoạt động của chùa mang tính nhập thế cao, vì vậy có ảnh hưởng trực tiếp và gần gũi với cuộc sống của người dân

Như vậy, chùa Hoằng Pháp từ khi thành lập tới nay đã trải qua hai đời

Trang 25

trụ trì đó là: Hòa thượng Ngộ Chân Tử (1957 - 1988) và Thượng tọa Thích Chân Tính (từ 1988 đến nay) Với uy tín và công đức của hai vị trụ trì, chùa Hoằng Pháp ngày càng thu hút đông đảo Phật tử từ các nơi Hàng năm, chùa tổ chức rất nhiều các khóa tu và các hoạt động thiện nguyện, cho tới nay,

số lượng Phật tử tham dự mỗi khóa tu của chùa đã lên tới hơn ba ngàn người Ngoài ra, mỗi chủ nhật hàng tháng đều tổ chức khóa tu niệm Phật với số lượng Phật tử tham dự ngày càng đông, có lúc lên tới 15 ngàn người Uy tín của chùa ngày càng rộng Nhà chùa hiện đang xây dựng tiếp 6 chi nhánh ở các tỉnh trong cả nước

Trang 26

Tiểu kết chương 1

Đi lễ chùa đầu năm từ lâu đã trở thành tập tục và thói quen sinh hoạt văn hóa luôn được duy trì trong mỗi con người Việt Nam Những ngày đầu năm là thời điểm chuyển giao giữa năm cũ và năm mới Trải qua một năm cũ với bao bộn bề, lo toan của cuộc sống, con người được thảnh thơi và ước mong cho một năm mới suôn sẻ và hạnh phúc Đây là lúc người ta hướng về thế giới tâm linh, tỏ lòng thành kính với tổ tiên và các vị thần, thánh để cầu xin cho một năm mới được an lạc, thuận buồm xuôi gió và tìm kiếm sự thư thái cho tâm hồn, niềm tin vào tương lai

Với mục đích đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người, lễ cầu an đầu năm đã được nhiều chùa ở khắp nơi trong cả nước tổ chức và thu hút đông đảo người dân tham gia Ở mỗi một vùng, miền lại có cách thức đi lễ chùa cầu

an khác nhau Tp Hồ Chí Minh là một trong hai thành phố đông dân và có kinh tế phát triển nhất trong cả nước thì ngày lễ cầu an đầu năm càng trở nên nhộn nhịp Lễ cầu an đầu năm là một nghi lễ mang tính chất Phật giáo và từ lâu nó đã trở thành một trong những ngày đại lễ của nhà Phật Tại Tp Hồ Chí Minh, Lễ cầu an được tổ chức ở nhiều không gian thờ tự khác nhau, nhưng phổ biến hơn cả là lễ cầu an được tổ chức tại chùa

Chùa Hoằng Pháp là một ngôi chùa nằm ở vùng ngoại ô Tp Hồ Chí Minh Chùa có bề dày lịch sử sáu mươi năm và trải qua hai đời trụ trì có uy tín trong giới Phật pháp Hàng năm, nhà chùa tổ chức rất nhiều những khóa

tu, đặc biệt là những khóa tu hướng tới các đối tượng trẻ là học sinh, sinh viên Bên cạnh đó, các hoạt động Phật sự của chùa cũng luôn được truyền thông và báo chí chú ý Lễ cầu an đầu năm tại chùa Hoằng Pháp được tổ chức thường niên vào ngày rằm tháng Giêng và là một trong những điểm đến tâm linh của người dân Thành phố Trong những năm gần đây, mỗi buổi lễ cầu an của nhà chùa thu hút tới mấy chục ngàn người đã cho thấy được sức ảnh hưởng của nó tới đời sống tâm linh của người dân nơi đây

Trang 27

Chương 2 QUY TRÌNH THỰC HÀNH NGHI LỄ CẦU AN ĐẦU NĂM

2.1 Khái niệm, đặc điểm của lễ cầu an đầu năm

“Cầu an” là hai từ nghe rất bình dị và gần gũi với mỗi người nhưng hàm chứa rất nhiều ý nghĩa Từ “an” có nghĩa là an lạc, vui vẻ, thanh thản, bình yên, là sự nhẹ nhàng trong tâm hồn Chung quy lại “an” là tất cả những

gì đem tới sự vui vẻ, thanh thản trong cuộc sống của con người “Cầu” không phải với nghĩa là cầu xin, cầu khẩn mà là sự mong muốn, là ước mơ của con người về một vấn đề gì đó Như vậy, “cầu an” nghĩa là ước mơ của con người

về một cuộc sống thanh thản, bình an Theo Hòa thượng Thích Nhật Từ (chùa Viên Giác) thì “cầu an là sự mong muốn, ước vọng được khỏe mạnh, an lạc

và hạnh phúc” [24]

Nói về việc cầu an, một sư thầy ở chùa Hoằng Pháp cho rằng: “Trong tất cả những mong muốn của con người thì mong muốn được an là mong muốn căn bản nhất Nếu tâm không an thì cuộc sống dù có giàu có đến mấy đi chăng nữa cũng không có được sự mãn nguyện An hay không an là ở chính tâm của con người Khi đứng trước những sóng gió của cuộc đời, tâm ta vẫn định để đối diện với nó thay vì sự bất an thì mọi thứ đều sẽ được giải quyết Nếu thay vì việc đối diện với nó, lại đi tìm một thế lực siêu nhiên để cầu cúng, mua chuộc thì đó không phải mục đích mà lễ cầu an của nhà chùa hướng tới Bản chất của cầu an không phải là một nghi thức ban phước mà là giúp cho con người được an tâm, xua đi mọi bất an, lo lắng”1

Lễ cầu an là một nghi lễ để cầu mong sự an lành Đây là một trong những lễ thức mang tính chất nghi lễ Phật giáo Khác với các “nghi lễ cúng sao giải hạn, lễ bán khoán, lễ cắt giải tiền duyên…là những loại hình mang tính đạo giáo và tín ngưỡng dân gian”, “nghi lễ cầu an cùng với lễ cầu siêu và

Trang 28

lễ chạy đàn Dược Sư là những lễ thức mang tính chất nghi lễ Phật giáo” [13,

tr 72] Nghi lễ cầu an thường được gắn với nghi lễ cầu siêu “Cầu siêu là cầu siêu thoát cho vong linh người chết, cầu an là cầu bình yên cho người sống” [21, tr 17] Hai nghi lễ này thường được tổ chức cùng lúc với nhau, vào nhiều thời gian trong năm và tùy theo tính mục đích của từng buổi lễ mà người ta quan tâm hoặc chú trọng tới nghi lễ nào nhiều hơn

Tuy lễ cầu an mang tính chất nghi lễ Phật giáo nhưng nó “không phải riêng là một lễ của nhà Phật, đây là một lễ dung uy tín của kinh phật để trấn

an trong làng xã” [2, tr 263] Lễ cầu an được tiến hành ở nhiều địa điểm, không gian thờ tự và mỗi một dân tộc đều có lễ cúng cầu an theo những cách thức khác nhau Tùy theo không gian và tính chất của buổi lễ mà lễ cầu an có

sự ảnh hưởng của các tôn giáo khác nhau, có khi là sự kết hợp giữa cả Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo…nhưng đặc biệt là vai trò chủ yếu của Phật giáo trong việc cúng tế Một sư tăng chùa Hoằng Pháp cho biết “lễ cầu an không phải là một nghi lễ chính thống của Phật giáo Nó là sự kết hợp giữa Phật giáo ngoại nhập với tín ngưỡng bản địa Lấy nghi lễ phật giáo để thực hiện nguyện vọng và tập tục của người dân” Dù không phải là một nghi lễ chính thống của Phật giáo, song từ lâu lễ cầu an đã được tiến hành trong các buổi lễ chính của Phật giáo tại các chùa

Trước đây, lễ cầu an “được tiến hành vào khoảng thời gian cuối xuân đầu hạ tại mỗi xã, có khi tại mỗi thôn Mùa hạ là mùa viêm nhiệt, tức là mùa dịch khí, có nhiều người mắc chứng bịnh dịch tả, dịch hạch…Tục ta tin là các quan âm bắt lính, những người chết về các chứng bệnh dịch sẽ biến thành lính của các quan ôn tại cõi âm” [2, tr 264] Hiện nay, nghi lễ cầu an được thực hiện vào nhiều thời gian trong năm và ở nhiều địa điểm khác nhau, có khi được thực hiện tại chùa, có khi Nhà chùa tổ chức cầu an cho một tổ chức, đơn

vị hoặc gia đình, cá nhân người có nhu cầu được cúng cầu an mang tính chất

Trang 29

dịch vụ Phật giáo Tuy nhiên, lễ câu an được tổ chức tại chùa vào đầu năm mới là lễ cầu an có quy mô lớn nhất và được thực hiện nghi lễ một cách bài bản, còn lễ cầu an mang tính dịch vụ Phật giáo có tính chất khác biệt, thường gắn với mục đích cụ thể và thỏa theo yêu cầu của người cần thực hiện, thường

là những nhu cầu cơ bản như khai trương, cầu tài lộc trong một năm mới, hoặc là những gia đình gặp phải những tai nạn, những điều kém may mắn…“những mục đích này thường mang đậm tính dân gian” [12, tr 72]

Tuy không phải là nghi lễ chính thống của Phật giáo, nhưng lễ cầu an đầu năm ngày nay trở thành một ngày lễ lớn được tổ chức thường niên tại nhiều chùa trong cả nước Lễ cầu an đầu năm được tổ chức vào đầu năm âm lịch, thường là vào nửa đầu tháng giêng khi một năm mới bắt đầu Tùy theo từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà các chùa có thời gian tổ chức khác nhau Có nhiều nơi tổ chức lễ cầu an vào đúng ngày mồng một của tết Nguyên Đán hoặc trong cả ba ngày đầu tiên của năm mới Mục đích chính ban đầu của lễ cầu an đầu năm là cầu nguyện sự an lành cho chúng sinh, cầu bình yên cho dân chúng Tuy nhiên, theo thời gian, ý nghĩa của việc tổ chức đại lễ cầu an tại các chùa hiện nay có sự khác biệt, thường gắn với các mục đích mang tính dân gian, mỗi một người tham gia vào việc thực hành nghi lễ

có những mục đích khác biệt nhưng về căn bản vẫn là cầu mong sự bình an,

an lạc theo đúng tên gọi của nghi lễ

Bên cạnh đó, lễ cầu an còn được tổ chức ở một không gian khác là đình Lễ cầu an ở đình còn được gọi là lễ kỳ yên hoặc kỳ an Tác giả Toan

Ánh cũng đã đề cập tới lễ kỳ yên trong cuốn Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam

Hiện nay, lễ kỳ yên vẫn được duy trì ở một số đình khu vực phía Nam Tuy nhiên, lễ cầu an kể trên là lễ cầu an mang tính chất nghi lễ Phật giáo, còn lễ cầu an tại đình là đặc trưng của văn hóa đình làng Nam Bộ, nó gắn với các sự tích thờ Thần Hoàng làng hoặc những người có công gây dựng làng Tính

Trang 30

2.2 Quy trình thực hành nghi lễ cầu an đầu năm

2.2.1 Quá trình chuẩn bị nghi lễ

Việc thực hành nghi lễ cầu an, cầu lộc vào đầu năm mới đã trở thành thói quen của hầu hết người dân Việt Nam Mỗi gia đình đều có những nghi thức cầu an khác nhau Có gia đình gộp chung cúng cầu an với cúng giao thừa ngay tại nhà, có gia đình thì sắm lễ lên chùa hoặc đình vào sáng mồng một tết… Ngày nay, việc thực hành nghi lễ cầu an tập thể tại các chùa đã trở nên phổ biến và trở thành thói quen của mỗi người dân Các chùa cũng từ đó ngày càng mở rộng lễ cúng cầu an vào đầu năm và có nhiều chùa tổ chức thành thông lệ Theo sư thầy Thích Tâm Đạo - sư thầy tại chùa Hoằng Pháp, trước đây người dân xã Tân Hiệp có thói quen cúng cầu an theo từng xóm, tuy nhiên nghi lễ này dần không còn nữa vì không phù hợp với điều kiện sinh sống của người dân Huyện Hóc Môn là huyện có nhiều dân ngụ cư, do đó việc cúng theo xóm dần không còn được duy trì Từ khi thành lập chùa, Nhà chùa đã tổ chức lễ cúng cầu an hằng năm Lễ cầu an đầu năm tại chùa Hoằng Pháp trước đây được tổ chức với quy mô nhỏ, thường là dành cho những người theo đạo Phật hoặc đối tượng chính là những người lớn tuổi ở trong xã, nhưng do Phật tử đến ngày càng đông hơn nên chính điện không còn đủ chỗ

để phục vụ, do đó quy mô ngày càng được mở rộng hơn, phần là để duy trì việc thực hành lễ, phần là để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của người dân Đối tượng tham gia hiện nay không chỉ có người dân trong xã mà còn là người dân trong Thành phố và các tỉnh lân cận tham dự

Lễ cầu an tại chùa Hoằng Pháp được tổ chức theo thông lệ vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm Để tổ chức lễ cầu an, Nhà chùa phải lên kế hoạch

và chuẩn bị từ trước Tết âm lịch Từ các khâu như truyền thông, nhân sự, lễ vật…cho tới khâu về an ninh được chuẩn bị kỹ lưỡng

Trang 31

Chùa Hoằng Pháp có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, chia làm các Khối công tác Mỗi Khối thực hiện một chức năng riêng biệt Cơ cấu tổ chức chùa Hoằng Pháp hiện nay gồm: khối Hành chính, khối Quản chúng, khối Kinh tế tài chính, khối Văn hóa Phật giáo và khối Hậu cần Khối Hành chính thực hiện các chức năng về hành chính văn thư và công tác xã hội Khối Hành chính gồm các ban: Văn phòng, Từ thiện và Thư ký Khối Quản chúng thực hiện các nhiệm vụ về quản lý nhân sự, khối này bao gồm các ban: ban Giám luật, ban Chư tăng, ban Cư sĩ Phật tử Khối Kinh tế tài chính thực hiện các chức năng về tài chính và những công việc liên quan tới việc chi tiêu Khối Kinh tế tài chính gồm các ban: thủ quỹ, xây dựng, kiểm ngân, in ấn, phòng may, phòng phát hành Khối Văn hóa Phật giáo thực hiện các chức năng về văn hóa, truyền pháp, truyền thông và chịu trách nhiệm tổ chức các sự kiện Nhà chùa tổ chức Khối Văn hóa Phật giáo gồm: Hoằng Pháp, văn hóa, truyền thông, tổ chức sự kiện Khối hậu cần thực hiện các công việc về hậu cần, gồm có: vệ sinh, nhà bếp, y tế, trà nước, điện nước sinh hoạt, bãi xe, ô tô, cây kiểng, chính điện Mỗi Khối, Ban thực hiện các công việc theo chức năng của mình trong tất cả các sự kiện của chùa diễn ra trong năm

Chùa Hoằng Pháp có tất cả năm ngày đại lễ trong năm là: Lễ cầu an đầu năm, Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan, Lễ giỗ tổ và Lễ vía Phật A Di Đà Tất cả những ngày lễ này đều phải xin phép Ban Công giáo và Sở nội vụ và có quyết định tổ chức Trước thời gian tổ chức lễ, Nhà chùa sẽ chuyển quyết định này tới chính quyền địa phương để thông báo tổ chức Lễ Do đó, với lễ cầu an đầu năm, Nhà chùa đã phải chuyển quyết định tổ chức này tới chính quyền địa phương từ cuối năm trước Thông thường, chính quyền địa phương sẽ có kế hoạch chuẩn bị hỗ trợ về an ninh trong ngày lễ

Ban tổ chức lễ cầu an đầu năm được thành lập Đứng đầu là Trưởng

Trang 32

và Tổng Giám luật Lễ cầu an đầu năm tại chùa Hoằng Pháp không phân chia thành các ban cụ thể (ví dụ như: ban tế lễ, ban nhạc lễ, ban tổ chức lễ…) mà phân công trực tiếp nhân sự vào những vị trí, công việc cụ thể Nhân sự của chùa Hoằng Pháp có 100 sư tăng và 150 Phật tử Những người có vị trí cao trong chùa (thường là trưởng hoặc phó các Ban) sẽ được phân công đứng đầu đảm nhận các trọng trách quan trọng liên quan tới phần nghi lễ Những người còn lại sẽ được sắp xếp vào các công việc liên quan tới phần tổ chức

Trưởng ban tổ chức thường là thầy trụ trì đứng vai trò chỉ đạo chung cho toàn bộ buổi lễ, đồng thời sẽ chuẩn bị phần pháp thoại Tùy theo từng năm mà phần pháp thoại có những chủ đề khác nhau

Phó Ban điều hành sẽ điều hành chung toàn bộ khâu tổ chức của Đại lễ Lên kế hoạch và phân công công việc chi tiết cho từng bộ phận

Tổng giám luật điều hành nhân sự hướng dẫn Phật tử tham dự lễ

Những công việc liên quan tới phần nghi lễ được phân công như sau: Chủ sám: là người thay mặt toàn thể kinh sư và Phật tử xướng lễ, điều khiển lễ Chủ sám thường là người có địa vị cao trong chùa, có giọng đọc to

và truyền cảm

Chứng minh lễ: những vị sư tăng có vị trí và tuổi đạo lớn trong chùa sẽ được bố trí vào vị trí chứng minh lễ Trong mỗi đại lễ cầu an, chứng minh lễ thường có mười người, những người này sẽ mặc pháp phục nghi lễ ngồi thành hàng trên chính điện để chứng minh lễ trong khi đại lễ diễn ra

Thỉnh sư: là người đại diện mời các sư thầy lên chứng minh lễ

Cử chuông: là người đánh chuông trong buổi lễ Người cử chuông phải

là người biết quy trình của buổi lễ, hiểu biết về trình tự nghi lễ để sử dụng chuông đúng lúc tạo thêm tính uy nghiêm của buổi lễ

Cử mõ: là người đánh mõ trong buổi lễ Cũng như cử chuông, cử mõ cần

sử dụng mõ đúng cách, đúng lúc để tiếng mõ hòa quyện với tiếng đọc kinh

Trang 33

Ngoài ra còn có bộ phận làm nhiệm vụ xếp hàng rào cung nghinh chư tôn thiền đức quang lâm chính điện

Những công việc liên quan tới phần tổ chức bao gồm: Giám luật - là những người hướng dẫn Phật tử tham dự lễ Phật tử tham dự lễ được phân biệt

là Phật tử dự lễ và Phật tử khách mời Giám luật được bố trí ở tất cả các khu vực trong khuôn viên chùa để giúp cho Phật tử tham dự lễ được ổn định và bố trí Phật tử dùng cơm chay sau lễ; bộ phận truyền thông với các nhiệm vụ như: quay phim, chụp hình, phát hành các ấn phẩm và quà tặng của chùa tới Phật tử; các công việc như phụ trách âm thanh, ánh sáng, điện, nước, y tế… cho tới

an ninh và vệ sinh được phân công chi tiết Bộ phận phát hành chuẩn bị kinh sách để tặng cho Phật tử tham dự lễ Do số lượng Phật tử tham dự lễ đông nên nhà chùa phải chuẩn bị sẵn hệ thống loa và màn hình led ngoài khuôn viên chùa Không gian để Phật tử đến làm lễ cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng Khuôn viên chùa được trang bị ghế nhựa hoặc chiếu để Phật tử ngồi Tất cả những công việc về tổ chức đều do các tăng ni và Phật tử sống trong chùa trực tiếp thực hiện, ngoài ra có sự giúp sức của các Phật tử công quả tại chùa

Chương trình lễ cầu an chùa Hoằng Pháp bao giờ cũng có phần mời Phật tử dùng cơm chay sau nghi lễ Do đó, công việc chuẩn bị cũng được lên

kế hoạch Những người được giao công việc nấu ăn trong nhà bếp được chia thành ba tổ, một tổ phụ trách nấu cơm, một tổ nấu canh và một tổ nấu thức ăn Những người đảm nhận công việc tiếp khách và phát cơm hộp cũng được lên danh sách Tất cả chuẩn bị sẵn sàng để phục vụ hơn hai mươi ngàn xuất ăn trong ngày lễ chính

Cách ngày tổ chức lễ cầu an hai tháng, khoảng cuối tháng 11 âm lịch của năm trước, công việc chuẩn bị cho đại lễ đã được triển khai Cảnh quan và không gian thờ tự của chùa được dọn dẹp và trang trí phục vụ cho tết Nguyên Đán Toàn bộ khuôn viên chùa được trang trí hoa và đèn tạo nên một màu sắc

Trang 34

rực rỡ Hoa được kết thành những hình khối mang ý nghĩa Phật giáo Một Phật

tử tới lễ tại chùa đã nói rằng đây là “đường hòa Nguyễn Huệ thứ hai” Hoa và đèn kết hợp với không gian thanh tịnh của chùa tạo cho người tham dự lễ có cảm giác được nhẹ nhàng, thư thái Người đi lễ tới đây không chỉ được lễ Phật mà còn được du ngoạn và ngắm cảnh đẹp ngày xuân đầu năm

Về lễ vật: lễ vật chuẩn bị cho buổi lễ cầu an tại chùa Hoằng Pháp rất đơn giản, chỉ bao gồm: hương, hoa và trái cây Đặc biệt là hoa được trang trí khắp chính điện Dưới chân tượng Phật Thích Ca Mâu Ni được trang trí hoa cúc, hai bên là hai bình hoa lớn, thường được trang trí hoa lan Phía trước là hai khay trái cây và một lãng hoa lớn Trái cây được bày trí trong chính điện thường là những loại trái cây có màu sắc đẹp mắt như phật thủ, dưa vàng, thanh long Một dãy bàn ngang chính điện được chuẩn bị để các vị chư tôn đức ngồi, trên bàn là những lãng hoa tươi Không gian trong chính điện thoáng đãng và tràn ngập hoa, kết hợp với tượng phật tạo nên cảm giác vừa

uy nghiêm, thanh tịnh mà lại không âm u như những ban thờ thường thấy, tạo nên cảm giác dễ chịu cho người dự lễ Ban thờ không có vàng mã và cũng không có sớ Trước khi tiến hành nghi lễ, nến và đèn được thắp sáng trên các ban thờ Những người tham dự lễ ghi danh trong một cuốn danh sách cầu an, Nhà chùa sẽ đọc dần danh sách này trong các buổi lễ hàng ngày sau đó Ngoài ban thờ chính là chính điện, các ban thờ khác như ban thờ Tổ sư phía sau thờ Phật trong chính điện, tháp Nhị Nghiêm, nơi hòn non bộ thờ tượng đức Quan

Âm Bồ Tát tất cả đều được bày lễ vật là hương, hoa và trái cây

Đối với người tham dự lễ: nếu là Phật tử thuần thành, là những Phật tử lâu năm thường xuyên tới chùa thì đã được nhà chùa hướng dẫn mặc trang phục là áo tràng Đối với Phật tử tham quan và đối tượng khác thì thường sẽ chuẩn bị trang phục một cách trang nghiêm Về lễ vật của người tham dự lễ, các lễ vật được chuẩn bị tùy theo từng điều kiện, thói quen và nét văn hóa

Trang 35

khác nhau Lễ vật của người tham dự lễ được hướng dẫn là chỉ cúng đồ chay, thường là trái cây và bánh hoặc các loại đặc sản của từng vùng miền Tiền cúng sẽ được hướng dẫn đưa vào hòm công đức hoặc cúng dường ghi nhận tại văn phòng của nhà chùa mà không để Phật tử đặt tiền lên trên các ban thờ

Nhìn chung, toàn bộ các khâu chuẩn bị cho buổi lễ được chuẩn bị chu đáo Việc tổ chức lễ cầu an vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm đã trở thành thông lệ, do đó khâu chuẩn bị cũng được thực hiện một cách nhanh chóng Từ không gian lễ được trang trí thế nào, lễ vật được bày trí ra sao, nhân sự bao nhiêu người,… cho tới cách đi đứng, hành lễ đều được tập dượt và sẵn sàng cho buổi lễ chính thức

2.2.2 Diễn biến chương trình lễ cầu an đầu năm

Như thường lệ, lễ cầu an đầu năm tại chùa Hoằng Pháp được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng (âm lịch) hàng năm Lễ cầu an là đại lễ thu hút lượng Phật tử dự lễ đông nhất trong tất cả các ngày đại lễ trong năm tại chùa Ngay từ sáng sớm, dòng người đã xếp hàng chật ních trên con đường vào chùa Những người tham dự lễ có từ người già tới trẻ và trẻ nhỏ, từ khắp các nơi đổ về Từ 6 giờ sáng, hàng ngàn người đã xếp hàng ngoài cổng chính, mỗi người đều cầm trên tay một bó hương hoặc hoa Bên phía trong cổng chính, Nhà chùa bố trí một thùng hương và những cây đèn cầy để Phật tử thắp tại lư hương lớn ở trước chính điện Toàn bộ khuôn viên chùa được sắp xếp ghế nhựa hoặc trải chiếu cho Phật tử ngồi Mỗi người đều nhanh chóng tìm cho mình một chỗ ngồi yên ổn Từ chính điện tới ngoài sân chùa đều chật kín người, ai cũng tỏ ra kiên nhẫn chờ đợi buổi lễ bắt đầu Trong lúc chờ đợi, người thì ngồi nghe loa phát nhạc Phật giáo, người đi đến thắp hương ở lư hương trước chính điện, người thì xếp hàng chờ đợi trước hòn non bộ - nơi thờ tượng phật Quan Âm Bồ Tát, người thì đăng ký ghi danh vào danh sách

Trang 36

lễ đều mặc áo tràng màu vàng, nâu hoặc lam Tất cả đều mang một vẻ trang nghiêm và thành kính

Đằng sau chính điện, khu vực nhà bếp và nơi sinh hoạt riêng của tu sĩ trong chùa, các tăng ni và Phật tử đều đang bận rộn để chuẩn bị cho tiệc chay sau lễ Những dãy bàn ghế ăn được chuẩn bị bát đũa sẵn sàng Ngoài khuôn viên, người người vẫn tấp nập ra vào, họ truyền cho nhau những cuốn kinh nhật tụng và những phong bao “lì xì” mà nhà chùa phát tặng

Lễ cầu an đầu năm được tổ chức tại chính điện, nơi thờ tượng phật Thích Ca Mâu Ni Những Phật tử được sắp xếp vị trí ngồi trong chính điện hầu hết là những Phật tử lớn tuổi, đó là những Phật tử sống trong chùa và những Phật tử khách mời Toàn bộ đều mặc một màu áo tràng màu xám, ngồi thành hàng nghiêm chỉnh theo sự sắp xếp của Nhà chùa

Đúng 9 giờ sáng, sau ba hồi chuông trống bát nhã vang lên, toàn bộ Phật tử đều đồng loạt đứng dậy “cung nghinh chư tôn thiền đức quang lâm chính điện” Các Phật tử xếp thành hàng ngay ngắn tạo một lối đi ở giữa từ chính điện cho tới phía sau, tất cả đều thành kính chắp tay hướng về phía “chư tôn đức” Một đoàn sư tăng khoảng hơn mười người mặc pháp phục nghi lễ của phái Bắc tông đi thành hàng Người đi đầu cầm khánh bằng đồng vừa đi vừa đánh Người kế tiếp bưng khay đựng hoa và trầm Người đi ở vị trí thứ ba

là trụ trì của chùa Những người còn lại phía sau vừa đi vừa chắp tay Tất cả đều mang một vẻ mặt trang nghiêm tiến vào chính điện

Vị sư trụ trì chùa được sắp xếp ngồi ở bàn ở chính giữa trước ban thờ, hai bên là các vị sư tăng khác Đây là đoàn chứng minh lễ, là những vị sư tăng

có vị trí và tuổi đạo cao nhất trong chùa Tất cả chắp tay và quay mặt xuống phía dưới tạo nên một bầu không khí trang nghiêm Phía dưới chính điện, tất

cả Phật tử đều mặc áo tràng cùng một màu xám, hầu hết là những Phật tử lớn

Trang 37

tuổi Tất cả đều hướng về phía ban thờ, nơi chư tôn đức đang đứng thành hàng ra mắt các Phật tử

Chương trình buổi lễ bắt đầu Một vị sư tăng trong đoàn chứng minh lễ tuyên bố lý do và giới thiệu chương trình buổi lễ Sau phần giới thiệu chương trình là phần pháp thoại của thượng tọa trụ trì Tùy theo từng năm mà trụ trì có phần pháp thoại với chủ đề khác nhau Có khi là chủ đề “dân hòa, nước thịnh”,

có khi là chủ đề “gieo hạt giống từ - bi - hỷ - xả”, khi là những câu chuyện ngắn… Phần pháp thoại của trụ trì Thích Chân Tính luôn là phần mà các Phật tử tham dự lễ mong chờ Những câu chuyện xoay quanh các chủ đề về “nhân - quả”, đạo đức gần gũi với đời sống của mỗi người, răn dạy con người sống lương thiện, hiểu được ý nghĩa của cuộc đời, hướng con người tới cuộc sống tốt đẹp hơn Một Phật tử từ Bình Dương tới tham dự lễ tại chùa cho biết “tôi thích nhất là phần thuyết pháp của thầy Thích Chân Tính, đầu năm nghe thầy thuyết pháp xong thấy mọi lo âu đều được xóa bỏ, cuộc sống thật bình yên Các đại lễ của chùa năm nào tôi cũng tham dự để được nghe thầy giảng”2

Sau phần thuyết pháp của trụ trì là phần nghi thức chính của buổi lễ Một sư thầy chùa Hoằng Pháp cho biết, “lễ cầu an không phải là một nghi thức chính thống của Phật giáo, nó là tín ngưỡng dân gian và sau đó lấy nghi thức phật giáo để thực hiện ước muốn của người dân, do đó không có kinh cầu an riêng” Trình tự nghi thức của một khóa lễ cầu an bao giờ cũng gồm 3 phần: phần đầu là nghi thức dẫn nhập khóa lễ, phần thứ hai là phần kinh chính và phần thứ ba là phần sám nguyện và hồi hướng Trước khi cử hành nghi lễ, thông thường người chủ tế cần phải tắm rửa sạch sẽ, xông hương ướp hoa cho thơm tho rồi mới lên chính điện

Nghi thức “niêm hương bạch Phật” và khai đàn cầu an đầu năm được tiến hành Đây là một nghi thức quan trọng không thể thiếu được trong các

Trang 38

nghi lễ Phật giáo Lúc này, toàn thể sư tăng và Phật tử đều đứng dậy Phía trước ban thờ chính điện, vị trụ trì đứng trước, chư tôn đức xếp hàng đứng phía sau Vị trụ trì thắp đèn đốt hương, tay chắp ngang ngực và mật niệm

“Chú tịnh pháp giới” và “Chú tịnh tam nghiệp”, miệng đọc “Án lam sa ha” (được gọi là chơn ngôn làm sạch ngoại cảnh, để cho đạo tràng được trong sạch) 7 lần và “Án sa phạ bà phạ, thuật đà sa Phạ, đạt mạ sa phạ, bà phạ thuật

độ hám” (được gọi là chơn ngôn làm sạch thân miệng ý, để cho thân miệng ý được trong sạch) 7 lần Sau đó, vị trụ trì tay cầm 3 cây hương ngang trên trán, quỳ gối, cúi đầu “thành kính” dâng lên trước tượng Phật Chư tôn đức và toàn

bộ Phật tử tham dự lễ cùng quỳ gối, chắp tay tạo nên không khí trang nghiêm

và linh thiêng Vị trụ trì nói lên mục đích của buổi lễ và bắt đầu niệm bài “Kệ tán Phật” Khi vị trụ trì dứt lời, vị trù trì đứng dậy và cắm hương lên lư rồi chắp tay niệm bài “Quán tưởng” Sau cùng, vị trụ trì xá ba xá rồi niệm lớn bài

“Lễ Phật” và “Tán lư hương” Phần nghi lễ đầu tiên này có ý nghĩa là dâng hương và trình lên Đức Phật những việc đang làm, cầu xin Tam bảo chứng minh cho buổi lễ được thành tựu viên mãn

Sau nghi thức niêm hương bạch Phật là tới phần kinh chính Bắt đầu là một hồi chuông mõ gióng lên để khởi sự tụng kinh Toàn thể sư tăng và Phật tử cùng tụng kinh “Phổ môn” Tên gọi đầy đủ của kinh này là “Quan Thế

Âm Bồ Tát phổ môn phẩm” “Phẩm phổ môn là một trong những phẩm quan trọng về Phật giáo ứng dụng của kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tức kinh Hoa Sen Chánh Pháp Tuy nhiên, từ lâu, trong sinh hoạt Phật giáo ở các nước theo truyền thống Phật giáo Đại thừa, người ta đã tách phẩm Phổ môn ra thành một bản kinh độc lập để tụng đọc và thực tập”[26] Nội dung của Phẩm phổ môn nói về hạnh nguyên của Bồ Tát Quan Thế Âm Đó là hạnh nguyên từ bi và cứu rỗi con người hóa giải những nỗi khổ của cuộc đời và ban niềm vui Bên cạnh đó, Phẩm phổ môn đề cập tới phương pháp “Quán chiếu” để được giác

Trang 39

ngộ và giải thoát, đó là “Ngũ quán” bao gồm: Quán chân thật, Quán thanh tịnh, Quán Từ, Quán bi và Quán trí tuệ và năm loại âm thanh gọi là “ngũ âm” bao gồm: Diệu âm, Quan thế âm, Phạm âm, Hải triều âm và Thắng bỉ thế gian

âm Điều này có nghĩa cơ bản là quan sát những âm thanh, niềm đau, nỗi khổ của con người để cứu giúp Ý nghĩa của bài kinh là đem đến cho con người niềm an lạc, giải thoát con người ra khỏi mọi khổ đau, bi ai của cuộc đời

Mỗi Phật tử trước khi tham gia lễ đều được nhà chùa tặng một cuốn

“Kinh nhật tụng” Trong cuốn kinh này có phần kinh “Diệu pháp liên hoa phẩm phổ môn” Kinh này bao gồm các phần: Kệ tán phật, Quán tưởng, Lễ phật, Tán lư hương, Chú đại bi, Kệ khai kinh, Kinh diệu pháp liên hoa phẩm phổ môn, Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh, Vãng sanh thần chú, Niệm phật, Sám cầu an, Hồi hướng và Phục nguyện Phần kinh chính được bắt đầu bằng bài “Chú đại bi” mang ý nghĩa là phát tâm từ bi Các bài kinh lần lượt được tụng

Kinh được tụng theo nhịp của chuông và mõ Người thỉnh chuông được gọi là cử chuông, người gõ mõ được gọi là cử mõ Việc sử dụng chuông và

mõ trong nghi lễ rất quan trọng Nhờ có mõ mà tụng theo được đúng nhịp, nhờ có chuông mà biết được bài kinh đang tụng sắp hết để chuyển sang một bài kinh tiếp theo và khi làm lễ, lạy hoặc đứng lên, ngồi xuống được nhịp nhàng Chuông và mõ còn tạo cho bầu không khí buổi lễ thêm phần trang nghiêm và thanh tịnh

Khi nghi lễ bắt đầu, cử chuông sẽ thỉnh sáu tiếng chuông Điều này có nghĩa là để giữ cho sáu căn thanh tịnh để tụng kinh Mỗi khi chủ lễ xá hoặc lạy thì thỉnh một tiếng chuông và khi vị chủ lễ dập đầu trán chạm đất thì sẽ dập chuông - sau khi dùng dùi gõ và chuông thì để nguyên dùi trên chuông cho tiếng chuông không vang đi Sau tiếng dập chuông thì chủ sám và toàn bộ

Ngày đăng: 12/05/2017, 16:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1957), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1957
2. Toan Ánh (2005), Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam - quyển thượng, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam - quyển thượng
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
3. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
4. Kim Chi (…), Lễ cầu an của đồng bào Tày ở Ba Bể, Dân tộc & thời đại, số 116, tr. 5 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc & thời đại
5. Lương Thị Hạnh (2006), Lễ cầu an của người Tày ở Bắc Kạn, Tạp chí Dân tộc học, số 5, tr. 66 - 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Lương Thị Hạnh
Năm: 2006
6. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2016), Lễ hằng thuận trong cưới hỏi tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, Luận văn thạc sĩ văn hóa học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hằng thuận trong cưới hỏi tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Năm: 2016
7. Nguyễn Thị Xuân Hương (2013), Lễ kỳ yên của đình Long Thành, xã Long Thành Nam, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, Luận văn thạc sĩ văn hóa học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ kỳ yên của đình Long Thành, xã Long Thành Nam, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Hương
Năm: 2013
8. Lê Hồng Lý (2003), Lễ hội đền Bà Chúa Kho, Nguồn sáng dân gian, số 6, tr. 40 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn sáng dân gian
Tác giả: Lê Hồng Lý
Năm: 2003
9. Ngô Thiện Mãn, Nghi lễ xông đất và nghi lễ cầu an, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ xông đất và nghi lễ cầu an
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
10. Nguyễn Thị Minh Ngọc (2004), Thực trạng hoạt động Phật giáo và các dịch vụ nghi lễ ở Hà Nội, Luận văn thạc sĩ xã hội học, Viện xã hội học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hoạt động Phật giáo và các dịch vụ nghi lễ ở Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Ngọc
Năm: 2004
11. Phạm Quỳnh Phương (2006), Đức Thánh Trần trong xã hội Việt Nam đương đại – tăng quyền và xung đột, sự đa nghĩa của một hiện tượng văn hóa, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3, tr. 30 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn hóa dân gian
Tác giả: Phạm Quỳnh Phương
Năm: 2006
12. Trần Hạnh Minh Phương (2013), Nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Quảng Đông ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, Luận án tiến sĩ lịch sử, Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Quảng Đông ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Tác giả: Trần Hạnh Minh Phương
Năm: 2013
13. Nhiều tác giả (2008), Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2008
14. Trần Ngọc Thêm (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
15. Ngô Đức Thịnh (2001), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
16. Ngô Đức Thịnh (2007), Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2007
18. Thích Chân Tính (2011), Lời người còn ghi lại, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời người còn ghi lại
Tác giả: Thích Chân Tính
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2011
19. Thích Chân Tính (2013), Phật pháp cứu đời tôi, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật pháp cứu đời tôi
Tác giả: Thích Chân Tính
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2013
20. Thanh Tùng, Khóa lễ cầu bình – an và cầu siêu, Chùa Quán Sứ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa lễ cầu bình – an và cầu siêu
21. Phan Thị Yến Tuyết (2005), Nghi lễ cầu siêu – cầu an trong cộng đồng các dân tộc tại Nam Bộ, Nghiên cứu tôn giáo, số 4, tr. 17-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tôn giáo
Tác giả: Phan Thị Yến Tuyết
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh: Tâm Luật, Tâm Ngôn - Lễ cầu an đầu năm trong văn hóa người Việt tại Tp. Hồ Chí Minh (nghiên cứu trường hợp tại chùa Hoằng Pháp, huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh)
nh ảnh: Tâm Luật, Tâm Ngôn (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w