Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay thực trạng và vấn đề (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG HOÀNG THUỲ VÂN
DI CHUYỂN LAO ĐỘNG Ở TRUNG QUỐC
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XXI ĐẾN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG HOÀNG THUỲ VÂN
DI CHUYỂN LAO ĐỘNG Ở TRUNG QUỐC
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XXI ĐẾN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số : 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Phạm Thị Thanh Bình
Hà Nội, 2017
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG……… … 11
1.1 Khái quát về di chuyển lao động 11
1.2.Thực tiễn tiếp cận đối với di chuyển lao động của Trung Quốc 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CỦA TRUNG QUỐC TỪ ĐẦU THỂ KỶ XXI ĐẾN NAY 29
2.1 Thực trạng di chuyển lao động của Trung Quốc 29
2.2 Một số vấn đề đặt ra đối với lao động di chuyển của Trung Quốc 38
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DI CHUYỂN LAO ĐỘNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM……… … 54
3.1 Tác động của di chuyển lao động tới sự phát triển kinh tế Trung Quốc 54
3.2 Kinh nghiệm từ di chuyển lao động Trung Quốc 59
3.3 Hàm ý cho Việt Nam trong quản lý di chuyển lao động 61
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
1 CGE Computable General
Equilibrium Cân bằng tổng thể Khả toán
2 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
3 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
4 GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc gia
5 GNI Gross National Income Tổng thu nhập quốc gia
Information and Communication Technology (ICT)
Thông tin và công nghệ truyền thông
7 ILO International Labour
Organization Tổ chức lao động quốc tế
8 LCL Labor Contract Law Luật hợp đồng lao đồng
9 MOHRSS
Ministry of Human Resources and Social Security of the People’s Republic of China
Bộ nhân lực và An sinh xã hội Trung Quốc
10 MNEs Multinational enterprises Doanh nghiệp đa quốc gia
11 R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển
12 SSB State Statistical Bureau Cục thống kê nhà nước
13 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 52013) 51
Biểu đồ 2.6: Dự báo hướng di chuyển lao động thời kỳ từ 1999-2024…… 63
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với các quốc gia đang phát triển, cùng với các nhân tố sản xuất thì lao động được xem là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển - cũng là nguồn lực bị
dư thừa nhiều nhất Các nước đang phát triển được đặc trưng bởi nền kinh tế kép (dual economy) có lực lượng lao động dư thừa nhiều trong nông nghiệp và năng suất lao động nông nghiệp thấp Vì vậy, di chuyển lao động là một trong những cách thức khai thác, tận dụng nguồn lao động dư thừa và phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất Tuy nhiên, tác động của di chuyển lao động lại là khác nhau đối với mỗi quốc gia tùy thuộc vào đặc điểm của từng nền kinh tế Di chuyển lao động không phải luôn là động lực của tăng trưởng kinh tế thành công, thậm chí đôi khi nó gây ra những bất bình đẳng về kinh tế và xã hội do bản chất tự phát và sự kìm hãm của tổ chức hành chính
Từ sau khi cải cách và chuyển đổi nền kinh tế năm 1978, làn sóng dịch chuyển lao động của Trung Quốc bắt đầu gia tăng cả ở trong nước và ngoài nước Ở trong nước, một dòng chảy lao động lớn từ nông thôn ra thành thị sau cải cách kinh tế và thể chế đất nước Theo Chính phủ Trung Quốc, tỷ trọng dân
số thành thị ở Trung Quốc đã tăng đáng kể từ 18% năm 1978 lên 31% vào cuối thế kỷ 20 [52] Chính sách di chuyển lao động là một phần trong chính sách phát triển của Trung Quốc Bằng việc thừa nhận di chuyển lao động là công cụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chính phủ Trung Quốc luôn điều chỉnh chính sách lao động phù hợp với từng giai đoạn cải cách và phát triển Tuy nhiên, cũng giống như nhiều nước đang phát triển khác, các vấn đề thất nghiệp, bất bình đẳng và môi trường được đặt ra với chính phủ Trung Quốc trong quá trình đô thị hóa và dịch chuyển lao động một cách ồ ạt Ngoài ra, việc phân bổ nguồn lực lao động không đồng đều giữa các khu vực địa lý dẫn tới những bất cập lớn về phát triển
Trang 7nói chung và với Trung Quốc nói riêng Hơn nữa, việc nghiên cứu trường hợp của một quốc gia đông dân nhất thế giới như Trung Quốc sẽ là một điển hình cho các nghiên cứu về di cư và phát triển kinh tế, có thể dùng để so sánh với kinh nghiệm của các quốc gia đang phát triển khác trong khu vực nhằm rút ra bài học kinh nghiệm và chính sách cho Việt Nam Với ý nghĩa đó, tác giả chọn
đề tài: “Di chuyển lao động ở Trung Quốc từ đầu thể kỷ XXI đến nay: thực
trạng và vấn đề” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế quốc tế tại Học
viện Khoa học xã hội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở trong nước nghiên cứu về di chuyển lao động cũng được rất nhiều tác giả quan tâm ở các khía cạnh và góc độ khác nhau Có thể tìm thấy lý thuyết về
di chuyển lao động trong những tài liệu trong nước như:
“Di chuyển lao động quốc tế” của tác giả Nguyễn Bình Giang (2011)
[6], tác phẩm đã cung cấp một cái nhìn tổng quát dưới góc độ kinh tế học về di chuyển lao động quốc tế thể hiện qua những vấn đề nổi bật và những tác động chủ yếu trong thập niên đầu của thế kỷ XXI Tác giả cũng đưa ra những dự báo
về xu hướng di chuyển lao động chính trong giai đoạn 2011-2020, cuốn sách này đã tập trung nghiên cứu, đánh giá một số nét nổi bật trong di chuyển lao động quốc tế
Các tác giả Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc (2000) [10] với tác
phẩm “Lao động nữ di cư tự do từ nông thôn ra thành thị” đã đưa ra nghiên
cứu về vấn đề di chuyển lao động của các lao động nữ từ nông thôn lên thành thị, qua đó cho thấy việc nữ lao động di chuyển gặp phải rất nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề xã hội Thực trạng này đã xảy ra ở hầu hết tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam Sau khi phân tích thực tế, các tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền lợi cho nữ lao động di chuyển
Trang 8Tác giả Đặng Nguyên Anh (2009) [1] với công trình “Di dân đến khu đô
thị và các khu công nghiệp - Thực trạng và một số vấn đề chính sách qua nghiên cứu đánh giá tư liệu 2004 – 2009” đã nêu lên một vấn đề người lao
động di chuyển tới các khu công nghiệp để làm việc Trong công trình này, tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng của việc di dân đến các khu đô thị và khu công nghiệp của Việt Nam từ năm 2004 đến năm 2009, thông qua phân tích, đánh giá các tư liệu tác giả cho thấy việc di dân này rất bất cập, người di chuyển chưa được đáp ứng đầy đủ các điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt,… từ đó tác giả đã đưa ra một số kiến nghị về chính sách di dân của Việt Nam trong thời gian tới
Trong hai tác phẩm: “Những vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay” của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Kim Lai [8] và “Những vấn đề toàn cầu trong hai
thập niên đầu thế kỷ XXI”của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn [5] làm chủ biên
đều tập trung mô tả tình hình và một số xu thế lớn của hiện tượng di chuyển lao động quốc tế, chủ yếu là trong nửa cuối thể kỷ XX, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của vấn đề này Trong đó những nước đang phát triển là nguồn của lao động di cư, đặc biệt là di cư lao động kể từ những năm cuối thế
kỷ XX, ngược lại, các nước phát triển của phương Tây và Trung Đông thu hút nhiều người di cư quốc tế Bên cạnh đó, những kinh nghiệm từ hoạt động xuất khẩu lao động, du học của một số quốc gia trên thế giới cũng được phân tích, từ
đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Ngoài ra còn có nhiều bài viết về lao động di cư trên các tạp chí lớn như bài viết:
Tác giả Phạm Thị Thanh Bình và cộng sự với các công trình nghiên cứu
như: “Di chuyển lao động ở Trung Quốc: Thực trạng và kinh nghiệm” tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, số 8/2010 [3]; “Xu hướng và đặc điểm của di chuyển
lao động từ các nước đang phát triển” Viện Kinh tế chính trị thế giới; “Kinh
Trang 9cứu Trung Quốc, số 2/2011[2]… trong các công trình này, các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu thực trạng di chuyển lao động tại một số quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan… các tác giả đánh giá sự tác động của di chuyển lao động tới phát triển kinh tế quốc gia, ngoài ra các tác giả cũng làm nổi bật các vấn đề mà hiện tượng di chuyển lao động gây ra, từ đó đề xuất một số biện pháp khắc phục và đưa ra các hàm ý cho Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề liên quan tới di chuyển lao động
Nhìn chung, các nghiên cứu trên chủ yếu đưa ra lý thuyết chung và một
số kinh nghiệm về di chuyển lao động của một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam chưa có sự tập trung phân tích về các vấn đề mà di chuyển lao động tác động, đặc biệt là tại Trung Quốc
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Những nghiên cứu liên quan đến các lý thuyết di chuyển lao động và khái quát chung về hiện tượng di chuyển lao động, thực trạng di chuyển lao động tại các quốc gia, khu vực trên thế giới
Tác giả Cat Moody (2006) [22] với công trình “Migration and Economic
Growth: A 21 st Century Perspective” (Di chuyển lao động và tăng trưởng kinh tế: Thế kỷ 21), New Zealand Treasury, Working paper 06/02, đã đưa ra một số
các lý thuyết về di chuyển lao động, phân loại di chuyển lao động và các xu hướng di chuyển lao động từ đầu thế kỷ XXI đến nay Ông đưa ra các phân tích
về mối quan hệ giữa di chuyển lao động và phát triển kinh tế, tác động của di chuyển lao động đến phát triển kinh tế, các vấn đề tồn tại và nguyên nhân Tác giả cũng đưa ra một số các khuyến nghị chính sách sử dụng lao động di chuyển
một cách hợp lý và hiệu quả
Trong công trình nghiên cứu “Order (and Disorder) at the Border:
Mobility, International Labour Migration and Border Controls in Southeast Asia, in Mobility, Labour Migration and Border Controls in Asia” (Di chuyển
lao động, di chuyển lao động quốc tế và kiểm soát biên giới ở Đông Nam Á, di
Trang 10chuyển lao động, di chuyển lao động quốc tế và kiểm soát biên giới ở Châu Á) của tác giả Kaur, A, (2006) [2], ông đã chỉ rõ di cư lao động là một tính năng nổi trội của lịch sử lao động khu vực Đông Nam Á từ năm 1870, phù hợp với biên giới mở, hội nhập gia tăng của khu vực vào nền kinh tế toàn cầu Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai và giải phóng thuộc địa, pháp luật hạn chế đã được đưa ra
để ngăn chặn di cư lao động phổ thông vào khu vực Từ năm 1970 trở đi, nhu cầu thị trường lao động thay đổi Mục tiêu di cư và các dòng di cư cũng thay đổi
và nhằm vào quốc tịch, chủng tộc, nguồn gốc địa lý, giới tính và kỹ năng của người di cư, do đó di cư tự do đã mở đường cho chính sách di cư hạn chế và tăng cường kiểm soát biên giới, các biện pháp thực thi nội bộ phức tạp hơn, và hình thành một khu vực gồm nhiều quy định và thủ tục hành chính Mặc dù có các biện pháp khuyến khích kinh tế cho người lao động di chuyển, tuy nhiên việc hạn chế nhập cư và tăng cường kiểm soát biên giới ở các nước xuất khẩu lao động hiện nay đã tạo thành rào cản chính đối với di cư lao động quốc tế
trong khu vực Cũng chính Amarjit Kaur (2016) [1] với công trình “Managing
the Border: Regulation of International Labour Migration and State Policy Responses to Global Governance in Southeast Asia” (Quản lý biên giới: Quy định về di chuyển lao động quốc tế và chính sách nhà nước trong Quản trị toàn cầu tại khu vực Đông Nam Á), University of England Đã nêu lên vấn đề di
chuyển lao động tại biên giới các quốc gia Đông Nam Á, nơi mà diễn biến di chuyển lao động diễn ra mạnh mẽ nhất Tác giả đưa ra các vấn đề thực tế mà các quốc gia này phải đối diện như việc kiểm soát lao động, nhập cư trái phép qua biên giới (lao động chui)… tác giả cũng đưa ra một số gợi ý về chính sách cho các quốc gia
Những nghiên cứu liên quan đến vấn đề di chuyển lao động tại Trung Quốc
Liên quan đến di chuyển lao động tại Trung Quốc, các tác giả Cai Fang,
Du Yang and Wang Meiyan (2009) [22], trong công trình nghiên cứu
Trang 11Trung Quốc), thuộc Human Development Research Paper (báo cáo nghiên cứu
phát triển con người), UNDP, N 9, April, bằng những số liệu nghiên cứu thực tế
về di cư và di chuyển lao động của Trung Quốc từ thời kỳ đổi mới đến năm
2009, các tác giả chỉ rõ: Trung Quốc đã chứng kiến sự di chuyển lao động lớn nhất kể từ khi cải cách và chính sách mở cửa đã được thực hiện Theo số liệu thống kê gần đây nhất, tổng số nông thôn lao động nhập cư thành thị đạt 136 triệu Những người di cư được định nghĩa là những người đã bỏ ra khỏi thị trấn trong hơn 6 tháng Các luồng di cư đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi kinh tế và
xã hội ở Trung Quốc thông qua nâng cao năng suất lao động và chuyển dịch cơ cấu xã hội Theo đó, chính phủ Trung Quốc đã cải thiện các chính sách di cư bằng cách tăng lưu lượng di cư và những thay đổi của thị trường lao động Báo cáo này được trình bày theo những nội dung sau: Phần I: giới thiệu về di cư và
di chuyển lao động, xét lịch sử, quy mô và xu hướng, tác động của di cư ở Trung Quốc và các tổn thương của người di cư Phần II: đánh giá sự thay đổi chính sách di cư chủ yếu trong ba thập kỷ qua Phần III: phân tích những tác động của
di cư và di chuyển lao động đến sự phát triển kinh tế và chuyển đổi ở Trung Quốc Phần IV: thảo luận về sự liên quan những kinh nghiệm của Trung Quốc với các nền kinh tế đang phát triển khác trong việc phát triển kinh tế và thay đổi chính sách nhập cư
Ding Lu (2009) [35], The Economic Consequence of Labour Mobility in
China's Regional Development, The Earth Institute at Columbia University and
the Musachusetts Institute of Technology Di chuyển lao động đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng lên của mức thu nhập khu vực Bài viết này xem xét vai trò của di chuyển lao động trong phát triển kinh tế khu vực của Trung Quốc trong quá trình chuyển đổi nhân khẩu học và sự tồn tại của các rào cản về thể chế Những phát hiện của tác giả cho thấy rằng hai nguồn quan trọng nhất của sự chênh lệch thu nhập liên vùng đều là giá cổ phiếu vốn lao động và trình độ công
nghệ Giải thích hiện tượng này qua 2 nguyên nhân: Một là, vốn và phong trào
Trang 12lao động chỉ đóng vai trò hạn chế trong cân bằng lợi nhuận cận biên của họ trên khắp khu vực bất chấp thực tế là vai trò của di chuyển lao động đã tăng đáng kể
từ năm 2000 Hai là, do tác động của những thay đổi nhân khẩu học với tăng
trưởng thu nhập đã không đồng đều giữa các vùng giàu và vùng nghèo Đây là hiện tượng phổ biến của di cư lao động liên vùng Trung Quốc
Ngoài những công trình nhằm đưa ra khung lý thuyết về di chuyển lao động quốc tế, cả ở trong nước lẫn ngoài nước đều còn rất nhiều nghiên cứu thực tiễn hiện đại tập trung phân tích các vấn đề liên quan để tìm ra xu hướng, quy luật vận động của các dòng di chuyển Trong các nghiên cứu thực tiễn hiện đại
về di chuyển lao động thì vấn đề di chuyển lao động lại được đề cập khá nhiều ở các phạm vi khác nhau
2.3 Đánh giá chung
Như vậy, có thể thấy, hầu hết các nghiên cứu tập trung bàn luận khá sâu sắc về vấn đề di chuyển lao động quốc tế nói chung kể cả lý thuyết và thực tiễn Những công trình nghiên cứu về di chuyển lao động chủ yếu là các vấn đề thực tiễn Các tác giả tập trung vào việc xem xét hệ thống các chính sách phù hợp cho các Chính phủ các quốc gia thành viên Cũng có thể nhận thấy, lý thuyết về di chuyển lao động nội khối còn khá khiêm tốn và còn thiếu vắng các công trình có giá trị Chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc về tác động của di chuyển lao động tới nền kinh tế các quốc gia, cụ thể, là tác động của di chuyển lao động tới
xã hội Trung Quốc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích tổng quát của đề tài là tìm hiểu thực trạng vấn đề di chuyển lao
động của Trung Quốc từ năm 1978 đặc biệt là từ đầu thế kỷ XXI đến nay
Mục đích cụ thể của đề tài là tìm hiểu nhưng lý luận chung về di chuyển
lao động; nghiên cứu và đánh giá tác động của di chuyển lao động tới sự phát
Trang 131978 tới nay đặc biệt là từ đầu thế kỷ XXI Qua các thời kỳ và những thay đổi khác nhau, đề tài sẽ làm rõ được sự đặc trưng di chuyển lao động của Trung Quốc
và những hệ quả mà nó tác động tới sự phát triển của nền kinh tế, xã hội Trung
Quốc Từ đó, đề tài cũng đề xuất một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục tiêu này, các nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết là: (1) Nghiên cứu, làm rõ khái niệm di chuyển lao động và mối liên hệ lý thuyết của di chuyển lao động tới sự phát triển kinh tế (2) Phân tích sự di chuyển lao động của Trung Quốc qua các thời kỳ; (3) Đánh giá hoạt động di chuyển lao động của chính phủ Trung Quốc và tác động của nó tới sự phát triển kinh; (4) Một số bài
học kinh nghiệm cho các quốc gia đang phát triển
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là thực trạng và vấn đề di chuyển lao động của Trung Quốc
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng và vấn đề di chuyển lao động trong
nước của Trung Quốc
Về không gian: Di chuyển lao động trong nước tại Trung Quốc
Về thời gian: Từ sau giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế vào năm 1978 tới
nay đặc biệt là từ đầu thế kỷ XXI
Đề tài tập trung nghiên cứu với trường hợp điển hình của nền kinh tế Trung Quốc và những tác động của di chuyển lao động tới sự phát triển kinh tế
Trung Quốc trong gần hai thập niên qua
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Trang 14Phương pháp phân tích, đánh giá được sử dụng để phân tích các dữ liệu,
số liệu rồi đánh giá những vấn đề còn tồn tại liên quan đến đề tài luận văn, lựa chọn và xác định những vấn đề thuộc nội dung luận văn cần và sẽ tập trung giải
quyết Phương pháp lịch sử nhằm tái hiện trung thực bức tranh quá khứ của vấn
đề di chuyển lao động tại Trung Quốc, nhiệm vụ của phương pháp lịch sử là thông qua các nguồn tư liệu để nghiên cứu và phục dựng đầy đủ các điều kiện hình thành, quá trình ra đời, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của các sự kiện, hiện tượng, đồng thời đặt quá trình phát triển đó trong mối quan
hệ tác động qua lại với các nhân tố liên quan khác trong suốt quá trình vận động của chúng, từ đó có thể dựng lại bức tranh chân thực của sự vật, hiện tượng như
đã xảy ra
Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu tổng quát các sự kiện,
hiện tượng lịch sử, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, không cơ bản để làm bộc lộ bản chất, tính tất yếu và quy luật vận động và phát triển khách quan của sự kiện, hiện tượng lịch sử đang “ẩn mình” trong các yếu tố tất nhiên lẫn ngẫu nhiên phức tạp
Do nghiên cứu các nền kinh tế ở nước ngoài Trung Quốc nên luận văn chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp, để có được nguồn số liệu đầy đủ và đáng tin cậy, luận văn sử dụng phương pháp thu thập số liệu từ tham khảo tài liệu, đặc biệt là các tài liệu tham khảo quốc tế
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học dựa trên số liệu và những diễn
biến thực tế về di chuyển lao động tại Trung Quốc, đưa ra các đánh giá về tác động của di chuyển lao động tới xã hội Trung Quốc Đặc biệt là sử dụng phương pháp diễn dịch và quy nạp nhằm đảm bảo tính toàn diện, có hệ thống và logic của các vấn đề nghiên cứu
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
từ viết tắt, đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về di chuyển lao động
Chương 2: Thực trạng và vấn đề di chuyển lao động của Trung Quốc từ
đầu thế kỷ XXI đến nay
Chương 3: Đánh giá tác động của di chuyển lao động tới sự phát triển của
Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG
1.1 Khái quát về di chuyển lao động
1.1.1 Khái niệm lao động, thị trường lao động và di chuyển lao động
Trong cuối thể kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, việc di chuyển lao động trong nước và quốc tế đã trở nên quen thuộc với số lượng ngày càng tăng Đó là do
sự phát triển kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang có những chuyển biến về chất
và không đồng đều giữa các vùng trong nước và giữa các quốc gia dựa trên cơ
sở phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật Thực tế cho thấy, sức lao động của các quốc gia có dư thừa lao động đến giai đoạn hiện nay đã được xem như là một loại hàng hoá có thể mang lại nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho ngân sách quốc gia Do vậy, để nghiên cứu về di chuyển lao động trước hết cần phải tìm hiểu và làm rõ các khái niệm có liên quan:
Lao động (labour): là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người
nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho
xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế
Thị trường lao động (labour market) hoặc thị trường sức lao động là nơi
thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác
Di chuyển lao động (labour movement) còn gọi là di cư lao động (labour
Trang 17triển Có rất nhiều khái niệm khác nhau về di chuyển lao động Theo quan niệm thông thường, với nghĩa rộng, di chuyển lao động có thể được hiểu là sự chuyển dịch của con người trong một không gian, thời gian nhất định kèm theo sự di chuyển nơi cư trú tạm thời hoặc vĩnh viễn Theo từ điển Oxford Concise
Dictionary of Politics cho rằng: “di cư là sự di chuyển vĩnh viễn của các cá
nhân hoặc tập thể từ nơi này đến nơi khác”, hoạt động di chuyển lao động bao
gồm hai chủ thể chính là người di cư và người nhập cư Cùng theo quan niệm trên nhưng ở góc độ khác, di chuyển lao động là sự di chuyển của lao động tự một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một công việc, một cuộc sống mới trong một khoảng thời gian nhất định Theo từ điển
Oxford Advanced Learner’s Dictionary định nghĩa: “di chuyển lao động là sự di
chuyển một số lượng người lao động từ nơi này đến nơi khác”, người di chuyển
lao động“là người di chuyển từ nơi này sang nơi khác để tìm kiếm công việc”
Theo Công ước của ILO về Di cư về việc làm năm 1949, (số 97) trong Điều 11,
cho rằng: "di chuyển lao động có nghĩa là một người di chuyển từ nơi này sang
nơi khác với mục đích tìm kiếm việc làm”
Theo Đại từ điển Tiếng Việt di cư có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là “dời, chuyển đến nơi khác để sinh sống” và nghĩa thứ hai là “hiện tượng di chuyển đi lại theo chu kỳ và theo tuyến ổn định của một bộ phận hay toàn thể một quần thể động vật”[15]
Di cư được hiểu là hiện tượng di chuyển nơi cư trú từ đơn vị hành chính lãnh thổ này sang đơn vị hành chính lãnh thổ khác, thông thường trong một khoảng thời gian tương đối dài, gắn liền với việc tìm kiếm những điều kiện, khả năng tồn tại, phát triển của cá nhân hay một cộng đồng người nhất định
Khái niệm di cư cũng gần với khái niệm di dân “di chuyển dân cư khỏi một ranh giới hành chính nào đó đến nơi định sẵn theo những mục đích nhất định” Có tác giả cho rằng, thuật ngữ nhập cư, di cư, di dân, di trú, di chuyển, chuyển cư là những cách hiểu khác nhau về bản chất của sự di cư, do vậy, đều
Trang 18chỉ một khái niệm có nhiều tên gọi; và tác giả sử dụng thuật ngữ di cư để: “chỉ chung cho sự xuất cư khỏi nơi ở cũ và sự nhập cư vào nơi ở mới và như vậy nó được hiểu như là một quá trình xuất cư – nhập cư, bởi xuất cư bao giờ cũng gắn kết với nhập cư, xuất cư từ đâu và nhập cư vào đâu”[13]
Theo Liên Hợp Quốc, di cư hay di dân là sự dịch chuyển từ khu vực này sang khu vực khác thường là qua một địa giới hành chính hoặc là sự dịch chuyển theo một khoảng cách xác định nào đó thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú
Di chuyển lao động bao gồm hai quá trình: xuất cư và nhập cư
- Xuất cư (emigration): là quá trình chuyển đi của dân cư tự một vùng hay
một quốc gia này sang một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hoặc tạm thời (trong một khoảng thời gian dài)
- Nhập cư (immigration): là quá trình chuyển đến của dân cư từ một vùng
hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hay tạm thời (trong một khoảng thời gian dài)
Cả hai quá trình xuất cư và nhập cư đều có những ảnh hưởng đến cơ cấu
và động lực tăng dân số của một vùng hay một quốc gia, nhất là quá trình nhập cư đôi khi đóng vai trò quyết định trong việc hình thành dân cư ở một số khi vực
Di chuyển lao động được phân làm hai loại, di chuyển lao động trong
nước (domestic labor mobility) và di chuyển lao động quốc tế (international
labour movement) Di chuyển lao động trong nước được hiểu là việc người lao động di chuyển từ một địa phương, vùng miền này đến một địa phương, vùng miền khác trong phạm vi một quốc gia nhằm mục đích tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập, cái thiện cuộc sống Điển hình là di chuyển lao động từ nông thôn lên thành thị Lao động di chuyển từ nông thôn ra thành phố là những lao động di chuyển phố trong một khoảng thời gian nhất định Là một quá trình di chuyển từ khu vực kém phát triển hơn đến khu vực phát triển hơn;
Trang 19Di chuyển lao động quốc tế được định nghĩa là sự di chuyển của người lao động từ nước này sang nước khác với mục đích tìm kiếm việc làm
Như vậy, di chuyển lao động về cơ bản là sự phản ứng những thay đổi về
phân bổ nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, trật tự thế giới, sự biến đổi của môi trường, sự phát triển của kinh tế và công nghệ… Con người di chuyển từ nơi này đến nơi khác nhằm tận dụng lợi thế về điều kiện, khí hậu, nguồn tài nguyên thiên nhiên để có được nguồn thu nhập cao hơn, có nhiều việc làm hơn hoặc để thoát khỏi sự phân biệt đối xử
1.1.2 Nguyên nhân di chuyển lao động
Di chuyển lao động quốc tế được thúc đẩy bởi các nhân tố cầu đẩy (push)
và cầu kéo (pull) Nhân tố cầu đẩy là các nhân tố từ phía cung (supply), khuyên khích mong muốn di chuyển và các nhân tố kéo xuất phát từ phía cầu (demand)
Từ phía cung, thu nhập cao hơn ở các nước chủ nhà là nhân tố chính quyết định
sự di chuyển lao động, trong khi từ phía cầu là việc sử dụng lao động chuyên môn cao với chi phí thấp hơn và do thiếu lao động có chuyên môn cao của các nước chủ nhà trong một số lĩnh vực
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng di chuyển lao động nhưng tình trạng bất bình đẳng là nguyên nhân chính thúc đẩy con người di chuyển nơi làm việc Bên cạnh đó, khủng hoảng tài chính toàn cầu thúc đẩy lao động di chuyển tại các khu vực trong nước và ra quốc tế, hiện tượng này tại các nước đang phát triển diễn ra ngày càng tăng nhanh.Di chuyển lao động là vấn đề tất yếu mà các quốc gia đang phát triển phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Mục đích duy nhất của sự di chuyển lao động nhằm tạo dựng một cuộc sống đầy
đủ hơn cho bản thân, gia đình và xã hội
Phân tích cụ thể, ta thấy có những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, do có sự mất cân đối về số lượng lao động, khi nguồn lao động
tại một nơi không đáp ứng đủ hoặc vượt quá nhu cầu sử dụng tại nơi đó Sự dư thừa lao động, vượt quá nhu cầu sử dụng tại một địa phương hay một quốc gia
Trang 20có thể là do địa phương, quốc gia đó có tỷ lệ phát triển dân số cao, nền sản xuất lại lạc hậu, kém phát triển nên nhu cầu sử dụng thấp hoặc do địa phương, quốc gia đó có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế mà trong giai đọan chuyển tiếp nền kinh
tế chưa thể phù hợp ngay với cơ chế mới nên đã giảm sút nghiêm trọng, sản xuất bấp bênh, số lao động dôi thừa tăng nhanh
Trong khi đó, nhiều địa phương khác trong nước hay một quốc gia khác
có nền kinh tế phát triển nhanh, nhu cầu sử dụng lao động lớn trong khi tốc độ tăng dân số lại quá thấp nên đã xảy ra hiện tượng thiếu lao động
Thứ hai, do có sự mất cân đối về cơ cấu ngành nghề nhất định mà tại địa
phương hay một quốc gia không có hoặc không đủ Ví dụ: ở một số nước phát triển rất thiếu lao động trong các ngành nặng nhọc, độc hại còn ở nước nghèo lại thiếu các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật có trình độ cao hoặc một thành phố phát triển rất nhiều khu công nghiệp nhưng lại thiếu lao động phổ thông Trình độ phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật của mỗi địa phương, quốc gia không thể giải quyết hết sự mất cân bằng này, đòi hỏi phải có sự trao đổi lao động với các địa phương khác hay quốc gia khác Hành vi trao đổi lao động xuyên quốc gia dẫn đến sự ra đời và phát triển của xuất khẩu lao động
Thứ ba, đối với di chuyển lao động quốc tế là do có sự chênh lệch giá cả
sức lao động trong nước và sức lao động nước ngoài Nhiều nơi mặc dù không
dư thừa lao động cũng tiến hành xuất khẩu lao động vì có lợi cho cán cân thanh toán do họ có được những hợp đồng xuất khẩu lao động có giá cao và bù lại họ nhập khẩu lao động tự những nước có giá cả thấp hơn Điều này lý giải vì sao có những nước vừa nhập khẩu lại vừa xuất khẩu lao động như: Cuba, Malaysia, Bungari
Thứ tư, do có sự chênh lệch về mức thu nhập và mức sống giữa người lao
động tại địa phương này với địa phương trong một nước hoặc người lao động trong nước và người lao động đi làm việc ở nước ngoài Vì lý do này mà nhiều
Trang 21người dù không thuộc đội quân thất nghiệp nhưng vẫn muốn đi lao động tại nơi khác để tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống bản thân và gia đình
Thứ năm, do xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, lực lượng sản xuất
phát triển, nền sản xuất lớn không thể bó hẹp trong phạm vi biên giới quốc gia
mà mở rộng ra nhiều nước, việc sử dụng lao động mang tính quốc tế Hơn nữa, việc tăng cường xuất khẩu công nghệ, bao thầu công trình quốc tế sẽ tất yếu kèm theo việc phát triển di chuyển lao động
1.1.3 Phân loại lao động di chuyển
Di chuyển lao động diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau gồm:
Theo pháp lý
Bao gồm: Di chuyển lao động có tổ chức (di chuyển lao động hợp pháp)
và Di chuyển lao động không hợp pháp Di chuyển lao động có tổ chức: diễn ra trong khuôn khổ chương trình của nhà nước, trong trường hợp này những người
di chuyển lao động thường nhận một khoản trợ cấp hỗ trợ và thường di chuyển nơi ở thường trú của gia đình Di chuyển lao động hợp pháp: là việc chuyển đến nơi sinh sống mới do bản thân người di chuyển lao động tự quyết định bao gồm
cả việc lựa chọn địa bàn nhập cư, tổ chức di chuyển, cũng như trang trải mọi phí tổn và tìm việc làm…
Di chuyển lao động bất hợp pháp: là việc chuyển đến nơi ở mới giống như
di chuyển lao động hợp pháp, tuy nhiên người di chuyển lao động lờ đi các quy định và cố gắng tránh liên lạc với các cấp chính quyền
Theo nơi đi và nơi đến
Di chuyển trong nước dựa theo nơi đi và nơi đến có 4 loại hình: nông thôn – nông thôn, nông thôn – thành thị, thành thị - thành thị và thành thị - nông thôn
Di chuyển quốc tế thì cũng có 4 loại hình: nước đang phát triển – nước đang phát triển, nước đang phát triển - nước phát triển, nước phát triển - nước đang phát triển, nước phát triển – nước phát triển
Theo thời gian
Trang 22Theo thời gian, di chuyển lao động có thể chia thành 3 nhóm: di chuyển lao động lâu dài, di chuyển lao động ngắn hạn (tạm thời) và di chuyển lao động theo mùa vụ
Di chuyển lao động lâu dài: Là nhóm những người di chuyển lao động đến một khoảng thời gian tương đối dài và có ý định ở lại nơi đến Di chuyển lao động dài hạn mang tính ổn định cao thường là kết quả của những áp lực về chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, chính trị và kinh tế hoặc sự kết hợp của những vấn
đề trên
Di chuyển lao động ngắn hạn (tạm thời): là những người được coi là sinh sống, làm việc ngoài nơi cư trú trong khoảng thời gian trên 3 tháng nhưng không quá 1 năm, đồng thời những hoạt động như đi buôn bán, giao dịch, chữa bệnh, thăm viếng người thân không được coi là di chuyển lao động
Di chuyển lao động theo mùa vụ: Là trường hợp đặc biệt của di dân tạm thời Thuật ngữ “mùa vụ” không nhất thiết mang nghĩa mùa vụ thu hoạch, mặc
dù nó có thể là như vậy đối với người di dân Thuật ngữ này còn hàm ý những hoạt động mùa khác như mùa xây dựng hoặc mùa du lịch, theo các dự án… bao gồm cả loại hình đi làm ăn xa ở nông thôn Có thể nói, di chuyển lao động theo mùa vụ là những người ra thành phố trong những lúc nông nhàn để tìm kiếm việc làm, không có ý định cư trú lâu dài và sẽ quay về khi có nhu cầu lao động
và công việc gia đình ở quê hương
Di chuyển lao động theo mục đích
Tại mỗi nơi đến thường đưa ra những điều kiện cho những người nhập cư vào sinh sống hay hoạt động kinh tế trên địa bàn của mình Điều đó tạo nên những dạng khác nhau của người di chuyển
Di chuyển lao động với mục đích định cư: người lao động muốn rời bỏ quê hương để cư trú vĩnh viễn tại nơi đến, tuy nhiên người lao động muốn nhập
cư phải đáp ứng được rất nhiều điều kiện mà nơi đến đặt ra
Trang 23Di chuyển lao động với mục đích kinh tế - lao động: Đây là dạng phổ biến, vì đa phần người di chuyển lao động di chuyển tới nơi khác là để tìm kiếm
cơ hội việc làm có mức thu nhập cao hơn Tuy nhiên, các công việc mà người di chuyển tới làm thường bị giới hạn Người di chuyển lao động thường chỉ gắn liền với một công việc cụ thể và một người thuê lao động trong suốt thời gian họ chuyển tới
Những cách phân loại trên tuy không hoàn toàn đầy đủ nhưng cũng giúp chúng ta hiểu thêm về vấn đề di chuyển lao động Mỗi học giả, quốc gia hay tổ chức lại đưa ra một cách phân loại riêng, dựa trên những tiêu chí khác nhau để tìm ra các loại hình thích hợp Sự phân loại chỉ mang tính chất tương đối và có nhiều điểm đan xen lẫn nhau Xác định được những loại hình phù hợp sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức nói riêng và cộng đồng tìm ra cách quản lý, giúp đỡ và bảo vệ người lao động một cách hiệu quả
1.1.4 Đánh giá tác động của di chuyển lao động tới phát triển kinh tế
Di chuyển lao động là khái niệm phát triển được quốc tế thừa nhận rộng khắp ở các nước đang phát triển Tuy nhiên tác động của di chuyển lao động khác nhau giữa các nước Trong nội bộ quốc gia, di chuyển lao động không phải luôn luôn là động lực của tăng trưởng kinh tế thành công, thậm chí đôi khi nó gây ra những bất bình đẳng về kinh tế và xã hội do bản chất tự phát và sự kìm hãm của tổ chức hành chính Trong phạm vi quốc tê, nếu như di chuyển lao động đem đến nguồn thu nhập tăng cho gia đình, cộng đồng và đất nước Rõ ràng, di chuyển lao động đã tạo ra sự phát triển trong nước Di chuyển lao động Trung Quốc đem lại hiệu quả và lợi ích cho tất cả các bên tham gia nhờ có sự thay đổi kịp thời phù hợp với xu hướng di chuyển lao động trong từng thời kỳ
Dù là di chuyển lao động trong nước hay di chuyển lao động quốc tế thì di chuyển lao động nói chung đã trở thành một tính năng quan trọng của toàn cầu hóa và nền kinh tế toàn cầu bởi thu nhập của lao động di chuyển được chuyển giao cho từ thành thị về nông thôn và từ các nước phát triển về các nước đang
Trang 24phát triển qua các hình thức tiền gửi về Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực để đảm bảo việc bảo vệ lao động di chuyển, vẫn còn nhiều người dễ bị tổn thương
và chịu rủi ro đáng kể trong quá trình di chuyển Di chuyển lao động đã nổi lên như một vấn đề lớn trên toàn cầu có ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia trên thế giới và xếp hạng cao trên quốc tế, khu vực và chương trình chính sách quốc gia Khi được quản lý đúng cách, di chuyển lao động có ảnh hưởng sâu rộng tiềm năng cho những người di chuyển, cộng đồng, nơi xuất xứ và nơi đến và cả cho nhà tuyển dụng, cũng như kinh tế, xã hội nói chung Cụ thể, đối với di chuyển lao động trong nước sẽ thúc đẩy quá trình đô thị hóa, lao động công nghiệp tăng, việc làm được giải quyết… Đối với di chuyển lao động quốc tế, các nước có lợi
từ nguồn gốc di chuyển lao động vì nó làm giảm áp lực thất nghiệp và góp phần phát triển thông qua kiều hối, chuyển giao kiến thức, và tạo ra các mạng lưới kinh doanh và thương mại Mặt khác, đối với những nơi phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động, lao động di chuyển có trật tự và quản lý tốt có thể làm giảm tình trạng khan hiếm lao động
Di chuyển lao động ngoài những phúc lợi về lao động cơ bản thì họ còn được hưởng phúc lợi đặc biệt do là người lao động trên đất khách quê người
Khi lao động ra nước ngoài làm việc với thu nhập cao hơn làm việc trong nước Người lao động gửi khoản tiền đó về gia đình làm khoản tiết kiệm Khoản tiền người lao động gửi về nhà được chia là hai phần: một phần gia đình chi tiêu vào việc nâng cao mức sống, chăm sóc sức khỏe của gia đình đặc biệt là chi tiêu cho việc học tập của con cái góp phần nâng cao dân trí; một phần lớn dành để tiết kiệm nhằm mục đích đầu tư trong tương lai Di chuyển lao động ra làm việc
ở nước ngoài góp tăng chi tiêu hộ gia đình và tăng đầu tư tư nhân trong dài hạn
Để tăng chất lượng nguồn lao động di chuyển, Chính phủ phải đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và các điều kiện khác đảm bảo cho việc đào tạo và đào tạo lại người lao động Điều này sẽ làm tăng chi tiêu của Chính phủ Khi chi
Trang 25tiêu cho đầu tư của Chính phủ tăng sẽ góp phần làm tăng GDP cả trong ngắn hạn
và dài hạn, điều này cũng làm tăng tri thức cho dân di cư lao động Bên cạnh đó, trình độ người lao động đi làm việc ở nước ngoài được nâng cao nhờ được đào tạo và đào tạo lại trong thời gian làm việc ở nước ngoài Chính người lao động
đi làm việc ở nước ngoài sẽ là động lực của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
vì đây là nguồn lao động có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư theo chiều sâu
Những nhân tố thúc đẩy sự tăng nhanh di chuyển lao động chuyên môn cao gồm: những thay đổi công nghệ, đặc biệt phát minh mới trong công nghệ thông tin viễn thông ICT; toàn cầu hóa thị trường sản xuất và liên kết thông qua thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI; khu vực hóa các doanh nghiệp đa quốc gia MNEs; tiếp cận các lĩnh vực phát minh mới, cơ hội kinh doanh công nghệ cao; chuyển giao công nghệ và quốc tế hóa các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) các công ty quốc gia Các nhân tố này có vai trò rất quan trọng trong làn sóng di chuyển lao động chuyên môn cao ở các nước phát triển và đang phát triển Hơn nữa, các nhân tố như sự khác nhau trong thị trường lao động, trong chi trả cho chuyên môn, trong cơ hội tìm việc và triển vọng nghề nghiệp vẫn tiếp tục được coi là những xu hướng chính của di chuyển lao động chuyên môn quốc tế trong nền kinh tế toàn cầu Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế đã mang lại cả những tác động tích cực và tác động tiêu cực cho nước nhận lao động và nước gửi lao động
Trang 26phải chuyển đổi sang ngành nghề phi nông nghiệp Hơn nữa, quá trình đô thị hóa diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành, lao động tại chỗ không đáp ứng kịp nên các nhà sử dụng lao động có xu hướng tuyển dụng lao động nông thôn Lao động nông thôn ra thành phố làm việc, ngoài khoản chi tiêu dùng tại các thành phố, một phần thu nhập của họ sẽ được chuyển về nông thôn, đây là một trong những nguồn lực góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo
Thứ hai, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn
Đa số người lao động ở nông thôn trước khi di cư làm nghề nông Sau khi
di cư, bản thân người lao động đã có sự thay đổi cơ bản về nghề nghiệp, từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp Đây là một xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là một trong những giải pháp đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, góp phần cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập của các hộ gia đình, ngoài ra người lao động có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội như y tế giáo dục, thông tin, văn hóa…
Thứ ba, lực lượng lao động thành thị được bổ sung và trẻ hóa
Di chuyển lao động đã góp phần bổ sung một lực lượng lao động lớn cho các thành phố Lao động nhập cư thường linh hoạt và tích cực hơn trong việc tìm kiếm việc làm, chấp nhận nặng nhọc, độc hại, công việc có thu nhập thấp mà người thành phố không muốn làm Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở các thành phố lớn đòi hỏi nhiều về nguồn nhân lực Trong khi đó, lao động dư thừa tiềm tàng chủ yếu vẫn ở khu vực nông thôn và do đó đã trở thành nguồn cung lao động chủ yếu cho các thành thị Số liệu thống kê cho thấy lao động nhập cư ở độ tuổi cơ bản từ 15 đến 40 tuổi - chiếm tỷ lệ cao nhất trong thành phần dân nhập cư, chiếm khoảng 65 - 67% Điều đặc biệt ở đây là lao động nhập
cư vào các thành phố là lao động bổ sung chứ không phải lao động thay thế cho lao động địa phương Tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở thành phố Đà
Trang 27Thứ tư, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của các thành phố
Lao động nhập cư vào các thành phố không chỉ là nguồn lực cho phát triển, họ còn đóng góp vào tăng trưởng sản lượng (Tổng sản phẩm trong nước - GDP) của địa phương thông qua việc chi tiêu dùng cá nhân như: ăn uống, thuê nhà ở, một số dịch vụ xã hội khác…
Thứ năm, làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở thành thị với nhiều nét văn hóa từ các vùng miền khác nhau du nhập vào theo dân nhập cư
Di chuyển lao động không chỉ đơn thuần là dịch chuyển lao động mà còn
là quá trình giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng có đặc trưng văn hóa khác nhau Người nhập cư tạo dựng sinh kế ở nơi đến, du nhập văn hóa của cư dân bản địa, đồng thời cũng có ảnh hưởng trở lại đối với văn hóa của các cộng đồng này bởi lẽ mỗi người dân nhập cư đều mang theo những nét văn hóa riêng của vùng, miền, quê hương họ nhưng có một điều chúng ta phải thừa nhận là những dòng văn hóa đó không xung đột mà hòa nhập vào nhau làm phong phú thêm đời sống văn hóa đô thị Thông qua quá trình di cư, người lao động có cơ hội giao lưu, tiếp thu các yếu tố văn hóa mới nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, quê hương mình
Thứ sáu, đối với lao động ra nước ngoài, nơi sở hữu nguồn nhân lực lao
động (origin countries) sẽ nhận được một khoản tiền đền bù và nguồn tiền gửi
về đáng kể Theo số liệu của LHQ, tính riêng trong năm 2005, những người lao động xa xứ đã chuyển về nước 232 tỉ USD, trong đó 167 tỉ USD chảy về các
nước đang phát triển;
Thứ bảy, sự di chuyển tự do nguồn lực lao động sẽ thúc đẩy các cá nhân
đầu tư nhiều hơn nữa cho hoạt động đào tạo, giáo dục bởi số lượng lớn các cơ hội làm việc ngày càng tăng cùng với việc mở cửa thị trường của các nước Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quốc gia đều phải mở cửa thị trường, kể cả thị trường lao động thì việc chu chuyển của lao động quốc tế dễ dàng hơn;
Trang 28Thứ tám, lợi ích của di chuyển lao động là tạo điều kiện cho các cá nhân
tiếp nhận được những kiến thức và kỹ năng lao động cao hơn, có cơ hội để cải thiện điều kiện sống và tiềm năng để thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế Trong một khía cạnh nhất định góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp ở các nước đang phát triển
Thứ hai, một số vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh
Quá trình lao động di cư từ nông thôn ra thành thị bên cạnh tạo điều kiện cho người di cư có cơ hội được tiếp xúc với xã hội đô thị, học hỏi nhiều điều hay, nhiều kiến thức mới thì quá trình di chuyển lao động cũng làm nảy sinh một
số vấn đề xã hội phức tạp do hậu quả của người lao động đưa về nông thôn Những người nhập cư sống xa gia đình thường ít bị ràng buộc nên dễ bị cám dỗ,
sa ngã vào các tệ nạn xã hội như: nghiện hút, mại dâm, cờ bạc, lô đề, trộm cướp… và các tệ nạn này sẽ theo lao động về nông thôn
Thứ ba, tạo sức ép trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội ở các thành phố
Nhà ở là vấn đề nan giải đầu tiên đối với chính quyền các đô thị, nhất là các đô thị lớn lớn Đa phần người nhập cư không có khả năng mua được nhà để
ở Trong khi đó, nhà ở của những người nhập cư vào đô thị và khu công nghiệp
Trang 29cầu tự xây dựng nhà cho thuê Kết quả là người thuê nhà bị bắt ép, tình trạng mất trật tự, thiếu an toàn và ô nhiễm môi trường ở những khu nhà thuê trọ thường xảy ra Trong những năm gần đây, hầu hết các thành phố lớn đã xây dựng mới hàng triệu m2 nhà để phục vụ nhu cầu của nhân dân nhưng vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu về nhà ở cho người nhập cư Đây là một bài toán khó đối với chính quyền các đô thị trong quá trình đô thị hóa Đảm bảo tiếp cận công bằng các dịch vụ có chất lượng về chăm sóc y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội khác cho người nhập cư đang là một gánh nặng đối với các thành phố Một số cơ
sở cung cấp dịch vụ đòi hỏi người lao động phải có hộ khẩu mới được khám chữa bệnh, con cái mới được đi học nhưng để có hộ khẩu thì phải có chỗ ở hợp pháp Điều này đòi hỏi các thành phố cần phải có giải pháp đột phá để người lao động “an cư lập nghiệp” Ở một khía cạnh khác, di chuyển lao động từ nông thôn vào các thành phố làm cho kết cấu hạ tầng giao thông, cảnh quan đô thị bị phá vỡ, làm chệch hướng mục tiêu xây dựng đô thị văn minh, hiện đại Khi lượng người di cư đến các thành phố đông, cùng với đó phương tiện giao thông
sử dụng tăng lên tương ứng, kết cấu hạ tầng giao thông đô thị không đáp ứng kịp
đã gây nên tình trạng kẹt xe ở hầu hết các đô thị, nhiều hệ quả phái sinh khác như ô nhiễm tiếng ồn, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường là một trong những thách thức của các đô thị Người nhập cư quen với lối sống ở nông thôn, tâm lý và cách hành xử mang đậm tính tiểu nông đã tạo nên những tác động nghịch chiều Nói như vậy, không có nghĩa là nông thôn xấu mà để chỉ một lối sống không phù hợp với môi trường phát triển hiện đại, văn minh và năng động Đây rõ ràng là một rào cản đối với quá trình phát triển bền vững của các đô thị
Thứ tư, gia tăng sức ép về quản lý trật tự xã hội cho các cấp chính quyền
Lao động tự do di chuyển vào các thành phố, đặc biệt là di cư mùa vụ tìm việc làm trong thời gian nhàn rỗi, họ thường không đăng ký tạm trú, điều này gây ra những khó khăn nhất định cho việc quản lý nhân khẩu tại các đô thị, dẫn đến hiện tượng mất trật tự công cộng và an toàn xã hội, làm nảy sinh thêm nhiều
Trang 30vấn đề phức tạp cho dân cư đô thị và trở thành gánh nặng đối với công tác quản
lý trật tự xã hội của các cấp chính quyền Những người di cư đa số có những hạn chế nhất định về chuyên môn, tay nghề nên họ làm đủ các loại công việc từ công nhân cho đến thợ nề, từ buôn bán rong đến người dọn vệ sinh Do vậy, họ tiếp xúc với nhiều tầng lớp trong xã hội, dễ bị ảnh hưởng các thói hư tật xấu, góp phần làm phức tạp thêm những vấn đề xã hội vốn đã nan giải ở các đô thị gây khó khăn cho công tác quản lý
Thứ năm, đối với lao động ra nước ngoài, các nước có lao động bị mất
một nguồn nhân lực, thậm chí tạo ra sự hẫng hụt nguồn lao động có trình độ và
do đó họ cũng bị tước đoạt mất một trong những nguồn năng lực cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai
Thứ sáu, các nước có nguồn lao động chuyên môn cao di chuyển sẽ bị
lãng phí một phần đáng kể quỹ công cộng đầu tư trong quá trình hình thành vốn nhân lực của lao động di chuyển
Thứ bảy, lao động di chuyển tạo ra tâm lý không yên tâm trong công việc,
thiếu sự gắn bó với nhiệm sở Tuy nhiên di chuyển lao động chuyên môn cao, ở một phương diện khác, cũng đem lại những tác động tích cực
Nhìn chung, bên cạnh những tác động tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, di chuyển lao động cũng có những tác động nghịch chiều Những hậu quả không mong muốn của việc di chuyển lao động đã tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với chính quyền các thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn Nếu không xem xét một cách thấu đáo sẽ có thể cho rằng hậu quả đó hoàn toàn
là do tác động tiêu cực của việc di chuyển lao động Chúng ta phải thấy rằng, hiện tượng này xuất phát từ những nguyên nhân kinh tế và cả phi kinh tế ở chính nơi đi và nơi đến Do vậy, chính quyền các đô thị cũng như nông thôn cần tìm cách tiếp cận để giải quyết những vấn đề đó chứ không phải tìm cách ngăn chặn luồng di cư vào đô thị
Trang 311.2 Thực tiễn tiếp cận đối với di chuyển lao động của Trung Quốc
Nếu như di chuyển lao động đem đến nguồn thu nhập tăng cho gia đình, cộng đồng và đất nước thì chắc chắn, di chuyển lao động đã tạo ra sự phát triển
Di chuyển lao động Trung Quốc đem lại hiệu quả và lợi ích cho tất cả các bên tham gia nhờ có sự thay đổi kịp thời,phù hợp với xu hướng di chuyển lao độngtrong mỗi thời kỳ
Thứ nhất, di chuyển lao động được xem là cách tiếp cận tới sự phát triển
Đối với hầu hết các nước đang phát triển, cùng với các nhân tố sản xuất thì lao động được xem là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển và cũng là nguồn lực bị dư thừa nhất Các nước đang phát triển đều đặc trưng bởi nền kinh
tế kép (dual economy) có lực lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp và năng suất lao động nông nghiệp thấp Vì vậy, di chuyển lao động là một trong những cách thức khai thác, tận dụng nguồn nhân lực lao động dư thừa và phân bổ nguồn nhân lực hiệu quả nhất Kinh nghiệm của Trung Quốc đã chỉ ra rằng, di chuyển lao động là khía cạnh giá trị thực chất nhất của cuộc sống kinh tế và xã hội bởi con người luôn tìm kiếm cơ hội để nâng cao mức sống của bản thân và gia đình Tuy nhiên, di chuyển lao động không phải luôn luôn được dùng như công cụ phát triển có hiệu quả Bài học kinh nghiệm thứ nhất của Trung Quốc là vấn đề chính sách
Chính sách di chuyển lao động là một phần trong chính sách phát triển kinh tế của Trung Quốc Bằng việc thừa nhận di chuyển lao động là công cụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chính phủ Trung Quốc luôn điều chỉnh chính sách
di chuyển lao động phù hợp với từng giai đoạn cải cách và phát triển kinh tế Ở giai đoạn đầu cải cách, trong khi thành phố chưa sẵn sàng với việc tiếp nhận lao động di chuyển nông thôn, chính phủ Trung Quốc khuyến khích lao động nông nghiệp chuyển đổi sang lâm nghiệp, đánh bắt cá và công nghiệp địa phương Do lao động nông nghiệp dư thừa quá nhiều, chính phủ cho phép người nông dân di
Trang 32chuyển lao động tới các thành phố, thị trấn nhỏ gần làng xã nơi họ cư trú Khi cuộc cải cách ở thành phố ngày càng mạnh và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được mở rộng, nhu cầu lao động dư thừa ở thành phố tăng, di chuyển lao động giữa nông thôn và thành thị trở nên thường xuyên Mặc dù trong thời điểm
đó, lao động di chuyển chưa được công khai thừa nhận như một lực lượng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song quyết sách của chính phủ đã rất đúng nhờ quan tâm đến tăng thu nhập của lao động nông nghiệp Điều chắc chắn là, di chuyển lao động từ nông thôn đến thành thị đóng góp rất lớn cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn cải cách Và khi Trung Quốc gia nhập WTO (2001) thì khu vực phi nông nghiệp của Trung Quốc đã được mở rộng đáng kể Chính sách di chuyển lao động ngày càng được khuyến khích và được coi như là nhiệm vụ chính của nhà nước
Thứ hai, phát triển kinh tế tạo nhiều cơ hội cho di chuyển lao động
Tăng trưởng kinh tế, đồng thời, được xem là nhân tố bổ sung cho quá trình di chuyển lao động Bằng chứng lịch sử cho thấy phát triển và di chuyển lao động luôn đồng hành; tỉ lệ di chuyển lao động trung bình ở một nước có mức
độ phát triển con người thấp khoảng 4%, so với hơn 8% ở các nước có mức độ phát triển con người cao hơn Ở Trung Quốc, di chuyển lao động chiếm ưu thế trong quá trình di chuyển lao động bởi vì những khu vực tăng trưởng nhanh đã tạo ra rất nhiều những cơ hội việc làm (phát triển kinh tế đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm) Di chuyển lao động không phụ thuộc vào hoạt động phát triển kinh tế nhưng tăng trưởng kinh tế có vai trò quan trọng cung cấp cơ hội việc làm cho lao động di chuyển và là động lực thúc đẩy di chuyển lao động Trong giai đoạn đầu cải cách và mở cửa, Trung Quốc đặt ưu tiên hàng đầu là thu hút vốn nước ngoài nhằm mục tiêu tìm kiếm tăng trưởng kinh tế Đồng thời, chính phủ coi di chuyển lao động là nhân tố ưu tiên thứ hai sau mục tiêu tăng trưởng GDP Tăng trưởng kinh tế nhanh của Trung Quốc đã tạo ra hàng trăm nghìn việc làm cho
Trang 33trung tâm chế tạo thế giới, nhu cầu ngày càng tăng của lao động di chuyển buộc chính phủ thay đổi quan điểm chuyển đổi từ di chuyển bắt buộc (tolerating migration) nhằm mục đích tăng thu nhập cho người nông dân sang khuyến khích
di chuyển nhằm đáp ứng đủ lao động cho khu vực công nghiệp và ủng hộ hoạt động di chuyển lao động để duy trì sự ổn định xã hội Do vậy, lợi ích kinh tế của
di chuyển lao động tăng rất nhiều Những lợi ích mà di chuyển lao động đem lại cho nền kinh tế bao gồm:
Di chuyển cung cấp lao động dư thừa cho tăng trưởng kinh tế để hiện thực hoá lợi thế so sánh trong các ngành công nghiệp cần nhiều lao động;
Nền kinh tế Trung Quốc thu được lợi ích lớn hơn từ việc tái phân phối lao động;
Các hộ gia đình nông thôn kiếm được nguồn thu nhập tăng từ các hoạt động ngoài nông nghiệp
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CỦA
TRUNG QUỐC TỪ ĐẦU THỂ KỶ XXI ĐẾN NAY
2.1 Thực trạng di chuyển lao động của Trung Quốc
Trung Quốc là một nước có nền nông nghiệp phát triển với hơn 618 triệu người sống ở nông thôn (2014), từ sau khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008, Trung Quốc đã không ngừng tăng đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, từ 300
tỉ NDT (2003) lên 590 tỉ NDT (2008) và đạt mức kỷ lục 764,1 tỉ NDT, khoảng
112 tỉ USD (2009) Trung Quốc đã thực hiện rất nhiều các chính sách hiện đại hóa nông thôn nhưng vẫn không cản trở được dòng di chuyển lao động lên thành phố Hiện chính phủ Trung Quốc đang buộc phải tìm kiếm những giải pháp để đảm bảo an sinh xã hội, tạo cơ hội việc làm cho lao động di chuyển và thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa lao động thành phố và lao động di chuyển
Trong hơn 30 năm qua, kể từ khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách
và mở cửa kinh tế (1978), có khoảng hơn 130 triệu người Trung Quốc di chuyển
từ nông thôn lên thành phố để tìm kiếm việc làm (chưa tính đến số di chuyển ra nước ngoài làm việc) Dòng di cư này, theo Liên hợp quốc, là lớn nhất trên thế giới, đã tiếp sức cho mức độ tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc, cải thiện điều kiện sống cho những người lao động nghèo đói
Di cư lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ xuất
phát từ những nguyên nhân sau: Một là, các quốc gia đang phát triển thực hiện
chuyển đổi kinh tế, chủ yếu theo hướng phát triển công nghiệp sản xuất (hoặc gia công) hàng hoá xuất khẩu như may mặc, giày dép, điện tử… dẫn đến nhu cầu thu hút lao động phổ thông cũng như chuyên môn tại các thành phố lớn, khu
công nghiệp ngày càng tăng; Hai là, trong khi đó, tốc độ chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở vùng nông thôn diễn ra chậm do cơ sở hạ tầng cũng như trình độ quản
Trang 35trong quá trình chuyển đổi, chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người giữa thành thị và nông thôn tăng
Làn sóng di cư lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ diễn ra mạnh nhất ở Trung Quốc, Campuchia và Việt Nam – những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh kể từ năm 1995 Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách và mở cửa kinh tế (1978), có khoảng hơn 130 triệu người Trung Quốc di chuyển từ nông thôn lên thành phố để tìm kiếm việc làm (chưa tính đến số di chuyển ra nước ngoài làm việc) Dòng di cư này, theo Liên hợp quốc, là lớn nhất trên thế giới, đã tiếp sức cho mức độ tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc, cải thiện điều kiện sống cho những người lao động nghèo đói Trước năm 1978, xã hội Trung Quốc bị phân chia rõ rệt đặc trưng bởi các phân đoạn kinh tế và tổ chức giữa các khu vực nông thôn và thành thị Lực lượng lao động nông thôn không được phép làm việc trong các lĩnh vực ngoài nông nghiệp hoặc ngoài các trang trại tập thể hợp tác xã Di chuyển lao động Trung Quốc chỉ thực sự được bắt đầu từ sau cuộc cải cách mở cửa năm 1978
Giai đoạn 1979-1983: Di chuyển lao động bị hạn chế
Năm 1978, Trung Quốc có 283 triệu lực lượng lao động nông nghiệp, chiếm 93% tổng lực lượng lao động xã hội Cùng với sự phát triển và cải cách kinh tế, qui mô di chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố ngày càng tăng Khác với các nước đang phát triển khác, di chuyển lao độngTrung Quốc đặc trưng bởi những xu hướng lan truyển nhanh do sự phân chia lịch sử tồn tại giữa nông thôn và thành thị của hệ thống hukou (hukou system) Thời kỳ đầu cải cách chỉ có một số lượng nhỏ lao động di cư, chủ yếu tập trung ở những lao động thủ công Cùng với mức tăng của năng suất lao động nông nghiệp, lực lượng lao động nông nghiệp bắt đầu chuyển ra ngoài khu vực với qui mô ngày càng lớn Số lượng lao động di chuyển tăng lên từ 2 triệu lao động (1983) lên 30 triệu lao động (1990) Đặc biệt sự bùng nổ kinh tế sau năm 1992 dẫn tới qui mô
di chuyển lao động tăng rất nhanh Tăng trưởng kinh tế ở các khu vực ven biển -
Trang 36nơi chủ yếu tập trung lao động công nghiệp và lao động có xu hướng xuất khẩu - thu hút ngày càng nhiều lao động nông thôn từ các vùng khác nhau của Trung Quốc đến tìm kiếm việc làm ngoài nông nghiệp
Trong giai đoạn đầu cải cách, mặc dù lao động nông nghiệp được phép thực hiện các quyết định về sản phẩm nông nghiệp của mình, song sự di chuyển lao động còn rất hạn chế do việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho thành phố chưa đầy đủ Vì vậy, việc kiểm soát lao động nông nghiệp di chuyển ra ngoài khu vực được thực hiện nghiêm ngặt Thêm nữa, chính sách ưu tiên thời kỳ này giành cho những lao động thất nghiệp thành phố và những lao động đã tốt nghiệp phổ thông từ nông thôn trở vê
Nhằm cản trở lao động nông thôn di chuyển ra thành phố, chính phủ Trung Quốc đã hạn chế tuyển lao động từ khu vực nông thôn Bên cạnh đó, các chính phủ địa phương đã thay thế toàn bộ lao động làm việc của khu vực nông thôn bằng những lao động thành thị thông qua thực thi các chính sách lao động
bổ sung
Để nới lỏng sức ép di chuyển lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp, chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp nông thôn
để cung cấp cơ hội việc làm ngoài nông nghiệp cho lực lượng lao động nông
thôn Vì vậy, xu hướng đặc trưng thời kỳ này của Trung Quốc là chính sách
công nghiệp hóa nông thôn
Giai đoạn 1984 – 1988: Di chuyển lao động được bắt đầu
Giữa những năm 1980s, Trung Quốc đã hoàn thành cơ bản giai đoạn đầu của cải cách nông nghiệp Bên cạnh đó, những cuộc cải cách cơ chế kinh tế nông nghiệp khác như xóa bỏ Cơ chế Công xã Nhân dân (People's Commune System) và phát triển các Doanh nghiệp làng xã và thành phố (TVEa – Township and Village Enterprises) cũng khuyến khích tăng di chuyển lao động
và tiến hành cải cách cơ chế kinh tế ỏ thành thị Những lĩnh vực cải cách chính
Trang 37nâng cao khả năng tạo việc làm cho các xí nghiệp, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở thành phố Những cuộc cải cách này đã thúc đẩy tính hiệu quả kinh tế ở thành thị và làm tăng nhu cầu lao động cho lao động
dư thừa nông thôn Xu hướng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị bắt đầu xuất hiện để đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp và các hoạt động xây dựng mởi ở thành phố Chính phủ đã ban hành hàng loạt chính sách mới về di chuyển lao động, cho phép lao động nông nghiệp được quyền bán sản phẩm nông nghiệp của minh và tìm kiếm lao động phù hợp tại thành phố
Giai đoạn 1989 – 1991: Di chuyển lao động giảm dần
Di chuyển lao động có xu hướng chậm lại do tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc thời kỳ này suy giảm Khi tăng trưởng kinh tế ở thành thị giảm, các nhà hoạch định chính sách có xu hướng bảo hộ cơ hội việc làm cho lao động thành phố thông qua chính sách hạn chế di chuyển lao động nông thôn Vì vậy,
sự sụt giảm kinh tế trong giai đoạn 1989 - 1991 chính là nguyên nhân của chính sách hạn chế di chuyển lao động của Trung Quốc Nhiều dự án xây dựng thời kỳ này bị hủy bỏ hoặc trì hoàn Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đạt mức thấp nhất kể từ năm đổi mới cái cách (1978)
Chính phủ khẩn cấp ban hành chính sách hạn chế di chuyển lao động nông thôn (Emergency Notices on Strict Control with Famers to Move out of Rural Areas) Đồng thời, lao động nông thôn đâng làm việc ở thành thị cũng buộc phải
di dời trở về Với phương châm "rời bỏ đất đai nhưng không được rời bỏ làng xã" (leaving land without leaving village) đối với lao động nông nghiệp và khuyến khích chính phủ các địa phương tạo cơ hội việc làm cho lao động nông nghiệp khi trở về
Do chính sách hạn chế di chuyển lao động, qui mô di chuyển lao động thời
kỳ này giảm Lao động việc làm trong các doanh nghiệp thành phố và làng xã TVEs cũng giảm
Giai đoạn 1992 – 2000: Di chuyển lao động tăng
Trang 38Do mức chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng tăng, di chuyển lao động bắt đầu có xu hướng tăng Các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc thừa nhận không thể hạn chế di chuyển lao động và chính sách di
cư lao động thực ra là có tác dụng tích cực Để bình thường hóa hoạt động di cư thời kỳ này, hàng loạt chương trình đào tạo cho lực lượng lao động nông thôn và dịch vụ việc làm được hình thành Năm 2001, Bộ lao động và An ninh Xã hội ban hành luật thúc đẩy việc làm cho lực lượng lao động nông thôn và ban hành
Cơ chế bảo lưu nguồn lao động (Labour Reservation System) Nâng cao kỹ
năng cho lao động di cư và thành lập hệ thống thông tin thị trường lao động Lần
đầu tiên chính phủ Trung Quốc khuyến khích sự di chuyển lao động nông thôn Giai đoạn 2000 đến nay: Quan tâm hơn tới lao động di chuyển
Theo Tổ chức Lao động quốc tế, Trung Quốc là một trong những quốc gia
có số lượng di chuyển lao động lớn nhất trên thế giới [46] Thực tế, nghiên cứu
được thực hiện bởi Kam Wing Chan của Đại học Washington cho rằng: "Trong
30 năm (1979-2009), dân số đô thị của Trung Quốc đã tăng khoảng440 - 622 triệu người Trong số tăng 440 triệu, khoảng 340 triệu là do di chuyển lao động thuần và phân loại lại thành thị Ngay cả khi chỉ có một nửa sự tăng đó là di chuyển lao động, lượng nông thôn-thành thị di cư trong một khoảng thời gian ngắn như vậy là có thể xem là lớn nhất trong lịch sử nhân loại" [25] Lao động
di cư đã tăng lên từ 63 triệu người (1993) lên 75,5 triệu người (2000) và tới 136 triệu người (2007) Lao động di chuyển có vai trò quan trọng trong thị trường lao động của Trung Quốc
Nguyên nhân của việc di chuyển lao động có thể bắt nguồn từ các yếu tố khác nhau trong xã hội Trung Quốc
Thứ nhất, di chuyển lao động trong một số hoàn cảnh có thể là do việc tìm
kiếm một môi trường mới, một không gian văn hóa mới, một nền văn minh mới, điều này đã đẩy nhiều công nhân trẻ di chuyển đến các khu vực đô thị hoá hơn
Trang 39Thứ hai, di chuyển tới thành phố xa xôi để kiếm công việc không phải là
sự lựa chọn cho nhiều người lao động nông thôn của các thế hệ trước đó Di chuyển đã tạo ra nhiều cơ hội cho cả phụ nữ và nam giới để giải thoát mình khỏi tình trạng nông thôn hiện tại của họ và tạo ra một cuộc sống mới cho bản thân
và gia đình của họ
Thứ ba, di chuyển cho phép các thanh niên nông thôn trở thành người
hưởng lương, người tiêu dùng Tuy rằng, di chuyển lao động cung cấp cho họ nhiều cơ hội hơn, nhưng nó cũng có nhiều hạn chế như lao động di chuyển, đặc biệt là phụ nữ, thường nhận được mức lương thấp hơn và được xem như là lao động có thể thay thế
Năm 2015, tổng cộng có 277,5 triệu lao động di chuyển, chiếm 36% tổng
770 triệu lực lượng lao động của Trung Quốc [32] Trong số này, người lao động di chuyển rời quê hương của họ và làm việc tại các tỉnh khác chiếm 158,6 triệu người (tăng 3,4% so với năm 2010) và lao động nhập cư làm việc trong phạm vi tỉnh nhà của họ đạt 94,2 triệu người (tăng 5,9% so với năm 2010)[52]. Sự cân bằng giới tính cho lao động nhập cư 2/3 nam, 1/3 nữ trong năm 2015 Theo dự báo, các thành phố của Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một dòng di chuyển lao động lên tới 243 triệu người di chuyển lao động vào năm
2025, dân số đô thị sẽ tăng lên tới gần 1 tỷ người, số lượng di chuyển lao động này sẽ đại diện cho gần 40% tổng dân số đô thị, gần gấp ba lần mức hiện tại[54]
Bảng 2.1 Phân bổ lao động theo vùng tại Trung Quốc (2000 – 2014)
Năm
Tổng số lao động (triệu người)
Lao động (triệu người) Tỷ lệ (%)
Lao động (triệu người) Tỷ lệ (%)
Trang 40Nguồn: http://data.worldbank.org, năm 2016
Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, tổng số lao động của Trung Quốc tăng đều, năm 2000 là 720,1 triệu cho tới năm 2015 là 774,5 triệu tăng 53,7 triệu người
Từ năm 2000 đến năm 2013, số lao động thành thị luôn có tỷ trọng thấp hơn lao động ở nông thôn, tuy nhiên, từ năm 2014, số lao động ở nông thôn lại có chiều hướng giảm, còn lao động ở thành phố thì lại gia tăng Năm 2000, số lao động thành thị là 231,5 triệu người chiếm 32,12% tổng dân số, nhưng đến năm 2015, thì lao động thành thị đã tăng lên 404,1 triệu người chiếm 52,17% tổng số lao động Còn lao động nông thôn năm 2000 là 489,3 triệu người chiếm 67,88% tổng số lao động, đến năm 2015 giảm xuống còn 370,4 triệu người tương đương với 47,83% tổng số lao động Trung Quốc Tính đến năm 2013, tỷ lệ lao động thành thị và nông thôn xấp xỉ ngang bằng nhau (nông thôn là 50,32%, thành thị chiếm 49,68% trên tổng số lao động) và tới thời điểm cuối năm 2014, tỷ trọng lao động thành phố đã cao hơn tỷ trọng lao động nông thôn
Cùng với sự phát triển và cải cách kinh tế, quy mô di chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố ngày càng tăng, số lao động nông thôn có chiều hướng