Trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp Nhật Bản và một số gợi mở đối với doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ)Trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp Nhật Bản và một số gợi mở đối với doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ)Trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp Nhật Bản và một số gợi mở đối với doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ)Trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp Nhật Bản và một số gợi mở đối với doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ)Trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp Nhật Bản và một số gợi mở đối với doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ)Trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp Nhật Bản và một số gợi mở đối với doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ)Trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp Nhật Bản và một số gợi mở đối với doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ)Trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp Nhật Bản và một số gợi mở đối với doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ)Trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp Nhật Bản và một số gợi mở đối với doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ)Trách nhiệm xã hội (CSR) của các doanh nghiệp Nhật Bản và một số gợi mở đối với doanh nghiệp Việt Nam (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH THỊ THÙY LINH
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI (CSR) CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NHẬT BẢN VÀ MỘT SỐ GỢI MỞ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Chuyên ngành :Kinh tế quốc tế
Mã số : 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS CHU ĐỨC DŨNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Thùy Linh
Trang 3PGS.TS Chu Đức Dũng đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên và
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này
Các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn cho tôi trong quá trình làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ở bên cạnh động viên, khích lệ, sẻ chia và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Do thời gian có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, các anh chị và bạn bè để giúp tôi hoàn thiện luận văn nhiều hơn nữa
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Thùy Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 8
1.1 Khái niệm Trách nhiệm xã hội 8
1.2 Nội dung của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 9
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 13
1.4 Các công cụ thực hiện và đánh giá hoạt động của CSR 15
1.5 Tác dụng của việc thực hiện CSR 17
Chương 2: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TẠI NHẬT BẢN 23
2.1 Nhận thức chung về CSR ở Nhật Bản 24
2.2 Khung khổ thực hiện CSR của các doanh nghiệp Nhật Bản 25
2.3 Thực hiện CSR của các doanh nghiệp Nhật Bản hiện nay 32
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ GỢI MỞ CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 61
3.1 Thực trạng thực hiện CSR ở các doanh nghiệp Việt Nam 61
3.2 Một số nhận xét 71
3.3 Một số gợi mở 74
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết
CR Corporate Responsibility Trách nhiệm của doanh nghiệp CSR Corporate Social Responsibility Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp
GRI Global Reporting Intiative Sáng kiến báo cáo toàn cầu ISO26000 International Organization for
Standardization 26000
Tiêu chuẩn 26000 của Tổ chức quốc tế
OECD Organization for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
UNGC United Nation Global Compact Hiệp ước toàn cầu của Liên
Hợp Quốc ILO International Labor
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản sử dụng các tiêu chuẩn về CSR…34 Bảng 2.2: Ma trận trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhật Bản 40-48 Bảng 2.3: Tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường của Tập đoàn JR….50 Bảng 3.1: Đánh giá hoạt động CSR ở quốc gia được FIAS khảo sát…… 64
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 1.1: Mô hình yếu tố cấu thành CSR ……….…………11 Biểu 1.2: Thứ bậc nhu cầu theo A.Maslow ……… 14 Biểu 2.1: Khung khổ quản lý mới về CSR của Hitachi ……… ….52 Biểu 3.1: Tỷ lệ % các doanh nghiệp tư nhân có lồng ghép các chương trình CSR vào hoạt động kinh doanh ………62 Biểu 3.2: Mục tiêu chính của doanh nghiệp các nước khi tiến hành CSR… 63
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility) đang trở thành mối quan tâm của quốc tế, của mọi quốc gia, nói cách khác là
sự quan tâm của thời đại Ngày 31/1/1999 tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan đã kêu gọi lãnh đạo các doanh nghiệp bàn về một công ước quốc tế có sứ mạng tập hợp các doanh nghiệp, các cơ quan công quyền, các tổ chức dân sự thông qua những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ môi trường sinh thái và ổn định xã hội
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã trở thành một trào lưu thực thụ và phát triển rộng khắp thế giới Người tiêu dùng tại các nước phát triển hiện nay không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn coi trọng cách thức các công ty làm ra sản phẩm đó Họ muốn biết liệu các sản phẩm họ định mua có thân thiện với môi trường sinh thái, với cộng đồng, có tính nhân đạo, và có lành mạnh hay không Nhiều phong trào bảo vệ quyền của người tiêu dùng và môi trường phát triển rất mạnh ở nhiều nước
Trước áp lực xã hội và sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh ngày càng mở rộng, hầu hết các công ty lớn đã chủ động đưa CSR vào chương trình hoạt động của mình một cách nghiêm túc như một giải pháp để xây dựng hình ảnh đẹp trong mắt công chúng và khẳng định thương hiệu trên thị trường Bởi không những hình ảnh của công ty được cải thiện mà doanh số bán hàng cũng được nhân lên đáng kể hay các thủ tục đầu
tư được thuận lợi hơn Và, ngay trong nội bộ công ty, sự hài lòng và gắn bó của nhân viên với công ty cũng được tăng thêm
Ở Việt Nam, việc thực hiện CSR thường vẫn được xem là một hành động giải quyết các vấn đề xã hội vì các mục đích từ thiện và nhân đạo Trong khi đó, CSR nhìn chung phải được hiểu là cách thức mà một doanh nghiệp đạt
Trang 8được sự cân bằng hoặc kết hợp những yêu cầu về kinh tế, môi trường và xã hội đồng thời đáp ứng những kỳ vọng của các cổ đông và các bên đối tác Cách thức mà doanh nghiệp tương tác với các cổ đông, người lao động, khách hàng, nhà cung cấp, chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế
và các đối tác khác luôn được coi là một đặc điểm then chốt của CSR Các doanh nghiệp Việt Nam tuy đã nhận thức được tầm quan trọng và những lợi ích mà CSR mang lại để doanh nghiệp phát triển một cách lâu dài và bền vững nhưng vẫn chưa thật sự biết cách áp dụng một cách chủ động, linh hoạt
và hiệu quả các hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội mà hầu hết chỉ tuân theo những quy tắc, chuẩn mực do họ tự xây dựng để đạt được mục tiêu doanh thu là chủ yếu chứ chưa thực sự vì xã hội và vì cộng đồng
Do vậy, việc tìm hiểu hoạt động thực hiện trách nhiệm của các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ phần nào giúp chúng ta có cái nhìn sâu rộng hơn về cách thức thực hiện CSR hiệu quả để mang lại những lợi ích lâu dài, bền vững cho doanh nghiệp và sự phát triển chung của toàn xã hội Từ đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ rút ra được cho mình những kinh nghiệm phù hợp để áp dụng vào thực tiễn tại doanh nghiệp mình sao cho đúng đắn và hợp lý nhất nhằm mang lại hiệu quả một cách thiết thực nhất
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu CSR trên thế giới
Trên thế giới có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như:
- Matthew J Hirschland (2006), “Corporate Social Responsibility and the Shaping of Global Public Policy” Tác giả bàn về tầm quan trọng của
CSR trong công ty như: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới – sự hiểu biết của công ty về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và CSR thực hành đáp ứng lý thuyết – quản trị toàn cầu và mạng lưới chính sách công cộng toàn cầu
Trang 9- Oyvind Ihlen, Betteke Van Ruler, Magnus Fredriksson, “Public Relations and Social Theory: Key Figures and Concepts” (Routledge
Communication Series) Tác giả bàn về vấn đề: Quan hệ công chúng và lý thuyết xã hội nới rộng phạm vi lý thuyết của quan hệ công chúng Từ đó tập trung vào khái niệm như niềm tin, tính hợp pháp, sự hiểu biết, và phản xạ, cũng như về các vấn đề về hành vi, năng lượng, và ngôn ngữ
- Muhammad Yunus, “Building Social Business: The New Kind of Capitalism That Serves Humanity’s Most Pressing Needs” Tác giả muốn
giúp các doanh nghiệp thấy được vai trò của hoạt động kinh doanh Qua những gương điển hình mà các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn tới vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
- Duygu Turker (2008), Measuring Corporate Social Responsibility: A scale Development Studyi Mục đích của nghiên cứu này là để cung cấp một
nguồn gốc, giá trị, và sự đo lường đáng tin cậy của CSR phản ánh trách nhiệm của một doanh nghiệp với các bên liên quan khác nhau
2.2 Tình hình nghiên cứu CSR ở Nhật Bản
Tại Nhật Bản, một số nghiên cứu về CSR như:
- Kanji Tanimoto & Kenji Suzuki (2005), "Corporate Social Responsibility in Japan: Analyzing the participating companies in global reporting initiative" Tác giả thực hiện hai phương pháp tính toán thực
nghiệm để thấy được phản ứng của các công ty Nhật Bản đối với cách thức áp dụng của các quốc gia phương Tây về CSR, đồng thời bàn luận về các cách tiếp cận này trong việc thực hiện CSR ở Nhật Bản
- Akane Matsumoto (2012), "How Do Corporate Philosophies Of Japanese Companies Influence Their Practice Of The Base Of The Economic Pyramid (BOP) Business And The Corporate Social Responsibility (CSR)?"
Tác giả bàn về sự ảnh hưởng của triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp tư
Trang 10nhân Nhật Bản đến thực tế thực hiện CSR và kim tự tháp kinh tế kinh doanh (BOP) Tác giả cũng nghiên cứu về khả năng ứng dụng của các triết lý kinh doanh như một công cụ để các doanh nghiệp xây dựng quan hệ đối tác trong các lĩnh vực phát triển
- Youngjae Koh (2015), "CSR at Japanese Companies as Seen in Changes in Administrative Departments" Tác giả bàn về cách các phòng ban, bộ
phận chịu trách nhiệm cho các hoạt động CSR đã thay đổi như thế nào tại các công ty hàng đầu ở Nhật Bản Tác giả cũng làm sáng tỏ cách các bộ phận này quản lý các hoạt động CSR về việc tuân thủ các quy định pháp luật, quan hệ với các nhà đầu tư, các hoạt động đóng góp cho xã hội và hoạt động môi trường
2.3 Tình hình nghiên cứu CSR ở Việt Nam
Tại Việt Nam, có thể kể đến một số sách, bài báo tiêu biểu nghiên cứu
Trang 11xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt
- TS Nguyễn Mạnh Quân (2004), Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp”, NXB Lao động Xã hôi Đạo đức kinh doanh và văn hóa
doanh nghiệp là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp Đó là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương pháp tư duy ảnh hưởng rất lớn tới hành động của các thành viên trong doanh nghiệp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Thông qua nghiên cứu tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Nhật Bản, đưa
ra một số gợi mở cho các doanh nghiệp Việt Nam để thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp hiệu quả hơn nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, nội dung và cách thức triển khai trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
+ Nghiên cứu tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Nhật Bản
+ Nhận xét, đánh giá tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam, đưa ra một số gợi mở cho các doanh nghiệp Việt Nam để thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp hiệu quả hơn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những lý luận về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhật Bản
và Việt Nam
Trang 12- Phạm vi nghiên cứu: Quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; những phương pháp, cách thức của các doanh nghiệp, các tiêu chuẩn, Bộ quy tắc ứng xử và phát triển trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
+ Về không gian: Tại Nhật Bản và Việt Nam
+ Về thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2014
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, thống kê để làm rõ kết quả rút ra từ quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội tại Nhật Bản
- Sử dụng phương pháp phân tích và đánh giá dựa trên việc thu thập và phân tích tư liệu từ các nguồn sách, báo, website và hội thảo về tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Nhật Bản để đưa ra nhận xét cụ thể
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, tổ chức trong việc nghiên cứu, hoạch định chính sách về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam hiện nay
Trang 137 Cơ cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Chương 2: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhật Bản
Chương 3: Một số nhận xét và gợi mở để nâng cao hiệu quả thực hiện Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm Trách nhiệm xã hội
Năm 1970, trong cuốn sách "Capitalism and Freedom", nhà kinh tế học Milton Friedman đã viết: "Có một và chỉ một trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - đó là sử dụng nguồn tài nguyên của mình và tham gia vào hoạt động nhằm tăng lợi nhuận của mình miễn sao nó vẫn tuân theo các luật chơi, nghĩa
là tham gia cạnh tranh công khai và tự do, không lừa gạt hay gian lận" [7]
Theo cách nói này của Friedman, chúng ta xét thấy ý kiến này mới chỉ có tác dụng hiện thực hóa các quy tắc trong kinh doanh mà chưa phát huy được lợi thế của chuẩn mực đạo đức kinh doanh vào trong doanh nghiệp Đây chỉ chú
ý tới việc chạy đua lợi nhuận "nhằm tăng lợi nhuận" đúng theo mối ràng buộc của các doanh nghiệp trên "thương trường - không lừa gạt hay gian lận" Có thể nói, khái niệm về CSR của Friedman mới chỉ nhìn ở một phạm vi hẹp đó
là một doanh nghiệp, thấy được lợi ích trước mặt mà bỏ qua lợi ích lâu dài, đó
là "phát triển nhanh, mạnh và bền vững" giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp ngoài nước
Sau định nghĩa về CSR của Friedman thì xuất hiện hàng loạt các khái niệm CSR sau đó, mỗi khái niệm ở mỗi thời kì đã bước đầu có sự hoàn chỉnh
hơn về mặt nội dung "Trách nhiệm xã hội hàm ý nâng cao hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kì vọng xã hội" (Prakash Sethi, 1975)[35] Hay "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, pháp luật, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định" (Archie B Caroll, 1979)[23] Còn Maignan I Ferrell đưa ra khái niệm CSR như sau: "Một doanh nghiệp có
Trang 15trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan" [33]
Khái niệm CSR theo thời gian đã mở rộng đối tượng ảnh hưởng của mình ra nhiều doanh nghiệp và tổ chức liên quan, còn mục đích đặt ra cho các doanh nghiệp đó là phải quan tâm tới các hoạt động của mình có ảnh hưởng như thế nào tới các vấn đề xã hội xung quanh như với cộng đồng (quyền con người, các vấn đề về lao động,…), bảo vệ môi trường;…
Nhóm Phát triển Kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới đưa ra định
nghĩa về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp: "Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững thông qua các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi nhất cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội" [44]
Định nghĩa này muốn nhấn mạnh rằng: CSR là "phương tiện" giải quyết những vấn đề quan hệ giữa doanh nghiệp với cộng đồng, doanh nghiệp với môi trường, doanh nghiệp với khách hàng, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững trong một xã hội bền vững Khái niệm được chọn sử dụng trong khuôn khổ luận văn này là định nghĩa của Nhóm Phát triển Kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới vì nó hoàn chỉnh, rõ ràng và có tầm khái quát cao so với các định nghĩa khác
1.2 Nội dung của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
1.2.1 Phạm vi ảnh hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là một lĩnh vực rộng lớn liên quan đến mọi đối tượng, liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Bởi vậy, phạm
vi ảnh hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong nội bộ doanh nghiệp mà nó còn có sức lan tỏa lớn tới nhiều thành phần khác
Trang 16nhau trong xã hội Vì vậy, về cơ bản người ta chia phạm vi ảnh hưởng của CSR với 3 khía cạnh sau:
Phạm vi nội bộ doanh nghiệp: CSR ảnh hưởng đến quan hệ trong và
ngoài hợp đồng lao động và thỏa mãn giữa hai bên; quyền lợi hợp pháp và nghĩa vụ của người lao động như công việc làm, phúc lợi lao động, quy tắc làm việc, an toàn lao động,…; xây dựng môi trường ứng xử có đạo đức trong doanh nghiệp
Phạm vi hoạt động kinh doanh: CSR giải quyết các vấn đề trong giới
hạn các mối quan hệ của doanh nghiệp với các đối tác, đối tượng liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh doanh
Phạm vi xã hội: CSR được đặt ra giải quyết mối quan hệ với tập quán,
văn hóa truyền thống, tôn giáo của từng quốc gia, cộng đồng dân tộc CSR xem xét các vấn đề về quyền bình đẳng, quyền lợi trong đời sống xã hội, vấn
đề đảm bảo chữ tín trong kinh doanh
1.2.2 Nội dung của CSR
CSR có thể được hiểu như một gánh vác tự giác các trách nhiệm khác, ngoài những trách nhiệm về kinh tế và pháp lý Cụ thể hơn, là các trách nhiệm được thể hiện ở sự lựa chọn các mục tiêu của doanh nghiệp và đánh giá kết quả thực hiện, không chỉ đơn thuần dựa vào các tiêu chí lợi nhuận và phúc lợi của đơn vị mà còn dựa vào những tiêu chí về đạo đức hay tính xác đáng so với mong muốn của xã hội CSR không chỉ đơn thuần là các hành động nhân đạo, từ thiện đối với cộng đồng mà yếu tố cấu thành nên CSR rộng hơn rất nhiều, đó là sự tổng hợp, kết hợp, bổ sung của nhiều yếu tố liên quan khác,
mà thiếu một trong các yếu tố này thì không thể coi là một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội Theo như mô hình yếu tố cấu thành CSR dưới đây thì mô hình CSR là một "cái tháp" với các nghĩa vụ nằm ở các tầng khác nhau và thứ
tự ưu tiên thực hiện sẽ lần lượt từ đáy tháp lên đỉnh tháp Việc thực hiện CSR
Trang 17phải bắt nguồn từ các nghĩa vụ kinh tế, bởi đây là mục tiêu, bản chất là lý do tồn tại của doanh nghiệp và cũng là cơ sở để thực hiện các nghĩa vụ tiếp sau của CSR Doanh nghiệp hoạt động và chịu sự quản lý bởi hệ thống pháp luật quốc gia vì thế để tồn tại lâu dài thì doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định
ấy Không dừng ở đó, doanh nghiệp cũng cần tạo ra một môi trường công bằng, trung thực, có tình có nghĩa trong mối quan hệ với nhân viên và điều đó thể hiện trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp Ngoài nghĩa vụ kinh tế, pháp
lý, đạo đức doanh nghiệp còn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ nhân văn Điều này
có nghĩa các hoạt động của doanh nghiệp phải nhằm mục đích cải thiện tình hình của mỗi người, mọi người và cộng đồng Và khi đưa ra quyết sách, doanh nghiệp phải cân bằng các nghĩa vụ đó để đạt được hiệu quả cao nhất
Biểu 1.1: Mô hình yếu tố cấu thành CSR
Nguồn: [34, pg.48] Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là những nghĩa vụ một doanh nghiệp hay cá nhân phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực và giảm tối thiểu các tác động tiêu cực đối với xã hội Trách nhiệm xã hội có thể được coi là một sự cam kết của doanh nghiệp hay cá nhân đối với xã hội Về cơ bản, trách nhiệm xã hội bao gồm những nghĩa vụ kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn
Trang 18Nghĩa vụ kinh tế là nghĩa vụ đầu tiên và cơ bản nhất của doanh nghiệp
thực hiện CSR liên quan đến cách thức phân bổ trong hệ thống xã hội, các nguồn lực được sử dụng để làm ra sản phẩm dịch vụ
Nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp là thực hiện đầy đủ những quy định
về pháp lý chính thức đối với những người hữu quan, trong cạnh tranh đối với môi trường tự nhiên do pháp luật hiện hành quy định
Nghĩa vụ đạo đức của doanh nghiệp được định nghĩa là những hành vi
hay hoạt động được xã hội mong đợi nhưng không được quy định thành các nghĩa vụ pháp lý Nghĩa vụ đạo đức chính là nền tảng của nghĩa vụ pháp lý
Nghĩa vụ nhân văn của doanh nghiệp bao gồm những hành vi và hoạt
động mà xã hội muốn hướng tới và có tác dụng quyết định chân giá trị của tổ chức hay doanh nghiệp Nghĩa vụ nhân văn thể hiện những mong muốn hiến dâng của doanh nghiệp cho xã hội
1.2.3 Đối tượng của CSR
Các đối tượng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là:
- Người lao động, cán bộ nhân viên: doanh nghiệp cần tuân thủ đầy đủ,
nghiêm chỉnh các quy định về pháp luật, về vấn đề sử dụng lao động, đảm bảo
an toàn lao động, xây dựng mối quan hệ thân thiện, tốt đẹp trong nội bộ doanh nghiệp,…
- Các bên liên quan (stakeholders): Các bên liên quan bao gồm cổ
đông, người tiêu dùng, gia đình của người lao động… Trách nhiệm với cổ đông là những ràng buộc, cam kết liên quan đến quyền và phạm vi sử dụng tài sản ủy thác; đảm bảo sự trung thực, minh bạch trong thông tin, trong phần lợi tức mà cổ đông đáng được hưởng,… Trách nhiệm với người tiêu dùng được
sử dụng hàng hóa, dịch vụ đúng với những gì nhà sản xuất đã cam kết…
- Cộng đồng: Trách nhiệm với cộng đồng là trách nhiệm góp phần nâng
cao, cải thiện và phát triển cuộc sống cộng đồng mà gần nhất là địa phương
Trang 19nơi doanh nghiệp hoạt động, đóng góp cho sự phát triển bền vững môi trường văn hóa - kinh tế - xã hội của quốc gia Ví dụ như trách nhiệm đối với môi trường là trách nhiệm bảo vệ môi trường xung quanh hoặc ít nhất không vì lý do kinh tế mà gây ảnh hưởng xấu tới môi sinh; sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên…
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
1.3.1 Quy định của pháp luật
Quy định của pháp luật là cơ sở, là nền tảng của CSR Đây là tiêu chí ràng buộc cho các doanh nghiệp phải hướng tới và phải thực hiện để đạt được hiệu quả kinh tế cao Các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp khi đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật thì sẽ tạo được một môi trường pháp lý, trong
đó các doanh nghiệp hoạt động theo một mục tiêu đúng đắn, tạo nên môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng, thông thoáng và tạo sự gần gũi giữa các doanh nghiệp với nhau Tuy nhiên, pháp luật không thể là căn cứ phán xét một hành động là có đạo đức hay vô đạo đức trong những trường hợp cụ thể
mà nó chỉ thiết lập những quy tắc cơ bản cho những hành động được coi là có trách nhiệm trong kinh doanh Điều đáng chú ý là pháp luật thường ban hành chậm hơn so với thực tiễn diễn ra, "độ trễ" nhất định nào đó của pháp luật là
cơ hội cho hoạt động kinh doanh bất hợp pháp xảy ra, và khi sự việc đã rồi thì pháp luật mới căn cứ vào đó để xây dựng các quy định mới Ngay cả khi các văn bản pháp luật đã được ban hành thì để nội dung đi vào "cuộc sống" cũng cần một khoảng thời gian nhất định Nói tóm lại, các quy định của pháp luật cũng là những yêu cầu tốt mà mỗi cá nhân, tổ chức cần thực hiện trong mối quan hệ với xã hội Tuân thủ pháp luật, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tạo
ra nhiều công ăn việc làm, bảo vệ môi trường,… là doanh nghiệp hoàn thành trách nhiệm xã hội của mình
Trang 201.3.2 Nhận thức của xã hội
Khi xã hội phát triển cao đồng nghĩa với mức sống của cộng đồng được nâng cao, do đó nhu cầu của con người cũng phát triển theo Theo Abraham Maslow thì con người càng cố gắng thỏa mãn những nhu cầu và khi nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì lại xuất hiện những nhu cầu tiếp theo, ban đầu là nhu cầu sinh lý (ăn, mặc, ở,…); sau đó đến nhu cầu an toàn, được bảo vệ; nhu cầu xã hội (các vấn đề về tình cảm); nhu cầu được tôn trọng, được công nhận, có địa vị; cuối cùng là nhu cầu tự khẳng định,
tự phát triển và tự thể hiện mình
Biểu 1.2: Thứ bậc nhu cầu theo A.Maslow
Nguồn: [8] Người lao động - thành phần không thể thiếu để duy trì hoạt động của một doanh nghiệp cũng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị bản thân Tự bản thân họ hoặc thông qua các tổ chức công đoàn đã đứng lên đòi lại quyền lợi chính đáng của mình Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp qua thực tế kinh doanh ngày càng nhận thức được rằng, những việc làm vì cộng đồng vì trách nhiệm đối với xã hội là việc làm có lợi cho sự vững mạnh của doanh nghiệp
Nhu cầu tự khẳng định
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu sinh lý
Trang 211.3.3 Quá trình toàn cầu hóa và sức mạnh của thị trường
Trong xu thế toàn cầu hóa với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt, mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp đều phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, trong đó khả năng cạnh tranh về nguồn nhân lực và môi trường đầu tư đóng vai trò quan trọng Toàn cầu hóa kinh tế và nhất thể hóa kinh tế khu vực làm gia tăng sự liên kết giữa các doanh nghiệp của các nước, nhưng đồng thời cũng buộc các doanh nghiệp phải trực tiếp cạnh tranh gay gắt với nhau Tuy nhiên, có những khu vực, những nước và doanh nghiệp giàu lên nhanh chóng nhờ toàn cầu hóa; nhưng cũng có những khu vực, những nước và doanh nghiệp bị thua thiệt hoặc thậm chí bị đẩy ra khỏi dòng chảy sôi động của thượng mại và đầu tư quốc tế
Sức mạnh của thị trường mà điển hình là thị hiếu người tiêu dùng lại đã
và đang đặt ra cho các nhà kinh doanh sự cạnh tranh khốc liệt về trách nhiệm
xã hội và đạo đức kinh doanh dựa trên nền tảng sự tác động tổng hợp hành vi ứng xử, tới quyết định lựa chọn của người tiêu dùng, chứ không phải thuần túy trên sự tác động tới giác quan của họ Bởi vậy trong giai đoạn toàn cầu hóa phát triển nhanh chóng, khoảng cách về công nghệ, kỹ thuật giữa các nền kinh tế ngày một rút ngắn, chất lượng sản phẩm ngày càng đồng đều hơn thì
để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, lúc đó trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh là nguồn lực, nguồn vốn mới cho doanh nghiệp trong cạnh tranh quốc tế
1.4 Các công cụ thực hiện và đánh giá hoạt động của CSR
1.4.1 Các công cụ thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có hơn 1000 bộ quy tắc ứng xử thể hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan đến các nội dung: An toàn
vệ sinh lao động nơi sản xuất, chăm sóc sức khỏe người lao động và bảo vệ môi trường như một chứng chỉ phổ biến: SA 8000 - tiêu chuẩn lao động trong
Trang 22các nhà máy sản xuất; WRAP - trách nhiệm toàn cầu trong ngành sản xuất may mặc; FSC - bảo vệ rừng bền vững; ISO 14 001 - hệ thống quản lý môi trường trong doanh nghiệp;…
Ví dụ SA 8000 là một trong ba tiêu chuẩn bắt buộc đối với doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu Theo đánh giá của các chuyên gia, áp dụng tiêu chuẩn SA 8000 sẽ nâng cao chất lượng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các tác động như: Thu hút sự nhìn nhận, tin tưởng và trung thành của khách hàng; Đưa ra các tiêu chuẩn chung trên quy
mô toàn cầu về ứng xử của doanh nghiệp nhằm tạo ra khả năng cạnh tranh công bằng; Tăng cường khả năng mở rộng mạng lưới kinh doanh toàn cầu và tiếp cận những khách hàng đòi hỏi cao về giá trị đạo đức của sản phẩm Tiêu chuẩn SA 8000 có quy định về trách nhiệm xã hội theo các chỉ tiêu như sau:
"1 Lao động trẻ em; 2 Lao động cưỡng bức; 3 An toàn và vệ sinh lao động;
4 Tự do hiệp hội và quyền thỏa ước lao động tập thể; 5 Phân biệt đối xử; 6
Xử phạt; 7 Giờ làm việc; 8 Trả công; 9 Hệ thống quản lý" [15] Khi các
doanh nghiệp tuân thủ tiêu chuẩn này sẽ mang lại lợi ích kinh tế và các sản phẩm của doanh nghiệp đó được người tiêu dùng đón nhận, đằng sau đó thì doanh nghiệp rất dễ dàng thu hút được nguồn lao động giỏi vì họ hiểu được vai trò, lợi ích của mình khi làm việc trong doanh nghiệp, chú ý nhiều tới trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
1.4.2 Công cụ đánh giá Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Các doanh nghiệp thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bước đầu mang lại những lợi ích cho doanh nghiệp: Đẩy mạnh sự tuân thủ luật pháp quốc gia; Bảo đảm cho các doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu kinh doanh lâu dài, bền vững và tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập; Xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, giảm các rủi ro trong kinh doanh quốc tế như tranh chấp thương mại, bán phá giá,… Do đó, doanh
Trang 23nghiệp thực hiện CSR không chỉ đơn thuần mang lại lợi ích kinh tế mà còn có lợi ích xã hội và chính trị Bên cạnh mặt tích cực thì doanh nghiệp thực hiện CSR theo các Bộ Quy tắc cũng gặp phải không ít khó khăn
Hiện nay trên thế giới có trên 2000 Bộ Quy tắc ứng xử, chia làm 3 nhóm chính:
Quy tắc ứng xử của các tổ chức quốc tế như: ISO, Công ước ILO, GC,
OECD
Quy tắc ứng xử của các tập đoàn đa quốc gia, các tổ chức hiệp hội ngành nghề: Bộ Quy tắc ứng xử của Nike (Tập đoàn thể thao), Adidas (Tập
đoàn thời trang), FTA (Hiệp hội Ngoại thương)
Quy tắc ứng xử của các tổ chức độc lập như: SAI (Tổ chức Trách
nhiệm xã hội quốc tế), FLA (Nhượng quyền thương mại)…
Các doanh nghiệp sẽ cần thu thập đầy đủ các thông tin để lựa chọn thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử nào phù hợp nhất với doanh nghiệp của mình Bộ luật ứng xử BSCI ra đời nhằm đảm bảo tuân thủ với các tiêu chuẩn xã hội và môi trường cụ thể BSCI là Bộ Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh BSCI ra đời năm 2003 từ đề xướng của Hiệp hội Ngoại thương (FTA) với mục đích thiết lập một diễn đàn chung cho các quy tắc ứng
xử và hệ thống giám sát ở Châu Âu về CSR Các công ty cung ứng phải đảm bảo rằng Bộ luật ứng xử này cũng được xem xét bởi các nhà thầu phụ có liên quan đến các quy trình sản xuất của giai đoạn sản xuất sau cùng được thực hiện thay cho các thành viên của BSCI
1.5 Tác dụng của việc thực hiện CSR
1.5.1 CSR góp phần điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh
"Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng là cam kết đạo đức của giới kinh doanh về sự đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội bằng cách nâng cao đời sống của lực lượng lao động và gia đình họ, đồng thời nó mang
Trang 24lại các phúc lợi cho cộng đồng và xã hội Thực tế cho thấy, khi thực hiện tốt trách nhiệm xã hội sẽ cải thiện tình hình tài chính, giảm chi phí hoạt động, nâng cao uy tín, quản lý rủi ro và giải quyết khủng hoảng tốt hơn, thúc đẩy cam kết với người lao động, quan hệ tốt với Chính phủ và cộng đồng, tăng năng suất… Bên cạnh đó nếu người lao động có các điều kiện môi trường làm việc thuận lợi sẽ thúc đẩy họ làm việc tốt hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận với thị trường thế giới, mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình"
[9] Theo bà Lief Iversen - Giám đốc điều hành Công ty ETI Na Uy: "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề hàng đầu ở các nước phát triển Ở
Na Uy, tất cả các doanh nghiệp đều thực hiện tốt vấn đề này Doanh nghiệp không thực hiện tốt thì chính họ sẽ bị đào thải ra khỏi guồng quay phát triển Việc doanh nghiệp có trách nhiệm với xã hội không chỉ có nghĩa là doanh nghiệp hoàn thành các nghĩa vụ pháp lý mà còn phải tuân thủ và đầu tư nhiều hơn vào nguồn lực con người, môi trường và mối quan hệ với các bên liên quan" [9] Xét trong phạm vi môi trường kinh doanh thì những gì doanh
nghiệp nhận được ngày mai là kết quả tất yếu của những quyết định kinh doanh của ngày hôm nay Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ do chất lượng của bản thân các dịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu do phong cách kinh doanh của doanh nghiệp Hành vi ứng xử của các doanh nghiệp trong mối quan hệ với cán bộ, công nhân viên, người lao động, cổ đông, với môi trường, với cộng đồng sẽ thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính tư cách ấy tác động trực tiếp đến sự thành bại của tổ chức
Để đảm bảo lợi nhuận của mình, các doanh nghiệp ý thức rằng không thể phát triển mà phớt lờ sức ép của dư luận vốn vừa là khách hàng, công nhân viên hoặc cả đối tác, chủ đầu tư trong nước lẫn quốc tế Các nhà quản lý doanh nghiệp quốc tế không những biết cách làm tăng tối đa lợi nhuận của công ty, mà còn ý thức rất rõ việc tạo nên những điều kiện để duy trì và phát
Trang 25triển bền vững những lợi ích Và trong chiều hướng ấy, việc thực hiện CSR trở thành một nhân tố chiến lược có tính định hướng trong việc phát triển doanh nghiệp
1.5.2 CSR góp phần nâng cao chất lượng, giá trị thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp
Công bố thông tin minh bạch, điều hành công ty hiệu quả, sử dụng vốn hợp lý để tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm là điều cần phải làm đối với bất
kỳ doanh nghiệp nào vì sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp Có như thế, mới tạo ra được niềm tin cho nhà đầu tư, mà niềm tin chính là cảm xúc - yếu tố quyết định góp phần tạo ra lợi nhuận cổ phiếu
Đối với khách hàng, CSR thể hiện ở việc bán sản phẩm thỏa mãn tốt nhu cầu, giá cả phải chăng, giao hàng đúng hẹn, và an toàn cho sử dụng Thực
tế cho thấy, nếu sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng, hình ảnh
về sản phẩm và doanh nghiệp sẽ được lưu giữ trong tâm trí người tiêu dùng Trong kinh doanh, dùng hiệu ứng Domino tâm lý cũng là việc rất quan trọng,
"thông tin truyền miệng" cũng có sức lan tỏa rất mạnh Doanh nghiệp giữ vững khách hàng và mở rộng thị phần là mục tiêu của bất cứ doanh nghiệp nào, phản ánh tinh thần "khách hàng là thượng đế" Bà Lurita Doan, người phụ nữ đầu tiên đứng đầu cơ quan Cung cấp dịch vụ và Giám sát kỹ thuật của chính phủ Mỹ (General Services Administration) cũng đã từng phát biểu
"khách hàng là thượng đế, nếu bạn không cung cấp dịch vụ tốt, bạn sẽ không
có cơ hội lần thứ hai, và như vậy sẽ không có sự bền vững" [9] Đã xây dựng
được thương hiệu và niềm tin của người tiêu dùng, việc kinh doanh trở nên thuận lợi hơn rất nhiều
Đối với cộng đồng nói chung, nhiệm vụ trước hết là bảo vệ môi trường (cũng chính là bảo vệ sức khỏe của công chúng) và sau đó là làm từ thiện môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, khí hậu thay đổi… là
Trang 26những vấn đề đang gây sốt sắng toàn thế giới Doanh nghiệp bảo vệ môi trường, ngoài việc tuân thủ các quy định của chính phủ còn không bị hao tổn chi phí khắc phục hậu quả hay bồi thường do kiện tụng Các khoản đầu tư xanh là vấn đề nóng ở nhiều quốc gia phát triển
Như đã nêu trên, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội doanh nghiệp sẽ giúp nâng cao uy tín của doanh nghiệp, doanh nhân, từ đó doanh nghiệp sẽ được hưởng nhiều lợi nhuận kinh tế - xã hội cho họ, nhưng không có lợi ích về chính trị Tuy nhiên, cũng không nên đồng nhất việc cứ làm từ thiện giỏi đã là thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, cho dù làm từ thiện là một hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
CSR có thể giúp doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và uy tín đáng
kể Uy tín giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu tư,
và người lao động Những tập đoàn đa quốc gia như The Body Shop (tập đoàn nay là của Pháp chuyên sản xuất các sản phẩm dưỡng da và tóc) và IKEA (tập đoàn kinh doanh đồ dùng nội thất của Thụy Điển) là những ví dụ điển hình
Cả hai công ty này đều nổi tiếng không chỉ vì các sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp lý của mình mà còn nổi tiếng là các doanh nghiệp có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội
1.5.3 Việc thực hiện CSR góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Theo ông Charles Moore - Giám đốc điều hành Ủy ban khuyến khích
doanh nghiệp hoạt động từ thiện CECP, "Các nhà lãnh đạo chuyên nghiệp ngày nay hiểu rất rõ vai trò của các hợp đồng xã hội giúp định vị doanh nghiệp để đạt được những thành công thực tế rõ rệt" [9]
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở những vấn
đề vừa nêu, nhưng nhìn chung đây là các vấn đề trọng tâm Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đem lại rất nhiều lợi ích CSR có mối liên hệ tích cực đến lãi đầu tư, tài sản và mức tăng doanh thu CSR sẽ tạo ra cơ sở
Trang 27thành công cho tất cả các hoạt động kinh doanh quan trọng của tổ chức Một mặt, CSR giúp các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí sản xuất thông qua các phương pháp sản xuất an toàn, tiết kiệm Bởi vậy, những doanh nghiệp thành công nhất chính là các doanh nghiệp nhận thấy được vai trò quan trọng của CSR và áp dụng nó vào thực tiễn sản xuất Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất bao bì lớn của Ba Lan đã tiết kiệm được 12 triệu Đô la Mỹ trong vòng 5 năm nhờ việc lắp đặt thiết bị mới, nhờ đó làm giảm 7% lượng nước sử dụng, 70% lượng chất thải nước và 87% chất thải khí [10]
Đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương có thể tạo ra một nguồn lao động tốt hơn, nguồn cung ứng rẻ và đáng tin cậy hơn, và nhờ đó tăng doanh thu Hindustan Lever, một chi nhánh của tập đoàn Unilever tại Ấn Độ, vào đầu những năm 1970 chỉ hoạt động được với 50% công suất do thiếu nguồn cung ứng sữa bò từ địa phương, và do vậy đã lỗ trầm trọng Để giải quyết vấn
đề này, công ty đã thiết lập một chương trình tổng thể giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò Chương trình này bao gồm đào tạo nông dân cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và thành lập một ủy ban điều phối những nhà cung cấp địa phương Nhờ chương trình này, số lượng làng cung cấp sữa bò
đã tăng từ 6 tới hơn 400, giúp cho công ty hoạt động hết công suất và đã trở thành một trong những chi nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn Rất nhiều công ty sau đó khi có được chứng chỉ về CSR đã tăng được doanh thu đáng
kể Ví dụ, Aserradero San Martin, một công ty sản xuất đồ gỗ ở Bolivia, sau khi có chứng chỉ bảo vệ rừng bền vững (FSC) đã tiếp cận được thị trường Bắc
Mỹ và bán sản phẩm với giá cao hơn từ 10-15% [22]
1.5.4 CSR góp phần thu hút nguồn lao động giỏi
Lao động có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm Ở các nước đang phát triển, số lượng lao động lớn nhưng đội ngũ lao động đạt chất lượng cao lại không nhiều, do vậy việc thu hút và giữ được nhân
Trang 28viên có chuyên môn tốt và có sự cam kết cao là một thách thức đối với các doanh nghiệp Những doanh nghiệp trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, bảo hiểm y tế và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ nhân viên tốt Grupo M, một công ty dệt cỡ lớn ở Cộng hòa Dominique, đã tổ chức đưa đón công nhân, có trung tâm y tế chăm sóc sức khỏe cho công nhân và gia đình hộ, tổ chức đào tạo công nhân và trả lương gấp đôi mức lương tối thiếu do quốc gia này quy định Tổng Giám đốc, đồng thời là sáng lập viên của công ty, không lo lắng nhiều về những chi phí này mà cho
rằng đó là khoản đầu tư sáng suốt Ông nói: "Tất cả những gì chúng tôi dành cho người lao động đều đem lại lợi ích cho công ty - đó là hiệu quả công việc, chất lượng sản phẩm, lòng trung thành và sự sáng tạo" [22]
1.5.5 CSR góp phần nâng cao hình ảnh quốc gia
Trách nhiệm xã hội là xu thế tất yếu và mang tính toàn cầu, thực hiện trách nhiệm xã hội là tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế, không mâu thuẫn với lợi ích kinh tế của doanh nghiệp Vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là phải tạo ra môi trường pháp lý hoàn chỉnh, một sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp, cung cấp thông tin, tư vấn, hướng dẫn và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện tốt hơn các yêu cầu của pháp luật, quản lý, nâng cao tiêu chuẩn lao động và thúc đẩy cạnh tranh, tạo điều kiện hoàn thiện và nâng cao tiêu chuẩn lao động theo xu hướng quốc tế
Trang 29Chương 2 TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP
TẠI NHẬT BẢN
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là chủ đề được quan tâm trong xã hội Nhật Bản, trước hết ở khu vực doanh nghiệp, giới nghiên cứu và truyền thông
Từ thế kỷ 18, giới thương nhân Nhật Bản đã có triết lý kinh doanh Sampo Yoshi "Tốt cho người bán, cho người mua và cho xã hội" đề ra yêu cầu phải có ý thức chăm sóc cho người dân trong khu vực kinh doanh Vào giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa thế kỷ 19, yêu cầu phục vụ cộng đồng đã được đặt ra cho các doanh nghiệp ở một số địa phương
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, giới kinh doanh Nhật bắt đầu tiếp cận với những quan điểm hiện đại về CSR từ phía Hoa Kỳ Vào những năm 1970
và 1980, nhất là sau khủng hoảng dầu lửa 1973, nhiều doanh nghiệp đã nhận
ra ưu thế và thụ hưởng lợi ích kinh doanh nhờ chính sách năng lượng sạch và đầu tư phát triển công nghệ bảo vệ môi trường; chủ động đề ra và thực hiện các chiến lược tích hợp hoạt động xã hội với ngành kinh doanh cốt lõi trong bối cảnh khách hàng và các đối tác có liên quan ngày càng quan tâm đến các tác động xã hội và môi trường của doanh nghiệp
Tuy vậy, phải từ thập kỷ 1990, thuật ngữ, nội hàm và cách thức thực hiện CSR mới được các doanh nghiệp và các bên có lợi ích liên quan tiếp cận đầy đủ và có hệ thống CSR trở thành mối quan tâm của toàn xã hội Nhật Bản, là một phần hoạt động tất yếu của các doanh nghiệp quy mô lớn và là nội dung bắt buộc trong các báo cáo đánh giá hoạt động của doanh nghiệp Sau hơn 20 năm, Nhật Bản được đánh giá là quốc gia hàng đầu về thực hiện
Trang 30CSR với số lượng đông đảo các doanh nghiệp có bộ phận CSR chuyên trách
và công bố báo cáo hàng năm về phát triển bền vững và CSR
2.1 Nhận thức chung về CSR ở Nhật Bản
Theo Báo cáo của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI), cho đến nay Nhật Bản vẫn còn những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về CSR, song về cơ bản đã có sự tương đồng với quan niệm và nhận thức chung
về CSR theo thông lệ quốc tế Bản thân nền kinh tế Nhật Bản cũng như doanh nghiệp Nhật đều nhận thức được rằng việc thực hiện CSR vừa là trách nhiệm, vừa là cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập thành công
Theo đó, CSR được hiểu là toàn bộ trách nhiệm của doanh nghiệp về những ảnh hưởng đến xã hội từ các quyết định và hoạt động của mình [33] Để
thực hiện những trách nhiệm này, trước hết phải tôn trọng pháp luật và các cam kết với các bên có lợi ích liên quan; có khả năng gắn kết hoạt động kinh doanh với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đạo đức, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền con người và đáp ứng các mối quan tâm của khách hàng, nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của các chủ sở hữu doanh nghiệp, bên có liên quan và toàn xã hội; xác định rõ, ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực có thể từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Ngoài thực hiện các quy định bắt buộc mang tính cơ bản, điểm nổi bật trong cách tiếp cận về CSR ở Nhật Bản là tính tự nguyện Điều này xuất phát
từ nhận thức của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân về vai trò, sự cần thiết và lợi ích của CSR Các nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu đời sống của Nhật Bản và Diễn đàn CSR Nhật Bản đã đưa ra bằng chứng lý luận và thực tiễn để khẳng định thực hiện tốt CSR đã và đang là công cụ hiệu quả để thu lợi nhuận và cạnh tranh mang tầm chiến lược của các tập đoàn lớn của Nhật Bản; tạo ra thương hiệu và những mối quan hệ tốt đẹp với các đối tác, nhà cung cấp, khách hàng, người lao động và các cộng đồng dân cư, không
Trang 31chỉ ở Nhật Bản mà trên toàn thế giới Nói cách khác, CSR ngày càng có vai trò quan trọng trong chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp đạt kết quả và hiệu quả kinh tế cao thường nằm trong nhóm các doanh nghiệp Nhật Bản được đánh giá tốt về CSR, trước hết là các tập đoàn hàng đầu như Toyota, Honda, Hitachi, Sony…
2.2 Khung khổ thực hiện CSR của các doanh nghiệp Nhật Bản
Khung khổ cho thực hiện CSR của doanh nghiệp Nhật cơ bản bao gồm
hệ thống tiêu chuẩn quốc tế; định hướng chuẩn mực hành vi từ các tổ chức dân sự, tổ chức hiệp hội và một phần nào đó từ một số cơ quan nhà nước
2.2.1 Các tiêu chuẩn quốc tế và trong nước
- Hướng dẫn của OECD về tập đoàn đa quốc gia: Bản hướng dẫn đầu tiên vào năm 1976, đến năm 2011 đã 5 lần được cập nhật, bổ sung; có mục tiêu tăng cường cơ sở tin tưởng lẫn nhau giữa các doanh nghiệp và xã hội, giúp cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, đóng góp vào sự phát triển bền vững Nhật Bản là thành viên tích cực của OECD nên có trách nhiệm thực hiện Bản hướng dẫn này
- Thỏa ước Toàn cầu của Liên Hợp Quốc (UNGC): là một bộ quy tắc ứng xử gồm 10 nguyên tắc mà các bên cam kết tôn trọng, yêu cầu các doanh nghiệp phải nhận thức, hỗ trợ và thực hiện các nguyên tắc ứng xử cốt lõi về bảo vệ quyền con người, tiêu chuẩn lao động, bảo vệ môi trường và chống tham nhũng Đến năm 2013, đã có trên 10.000 đối tác ký vào Thỏa ước, trong
đó có khoảng 7000 doanh nghiệp (192 doanh nghiệp của Nhật Bản) [33]
- ISO 26000: là tiêu chuẩn CSR của Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa
từ tháng 11 năm 2010 Theo bộ tiêu chuẩn này, CSR bao gồm các trách nhiệm đối với những ảnh hưởng từ hoạt động của doanh nghiệp đến xã hội và môi trường; được thực hiện qua các hành vi minh bạch và có đạo đức nhằm đóng góp cho sự phát triển bền vững (bao gồm cả chăm sóc sức khỏe và phúc lợi xã
Trang 32hội); quan tâm đến lợi ích của các bên có liên quan; tuân thủ luật pháp và phù hợp với các nguyên tắc ứng xử quốc tế; được tích hợp và thực hiện trong toàn
bộ doanh nghiệp Năm 2004, một ủy ban quốc gia về tiêu chuẩn ISO đã được thành lập trong Hiệp hội Tiêu chuẩn Nhật Bản Từ tháng 3 năm 2012, ISO
26000 là một tiêu chuẩn chính thức trong bộ tiêu chuẩn Nhật Bản gồm 7 nội dung chính: quản trị công ty, quyền con người, lao động, môi trường, kinh doanh lành mạnh, quan hệ với người tiêu dùng, phục vụ cộng đồng
- GRI G4: Tổ chức Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI) do Liên minh và Chương trình môi trường của Liên Hợp quốc thành lập năm 1997 ở Boston (Mỹ), cung cấp các tiêu chí và hướng dẫn xây dựng báo cáo phát triển bền vững của các quốc gia Từ tháng 5 năm 2013, Hướng dẫn GRI G4 của Tổ chức này đã đưa ra các tiêu chí sau để đánh giá về CSR [38]:
+ Các tiêu chí về kinh tế, gồm: Hiệu quả hoạt động kinh tế, sự hiện diện trên thị trường, ảnh hưởng gián tiếp về kinh tế, phương thức mua sắm
+ Các tiêu chí về môi trường, gồm: Vật liệu, năng lượng, nước, đa dạng sinh học, phát thải, nước thải và chất thải, thông tin và nhãn sản phẩm/dịch
vụ, tính tuân thủ, vận chuyển, tổng thể, đánh giá của nhà cung cấp về vấn đề môi trường, cơ chế khiếu nại về môi trường
+ Các tiêu chí về xã hội, gồm các tiêu chí thành phần sau đây:
o Tiêu chí về cách đối xử với người lao động và việc làm bền vững: Mối quan hệ quản lý/lao động, an toàn và sức khỏe, giáo dục và đào tạo nghề,
đa dạng hóa và cơ hội bình đẳng, thù lao công bằng cho nam và nữ, đánh giá của nhà cung cấp về cách đối xử với người lao động, cơ chế khiếu nại về cách đối xử với người lao động
o Tiêu chí về bảo đảm quyền con người: đầu tư, không phân biệt đối
xử, quyền tự do lập hội và thỏa ước tập thể, vấn đề lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, các phương thức bảo vệ quyền tài sản, quyền của người bản địa,
Trang 33đánh giá của nhà cung cấp về quyền con người, cơ chế khiếu nại về quyền con người
o Tiêu chí xã hội: cộng đồng địa phương, chống tham nhũng, chính sách công, hành vi hạn chế cạnh tranh, tính tuân thủ, đánh giá của nhà cung cấp về tác động đối với xã hội, cơ chế khiếu nại về tác động đối với xã hội
o Trách nhiệm đối với sản phẩm: sự an toàn và sức khỏe của khách hàng, thông tin và nhãn sản phẩm và dịch vụ, truyền thông tiếp thị, bảo đảm quyền riêng tư của khách hàng, tính tuân thủ
- EU CSR: Năm 2002, Ủy ban Châu Âu đưa ra khái niệm CSR, yêu cầu các doanh nghiệp tích hợp các mối quan tâm của xã hội và môi trường vào hoạt động kinh doanh của mình; có sự tương tác với các bên liên quan trên cơ
sở tự nguyện Năm 2011, Chiến lược đổi mới CSR 2011-2014 đã đưa ra khung khổ mới, mở rộng phạm vi và các khía cạnh của CSR, ít nhất bao gồm các vấn đề: Nhân quyền, lao động và việc làm (đào tạo, đa dạng hóa cơ hội, bình đẳng giới và sức khỏe người lao động, phúc lợi doanh nghiệp), vấn đề môi trường (chẳng hạn như đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, sử dụng tài nguyên có hiệu quả, phòng ngừa ô nhiễm), chống hối lộ và tham nhũng Sự tham gia của cộng đồng và hỗ trợ phát triển xã hội, bảo đảm khả năng hội nhập của người tàn tật, bảo về lợi ích của người tiêu dùng cũng là một phần không thể thiếu của CSR EU coi việc thúc đẩy CSR và bảo vệ môi trường thông qua các chuỗi cung ứng, trách nhiệm công bố thông tin phi tài chính, đổi mới công tác quản trị về thuế (nâng cao tính minh bạch, trao đổi thông tin
và cạnh tranh công bằng thuế) là những cách thức quan trọng để thực hiện Chiến lược CSR
- Các chuẩn mực hoặc cam kết quốc tế khác về các lĩnh vực chuyên biệt
có liên quan đến CSR mà Nhật Bản tham gia như: Bộ quy tắc ứng xử trong
Trang 34kinh doanh và quyền con người của Liên Hợp quốc, Bảo đảm điều kiện lao động của ILO, Tiêu chuẩn của IFC về môi trường và xã hội, v.v
- Bên cạnh các tiêu chuẩn quốc tế, Nhật Bản cũng có hệ thống các tiêu chuẩn theo ngành, lĩnh vực do các hiệp hội, tổ chức đại diện ngành hàng, tổ chức dân sự trong nước, các định chế phi chính phủ khác đề ra, điển hình là
trong Hiến chương Hành vi Doanh nghiệp của Liên đoàn doanh nghiệp Nhật Bản (cập nhật tháng 9 năm 2010) đã ghi rõ: Công ty có trách nhiệm đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội bằng cách tạo ra giá trị gia tăng, việc làm thông qua cạnh tranh công bằng; nên làm cho cuộc sống của mình có ích cho
xã hội nói chung Bất kể vị trí của mình thế nào, công ty cần tôn trọng nhân quyền, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan, thực hiện các thông lệ quốc tế, có trách nhiệm xã hội với một ý thức mạnh mẽ về các giá trị đạo đức
và đóng góp vào phát triển xã hội bền vững bằng cách hành động phù hợp với mười nguyên tắc có tích hợp ISO 26000, bao gồm [13]:
(1) Xây dựng và cung cấp hàng hóa và dịch vụ xã hội có lợi và an toàn cho người tiêu dùng
(2) Tham gia vào các cuộc cạnh tranh công bằng, minh bạch và tự do (3) Quan hệ với các cổ đông và công bố thông tin một cách tích cực và công bằng
(4) Tôn trọng tính đa dạng, tính cách và cá tính của nhân viên và đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và thoải mái
(5) Chủ động thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường
(6) Tích cực tham gia vào các hoạt động cộng đồng
(7) Kiên quyết đấu tranh với các lực lượng và tổ chức gây hại cho xã hội
(8) Cùng với toàn cầu hóa hoạt động kinh doanh, cần đóng góp vào sự phát triển của kinh tế địa phương và xã hội
Trang 35(9) Người quản lý cấp cao của doanh nghiệp phải nhận thức được vai trò của mình để thực hiện tinh thần của Điều lệ này
(10) Trong trường hợp Điều lệ bị vi phạm, người quản lý cấp cao của doanh nghiệp phải giải quyết kịp thời và kịp thời thực hiện công bố thông tin đầy đủ
2.2.2 Vai trò của Nhà nước và các tổ chức dân sự
2.2.2.1 Chính sách của Nhà nước
Tại Nhật Bản, các hoạt động của khu vực tư nhân là nền tảng chủ yếu của CSR Bản thân hoạt động CSR hầu như ít bị dẫn dắt bởi chính sách nhà nước Đây là đặc trưng của CSR Nhật Bản, vì vậy, không có các quy định pháp luật bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện CSR, mà chỉ có một số những chính sách hỗ trợ thực hiện như: Khuyến khích hợp tác giữa các doanh nghiệp trong thực hiện CSR; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia đóng góp ý kiến khi xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 26000, Hướng dẫn của OECD…; hỗ trợ doanh nghiệp tích hợp hoạt động CSR với các hoạt động kinh doanh, chẳng hạn khuyến khích các hoạt động kinh doanh phục vụ cộng đồng, khuyến khích xây dựng cơ sở hạ tầng; hỗ trợ giao lưu quốc tế về CSR, trước hết với các đối tác Châu Âu và Hoa Kỳ
- Các cơ quan Chính phủ:
Các cơ quan của Chính phủ thực hiện nghiên cứu, đề xuất các giải pháp
hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện CSR Cụ thể là:
+ Văn phòng Nội các đã nghiên cứu và kiến nghị các giải pháp tổ chức đối thoại với doanh nghiệp theo phương thức "hội nghị bàn tròn"; giải quyết những vướng mắc về môi trường kinh doanh; hướng dẫn các chuẩn mực về thực hiện quyền tự chủ kinh doanh
+ Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi kiến nghị các giải pháp thúc đẩy CSR trong lĩnh vực lao động; hướng dẫn việc công bố thông tin về điều kiện lao
Trang 36động; có trách nhiệm theo dõi, nghiên cứu và kiến nghị các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả các giải pháp bảo đảm vai trò người lao động trong CSR + Bộ Môi trường đề xuất mô hình phát triển kinh tế gắn với môi trường; hướng dẫn các doanh nghiệp xây dựng báo cáo tác động môi trường; đề xuất
và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các "nguyên tắc hành động tài chính vì một xã hội bền vững"
+ Trong số các cơ quan chính phủ, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) có nhiều các hoạt động liên quan đến chính sách CSR METI xác định thực hiện CSR không chỉ là việc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và quản lý rủi ro, mà còn là khuyến khích nâng cao thương hiệu của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Các hoạt động của METI để thúc đẩy CRS tiêu biểu gần đây gồm có:
o Xây dựng Báo cáo Khảo sát và nghiên cứu về các xu hướng mới của CSR, đề xuất các cách thức thực hiện CSR và tìm kiếm sự ủng hộ từ các bên
có liên quan, đặc biệt các cổ đông, các nhà đầu tư
o Xây dựng Báo cáo quốc tế về CSR của Nhật Bản, làm rõ khái niệm
cơ bản của trách nhiệm xã hội nói chung và CSR nói riêng, cách thức nâng cao giá trị doanh nghiệp, các biện pháp áp dụng ISO 26000 và các biện pháp
hỗ trợ trong tương lai
o Tiến hành khảo sát, nghiên cứu và công bố báo cáo về vai trò của CSR như một nguồn vốn, một yếu tố đầu vào cho hoạt động của doanh nghiệp; khuyến khích các hoạt động đầu tư có trách nhiệm với xã hội
o Biên soạn và ban hành bản hướng dẫn xây dựng và công bố báo cáo
về minh bạch hóa, đánh giá quản trị công ty, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, quản lý tài sản trí tuệ
Trang 37o Tổ chức nghiên cứu và công bố Báo cáo về thực hành công tác quản trị nội bộ trong tình hình mới, trong đó, đề xuất cho các doanh nghiệp thực hiện các giải pháp gắn kết quản trị rủi ro với kiểm soát nội bộ nhằm giảm thiểu những vụ
bê bối có thể ảnh hưởng đến bên ngoài, góp phần nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp
- Hợp tác, huy động các bên liên quan trong xây dựng chính sách:
Một kinh nghiệm hay của Nhật Bản là tổ chức các "hội nghị bàn tròn"
để huy động mọi bên có liên quan trong xây dựng chính sách CSR nhằm đạt
sự đồng thuận và nâng cao hiệu quả thực hiện
2.2.2.2 Các tổ chức dân sự
Trong số các tổ chức hiệp hội, nổi lên vai trò của một số tổ chức như Diễn đàn Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhật Bản (CSR Forum Japan), Liên đoàn kinh doanh Nhật Bản (Keidanren), v.v…
- Liên đoàn kinh doanh Nhật Bản (Keidanren)
Keidanren là một tổ chức kinh tế với thành viên bao gồm 1039 doanh nghiệp đại diện của Nhật, 112 hiệp hội công nghiệp trong cả nước và 47 tổ chức kinh tế vùng (ở thời điểm tháng 7/2014) [36] Liên đoàn có chức năng huy động sức mạnh của doanh nghiệp, người dân và cộng đồng để hỗ trợ cho những hoạt động kinh doanh có đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững - tự lực - tự cường của nền kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Nhật Bản
Trong cơ cấu tổ chức của Keidanren có Ban Quản lý trách nhiệm xã hội (được hợp nhất từ Ban Hành vi doanh nghiệp và Ban Xúc tiến đóng góp cho
xã hội) đảm nhiệm chức năng thúc đẩy CSR của Keidanren
Keidanren ban hành Hiến chương Hành vi Doanh nghiệp cùng hệ thống các hướng dẫn thực hiện, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến CSR Tuy vậy, Hiến chương không có tính bắt buộc, mà chỉ khuyến khích các thành
Trang 38viên tuân thủ nhằm "thiết lập và duy trì niềm tin của công chúng đối với cộng đồng doanh nghiệp" [36]
Bên cạnh việc nghiên cứu, hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện Hiến chương Hành vi doanh nghiệp, các hoạt động chủ yếu và thường xuyên về CSR của Keidanren là đăng cai/chủ trì/tài trợ tổ chức các hội thảo, hội nghị về CSR; thành lập các đoàn công tác đối thoại về CSR ở nước ngoài; phát triển mạng lưới thông tin và trao đổi giữa thành viên với các bên có lợi ích liên quan; phát hành bản tin CSR thường kỳ, v.v
- Diễn đàn Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhật Bản
Diễn đàn được thành lập năm 2004 với sự hỗ trợ của METI, có các thành viên gồm hầu hết các tập đoàn đa quốc gia lớn của Nhật Bản Chức năng chính của Diễn đàn là tăng cường hiểu biết và hỗ trợ các hoạt động liên quan đến CSR của doanh nghiệp Nhật Bản; hỗ trợ các công ty trong việc chia sẻ kinh nghiệm và thông tin mới nhất về CSR; thực hiện các dự án nghiên cứu
về chính sách CSR và hoạt động kinh doanh; tăng cường thông tin liên lạc và hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và các tổ chức có liên quan; đóng góp vào việc hình thành và phản biện chính sách CSR của quốc gia và quốc tế Các dự án chủ yếu của Diễn đàn thời gian gần đây tập trung vào việc tích hợp chiến lược CSR vào hoạt động kinh doanh; hướng dẫn công bố thông tin phi tài chính; gắn kết CSR với các chuỗi cung ứng; đánh giá giá trị ESG (môi trường, xã hội và quản trị công ty) cho các nhà đầu tư; gắn kết CSR đến người tiêu dùng,v.v
2.3 Thực hiện CSR của các doanh nghiệp Nhật Bản hiện nay
Trang 39trong đó, vai trò của nhân viên, khách hàng, cộng đồng, người dân, các tổ chức có liên quan (bao gồm cả cơ quan chính phủ) có vai trò không kém phần quan trọng bên cạnh các cổ đông, chủ sở hữu doanh nghiệp
Một số lượng lớn của các tập đoàn Nhật Bản đã thành lập bộ phận hoặc tiểu bộ phận chuyên trách về CSR, phổ biến thông tin thông qua việc công bố các báo cáo và quan hệ với các bên liên quan trong vấn đề CSR
Theo đánh giá chung, nếu lấy CSR là hoạt động trung tâm của các hoạt động trong doanh nghiệp nhằm duy trì sự hài hòa giữa kinh doanh, xã hội và môi trường, thì các doanh nghiệp Nhật Bản chắc chắn ít nhất là ngang bằng với doanh nghiệp Châu Âu và Hoa Kỳ
Hơn nữa, do đặc điểm khan hiếm tài nguyên của mình, từ lâu Nhật Bản
đã nhắm mục tiêu công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, và điều này là một trong những lý do thúc đẩy doanh nghiệp Nhật tự nguyện thực hiện CSR và trên thực tế hộ đang làm tốt CSR so với phần lớn các nước khác trên thế giới
2.3.1.1 Cách thức thực hiện
Trước đây, bằng cách này hay cách khác mỗi doanh nghiệp đã có những hướng đi riêng tùy theo đặc thù tổ chức và lĩnh vực hoạt động Khoảng 10 năm trở lại đây, xu hưởng tiêu chuẩn hóa của các hoạt động CSR là xu hướng nổi trội Nhiều doanh nghiệp, nhất là các tập đoàn lớn của Nhật áp dụng các tiêu chuẩn, chuẩn mực về CSR, trong đó, theo kết quả điều tra 200 công ty niêm yết lớn nhất của Nhật Bản do CSR Forum Japan tiến hành năm 2014 thì các tiêu chuẩn CSR của Hiến chương Hành vi doanh nghiệp, GRI và ISO
26000 được áp dụng nhiều nhất
Trang 40Sử dụng Nhận thức đƣợc
nhƣng không sử dụng
Không nhận thức đƣợc
Không biết
có tác dụng "khuyến khích nỗ lực thực hiện CSR" Còn lý do lớn nhất trong vận dụng tiêu chuẩn của GRI là "để đạt được sự thừa nhận từ bên ngoài bằng việc công bố trong các báo cáo và website"
Doanh nghiệp sử dụng đồng thời các bộ tiêu chuẩn CSR cho những mục đích riêng Hiến chương Hành Vi Doanh nghiệp được doanh nghiệp sử dụng để "thiết lập, bổ sung, sửa đổi các quy tắc về hành vi ứng xử", trong khi
đó ISO 26000 được sử dụng rộng rãi để "xây dựng hoặc sửa đổi các chính sách kinh doanh, trung, dài hạn và các kế hoạch kinh doanh", "thiết lập mục tiêu và chương trình CSR", và để "tự đánh giá CSR của mình" Các doanh