Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ TƯỜNG VY
HÀNH VI SÙNG BÁI PHẬT GIÁO CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
NGƯỜI KHMER TỈNH TRÀ VINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: HUỲNH VĂN CHẨN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Hệ thống số liệu và kết quả nghiên cứu trong toàn bộ luận án là trung thực, khách quan và chưa
có bất kỳ một công trình nào công bố
Tác giả luận văn
Lê Thị Tường Vy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Tiến sĩ Huỳnh Văn Chẩn đã dành sự quan tâm sâu sắc, tận tình hướng dẫn
trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và động viên tôi hoàn thành luận văn này
- Xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Giáo sư Tiến sĩ Vũ Dũng, Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Lan, những người Thầy, người Cô đầu tiên tôi được học tri
thức chuyên ngành ở trình độ thạc sĩ Quý Thầy Cô đã tận tình, truyền đạt tri thức, giúp cho tôi tiếp cận với cách tư duy mới, tạo nền tảng vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và suốt thời gian nghiên cứu
- Ban Giám đốc, Ban chủ nhiệm, các thầy, cô giáo Khoa Tâm lý, Phòng đào tạo – quản lý sau đại học Học viện Khoa học xã hội đã tạo những điều kiện
thuận lợi trong suốt thời gian tôi học tập
- Các bạn cùng lớp thạc sĩ khóa 2015 – 2017 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời
gian học tập và quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
- Gia đình, người thân, bạn bè đã luôn cùng tôi chia sẻ những khó khăn và hết
lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn !
Bến Tre, ngày 23 tháng 02 năm 2017
Học viên Lê Thị Tường Vy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1 Lý luận về hành vi 10
1.2 Lý luận về hành vi sùng bái 17
1.3 Lý luận về hành vi sùng bái Phật giáo 20
1.4 Một số đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông người Khmer 24
1.5 Phật giáo trong đời sống của người Khmer 27
1.6 Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer 31
1.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh 36
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Tổ chức nghiên cứu 40
2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HÀNH VI SÙNG BÁI PHẬT GIÁO CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGƯỜI KHMER TỈNH TRÀ VINH 46
3.1 Thực trạng hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh 46
3.1.1 Thực trạng chung về hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh 52
3.1.2 Thực trạng hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer qua các mặt biểu hiện 57
3.2 Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer 62
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer 68
3.4 Kết quả nghiên cứu trường hợp điển hình về hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
THPT: Trung học phổ thông ĐTB: Điểm trung bình ĐLC: Độ lệch chuẩn
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 3.1: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh 46 Bảng 3.2: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua động cơ 47 Bảng 3.3: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua động cơ (so sánh qua biến số khu vực) 49 Bảng 3.4: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua động cơ (so sánh qua biến số giới tính) 49 Bảng 3.5: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua nhận thức 53 Bảng 3.6: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua nhận thức (so sánh qua biến số khu vực) 54 Bảng 3.7: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua nhận thức (so sánh qua biến số giới tính) 56 Bảng 3.8: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua thái độ 58 Bảng 3.9: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua thái độ (so sánh qua biến số giới tính) 58 Bảng 3.10: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua thái độ (so sánh qua biến số khu vực) 61 Bảng 3.11: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung
học phổ thông người Khmer qua hành động 63 Bảng 3.12: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học
phổ thông người Khmer qua hành động (so sánh qua biến số giới
tính Error! Bookmark not defined
Bảng 3.13: Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học
phổ thông người Khmer qua hành động (so sánh qua biến số khu vực) 66 Bảng 3.14: Hệ số tương quan Pearson giữa các mặt biểu hiện hành vi sùng bái
Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer 69 Bảng 3.15: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sùng bái
Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer 70
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là quá trình thống nhất
và đoàn kết giữa 54 dân tộc anh em, giữa các tôn giáo bản địa và các tôn giáo du nhập từ bên ngoài Đặc biệt, Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ giai đoạn người Việt Cổ tại vùng kinh đô Lụy Châu – Bắc Ninh ngày nay Ở miền Nam, Phật giáo tiểu thừa đã được hình thành và phát triển từ thế kỷ thứ I và sau đó ảnh hưởng sâu đậm trong cộng đồng dân tộc người Khmer Nam Bộ Với đồng bào người Khmer, chùa là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi thực hiện những nghi lễ cầu cúng, những
lễ hội truyền thống của cộng đồng dân tộc người Khmer Đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh của dân tộc Khmer chịu ảnh hưởng mạnh từ Phật giáo từ cách ăn mặc, nếp nghĩ đến lối sống của dân tộc Khmer, từ lúc sinh ra cho đến lúc mất đi đều gắn liền với nhà chùa và Phật giáo tiểu thừa
Theo phong tục tập quán, cộng đồng dân tộc Khmer sẽ cho con cháu vào chùa tu để học đạo lý làm người, rèn luyện đạo hạnh với thời gian do từng gia đình lựa chọn Những người có thời gian xuất gia tại chùa càng lâu thì càng được tôn kính.Vì thế hầu hết thanh niên dân tộc Khmer đều chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng và niềm tin vào Phật giáo tiểu thừa Ngày nay, học sinh người Khmer đã được vào học tại trường dân tộc nội trú nhưng sự sùng bái Phật giáo tiểu thừa trong suy nghĩ và hành động của các em vẫn luôn tồn tại bên cạnh những tri thức khoa học hiện đại
Trà Vinh là một tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, đang trong giai đoạn phát triển và có điều kiện về kinh tế xã hội và cơ sở hạ tầng tương đối thấp.Trà Vinh có đông người dân tộc Khmer sinh sống Đây là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người Khmer Sau nhiều lần sáp nhập và tách khỏi tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh vẫn giữ được những nét riêng về truyền thống văn hóa và sinh hoạt cộng đồng của người dân tộc Khmer, đặc biệt là hệ thống chùa mang tính đặc thù
Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý dân tộc, trong đó
có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về tính cách người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng Tuy nhiên công trình nghiên cứu về tính sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh vẫn chưa có tác giả nghiên cứu Đặc biệt là hành vi sùng bái
Trang 8Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh vẫn chưa
có tác giả đo lường, nhằm phát huy những tính tích cực và hạn chế những tiêu cực trong tư tưởng của học sinh Khmer
Từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là “Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu về dân tộc Khmer
2.1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
V.I.Kodơlôp, G.V.Selepôp trong tác phẩm “Tính cách dân tộc và những vấn
đề nghiên cứu nó” (1973), cho rằng tính cách dân tộc không phải đơn giản là tổng
số những nét tính cách của cá nhân Các yếu tố về giới tính, tuổi và những đặc điểm thiên nhiên mà con người sống trong đó chi phối sự hình thành, phát triển các nét tính cách dân tộc Khi xác định “tính cách dân tộc” phải coi trọng tính độc đáo của hoàn cảnh địa lí; phải tính đến những đặc điểm xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách dân tộc như: địa vị xã hội, sự giáo dục đào tạo, đặc điểm thành phần tôn giáo, đặc điểm sinh hoạt văn hóa, nhịp điệu của đời sống chính trị, xã hội, kinh tế và khoa học [17, tr 11]
Trường Đại học Keo (Keo University Press, 2008) – Nhật Bản cho ấn hành cuốn “Người Khmer ở Nam Việt Nam – xã hội và văn hóa” có nhiều tác giả Việt
Nam và Nhật Bản tham gia như Ohashi Hisatoshi và Mikami Naomitsu (Chủ biên), Phan An, Phan Thị Yến Tuyết Đã có những bài nghiên cứu sâu về người Khmer,
về đời sống, văn hóa tín ngưỡng, biểu hiện lối sống của người Khmer ở Nam Bộ
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Phan An trong bài viết “ Vài khía cạnh dân tộc học về người Khmer ở Việt Nam và người Khmer Campuchia” (1980) đã chỉ ra các mối quan hệ, những tương đồng và dị biệt về tính cách của người Khmer ở Việt Nam và người Khmer ở Campuchia
Tác giả Nguyễn Đăng Duy trong tác phẩm “Văn hoá tâm linh Nam Bộ” (1977) đã nghiên cứu văn hoá tâm linh của người Khmer vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, trong đó có bàn về lòng báo hiếu của người Khmer: “Khi hỏa thiêu, mời nhà sư chăm lửa tượng trưng Khi đang thiêu xác, các sư sãi tiếp tục cầu kinh,
Trang 9nguyện cho linh hồn người chết siêu thoát Đồng thời diễn ra lễ con hoặc cháu trai người quá cố cạo trọc đầu, mặc áo tu hành, lên chùa tu báo hiếu ”; “Ở người Khmer
lẽ sống là rất quan trọng Lẽ sống mong được làm tăng, một trong tam bảo nhà Phật Sống đắp núi phước, cống hiến nhiều cho sư sãi, cho chùa để chết được mát mẻ dưới bóng Phật là lý tưởng thiêng liêng nhất” [41, tr 162]
Viện Văn Hóa, bộ phận thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh, trong cuốn
sách “Tìm Hiểu Vốn Văn Hóa Dân Tộc Khmer Nam Bộ” (1988), đã nhìn nhận lối sống văn hóa tâm linh người Khmer bị chi phối bởi thế giới quan Phật giáo “Người Khmer với tư duy phong phú, đa dạng, xuất phát từ thực tế lao động trên cảnh quan đồng bằng và từ thế giới quan Phật giáo tiểu thừa, đã hình thành trong dân gian những truyền thuyết, truyện cổ tích sử liệu (Sastra) nhằm ca ngợi mối tình đoàn kết Kinh – Khmer” [41, tr 66].Các tác giả cũng cho thấy chính Phật giáo tiểu thừa đã ảnh hưởng đến tính cách của người Khmer trong lối sống hằng ngày: “Một cách sâu sắc Đạo phật tiểu thừa ở đây đã dân tộc hóa và trở thành một đặc điểm của tính cách Khmer khác xa với đạo phật chính thống ở Ấn Độ Đạo phật đã chi phối đời sống của người Khmer một cách trầm trọng Ngôi chùa Phật giáo tiểu thừa của người Khmer, ngoài chức năng tôn giáo, còn gồm cả chức năng giáo dục, chức năng giao lưu văn hóa, phong tục mà đồng bào Khmer đã “ký gởi” cả tâm hồn, tài sản và
cả công sức của mình vào đó” [41, tr 72]
Bên cạnh đó các tác giả còn phân tích rõ sự sùng kính Phật giáo thông qua các lễ hội, thể hiện một tinh thần Phật giáo của người dân Khmer: “Ngày lễ tín đồ đi chùa lạy Phật để tỏ lòng kính Phật, trọng tăng, góp phần nuôi sống tăng bằng cách mang cơm và thức ăn đến chung đậu để mời sư sãi Trước khi ăn các sư sãi tụng kinh làm lễ tạ ơn những người đã làm ra vật thực và cũng để đưa vật thực đến những linh hồn thiếu đói, sau khi ăn, các nhà sư lại tụng chúc phúc cho thí chủ” [41, tr 105]
Tác giả Huỳnh Văn Chẩn (2014), trong luận án “Tính cách người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long” đã chỉ ra những đặc điểm tính cách nổi bật của dân tộc Khmer là tính báo hiếu, tính tôn sùng Phật giáo và tính cộng đồng Các đặc điểm tính cách hòa quyện vào nhau, chi phối và ảnh hưởng lẫn nhau Về tính báo hiếu, “ Người Khmer nhận thức khá rõ về giá trị của lòng hiếu nghĩa đối với ông bà
Trang 10cha mẹ” Về tính tôn sùng Phật giáo, “Họ xem Phật giáo là chính giáo, luôn tin tưởng tuyệt đối vào Phật giáo và luôn kỳ vọng sống bên Phật, chết về với Phật” Về tính cộng đồng được thể hiện qua sự đồng lòng cùng nhau vượt qua thiên tai và khí hậu khắc nghiệt Ngoài ra tác giả cũng đã chỉ ra “hai yếu tố ảnh hưởng đến tính cách của người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long đó là: dư luận xã hội và cách thức tổ chức hoạt động của cộng đồng, trong đó, dư luận xã hội có tác động mạnh hơn”[4]
Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến trong nghiên cứu “Tính cách của học sinh Trung học Phổ thông dân tôc nội trú Khmer tỉnh Trà Vinh” đã phân tích về tính cách của học sinh trung học Phổ thông dân tộc Khmer có “niềm tin đối với tín ngưỡng Phật giáo cao, rất coi trọng giá trị thiêng liêng của ngôi chùa, sự kính trọng
và tin tưởng các vị sư, thường xuyên đi chùa, lễ Phật và tin vào phần phước của mỗi người [44]
2.2 Tình hình nghiên cứu về hành vi
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc đã có công trình “Hành vi và hoạt động”, khẳng định phương pháp tiếp cận hoạt động – nhân cách, định hướng cho nghiên cứu tâm lý học lý luận và ứng dụng ở Việt Nam Những vấn đề lý luận về hành vi của mỗi trường phái tâm lý học còn nhiều điều khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận, do đó việc định hướng nghiên cứu từng loại hành vi cụ thể của con người có sự khác nhau, hệ thống cách thức điều khiển, thích ứng hành vi cũng sẽ khác nhau
Trong lĩnh vực tâm lý học ứng dụng, các hành vi được xem xét là những biểu hiện bên ngoài chịu sự tác động từ những động cơ bên trong với những công trình nghiên cứu về hành vi tổ chức, hành vi tiêu dùng, hành vi khách hàng, hành vi tài chính, hành vi tội phạm, hành vi tình dục Đặc biệt gần đây các tác giả Việt Nam đã
có nhiều quan tâm đến hành vi tiêu dùng và hành vi khách hàng
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Nga đã viết trong quyển “Hành vi con người và môi trường xã hội”, tác giả chú trọng những nội dung về hành vi của con người chịu
sự tác động của môi trường:
- Hành vi ngôn ngữ ( hành vi giao tiếp) bao gồm:
Trang 11+ Hành vi tạo lời: là sự lựa chọn từ ngữ, cấu trúc và phát âm theo một cách
nhất định
+ Hành vi tại lời: là hành động được thực hiện ngay trong lời nói bằng việc
sử dụng ngôn ngữ Thường có các động từ ngữ vị tương ứng để gọi tên Ví dụ: hỏi, mời, chào, khuyên, ra lệnh, khẳng định
+ Hành vi mượn lời: tác động xa hơn đến tâm lý, hành vi, thái độ tình cảm
nảy sinh của người nói đến người nghe (ý tại ngôn ngoại)
-Hành vi phi ngôn ngữ: là biểu hiện qua cử chỉ, nụ cười, ánh mắt
- Hành vi bản năng: là hành vi bẩm sinh, di truyền, cơ sở sinh lý của loại
hành vi này là phản xạ không điều kiện Hành vi bản năng nhằm thỏa mãn các nhu cầu sinh lý của cơ thể Loại hành vi này có cả động vật và người Việc loài chim làm tổ, mớm mồi cho con…là hành vi bản năng sinh tồn
- Hành vi tình dục: Cơ sở sinh học của hành vi tình dục chính là sự hoạt động của hooc - môn và các dạng thức bẩm sinh khác
+ Hành vi tình dục sinh học ở nam giới : Khi nam giới trưởng thành về khả
năng tình dục, thì tuyến yên nằm ở não kích thích tinh hoàn (testes) tiết androgen ( hooc-môn nam) vào trong máu Các androgen này làm tăng và thôi thúc tình dục nam giới
+ Hành vi tình dục sinh học ở nữ giới: Hành vi tình dục nữ giới có một số cơ
sở sinh học phức tạp hơn Khi phụ nữ trưởng thành về sinh dục, thì tuyến yên kích thích buồng trứng (Ovaries) để tiết ra estrogen (hooc-môn nữ) Tuy nhiên không giống như androgen ở nam, tốc độ tiết ra estrogen tăng và giảm theo chu kỳ Mức estrogen cao nhất là trong giai đoạn trứng rụng (Ovolation), đó là thời gian trứng sẵn sàng thụ tinh
- Hành vi thủ dâm: Một trải nghiệm đầu tiên và phổ biến nhất đối với hầu hết
mọi người thủ dâm
- Hành vi tình dục khác giới: Mấy thập kỷ gần đây đã có nhiều thay đổi về
thái độ của xã hội với hành vi tình dục trước hôn nhân, cũng như việc có nhiều biện pháp tránh thai được đưa ra Những thay đổi về thái độ và công nghệ này đã dẫn đến những thay đổi ở thực tế tình dục Trong một nghiên cứu, một nhà nghiên cứu
đã phỏng vấn những người có gia đình và phát hiện ra rằng, trong số đó có tới 95%
Trang 12nam và 81% nữ tuổi dưới 25 đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân
- Hành vi tình dục đồng giới: Các nguyên nhân của hành vi này cho đến nay
vẫn còn bàn cãi Trong một số trường hợp cụ thể, có thể là do một sự thiếu cân bằng
về hooc-môn gây ra tuy nhiên, cũng có thể là sự căng thẳng và lo lắng về đời sống tình dục đồng giới là nguyên nhân gây ra sự sụt giảm hóc-môn đó không có sự khác biệt đáng kể nào ở mức hóc-môn giữa những người quan hệ tình dục đồng giới với những người quan hệ tình dục khác giới
- Hành vi cưỡng dâm: Hành vi cưỡng dâm là một thuật ngữ được sử dụng để
mô tả sự quan hệ tình dục cưỡng bức, nhưng các thuật ngữ gần đây đã chỉ rõ hơn về hành vi này, chẳng hạn như “tấn công tình dục” và “cưỡng đoạt tình dục” được sử
dụng để nhấn mạnh bản chất tội ác của hành vi này
Ngoài ra trong tâm lý học dân số đề cập đến một loại hành vi đặc biệt đó là
hành vi sinh đẻ Bản chất xã hội của vấn đề sinh đẻ là một trong những vấn đề của
sự ước chế xã hội đối với hành vi Ý nghĩa chế ước đối với vấn đề sinh đẻ là ở chỗ:
sự tái sản xuất dân số được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định Chủ thể và khách thể của hành vi sinh đẻ là con người một thực thể có ý thức, ý chí và những đặc điểm tâm lý nhất định, sống trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Việc nghiên cứu về hành vi của con người đã được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên việc nghiên cứu về hành vi sùng bái Phật giáo vẫn chưa được tiến hành nghiên cứu trong nước.[25, tr 13]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hành vi con người đã được một số nhà tâm lý học đề cập đến trong nhiều lĩnh vực khác nhau của tâm lý học Kurt Lewin (1943), người sáng lập ra môn tâm
lý học xã hội đã phát triển lý thuyết này, ông thừa nhận rằng con người bị ảnh hưởng bởi môi trường tâm lý của họ Môi trường tâm lý này bao gồm cả những ảnh hưởng của môi trường vật lý và môi trường xã hội gây áp lực đối với hành vi của con người Henry Murray (1938), một trong những nhà tâm lý học nhân cách đã lập luận, hai khía cạnh của môi trường ảnh hưởng tới hành vi của con người là: Các đặc điểm vật lý thực tế của môi trường và sự diễn dịch của cá nhân về môi trường Ngoài ra, Egon Brunswick (1943), ông quan tâm đến việc làm thế nào để nhận thức được môi trường, ông cho rằng, chúng ta thường không nhận thấy ảnh hưởng của
Trang 13môi trường đến nhận thức của chúng ta
Roger Barker và Herbert Wright (1955) cho rằng, hành vi của chúng ta bị tác động bởi hoàn cảnh xuất hiện hành vi đó Hành vi của chúng ta phải bao hàm cả những khía cạnh xã hội và vật lý Ví dụ, một người sẽ có hành vi khác khi ở trong phòng thi so với ở một buổi liên hoan, bởi vì các bối cảnh này khác nhau về khía cạnh tâm lý, vật lý cũng như xã hội.[25, tr 48-49]
Tuy đã có nhiều nghiên cứu về hành vi nhưng nghiên cứu về hành vi sùng bái hiện nay rất ít Tiến sĩ Triết học John Maltby đã tiến hành nghiên cứu thái độ và hành vi sùng bái người nổi tiếng bằng thuyết của ông Eysenckian, đây được xem là một hành vi lệch chuẩn trong mối quan hệ xã hội, có chứa đựng các yếu tố gây nghiện và có khả năng có di chứng lâm sàng Theo thuyết này, tác giả đưa ra được những thái độ và hành vi ngày càng cực đoan liên quan đến hành vi sùng bái người nổi tiếng Tác giả đưa ra lý do của hành vi sùng bái người nổi tiếng: vì mục đích giải trí, thể hiện được những đặc điểm hướng ngoại của người sùng bái Tuy nhiên, theo kết quả điều tra thì hiện tượng sùng bái không được phổ biến Sau khi tiến hành kiểm định mức độ tương quan thì cho thấy rằng nhân cách có thể thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển của các hành vi sùng bái
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lí luận và thực trạng hành vi sùng bái
Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh, trên cơ sở
đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp học sinh trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh có hành vi sùng bái Phật giáo phù hợp, tích cực
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận nghiên cứu hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này của học sinh phổ thông người Khmer
- Khảo sát và phân tích thực trạng mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh và các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng này
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp học sinh trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh có hành vi sùng bái Phật giáo phù hợp, tích cực
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu mức độ biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh Trung học Phổ thông người Khmer tại 02 trường Trung học Phổ thông dân tộc người Khmer tỉnh Trà Vinh
Khách thể điều tra: 119 học sinh ở trường trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Trà Vinh; 100 học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở Trung học phổ thông huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
5.2.Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
5.2.2 Phương pháp nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi
5.2.3 Phương pháp quan sát
5.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
5.2.5 Phương pháp chuyên gia
5.2.6 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
5.2.7 Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã xây dựng được khung lý thuyết nghiên
cứu hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer Trong đó gồm có: các khái niệm (hành vi, Phật giáo, hành vi sùng bái Phật giáo); các biểu hiện hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer qua các khía cạnh: động cơ, nhận thức, thái độ, hành động; Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sùng bái Phật giáo ở học sinh được nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung thêm một số vấn đề lí luận về hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer vào tâm lý học tôn giáo, tâm lý học dân tộc ở nước ta hiện nay
Trang 156.2 Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã chỉ ra được thực trạng mức độ biểu hiện
hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh qua các khía cạnh động cơ, nhận thức, thái độ, hành động Kết quả nghiên cứu cho thấy, hành vi này ở các em đạt mức độ trung bình Trong 3 mặt biểu hiện thì mặt nhận thức được biểu hiện rõ nét hơn mặt thái độ và hành động Luận văn cũng
đã chỉ ra được các yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh Kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên, học sinh THPT và người Khmer trong việc điều chỉnh các hành vi sùng bái Phật giáo phù hợp với văn hoá truyền thống, chuẩn mực
xã hội hiện tại
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
học phổ thông người Khmer
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI SÙNG BÁI PHẬT GIÁO CỦA HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGƯỜI KHMER
1.1 Lý luận về hành vi
1.1.1 Khái niệm về hành vi
1.1.1.1 Hành vi theo quan điểm của nhà tâm lý học hành vi
Việc ra đời của tâm lý học hành vi là một trong những bước tiến rất lớn của ngành tâm lý học trên thế giới vào khoảng thế kỉ XX Thông qua tiếp cận hành vi đã phần nào khắc phục được tính chủ quan trong nghiên cứu tâm lý nội quan ở giai đoạn đó Tâm lý học hành vi ra đời là một cuộc cách mạng làm thay đổi hệ thống quan niệm về tâm lý học Theo đó, đối tượng của tâm lý học là hành vi chứ không phải ý thức
Thuyết hành vi cổ điển
Một trong những nhà tâm lý học hành vi kiệt xuất là J.B.J.Watson, E.Boring
đã từng nói “Khi J.Watson quẹt sáng đầu diêm, một tiếng nổ bùng ra và thuyết hành
vi xuất hiện” Những luận điểm của ông là nền tảng lý luận của hệ thống tâm lý học này Ông cho rằng Tâm lý học là dự báo và điều khiển hành vi, nghiên cứu các kích thích tạo ra phản ứng của cả người và động vật chứ không phải đi tìm ra sự khác nhau giữa chúng Hành vi của con người là tất cả các lời nói và cử chỉ diễn ra trong suốt cuộc đời của họ, được hình thành trong quá trình trải nghiệm cuộc sống hoặc là bẩm sinh từ lúc sinh ra đã có và thực hiện cho đến lúc chết đi Ông qui hành vi về cặp đôi “Kích thích – Phản ứng” ( S - R), khi có một kích thích S thì sẽ đem đến một phản ứng R, từ đó nếu có một phản ứng R thì sẽ dễ dàng xác định được kích thích R Watson phân loại phản ứng – hành vi dựa trên hai tiêu chí: phản ứng ra bên ngoài và phản ứng tiềm ẩn bên trong
- Phản ứng bên ngoài có thể quan sát được như chơi đùa, ăn uống Ngoài ra, phản ứng bên ngoài nhìn thấy và di truyền là những bản năng và cảm xúc của con người, như vui, buồn, sợ hãi, la khóc
Trang 17- Phản ứng tiềm ẩn bên trong trải qua sự học hỏi như là suy nghĩ giải quyết các tình huống có vấn đề Phản ứng tiềm ẩn bên trong và di truyền như sự tiết dịch hay các xung động thần kinh ở các cơ quan bên trong cơ thể
Từ học thuyết hành vi của Watson, thông qua việc phân tích tập hợp các cặp đôi “Kích thích – Phản ứng” và chia chúng thành các yếu tố cấu thành, có thể tìm ra những quy luật nhất định của hành vi [26, tr 171]
vi như là một quá trình mang tính chỉnh thế đối với thuyết hành vi phân tử, lý giải hành vi như là tập hợp các hành động vận động tách rời nhau Như vậy, đối với E.C.Tolman hành vi là tổng thể các phản ứng, mà trong đó không tách khỏi các phản ứng riêng lẻ Hành vi tổng thể này liên quan trực tiếp đến các biến số trung gian Vậy nên, hành vi không chỉ đơn giản là các phản ứng sinh học, bản năng di truyền của cơ thể mà còn là sự trải nghiệm cùng với các yếu tố vật lý, sinh học và toàn bộ các yếu tố tâm lý của bản thân Ông cho rằng, mọi hành vi đều “Bốc mùi mục đích”, có nghĩa là khi hành vi được thực hiện, sẽ luôn mang lại cho khách thể một lợi ích Công thức của thuyết hành vi mới của E.C.Tolman là S – O – R hay S –
r – s – R [2 , tr 106]
K Hull ( 1884 – 1952) đưa ra các phương pháp diễn dịch – toán học vào tâm
Trang 18lý học hành vi, hệ thống của Hull là hệ thống bao gồm một loạt định đề và hệ quả Cũng như Tolman, Hull cũng đưa vào các yếu tố trung gian trong sơ đồ S-R truyền thống, ông dùng thao tác để giải thích hành vi; mặt khác, dùng nguyên lý cung phản
xạ với tư cách là nguyên lý làm việc của não bộ làm nguyên lý giải thích kinh nghiệm tự tạo trong học tập và kinh nghiệm này nằm trong cơ thể, nằm trong hành
vi
Hệ thống của Hull bao gồm những luận điểm cơ bản sau:
- Hệ thống vẫn giữ nguyên truyền thống của thuyết hành vi cổ điển, nó gạt
bỏ thuyết sức sống, thuyết mục đích luận và tất cả các loại lý giải tự biên
- Đối tượng vẫn là hành vi, các hiện tượng lớn của hành vi được hiểu là hành
vi của một nhóm tế bào thần kinh cơ hay mấu thần kinh, còn kết quả của tính tích cực chung thì nảy sinh khi trả lời các kích thích lớn tác động vào Từ đây xuất hiện công thức S-O-R (O là cơ thể) Trong hệ thống của ông, kỹ xảo là yếu tố trung gian giữa kích thích và phản ứng Kỹ xảo là những tồn tại như là những điều kiện không nhìn thấy trong hệ thống thần kinh tựa như các điện tử, proton… trong thế giới vật
lý Vì không nhìn thấy nên các biến số ấy được coi là các kiến tạo logic tương ứng với các thao tác do cơ thể tạo ra trong các điều kiện Kỹ xảo làm nhẹ gánh cho tư duy, tức là đưa việc giải thích hành vi ra khỏi các kích thích bên ngoài Theo ông,
hệ thần kinh có vai trò quyết định trong đời sống cơ thể, nó giữ cho cơ thể thống nhất giữa mối liên hệ qua lại với môi trường
Nhưng thuyết của Hull cũng có nhiều điều cần phải nói, trước nhất con người trong thuyết của Hull đã bị sinh vật hóa hoàn toàn; ta không thể xác định mối liên hệ một chiều thật rành mạch giữa tác động bên ngoài và phản ứng bên trong cơ thể.Tác động bên ngoài chỉ được thực hiện thông qua các điều kiện bên trong Trong học thuyết của Hull, con người hoàn toàn không có chỗ đứng, hành vi con người chỉ là hành vi xã hội, tức là chức năng của một cơ chế tự vệ hay “một máy liên hợp vật lý” [28, tr 120]
Tâm lý học hành vi ra đời là một trong những sự cố gắng lớn của ngành tâm lý học trên thế giới Đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi của con người chứ không
Trang 19phải ý thức Do đó, các học thuyết về hành vi dường như chối bỏ ý thức bên trong con người Quan niệm một cách máy móc về hành vi của con người, đó là có kích thích thì
sẽ nảy sinh phản ứng Watson cho rằng sự khác biệt giữa con người và động vật chỉ là các giai đoạn phát triển của cơ thể, đến Skinner thì hành vi cũng chỉ là các cử động bên ngoài, không liên quan đến ý thức bên trong Nếu chỉ xem xét ở khía cạnh tâm lý học hành vi thì con người là vô thức, hoạt động như máy móc
1.1.1.2 Hành vi theo quan điểm Tâm lý học Macxit
Các ý định tìm hiểu một cách khoa học bản chất của hành vi đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng chỉ với sự ra đời thuyết phản xạ của Paplov và thuyết hành vi mới đạt được những thành tựu đáng kể Tâm lí học Macxit, nghiên cứu tâm lí con người trên
cơ sở nghiên cứu hành vi hoạt động của con người tuy ít nhiều mang yếu tố bẩm sinh nhưng chủ yếu chịu sự chi phối từ xã hội thông qua ngôn ngữ và các hệ thống tín hiệu ý nghĩa khác Hình thức tiêu biểu nhất của hành vi người là lao động và giao tiếp Sự độc đáo của hành vi cá nhân phụ thuộc vào tính chất của các mối quan
hệ tương hỗ trong nhóm, thái độ của cá nhân đối với những chuẩn mực, định hướng giá trị và vị thế xã hội mà người đó đảm nhiệm
Sau khi tìm hiểu bản chất của hành vi, các nhà tâm lí học đi sâu vào việc tìm hiểu nguyên nhân hay yếu tố quyết định hành vi con người Trong lịch sử phát triển, Tâm lí học đã chứng kiến hai cách lí giải hoàn toàn khác nhau Thứ nhất là cách giải thích của trường phái xem hoàn cảnh xã hội là cái quyết định hành vi con người, đây là xu hướng nghiên cứu Tâm lí học xã hội Trường phái thứ hai cho rằng, hành
vi con người do chủ thể hành vi, tức yếu tố con người với những đặc điểm nhân cách nhất định quyết định Nhưng cả hai trường phái trên chỉ lí giải hành vi con người phiến diện Từ đó nảy sinh một cách nhìn khác về vấn đề tìm hiểu nguyên nhân hay yếu tố quyết định hành vi con người, đó là những quan điểm của các thuyết tương tác cổ điển Luận điểm cơ bản của các lí thuyết này cho rằng, hành vi con người ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa yếu tố con người và yếu tố hoàn cảnh
Quan điểm Triết học Mác - Lênin cho rằng, mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh là mối quan hệ biện chứng, trong đó như Mác đã nhận định: trong chừng
Trang 20mực con người tác động lên hoàn cảnh bao nhiêu thì nó cũng chịu tác động lại của hoàn cảnh bấy nhiêu Như vậy mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh là mối quan hệ tương tác tương hỗ, mà ở đó con người vừa là chủ thể tác động vừa chịu tác động của hoàn cảnh, môi trường sống Nhưng con người không phải thích nghi một cách thụ động mà là một chủ thể tích cực của hành động, tác động có ý thức nhằm cải tạo hoàn cảnh xung quanh và điều chỉnh chính bản thân mình trong cuộc sống Hoàn cảnh là yếu tố tạo nên hành vi con người
Từ năm 1926, L.X Vygotskij đã xác định ý đồ chung trong việc cải tổ Tâm
lí học trên cơ sở chủ nghĩa Mác là xây dựng “một khoa học về hành vi của con người xã hội” chứ không phải “hành vi của cơ thể con người” Theo L.X Vygotskij, Tâm lí học phải nghiên cứu cả hành vi người với tư cách là "cái con người làm ra”
và ý thức người; ý thức người cũng là một cái thực tại như hành vi Ông đã dành vị trí trung tâm trong bài báo cương lĩnh của mình nhằm khẳng định Tâm lí học với tư cách là một khoa học cụ thể phải hướng vào nghiên cứu ý thức và hành vi của con người như một tồn tại lịch sử, xã hội, lao động, có ý thức, chứ không phải là “cái túi đựng đầy đủ phản xạ” Ông nhấn mạnh, chỉ có thể giải quyết vấn đề ý thức là hiện tượng, chỉ có con người mới có trong sự phân tích các dạng hành vi phân biệt hành
vi người và hành vi động vật Trong đó, hoạt động lao động là dạng chủ đạo trong các dạng hành vi người [28, tr 6]
1.1.1.3 Khái niệm về hành vi của các nhà tâm lý học Việt Nam
Theo Nguyễn Như Ý: Hành vi là cách ứng xử được biểu hiện bằng cử chỉ, hành động cụ thể [46, tr 316] Theo định nghĩa này hành vi là cách mà con người đáp ứng những tác động từ bên ngoài
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: Hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định [31, tr 407]
Theo từ điển Tâm lý học Mỹ: Hành vi là thuật ngữ khái quát chỉ những hoạt động, phản ứng, phản hồi, di chuyển và tiến trình đó có thể đo lường được của bất
cứ cá nhân nào
Trang 21Về mặt sinh học, thì hành vi là phản ứng phối hợp trong nội bộ ( hành động hoặc không hành động) của các sinh vật sống ( cá nhân hoặc nhóm) đối với các kích thích bên trong hoặc bên ngoài Hành vi có thể bẩm sinh hay học được
Theo A.N.Leonchiev, hành vi không phải là những phản ứng máy móc của một cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động
Theo J.Piaget nhà Tâm lý học người Thụy Sỹ lại nhấn mạnh tính tích cực của hành vi con người và cho rằng hành vi – đó còn là sự tìm kiếm những hoàn cảnh hay đối tượng còn thiếu hoặc chưa tồn tại hành vi được hiểu là tính tích cực có định hướng
Từ những quan điểm và định nghĩa về hành vi của các nhà Tâm lý học, theo
tôi: Hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên ngoài qua các khía cạnh: động cơ, nhận thức, thái độ, hành động của mỗi cá nhân, chịu sự tác động và chi phối của quá trình trải nghiệm, nền văn hóa và học tập trong cuộc sống thường ngày
1.1.2 Phân loại hành vi
Trong Tâm lý học có nhiều cách phân loại hành vi khác nhau
1.1.2.1 Xét theo khía cạnh giá trị
- Hành vi tiêu cực: hành vi tiêu cực của chủ thể xuất hiện trong các hành động đối lập với những nhu cầu của cá nhân hoặc các nhóm xã hội khác Hành vi tiêu cực
có thể là do nhu cầu của chủ thể muốn đảm bảo nhu cầu và quyền lợi của bản thân, muốn tự khẳng định bản thân và “cái tôi” của chủ thể Hành vi tiêu cực còn do sự ích kỉ, thờ ơ với quyền lợi, lợi ích và nhu cầu của người khác hoặc nhóm xã hội khác Hành vi tiêu cực xuất hiện nhằm mục đích chống lại, phản ứng không đồng ý với nhu cầu, mong đợi hay đòi hỏi của các thành viên khác Tuy nhiên hành vi tiêu cực cũng xuất hiện do sự từ chối tiếp nhận từ các cá nhân hoặc nhóm xã hội khác đối với chủ thể
- Hành vi tích cực: chủ thể luôn có sự nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực khi thực hiện các hành vi nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của bản thân, bên cạnh
đó vẫn đáp ứng được sự mong đợi của người khác Chủ thể có hành vi tích cự luôn
Trang 22trong tư thế sẵn sàng và có ý chí thực hiện
1.1.2.2 Xét theo tính chất của hành vi
- Hành vi bộc lộ: là hành vi ứng xử bộc lộ mà có thể quan sát được, thông qua lời nói, cử chỉ, hành động, dáng điệu hoặc cũng có thể bằng các động tác, biểu tượng
- Hành vi ngầm ẩn: là hành vi ứng xử không bộc lộ ngầm chứa ở bên trong mà
ta không thấy được những vẫn chứa đựng các thông điệp cần thiết, chỉ có chủ thể hoặc đối tác với chủ thể có thể hiểu được
cả những hành vi của đám đông, của nhóm, của cộng đồng nào đó
Tùy thuộc vào mục đích, hoàn cảnh thì có mỗi cách phân loại hành vi khác
Trang 23nhau Trong đề tài này, chúng tôi phân loại hành vi theo hành vi mang tính xã hội, hành vi mang tính xã hội thể hiện thông qua mối quan hệ với nhau, hình thành nên những hành vi mang tính cộng đồng
Trong tôn giáo, sùng bái thể hiện sự tuyệt đối hóa, tin tưởng vào thế lực siêu nhiên, sự uy quyền và khả năng che chở bảo bọc cho các tín đồ tôn giáo Sùng bái bao gồm các nghi lễ tôn giáo Nghi lễ này là sự sao chép các hành vi tập thể tượng trưng cho những tư tưởng, chuẩn mực, biểu tượng nhất định Sùng bái trong tôn giáo thể hiện niềm tin tuyệt đối vào thế lực siêu nhiên, tin vào sự tồn tại hiện hữu của thế lực này Bên cạnh đó, còn tin rằng các lực lượng này có tác động đến số phận của con người trong cuộc sống hiện tại Vì thế, các tín đồ luôn thực hiện các nghi lễ một cách trang trọng và thành tâm khấn nguyện
Sùng bái có một vị trí quan trọng trong tôn giáo, thông qua các nghi lễ mà con người có thể tiếp cận và hòa nhập vào cộng đồng tôn giáo Đối với cộng đồng, các hành vi sùng bái là phương tiện quan trọng để các tổ chức tôn giáo tiếp nhận linh hồn của các tín đồ
Sự tác động của sùng bái tôn giáo đến tâm lý của tín đồ thông qua hình thức khuôn đúc Khuôn đúc ở đây được hiểu là những hành vi, nhận thức, ứng xử của các khách thể tôn giáo theo những quan điểm nhất định Sự lặp đi lặp lại các nghi lễ trong một thời gian nhất định đã tạo thành những phong tục, truyền thống.Giúp cho thói quen thực hiện các nghi lễ của tín đồ được củng cố và bền vững Những thay
Trang 24đổi trong hệ thống sùng bái được xem như là hành vi tà đạo, phản đạo
1.2.1.2 Khái niệm hành vi sùng bái
Theo Từ điển Tiếng Việt, sùng là sự kính trọng và tin tưởng Sùng bái là kính phúc đến mức như tôn thờ Sùng đạo là có lòng tin tuyệt đối với một tôn giáo nào đó
Từ định nghĩa trên, theo tôi: Hành vi sùng bái là toàn bộ phản ứng, cách ứng xử thể hiện sự kính trọng và tin tưởng được biểu hiện ra bên ngoài qua các khía cạnh: động cơ, nhận thức, thái độ, hành động của mỗi cá nhân, chịu sự tác động và chi phối của quá trình trải nghiệm, nền văn hóa và học tập trong cuộc sống thường ngày
1.2.2 Biểu hiện của hành vi sùng bái
Việc các tín đồ thực hiện một cách lặp đi lặp lại những nghi thức đã trở thành những biểu hiện cụ thể của hành vi sùng bái trong tôn giáo
- Cúng tế: tôn giáo ngày càng phát triển thì bên cạnh đó việc cúng tế cũng được chú trọng và ngày càng phức tạp, phong phú hơn Tất cả những nghi thức, lời khấn vái, cầu nguyện, cách hành lễ thậm chí còn được ghi chép lại cẩn thận Chẳng hạn như, đạo Phật có ghi chép rất rõ ràng và qui định chặt chẽ về nghi thức cúng tế như lời khấn vái, cách thắp hương, quì gối, động tác vái và trong những nghi lễ khác nhau thì các nghi thức này cũng thay đổi
Đối với người Phật giáo, việc tìm kiếm sự giác ngộ nói cho đúng không phải
là một sự thờ cúng; nhưng hành hương, lần tràng hạt, định tâm, dâng hoa và hương, chắp tay vái và tụng niệm là những yếu tố cơ sở của mặt tôn giáo của Phật giáo
Trong Ấn Độ giáo, đẳng cấp Bà - la - môn bảo đảm việc thờ cúng ở các đền lớn; gồm xức dầu thánh, rước xách, uống rượu có bơ lọc sạch, mặc áo cho các thần tượng, đôi khi cả hiến sinh nữa Nhưng chủ yếu là thờ cúng gia đình bằng tắm gội, cầu nguyện và lễ vật hằng ngày
- Ma thuật: trong cuộc sống nguyên thủy, ma thuật được xem là phương pháp chính để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hiện thực Có hai dạng ma thuật:
ma thuật yểm bùa và ma thuật chữa bệnh
Ma thuật yểm bùa được hình thành dựa trên cơ sở xung đột của các bộ lạc
Trang 25trong thời kì nguyên thủy Các bộ lạc luôn nghi ngờ có sự yểm bùa lẫn nhau, dẫn đến xung đột Theo E Crauli cơ sở của niềm tin vào ma thuật đó là sự sợ hãi trước
kẻ thù
Ma thuật chữa bệnh có cơ sở niềm tin là nguyên nhân gây bệnh cho con người là do một vật nào đó nhập vào cơ thể con người và gây bệnh Hình thức ma thuật chữa bệnh khá phổ biến ở xã hội nguyên thủy, thậm chí hiện nay, một số dân tộc có trình độ phát triển thấp kém vẫn còn tồn tại hình thức chữa bệnh bằng ma thuật Sự kết hợp các bài thuốc chữa bệnh dân gian cùng với những nghi lễ phù phép huyền bí đã làm con người tin rằng nhờ có ma thuật mà đã đuổi được con bệnh
ra khỏi cơ thể con người
Ma thuật giúp con người giải quyết được những vấn đề trong cuộc sống hiện thực thể hiện qua niềm tin kết hợp với những sự mong muốn của con người
- Hiện tượng phù thủy: đã xuất hiện từ lúc tôn giáo sơ khai Chức năng cơ bản nhất của phù thủy là chữa bệnh, bên cạnh đó còn là người bói toán, giải mộng, cầu mưa, giải hạn Người ta cho rằng khi phù thủy thực hiện nghi lễ là lúc phù thủy đang gặp các vị thần thánh Các vị phù thủy này kết hợp các phương pháp và bài thuốc chữa trị dân gian cùng với nghi lễ cầu khấn để chữa bệnh cho con người Một
số nhà nghiên cứu cho rằng, phù thủy là những người bị mắc bệnh tâm thần, loạn thần kinh, tuy nhiên V N Baxilop thì lại cho rằng phù thủy là kết quả của sự tự kỷ
ám thị Trạng thái hưng phấn tột độ của phù thủy thể hiện sự nỗ lực ý chí có chủ định
- Cầu nguyện: là một hình thức xuất hiện sau của cúng tế và ma thuật Cầu nguyện được hình thành dựa trên cơ sở của cúng tế và ma thuật nói Ban đầu, trong nghi lễ cúng tế có những lời khấn vái, đọc thần chú, sau dần tách riêng ra khỏi cúng
tế và trở thành thành tố quan trọng nhất trong sùng bái tôn giáo Người ta cầu nguyện khi có mong muốn một điều gì đó cho cuộc sống thực tại, đặc biệt là những lúc gặp khó khăn hay đau buồn, tủi nhục Do đó, việc cầu nguyện dựa trên những nhu cầu của con người, tùy vào những hoàn cảnh và tình huống khác nhau thì con người có những nhu cầu khác nhau Xã hội ngày càng tiến bộ thì như cầu của con
Trang 26người ngày càng phức tạp, từ đó lời cầu nguyện cũng trở nên phức tạp Cầu nguyện giúp cho con người cảm thấy được an ủi, được tiếp thêm sức mạnh, trút bỏ được những nỗi buồn khổ, khó khăn hay tiêu cực trong cuộc sống vì họ tin rằng lực lượng siêu nhiên hay thần thánh đã nghe được lời thỉnh cầu của họ, từ đó sẽ bảo vệ, nâng
đỡ họ vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống Ngoài ra, còn giúp cho tín đồ cảm thấy thần thánh luôn hiện diện bên cạnh họ, giúp họ đến gần hơn với thần thánh.[8,
tr 100]
1.3 Lý luận về hành vi sùng bái Phật giáo
1.3.1 Khái niệm hành vi sùng bái Phật giáo
la và còn một bậc nữa gọi là mọi rợ Các chủng tộc này được quản lý và nghe theo luật của chủng tộc Bà - la - môn, theo luật này thì chỉ có 3 bậc trên là được phép đọc kinh học đạo, còn 2 bậc dưới thì không được phép Hoàng tử Tất - đạt - đa sinh ra tại đất nước Cau - ly, một trong những nước nhỏ của Ấn Độ, Ngài vốn thông minh nên sau khi theo học các đạo sĩ Ngài nhanh chóng tinh tường các nghị luận và triết
lý Ngay khi thông thạo thì ngày cảm thấy cuộc sống này nhàm chán, mặc dù sống trong giàu sang, sung sướng nhưng Ngài vẫn cảm thấy chúng sinh và những nô lệ xung quanh luôn sống trong cảnh lầm than, đói khổ Ngài chợt nhận ra rằng, con người dù có sống sung sướng thì cũng không tránh được “sanh, lão, bệnh, tử” Ngài càng cảm thấy buồn hơn khi ngoài kia đầy cảnh chém giết và tranh giành nhau, Ngài cố gắng tìm ra chân lý để giải luận cho cuộc sống nhân sinh
Ngài bỏ tất cả mọi thứ, kể cả vợ con để vào hang núi chịu đói rét, tu khổ hạnh chỉ với mong muốn tìm ra được phương pháp cứu loài người ra khỏi vòng khổ
ải và bầy cảnh cực lạc trên thế gian Sau đó Ngài ở ẩn sáu năm trên núi Tuyết Sơn
Trang 27nhưng vẫn không giác ngộ được đạo quả Về sau, Ngài về núi Tượng Đầu, ngồi tịnh tâm đến ngày 48 thì một hôm sao mai vừa mọc, Ngài bỗng thấy tâm mình sáng suốt,
rõ được chân lý của vũ trụ và nguồn gốc sanh tử của chúng sinh Sau đó, Ngài đi khắp nơi ở đất nước Ấn Độ để rao giảng về kinh phật mà người đã giác ngộ
Tính đến thời điểm hiện nay, Phật giáo đã tồn tại hơn 2500 năm và trong suốt thời kỳ này Phật giáo đã có nhiều sự thay đổi theo bốn thời kì:
- Thời kỳ thứ nhất: là thời kì Phật giáo nguyên thủy, sau này được gọi
là Phật giáo Tiểu thừa
- Thời kỳ thứ hai: là thời kỳ phát triển của giáo lý Đại thừa
- Thời kỳ thứ ba: là thời kỳ phát triển của Mật tông và Thiền Tông
- Thời kỳ thứ tư: khoảng 1000 năm trở về hiện tại, không có nhiều sự thay đổi
Ban đầu khi mới hình thành, Phật giáo chủ yếu chỉ hoạt động trong phạm vi đất nước Ấn Độc, sau khi bước qua thời kỳ thứ hai, thì dần sang các nước ở Đông Á
và bắt đầu chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa [25]
1.3.1.2 Phật giáo đại thừa và Phật giáo tiểu thừa
Ở đại hội lần thứ tư của đạo Phật, khoảng năm 100 sau công nguyên, tại nước Cusan ở Tây Bắc Ấn Độ đã thông qua giáo lý của đạo Phật cải cách Phái Phật giáo mới này được gọi là Đại thừa để phân biệt với phái Phật giáo cũ gọi là Tiểu thừa
Phái Tiểu thừa có nghĩa là “cỗ xe nhỏ” hoặc “con đường cứu vớt hẹp” Theo phái này, thì chỉ có những người xuất gia đi tu thì mới được cứu vớt Phái Tiểu thừa chỉ thừa nhận Phật cao nhất là Phật Thích Ca Việc cứu độ chúng sinh chỉ có Phật mới làm được, người thường không thể thành Phật Cảnh giới yên tĩnh gắn liền với
sự giác ngộ sáng suốt đó chính là cõi Niết Bàn, khi đạt đến cảnh giới này con người
sẽ không còn đau khổ, phiền não Phái Tiểu thừa quan niệm chỉ có Phật Thích Ca đã đến cảnh giới Niết Bàn vào năm 35 tuổi
Phái Đại thừa nghĩa là “cỗ xe lớn” hoặc “con đường cứu vớt rộng”, quan niệm của phái Đại thừa thì những người trần tục sau khi quy y theo Phật thì cũng sẽ
Trang 28đều được cứu vớt Đối với phái Đại thừa thì Phật Thích Ca là Phật cao nhất, nhưng ngoài ra còn rất nhiều Phật khác như Phật A Di Đà, Phật Di Lặc Phái Đại thừa cho rằng ai cũng có thể thành Phật và thực tế là đã có nhiều người đã đạt đến cõi Phật,
đó là các Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiển, Quan Âm Các Bồ Tát tuy đã thành Phật nhưng không lên cõi Niết Bàn mà tự nguyện ở lại cõi trần để phổ độ chúng sinh
Phái Đại Thừa quan niệm rằng cõi Niết bàn giống như là thiên đường của các tôn giáo khác Đồng thời, còn tạo ra địa ngục, nơi đày đọa những kẻ tội lỗi Tầng lớp tăng ni ở phái Đại thừa được xem trọng và đề cao vì phái Đại Thừa cho rằng họ
là người trung gian giữa tín đồ và Bồ Tát [37]
1.3.1.3 Khái niệm hành vi sùng bái Phật giáo
Từ những khái niệm nêu trên, theo chúng tôi: Hành vi sùng bái Phật giáo là toàn bộ phản ứng, cách ứng xử thể hiện sự kính trọng và tin tưởng những bậc sư sãi nhà Phật, tôn sùng những giáo lý nhà Phật được biểu hiện ra bên ngoài qua các khía cạnh: động cơ, nhận thức, thái độ, hành động của mỗi cá nhân, chịu sự tác động và chi phối của quá trình trải nghiệm nền văn hóa và học tập trong cuộc sống thường ngày
1.3.2 Biểu hiện của hành vi sùng bái Phật giáo
Những nghi lễ, nghi thức được Phật tử thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần từ đó hình thành thói quen bền vững và lưu truyền qua nhiều đời, đây là những biểu hiện
cụ thể của hành vi sùng bái Phật giáo
1.3.2.1 Cúng tế
Người Phật tử sẽ thực hiện các nghi thức cúng tế vào những ngày nhất định trong tháng Theo Phật giáo, thì ngày mùng 1 và ngày 14 hàng tháng là ngày của Phật, đến ngày đó Phật tử phải đi lễ chùa Sau khi đi lễ chùa, Phật tử phải chuẩn bị mâm cỗ cúng Phật tại gia đình theo quy định của Phật Chẳng hạn như trong mâm cúng chay phải có đủ màu sắc tượng trưng cho ngũ hành: màu đỏ là hành hỏa, màu xanh là hành mộc, màu đen là của hành thủy, màu vàng là hành kim
Đặc biệt là vào ngày rằm tháng giêng âm lịch, dân gian thường có câu “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng Giêng”, vì Phật tử tin rằng đây là đêm Phật
Trang 29giáng lâm, đây là cơ hội để Phật tử thể hiện lòng thành của mình với đức Phật
Lễ Vu Lan vào ngày rằm tháng bảy âm lịch cũng là một trong những lễ quan trọng của Phật giáo Danh từ Vu Lan là phiên âm chữ Phạn Ullambana, còn được dịch là Vu Lan Bồn, Bồn nghĩa là chậu – dùng để diễn tả chậu đựng thức ăn dâng cúng Lễ Vu Lan là thời gian mà Phật tử dâng cúng thức ăn lên Tam Bảo để xin chú nguyện cho ông ba, cha mẹ, những người quá cố trong bảy đời gọi là cữu huyền thất
tử hiểu được chân lý của Đức Phật dạy gì, sau đó sẽ áp dụng tu tập theo lời dạy của Phật
Đọc kinh ở nhà hay ở chùa đều tốt, tuy nhiên tụng ở chùa thì sẽ có nhiều ý nghĩa Bởi vì, ở chùa không gian yên tĩnh, trang nghiêm và điều quan trọng là đọc kinh ở nhà sẽ thiếu đi một trong ba hình tướng Tam Bảo đó là Tăng, do mỗi khi không hiểu điều gì trong kinh dạy, ở chùa sẽ có thể hỏi chư Tăng, từ đó được xem như có người dẫn đường chỉ lối cho Phật tử tu hành
Trước khi tụng kinh thì Phật tử nên rửa tay, súc miệng cho sạch sẽ và y phục phải nghiêm trang Khi ngồi phải giữ thân cho đoan chính, lúc lạy hay quì phải giữ thân đoan nghiêm Miệng tụng kinh với âm thanh vừa đủ nghe
Trong mỗi quyển kinh, trước khi vào phần kinh văn đều có qui định đối với nghi thức tụng kinh, Phật tử sẽ xem đó mà thực hiện theo
1.3.2.3.Cúng dường Tam Bảo
Người Phật tử nhớ ơn của Tam Bảo, bao gồm Phật, Pháp, Tăng Phật là
Trang 30người đã tìm ra con đường giải thoát cho chúng sinh khỏi những khổ đau, thăng trầm Sau khi người đã về cõi Niết Bàn, những giáo lý, phật pháp người đã để lại giúp cho Phật tử xem theo đó mà tu hành để thoát khỏi khổ đau Còn Tăng là những người có đức hi sinh cao cả, đã dành trọn vẹn cuộc đời của mình để giúp lưu giữ và truyền bá đạo Phật Qua đó, việc cúng dường Tam Bảo được xem như là sự đền đáp
ân đức mà Tam Bảo đã ban cho Phật tử
Cúng dường Phật bảo: là việc đóng góp tiền của, công sức của Phật tử vào việc xây dựng chùa chiền, đúc chuông, dâng hoa, dâng hương, đèn, nến Giúp cho nơi thờ tự được trở nên trang nghiêm và huy hoàng hơn, làm tăng thêm lòng thành kính cho những người đi lễ chùa
Cúng dường Pháp bảo: Phật tử biết được con đường nào tu học để được giải thoát khỏi những khổ đau, tu được phước báo nhờ vào những giáo lý nhà Phật để lại Do đó, nếu muốn báo đáp lại ân đức đó thì người Phật tử phải mang giáo lý truyền lại cho nhiều người biết bằng cách in ấn kinh, sách hoặc băng thuyết pháp
Cúng dường Tăng bảo: do bậc Tăng Ni chỉ chăm chỉ lo tu học trong chùa, nên người Phật tử cần cúng những vật phẩm cần thiết như thức ăn, thuốc thang, giường, y phục
1.4 Một số đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông người Khmer
1.4.1 Một số đặc điểm tâm lý đặc trưng của lứa tuổi trung học phổ thông
1.4.1.1 Đặc điểm về nhận thức, trí tuệ
Lứa tuổi này thì các cơ quan của hệ thần kinh trung ương và các giác quan đã hoàn thiện Do yêu cầu ngày càng cao của hoạt động học tập và lao động xã hội cùng với sự trải nghiệm cuộc sống đã giúp nâng cao nhận thức cảm tính của học sinh trung học phổ thông Tri giác và cảm giác ở giai đoạn này đã có tính ý thức, có mục đích và có hệ thống, biểu hiện rõ rệt qua quá trình học tập cũng như trong các hoạt động khác Khả năng quan sát nhạy bén, trí nhớ có chủ định và ý nghĩa chiếm
ưu thế Các em có khả năng vận dụng phương pháp đã học để tìm ra phương pháp mới, tập nhớ những điều cần thiết và không nhớ những gì không cần nhớ.Tính lựa chọn của chú ý và tính ổn định phát triển cao hơn học sinh lớp dưới
Trang 31Sự phát triển tư duy, tưởng tượng ở giai đoạn này tiếp tục hoàn thiện Năng lực trí tuệ đã đạt được đến bước có được những thao tác trí tuệ bậc cao đó là tư duy hình thức, tư duy logic Tư duy của học sinh trung học phổ thông được thực hiện thông qua đối tượng từ ngữ, trên cơ sở những khái niệm.Tư duy lý luận mạnh, biết
sử dụng những lý lẽ, quan điểm của cá nhân để tranh luận, có tính chặt chẽ hơn so với học sinh trung học cơ sở Các thao tác trí tuệ như phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa phát triển mạnh, giúp các em lĩnh hội được những khái niệm phức tạp và trừu tượng của chương trình học Càng lên các lớp cuối thì năng lực trí tuệ càng phát triển, điều này tạo cơ hội cho quá trình học tập của các
em, các em có khả năng tư duy độc lập, tư duy khái quát hóa, tư duy sáng tạo, chuẩn bị cho việc học lên cao, học nghề hoặc vào đời của các em [29, tr 122]
1.4.1.2 Đặc điểm phát triển nhân cách
Khả năng tự ý thức ở giai đoạn này có biểu hiện đặc trưng là các em nhận thức được những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội, trong cộng đồng Các em đã biết đánh giá về hình ảnh của cơ thể một cách tỉ mỉ và nghiêm khắc Điều này đã bắt đầu ở tuổi thiếu niên nhưng đến tuổi đầu thanh niên mới bộc lộ mạnh mẽ Các em đã chú ý đến cách ăn mặc sao cho hợp thời trang hoặc là phù hợp với từng hoàn cảnh, kiểu tóc, dáng đi đứng Ngoài ra, sự ý thức về giới tính của các
em cũng phát triển mạnh mẽ Các em luôn cố gắng để trở thành những nam thanh,
nữ tú, trở thành người đàn ông thực thụ, trở thành những người thiếu nữ dịu dàng theo tiêu chuẩn phái đẹp
Ở lứa tuổi này, các bạn rất muốn được thể hiện và khẳng định bản thân mình Thường thì các bạn sẽ nhận những công việc khó hơn người khác, luôn cố gắng hoàn thành Tuy nhiên, đôi khi còn gặp những khó khăn, hoặc xảy ra sai sót do các
em còn thiếu kinh nghiệm, thậm chí còn do các em ngộ nhận Hoặc có một số em khác thì sẽ ngầm so sánh mình với người khác, lắng nghe và đối chiếu với ý kiến của mình Các em thường sẽ lắng nghe những người mà các em ngưỡng mộ
Thế giới nội tâm của học sinh lứa tuổi này thường rất phong phú và phức tạp
Sự tự ý thức và đánh giá cái tôi cũng vậy Nó không chỉ bao hàm một số yếu tố đơn
Trang 32giản nào đó mà là một sự đan xen phức tạp, biện chứng và thay đổi theo những điều kiện hoàn cảnh cụ thể Ở lứa tuổi đầu thanh niên thì sự tự ý thức và tự đánh giá có những biến chuyển và chưa thật sự ổn định Cái tôi đang có, cái tôi đang biến động
và cái tôi mơ ước, lý tưởng, thậm chí cái tôi huyễn tưởng thường cùng tồn tại trong cùng một cá nhân Điều quan trọng là các em được định hướng, và phát triển trong một môi trường giáo dục và xã hội phù hợp với các em, vì sống ở môi trường nào thì sẽ quyết định sự phát triển của các em theo hướng đó [29, tr 126]
1.4.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông người Khmer
Những đặc điểm sinh học và quá trình phát triển hoàn thiện về nhân cách thì tất cả học sinh ở lứa tuổi này đều cơ bản giống nhau Tuy nhiên, văn hóa và xã hội
mà các em học sinh người Khmer được sinh ra và lớn lên lại mang đậm nét cộng đồng và hình ảnh của ngôi chùa, do đó vẫn có những điểm giống và khác nhau với dân tộc khác, điển hình là dân tộc kinh
Các em có niềm tin đối với Đảng và nhà nước được thể hiện cụ thể qua việc luôn chấp hành theo đúng những qui định và chủ trương của Đảng và nhà nước đã
đề ra Luôn tích cực tham gia các phong trào, hoạt động xã hội và các lễ hội của dân tộc Các em tự hào về bản sắc văn hoa và phong tục tập quán của dân tộc thông qua việc tự tin thể hiện văn hóa riêng của dân tộc mình Có thái độ đoàn kết, hữu nghị với các dân tộc khác và thái độ lạc quan đối với cuộc sống
Những đặc điểm khác nhau điển hình của học sinh phổ thông người Khmer với dân tộc khác đó chính là sự ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu thừa và hình ảnh ngôi chùa, gắn liền với các em từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi Ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Khmer, ngoài ra còn là nơi lưu giữ những giá trị lịch
sử, văn hóa Người Khmer từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi đều gắn liền với nhà chùa Người Khmer dành tình cảm trân trọng và ưu ái đối với ngôi chùa, vì chùa là nơi chứng kiến người Khmer trải qua những giai đoạn trong cuộc đời, là nơi thờ Phật và còn là nơi lưu giữ hài cốt của tổ tiên
Học sinh người Khmer luôn tin rằng ai cũng có phần phước bởi vì các em được sống trong một cộng đồng có cuộc sống thiên về đời sống tinh thần hơn là đời
Trang 33sống vật chất Người Khmer khi làm ra được của cải, sau khi đã lo cho con cái và giữ lại một ít cho trang trải cho cuộc sống hằng ngày, còn bao nhiêu sẽ đóng góp vào chùa làm phước, xây dựng chùa, nuôi sư sãi và tuyệt đối không để tiền để lo cho riêng bản thân mình Bởi vì họ quan niệm, khi chết đi sẽ về cõi Niết Bàn, và xương cốt được hóa tro lưu giữ tại chùa, do vậy họ đầu tư vào chùa ngay khi còn có thể làm ra của cải để lo cho tương lai sau khi chết đi
Học sinh người Khmer có niềm tin tuyệt đối và kính trọng các nhà sư, bởi vì nhà sư không chỉ là người đại diện cho Đức Phật, mà còn là người chỉ dạy, hỗ trợ các em trong cuộc sống thường ngày Vị sư là một đại diện mẫu mực cho chuẩn đạo đức khi thực hành những giáo lý của Phật dạy, ngoài ra vị sư còn được kính trọng
do trình độ học thức cao, trí tuệ hơn người Vì vốn dĩ các vị sư ở chùa đều được học cao, có sự hiểu biết rộng Các em học sinh người Khmer đi chùa khá thường xuyên, vốn dĩ các em đến chùa không chỉ để lễ Phật mà đến để học chữ Khmer, thanh niên thì vào chùa học tu để làm người Ngoài ra, chùa còn là nơi tổ chức các lễ hội, phong tục cổ truyền của người Khmer
Qua đó chúng ta thấy rằng, do ảnh hưởng của tôn giáo mà học sinh trung học phổ thông người Khmer có những đặc điểm tâm lý khác với học sinh dân tộc khác Tuy được học chung một nền giáo dục, nhưng học sinh phổ thông trung học người Khmer lại có những nét sinh hoạt văn hóa tâm linh mang nét đặc thù riêng Các em nghiêng về đời sống tinh thần hơn là về vật chất, sống chan hòa, hiền lành và chân thật với mọi người xung quanh.Tin vào sự linh thiêng của ngôi chùa và luôn thể hiện sự kính trọng với sư sãi [47, tr 100]
1.5 Phật giáo trong đời sống của người Khmer
Dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng là một trong 54 dân tộc ở nước ta Khmer là một dân tộc có những giá trị văn hóa đặc sắc, mang đậm nét tín ngưỡng Phật giáo Tiểu thừa qua nhiều năm, như: kiến trúc chùa, lễ hội truyền thống, văn hóa nghệ thuật Phật giáo Tiểu thừa có sức ảnh hưởng và chi phối toàn bộ đời sống tinh thần lẫn vật chất của người Khmer
Trang 341.5.1 Ngôi chùa là trung tâm văn hóa của người Khmer
Phật giáo Tiểu thừa du nhập vào Việt Nam không phải thông qua con đường truyền giáo của các giáo sĩ mà do người dân Campuchia muốn trốn tránh khỏi sự hà khắc của triều đại Angko nên đã di cư đến vùng đồng bằng sông Cửu Long Họ đi
và đã mang theo tín ngưỡng đến vùng đất mới, Phật giáo Tiểu thừa của người Khmer đã tồn tại và phát triển từ đó
Chùa chiềng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người Khmer.Với vai trò là trung tâm sinh hoạt chính trong mỗi phum, sóc nên rất dễ dàng nhận thấy ở tất cả các phum, sóc đều có hình ảnh của ngôi chùa với lối kiến trúc vô cùng đặc sắc và độc đáo.Ở mỗi sóc có một ngôi chùa, nhưng với sóc lớn hơn thì có hai ngôi chùa, được người dân xây dựng khang trang, trên nền đất rộng rãi và thoáng đãng, đặc biệt là kiến trúc vô cùng công phu Người Khmer có nhiệm vụ đóng góp tiền bạc, của cải để xây dựng chùa một cách tự nguyện và tự giác
Chùa được thiết kế và có bố cục hình dáng, trang trí mỹ thuật đều theo một quy tắc căn bản giống nhau, chùa quay về hướng Đông để hợp với tượng Phật, vì người Khmer cho rằng Phật ở hướng Tây và sẽ quay sang hướng Đông để ban phước
Chùa của người Khmer bao gồm: chính điện thờ Phật, dưới là tư thất của các
vị tu sĩ, nơi hành lễ công cộng, trai tăng đường, trường học, tháp thờ cốt tro người quá cố Xung quanh là các vườn hoa, ao nước, vườn cây ăn trái Tư tưởng chủ đạo của phong cách nghệ thuật kiến trúc cũng như trong trang trí là tư tưởng nhân sinh quan Phật giáo Chùa thường được sử dụng hình ảnh của con Rồng để trang trí, trong Phật thoại thì con rồng là con vật linh thiêng, nên người Khmer đã đưa con Rồng lên mái chùa, với ý nghĩa mong Phật dừng ở chùa của họ để cứu vớt chúng sinh Ngoài ra, còn có hình tượng con rắn, tiên nữ hình chim, chim thần và các vũ
nữ chim, Chằng, Linga
Chùa là nơi tổ chức các lễ hội tôn giáo và lễ hội truyền thống, giữ gìn những giá trị tinh thần của dân tộc Khmer, nơi đoàn kết hòa giải các uẩn khúc trong gia đình, thân tộc, làng xóm Thông qua những lễ hội truyền thống, người ta có thể nhìn
Trang 35nhận rõ hơn về bản sắc văn hóa của dân tộc Khmer Vào ngày Tết, chùa là nơi đông vui nhất, có gia đình mọi người đều vào chùa để ăn Tết, nên nhiều nhà trở nên vắng người, mất đi không khí tưng bừng của ngày Tết tại tư gia Ngày “Lễ cúng ông bà” thì lễ chính thức cũng được tổ chức ở chùa, “Lễ đua ghe” cũng được nhà chùa hỗ trợ ghe và được tổ chức ở chùa Chùa luôn hiện diện trong mọi hội lễ của người Khmer, do đó người Khmer luôn có mối quan hệ mật thiết với tôn giáo Lễ hội thường kéo dài suốt nhiều ngày, nhiều đêm, hàng quán cũng được dựng lên khắp sân chùa, mọi người vui chơi, giải trí, ăn uống và đọc kinh
Các sư sãi trong chùa thường phải tụng kinh 3 cử mỗi ngày: sáng, trưa và chiều tối Còn Phật tử mỗi tháng lên chùa tụng kinh niệm Phật ít nhất là sáu ngày, vào các ngày cố định như 5, 8, 15, 20, 23, 30 âm lịch Những điều qui định đó được đồng bào thực hiện nghiêm túc, trở thành nếp sống cộng đồng
Ngôi chùa mang tình cảm hết sức sâu sắc đối với đồng bào dân tộc Khmer, không chỉ là nơi diễn ra các lễ nghi tôn giáo, mà còn là nơi thể hiện sự gắn bó tình cảm, sự cố kết cộng đồng ngay từ buổi đầu khai hoang lập địa [11, tr 98]
1.5.2 Vai trò của nhà chùa và sư sãi trong việc giáo dục người Khmer
Ngoài chức năng là bộ mặt của phum, sóc, là trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Khmer, chùa còn là nơi có chức năng giáo dục, tạo môi trường giáo dục cho trẻ em Khmer từ thời niên thiếu Giáo lý nhà Phật cho rằng ngu dốt là nguồn gốc của dục vọng Từ đó, Đức Phật đề cao giáo dục và các vị sư sãi luôn được kính trọng do vai trò của mình trong giáo dục đối với xã hội, đặc biệt là lớp trẻ Đối với Phật giáo Tiểu thừa, một khi đã chấp nhận việc đi tu thì sẽ thoát khỏi trần tục, đã mặc chiếc áo cà sa vào người thì sẽ phải từ bỏ những tình cảm yêu đương nam nữ, không mang trong mình dục vọng tầm thường
Bên cạnh việc được học đọc, học viết, trẻ em Khmer còn được học đạo lý làm người thông qua các Phật thoại nói về tiền kiếp và nhân đức, đạo đức của Đức Phật Từ đó, càng làm rõ được vai trò và sự gắn bó của nhà chùa và người Khmer, nếu một người Khmer từ bỏ Phật giáo thì đồng nghĩa với việc họ đã từ rời xa những giá trị và sắc thái văn hóa của dân tộc mình
Trang 36Chùa còn là nơi lưu trữ các thư tịch cổ, nơi phổ biến các giáo lý kinh điển của Phật, nơi dạy chữ Pali cho các vị sư sãi, dạy chữ cho con em đồng bào dân tộc
Ở chế độ cũ, con em dân tộc Khmer nhờ được tu học trong chùa mà biết chữ, do chính sách ngu dân nên người dân không được đi học
Việc tổ chức dạy học và học chữ Khmer diễn ra hết sức đa dạng, nhưng cơ bản có hai hình thức chính: dạy và học chữ Khmer xen kẽ chữ phổ thông trong nhà trường do Nhà nước quản lý; dạy và học chữ Khmer trong các chùa thì các lớp học này sử dụng cơ sở vật chất của chùa, được các vị sư sãi dạy học một cách miễn phí, nhằm mục đích tạo cơ hội cho con em dân tộc có khả năng đi học để biết chữ
Người Khmer đều là Phật tử, sống trong tinh thần sùng kính Phật, lấy giáo lý nhà Phật làm triết lý cuộc sống, do đó sinh hoạt tôn giáo chiếm một vị trí quan trọng nhất trong tất cả các hoạt động của người Khmer Nhà chùa không chỉ giáo dục cho những người tu hành, mà còn thực hiện công việc giáo dục này với tất cả mọi người thông qua hình thức thuyết pháp
Trong sách dạy làm người của dân tộc Khmer có câu “Người không được tu trong chùa là người có nhiều tội lỗi trong đời sống” Người con trai Khmer được xem là đủ tư cách phẩm chất khi đã trải qua thời gian đi tu học tại chùa Người Khmer quan niệm rằng, đi tu không phải là để thành Phật, mà đi tu để học điều hay
lẽ phải, để trở thành người có nhân cách Đi tu còn là một cách tích phước cho gia đình, cha mẹ và bản thân.Trong cuộc đời của người đàn ông Khmer nếu được một lần đi tu thì đó là một nghĩa vụ thiêng liêng và vinh dự Ngoài ra, còn tùy theo
“phước” của từng người mà người thanh niên có thể đi tu bất cứ lúc nào và trong thời gian bao lâu [40, tr 280]
Người Khmer có niềm tin tưởng tuyệt đối vào nhà chùa và các sư sãi, sống thì đi chùa, chết thì đem tro cốt gửi vào các tháp trong chùa Người con trai khi còn
ở với cha mẹ thì phải lễ phép, kính trọng và vâng lời cha mẹ Nhưng từ sau lễ quy y tại chùa và mặc áo cà sa thì người con trai đã trở thành sư, lúc này vị trí xã hội đã được thay đổi, ba mẹ gặp con thì phải quỳ lạy, tỏ bày sự sùng kính Sự sùng kính ấy
đã trở thành những hành động tôn giáo lưu truyền từ đời này sang đời khác, thành
Trang 37quy tắc ứng xử giữa người với người và giữa người với các vị sư sãi Đây chính là điều hấp dẫn của giáo lý và đạo pháp, nó đã mang lại những lợi ích thiết thực trong đời sống cộng đồng của người Khmer Sư sãi không hoàn toàn xa lánh với cuộc đời,
mà họ vừa chăm lo cho đời sống tâm linh của Phật tử vừa chăm sóc giúp đỡ Phật tử trong đời sống hằng ngày [36, tr 286]
Nhà chùa với những điều kiện vật chất thuận lợi, tầng lớp sư sãi với vị thế xã hội đặc biệt quan trọng đã phát huy vai trò và sự nỗ lực rất lớn, góp phần giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao dân trí cho đồng bào Khmer nói chung và nâng cao trình độ ngữ văn Khmer nói riêng Ngoài việc trực tiếp tổ chức các lớp học xóa mù chữ cho đồng bào và dạy bồi dưỡng thêm cho học sinh phổ thông tiếng nói và chữ viết dân tộc, nhà chùa Khmer còn có vai trò quan trọng và đóng góp tích cực trong việc vận động con em Khmer đi học tại các trường phổ thông do Nhà nước quản lý [40, tr 288]
1.6 Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer
1.6.1 Vài nét về người Khmer tỉnh Trà Vinh
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng địa lý được hình thành muộn nhất so với các đồng bằng khác ở Việt Nam Những thế kỷ đầu công nguyên thì đồng bằng sông Cửu Long được khai thác bởi nền văn hóa Óc Eo, đây là giai đoạn hình thành và phát triển của nền văn hóa Óc Eo
Đến cuối thế kỷ VII, thì nền văn hóa Óc Eo bắt đầu tàn lụi Từ thế kỉ thứ X trở đi, cùng với sự rút dần của nước biển thì ở đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện một số giồng đất cao màu mỡ, thuận lợi cho cư dân cư trú và sản xuất Tại thời điểm này, những người Khmer nghèo khổ không chịu được sự bóc lột hà khắc cùng các loại thuế của thế lực phong kiến Angkor, nên họ đã bỏ trốn tìm đến sinh sống tại những vùng đất cao
Trong nhiều thế kỷ tiếp theo thì vùng Nam Bộ trở nên hoang vu, tình trạng không người ở kéo dài đến tận thế kỷ XI, XII Từ thế kỷ XIII – XIV, đế chế Angkor bắt đầu khủng hoảng và sụp đổ, người dân Khmer lại càng nghèo đói và bị đàn áp nặng nề, trước tình hình đó thì người Khmer tiếp tục di cư về đồng bằng sông Cửu
Trang 38Long ngày càng đông
Cuối thế kỉ XV – XVI, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long tập trung thành 3 vùng dân cư lớn: vùng Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau; vùng An Giang – Kiên Giang; vùng Trà Vinh – Vĩnh Long
Đến thế kỉ XVII, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành nên những “ vùng môi sinh xã hội” do bàn tay của những người Khmer tạo nên Người Khmer sống tập hợp thành những đơn vị xã hội tự quản, mỗi điểm cư trú gồm năm bảy gia đình có mối quan hệ thân tộc, họ hàng huyết thống quy tụ bên nhau được gọi là Phum, một số Phum được gọi là Sóc Chính tập quán cư trú theo dòng họ gia đình, huyết thống đã tác động sâu sắc tới khía cạnh tâm lý xã hội và hình thành nên những đặc trưng về kinh tế - xã hội của người Khmer cho đến hôm nay
1.6.2 Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer tỉnh Trà Vinh
Hành vi sùng bái Phật giáo của học sinh trung học phổ thông người Khmer
được biểu hiện khá rõ nét qua các khía cạnh: động cơ, nhận thức, thái độ, hành động của họ Dưới đây chúng tôi sẽ phân tích cụ thể các khía cạnh biểu hiện này
1.6.2.1 Biểu hiện qua khía cạnh động cơ
Tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi con người chúng ta, đáp ứng khát vọng tâm linh của con người Phần lớn tín ngưỡng giúp con người tìm được sự an nhiên, an vui trong cuộc sống Người Khmer cùng
có những mong muốn tìm được sự bình an và hạnh phúc trong cuộc sống, các em
HS cũng tin rằng những giáo lý nhà Phật sẽ giúp cho bản thân mỗi người tìm được
và hướng đến những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống Từ khi mới khai thiêng lập địa, đời sống người Khmer còn gặp rất nhiều khó khăn và thiếu thốn, Đạo Phật đã xuất hiện và tồn tại cùng với người dân Khmer Các vị sư sãi luôn giúp đỡ và hỗ trợ người dân trong những lúc khó khăn về đời sống vật chất Bên cạnh đó, những giáo
lý của Đức Phật giúp người dân thêm vững tin vào cuộc sống, tìm được niềm vui và hứng khởi, cố gắng làm việc cải thiện cuộc sống
Trang 39Những giáo lý nhà Phật như là ngọn đèn soi sáng cho mỗi cá nhân HS người Khmer Quan niệm của Phật giáo là tìm ra được con đường thoát khổ cho nhân loại, giải tỏa những uẩn khúc sâu trong tự thân của mỗi con người, do đó người Khmer tin rằng những người đi tu là những người có đạo hạnh, thông hiểu được những điều hay lẽ phải trong cuộc sống, thấu tình đạt lý, từ đó họ cho rằng việc đi tu tập sẽ trở thành người có nhân cách, có nếp sống đẹp và được mọi người kính trọng Nhu cầu được mọi người kính trọng là một trong những động lực lớn giúp người Khmer nói chung và các em HS nói riêng quyết định đi tu, có người tu để trở thành sư sãi và ở chùa, nhưng vẫn có người tu tập một thời gian và quay trở về cuộc sống hằng ngày Thường những người đã tu tập sẽ được mọi người rất tôn trọng và kính phục
1.6.2.2 Biểu hiện qua khía cạnh nhận thức
Người Khmer từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi đều gắn liền với Phật giáo, với nhà chùa Qua đó, tất cả các hoạt động đều gắn liền với nhà chùa và ngôi chùa
là một nơi thiêng liêng đối với người Khmer Học sinh trung học phổ thông người Khmer tuy đã được đi học tại trường dạy tiếng Kinh, chương trình giáo dục chung của cả nước nhưng các em vẫn giữ những nét văn hóa của cộng đồng người Khmer Học sinh nam đến tuổi thì các em sẽ vào chùa tu theo nghi thức để trở thành người trưởng thành, sau đó quay trở lại trường để tiếp tục theo học Các em nhận thức rõ ràng về sự tồn tại của Phật giáo, về sức mạnh quyền năng của Phật giáo cũng như sự bảo hộ che chở của Phật giáo cho cộng đồng dân cư trong Phum, Sóc Bên cạnh việc tin tưởng vào sự bảo hộ và hiển linh của Phật thì người Khmer còn tin vào một thế giới khác, rằng nếu sống có phước thì khi chết đi sẽ được vào cõi Niết Bàn, nên luôn cố gắng đóng góp tiền bạc, vật chất vào để xây dựng chùa Nếu phạm phải tội lỗi thì khi chết đi sẽ bị đày xuống địa ngục, do đó hình thành nên tính cách chân thật, lương thiện và hiền lành của người Khmer
Đối với người Khmer, bậc sư sãi là những người đại diện cho Phật Trong ý thức của họ thì họ cần phải thể hiện sự kính trọng sư sãi ở chùa Hơn hết, sư sãi còn
là những người có đạo hạnh, là cái gương cho người Khmer noi theo vì việc tu tập theo đạo lý nhà Phật
Trang 40Như đã nói ở trên, người Khmer có cuộc sống đời thường còn rất nhiều khó khăn, nhà cửa vẫn còn nhà tranh vách đất, tuy nhiên khi kiếm được tiền họ sẽ vẫn đóng góp vào xây dựng chùa, vì ngôi chùa là nơi linh thiêng nhất đối với người Khmer, họ sẵn sàng hy sinh tất cả để có thể xây dựng được những ngôi chùa đẹp và tráng lệ Niềm tin của họ còn được thể hiện qua việc họ sẽ tin vào Phật giáo trong suốt cuộc đời của họ và đó là một niềm tin dường như không thể thay đổi
1.6.2.3 Biểu hiện qua khía cạnh thái độ
Do tôn giáo chính của người Khmer là đạo Phật, nên Đức Phật có một vị trí
và sức ảnh hướng rất lớn đến cộng đồng người Khmer Trải qua các giai đoạn lịch
sử phát triển, Phật giáo đã trở thành đặc trưng văn hóa truyền thống với nền tảng giáo lý vững vàng, với những luân lý đạo đức Phật giáo luôn hướng con người đến những giá trị cao cả: “chân – thiện – mỹ” Những bài học về “vô thường”, “vô ngã,
vị tha”, “từ bi hỷ xả”, “an lạc” đã thấm nhuần vào trong tâm thức của mỗi người dân Khmer Chính vì sự gần gũi và có mối quan hệ khắng khít với đời sống cộng đồng người Khmer, nên Phật giáo luôn có một vai trò hết sức quan trọng đối với người dân Khmer Niềm tin về sự che chở, giúp đỡ của Đức Phật trong lòng mỗi người dân Khmer và các em HS người Khmer luôn rất lớn, vì vậy họ luôn thể hiện
sự kính trọng, tôn sùng Đức Phật Lời dạy của Đức Phật được lưu truyền từ đời này sang đời khác của cộng đồng người Khmer, do đó hình thành nên lối sống mang nét đặc thù riêng Với họ, những ai nghe và sống theo lời Phật dạy thì rất đáng được quý trọng vì đã sống theo lẽ phải và biết cách đối nhân xử thế
Bên cạnh đó, ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Khmer,
họ có thể ở nhà tranh vách đất, có thể khó khăn trong việc sinh hoạt hoặc ăn uống hằng ngày, tuy nhiên ngôi chùa luôn được xây cất khang trang với lối kiến trúc đặc trưng riêng của Phật giáo tiểu thừa Họ luôn dành tình cảm sâu sắc cho ngôi chùa, vì
họ tin rằng sau khi chết đi, tro cốt được đưa vào chùa thì sẽ được về gần với Đức Phật Cứ mỗi năm đến ngày lễ Đôn-ta, vào giữa tháng 9 dương lịch, người dân trong Phum, Sóc dù có đi làm ăn xa mấy cũng trở về chùa, nơi lưu giữ tro cốt của người thân để lễ Phật và thắp hương tưởng nhớ ông bà tổ tiên nay đã về với Đức