1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản

25 316 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀKhi đánh giá về thực trạng phát triển ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã khẳng định: bên cạnh những điểm mạnh đáng kể, ngành nô

Trang 1

TỈNH ĐỒNG NAITRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG

TỈNH ĐỒNG NAI

ĐỀ TÀI KHOA HỌC

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỊ TRƯỜNG

ĐỂ XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHỦ LỰC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA BỀN VỮNG TẠI ĐỒNG NAI

Chủ nhiệm đề tài: Trần Hải Sơn, Nguyễn Vinh Hùng

 

NHÓM CHUYÊN ĐỀ 9

ĐÁNH GIÁ VỀ HÌNH THỨC TIÊU THỤ SẢN PHẨM VÀ PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BỐN NHÀ TRONG SẢN XUẤT, THU MUA, BẢO QUẢN, CHẾ BIẾN VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khi đánh giá về thực trạng phát triển ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã khẳng định: bên cạnh những điểm mạnh đáng kể, ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai cũng còn tồn tại khá nhiều điểm yếu cần khắc phục; trong đó, nổi bật là chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng bị cắt khúc; sản phẩm tiêu thụ thông qua nhiều cấp thương lái; giá trị gia tăng bị phân chia một cách không công bằng cho các chủ thể tham gia chuỗi theo hướng người sản xuất luôn chịu thiệt thòi, sản phẩm tiêu thụ vòng vo nên chất lượng giảm nhanh; không có cơ sở để truy nguyên nguồn gốc xuất sứ sản phẩm; gây khó khăn cho việc kiểm tra chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; nguy cơ ô nhiễm môi trường lớn… Nguyên nhân của các tồn tại kể trên đó là việc tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm không được tổ chức theo chuỗi cung ứng; chuỗi giá trị sản phẩm chưa được tổ chức một cách khoa học nên không có cơ hội nâng cấp

Trong mấy năm gần đây, nông nghiệp cả nước nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng thường bị các nguy cơ đe dọa, trong đó đáng kể nhất là những nguy cơ như: dịch bệnh Các thị trường tiêu thụ nông sản ngày càng yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm, trong đó đặc biệt là yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm đòi hỏi người sản xuất phải sản xuất theo quy trình GAP (VietGAP, GlobalGAP), ứng dụng công nghệ cao; biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng đã và đang thực sự ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân; trong đó, nông nghiệp, nông dân và nông thôn đang là những đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Để đối phó với những nguy cơ này, ngoài các yêu cầu về vốn, cơ sở hạ tầng, chính sách, thị trường, công nghệ… vấn đề tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị; tăng cường liên doanh, liên kết giữa các chủ thể tham gia chuỗi (hay còn gọi là mối liên kết 4 nhà) luôn được xem là cấp bách nhất và là vấn đề then chốt

Đối với ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai, việc lựa chọn một hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực trên địa bàn đã là quan trọng; tuy nhiên duy trì các loại cây trồng, vật nuôi đã lựa chọn luôn đáp ứng tốt các tiêu chí về cây trồng, vật nuôi chủ lực lại càng quan trọng hơn; để thực hiện tốt nhiệm vụ này, rất cần có sự tham gia của cả hệ thống chính trị; trong đó, việc nâng nâng cấp chuỗi giá trị trên cơ sở hình thành và củng cố mối quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi được xem

là yếu tố quyết định đến thành công của chương trình cây trồng, vật nuôi chủ lực trên địa bàn tỉnh nói riêng và đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững nói chung

Từ những lý do trên, việc thực hiện chuyên đề: “Mối quan hệ 4 nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản, chế biến và tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” được xem là một bộ phận cấu thành của đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố kinh

tế, kỹ thuật và thị trường để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực phục vụ phát triển ngành nông nghiệp hàng hóa bền vững tại Đồng Nai”

Trang 3

I LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT, XU THẾ PHÁT TRIỂN TẤT YẾU CỦA NÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI

I.1 Nông dân liên kết với nông dân

Thời kỳ cạnh tranh kinh tế thị trường cần phải có sản phẩm khối lượng lớn, chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế; giao hàng đúng lúc, giá thành cạnh tranh Nông dân cá thể không thể làm được điều này Nông dân phải tổ chức được

"hành động tập thể" theo quy trình sản xuất chung theo từng cánh đồng lớn Quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và thương mại của nông dân được thiết lập trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường về khối lượng cung ứng, chất lượng hàng hóa… Đây chính là các yếu tố để nông dân xây dựng hành động tập thể Hàng hóa nông sản cần được xác định rõ về số lượng, chất lượng đối với từng thị trường để làm cơ sở xây dựng kế hoạch cung ứng; xác định rõ chất lượng

và số lượng sản phẩm nông sản trong sản xuất Yêu cầu chất lượng của thị trường phải làm căn cứ cơ bản để xây dựng quy trình kỹ thuật cho các mô hình liên kết

Nông dân liên kết lại bằng cách vào tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX) Tuy nhiên, một bộ phận nông dân vẫn còn ngán ngại mô hình HTX kiểu cũ nên kiên quyết không tham gia mô hình liên kết mới; ngoài ra, một số địa phương, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành chưa chủ động tham mưu cho lãnh đạo triển khai đầy đủ các nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế tập thể Vẫn còn một bộ phận cán

bộ quản lý nhà nước về kinh tế tập thể trong nông nghiệp còn yếu về năng lực và trình độ nên chất lượng tham mưu văn bản chính sách và tính chủ động còn hạn chế Bên cạnh đó, ở nhiều nơi, chính quyền chưa thực sự quan tâm đúng mức tới lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể Sự phối hợp của các ngành, các cấp, các đoàn thể ở địa phương trong việc hướng dẫn, hỗ trợ HTX thiếu chặt chẽ…

Vậy động cơ nào để nông dân liên kết với nhau? Sản xuất trong cánh đồng lớn, trong tổ hợp tác, nông dân giảm được ngày công lao động, giảm chi phí sản xuất do tất cả đều được cơ giới hóa Không chỉ vậy, nông dân cũng được nâng cao trình độ sản xuất thông qua các buổi tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất… Từ đó gắn kết giữa nông dân và nông dân ngày càng bền chặt Vì đây là những kinh nghiệm quý báu mà trước kia sản xuất đơn lẻ chưa làm hiệu quả Điều này có nghĩa, lợi ích hành động tập thể mang lại phải lớn hơn lợi ích của hành động riêng lẻ do từng cá nhân quyết định Lợi ích hành động tập thể do thực hiện trên cùng một cánh đồng lớn bao gồm: đạt tính kinh tế quy mô; giảm chi phí sản xuất, chi phí giao dịch; tăng khả năng tiếp cận với công nghệ, nguồn lực sản xuất và thị trường mới; tăng vị thế đàm phán và khả năng cạnh tranh; nâng cao năng lực về tổ chức và kiến thức nhờ vào sự chia sẻ kinh nghiệm trong nhóm; chia sẻ rủi ro Liên kết giữa nông dân với nhau để đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn Chỉ như vậy, nông dân mới có thể cung cấp sản phẩm đủ lớn về số lượng, đồng đều về chất lượng, kịp thời gian cho nhiều đối tác Nhờ vào liên kết, nông dân mới có khả năng xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể, tiến đến xây dựng

Trang 4

thương hiệu cho sản phẩm, quản lý về chất lượng sản phẩm để gia tăng giá trị, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường đối với các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo an toàn, chất lượng.

I.2 Liên kết nông dân với doanh nghiệp

Liên kết ngang giữa nông dân với nhau để cung cấp sản phẩm theo nhu cầu thị trường mới là một khía cạnh, là yếu tố "đẩy" trong mô hình liên kết Mô hình này cần yếu tố "kéo", chính là thị trường tiêu thụ đầu ra mà hoạt động cốt lõi là xây dựng được liên kết dọc giữa nông dân với doanh nghiệp Xây dựng mối liên kết này về bản chất là xây dựng kênh tiêu thụ mới trong chuỗi giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung gian giữa người sản xuất và doanh nghiệp, rút ngắn độ dài của kênh tiêu thụ Nếu không có liên kết này, việc tổ chức sản xuất thông qua liên kết ngang không đạt được lợi ích như mong muốn Hiện tại, nhiều doanh nghiệp nông nghiệp vẫn đang thu gom nông sản thô từ các thương lái; điều này

có nghĩa là ngay bản thân các doanh nghiệp cũng không tiếp cận tới được người sản xuất và người tiêu dùng thông qua thương hiệu của mình Vì vậy, kinh doanh của doanh nghiệp chỉ mang tính thời vụ, không ổn định Những doanh nghiệp này cũng không thể liên kết với nông dân được Họ không có các yếu tố ổn định để liên kết với nông dân về chất lượng, cung ứng và chia sẻ rủi ro Do vậy, xây dựng cánh đồng lớn, nông dân chỉ nên liên kết với những doanh nghiệp có khả năng chế biến sâu, bán sản phẩm trực tiếp, có thương hiệu đến người tiêu dùng thông qua các hệ thống phân phối trong và ngoài nước; hoặc liên kết với những doanh nghiệp chứng minh được họ đã liên kết, là một phần hữu cơ của một chuỗi hàng hóa nào đó trong các khía cạnh về chất lượng, thương hiệu, rủi ro…

Chất “kết dính" giữa doanh nghiệp và nông dân là ngoài việc đầu tư đầu vào, đảm bảo đầu ra, một trong những mấu chốt gắn kết thành công với nông dân

là công ty cổ phần bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) thay đổi vị thế của nông dân Nghĩa là nông dân trong cánh đồng lớn của AGPPS có thể quyết định giá và thời gian bán sản phẩm Nhiều ý kiến cho rằng, trước tiên, đó là quan hệ mua bán, trong đó doanh nghiệp là người mua, nông dân là người bán sản phẩm Nhưng quan hệ mua bán này không phải là giao dịch mang tính thời vụ mà nó được thực hiện trên cơ sở các yếu tố liên kết hữu cơ giữa doanh nghiệp và nông dân Trên cơ sở liên kết ngang, sẽ có một lượng nông dân nhất định cùng tổ chức thực hiện sản xuất theo cánh đồng lớn, có sự hợp tác với doanh nghiệp là động lực để nông dân hành động tập thể trong xây dựng cánh đồng lớn Những yếu tố liên kết ngang của nông dân đều bắt nguồn từ yêu cầu thị trường, thực chất cũng

là cơ sở để hình thành các liên kết dọc với doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, cung ứng, quản trị chuỗi, quản lý thương hiệu sản phẩm Chất lượng, số lượng, giá thành sản phẩm đưa ra thị trường được doanh nghiệp và nông dân cùng liên kết thực hiện đồng nhất, có quản trị từ khâu sản xuất đến khâu phân phối đến tay người tiêu dùng

Trang 5

II THỰC TRẠNG CÁC MỐI LIÊN KẾT TRONG NÔNG NGHIỆP

Ở ĐỒNG NAI

II.1 Hiện trạng các loại hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp

Hiện nay, các loại hình tổ chức sản xuất trong ngành trồng trọt trên địa bàn tỉnh Đồng Nai gồm có:

+ Kinh tế hộ: Trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 185 ngàn hộ nông dân đang tham gia sản xuất nông nghiệp, sử dụng khoảng 235 ngàn ha đất nông nghiệp (bình quân 1,27ha/hộ) Số lượng hộ sản xuất nông nghiệp ở Đồng Nai đang có xu thế giảm bởi các nguyên nhân như: đất đai và lao động nông nghiệp giảm (do công nghiệp và đô thị phát triển nhanh); các loại hình tổ chức sản xuất khác như doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã và đặc biệt là kinh tế trang trại đang tăng nhanh Chất lượng lao động trong nông hộ mặc dù đã được nâng lên đáng kể song, vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển sản xuất; đặc biệt là sản xuất các loại thực phẩm có yêu cầu cao về vệ sinh an toàn thực phẩm Các loại cây trồng chính mà nông hộ đang sản xuất gồm: lúa, bắp, khoai

mỳ, rau đậu các loại, cây hàng năm khác, hồ tiêu, điều, cây ăn quả, cây lâu năm khác; kinh tế nông hộ hàng năm đóng góp khoảng 69% GTSX ngành trồng trọt

+ Kinh tế hợp tác: Toàn tỉnh hiện có 79 hợp tác xã; trong đó có đến 76 hợp tác xã và 543 tổ hợp tác liên quan đến ngành trồng trọt; ngoài ra ở mỗi huyện còn có các liên hiệp câu lạc bộ năng suất cao Hoạt động của các tổ chức này chủ yếu là cung ứng các dịch vụ sản xuất ngành trồng trọt (cung ứng giống cây trồng, vật tư nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm…); theo ước tính sơ bộ, hàng năm, kinh tế hợp tác đóng góp khoảng 8% GTSX ngành trồng trọt

+ Kinh tế trang trại: Đến năm 2015, trên địa bàn tỉnh có 3.055 trang trại đang hoạt động; trong đó có 439 trang trại trồng trọt, sử dụng 4.415,24ha đất nông nghiệp; Trang trại trồng trọt có quy mô diện tích đất bình quân tương đối lớn, một số trang trại có quy mô diện tích sản xuất lớn; điển hình trang trại thanh long ruột đỏ diện tích 20 ha huyện Trảng Bom , trang trại xoài 15 ha huyện Xuân Lộc, trang trại chôm chôm 20 ha thị xã Long Khánh, trang trại quýt 15 ha huyện Định Quán, trang trại cao su 50 ha và 2 trang trại tổng hợp có diện tích 27-30 ha huyện Tân Phú, hàng năm kinh tế trang trại đóng góp khoảng 6% GTSX ngành trồng trọt

+ Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành trồng trọt đóng trên địa bàn: chủ yếu là các nông trường cao su, các doanh nghiệp chế biến có vùng nguyên liệu như nhà máy đường, nhà máy chế biến cao su, cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả… hàng năm, các doanh nghiệp này đóng góp khoảng 17% GTSX ngành trồng trọt + Chăn nuôi có 2.578 trang trại, huyện Thống nhất có số lượng trang trại chăn nuôi lớn nhất với tổng số 987 trang trại chiếm 38,2% số trang trại chăn nuôi của tỉnh Các huyện có số trang trại chăn nuôi lớn là Trảng Bom, Xuân Lộc và

Trang 6

Cẩm Mỹ; trong đó, trang trại chăn nuôi heo có 1.604 trang trại; tập trung chủ yếu tại các huyện Thống Nhất 987, Trảng Bom 306, Long Thành 136, Vĩnh Cửu 162, Xuân Lộc có 138 trang trại.

Xu thế sản xuất mới hiện nay là khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn theo Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ Tướng Chính Phủ; theo đó, có 2 loại hình tổ chức sản xuất cần được tăng nhanh về số lượng cũng như chất lượng; đó

là các hợp tác xã nông nghiệp; ngoài vai trò là hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, hợp tác xã còn có vai trò rất quan trọng trong liên kết sản xuất với các doanh nghiệp; hợp tác xã là tổ chức đại diện của nông dân, có tư cách pháp nhân để tham gia các hình thức liên doanh, liên kết với doanh nghiệp Cần tăng nhanh số lượng các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động nông nghiệp; trong đó, cần lưu ý hài hòa cả hai loại doanh nghiệp cung ứng vật tư nông nghiệp và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm

II.2 Hiện trạng các hình thức tiêu thụ nông sản

Ở Đồng Nai hiện có các hình thức tiêu thụ sản phẩm nông sản như sau:

1 Hình thức thông dụng và phổ biến nhất là các thương lái đến mua tại nhà, ruộng, vườn (chiếm khoảng 85%) Ưu điểm của hình thức này là người sản xuất không mất chi phí và thời gian cho việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm Nhược điểm chính là người sản xuất không chủ động được số lượng, thời điểm, đặc biệt là giá cả; thương thảo diễn ra trong lúc người sản xuất bị động (quả đã chín trên cây, lúa sắp rụng ngoài đồng ) nên khó đảm bảo tính bình đẳng trong thương thảo Tồn tại quan trọng nữa là thương lái thu mua của nhiều hộ nông dân, không có hợp đồng ứng trước, không theo dõi quy trình sản xuất; nên rất khó đảm bảo tính đồng đều của sản phẩm; hơn nữa, để đến tay người tiêu dùng (hoặc chế biến) sản phẩm qua nhiều đoạn thương thảo, rất dễ sảy ra tình trạng ép giá và gian lận thương mại

2 Hình thức thứ 2 là thu mua nông sản thông qua trạm thu mua của các nhà máy chế biến hoặc các nhà xuất khẩu: thông thường, họ thu mua nông sản thông qua những thỏa thuận đã được cam kết trước (về giá và lượng) Ưu điểm của hình thức này là cả bên mua và bên bán đều chủ động được số lượng (thường

là với số lượng lớn), giá cả ổn định, người sản xuất có cơ hội để nhận được sự hỗ trợ từ các nhà chế biến hoặc xuất khẩu Tồn tại chính của hình thức này các nông

hộ chưa thực sự tin tưởng vào doanh nghiệp, thủ tục hợp đồng còn nhiều khâu, nhiều doanh nghiệp chưa tôn trọng nông hộ (biểu hiện ở việc đánh giá số lượng

và chất lượng, thời điểm thu mua ) Ngoài ra, vẫn còn những hiện tượng nông dân tự phá vỡ hợp đồng khi các thương lái trả giá cao hơn, làm cho doanh nghiệp lâm vào thế bị động

3 Hình thức tập trung ở chợ đầu mối: Sản phẩm được các thương lái thu gom, hợp tác xã tiêu thụ hoặc người trực tiếp sản xuất vận chuyển tập trung tại

Trang 7

chợ đầu mối; từ đây, sản phẩm được phân cho người bán lẻ, nhà xuất khẩu, cơ sở chế biến Ưu điểm của hình thức này là cả người bán và người mua không bị ảnh hưởng bởi số lượng giao dịch (do quy mô thị trường lớn), chợ đầu mối giữ vai trò điều tiết giá thị trường (không ai bị ép giá) Nhược điểm lớn nhất của hình thức này: chất lượng sản phẩm không được quản lý chặt chẽ, sản phẩm tươi không được bảo quản tốt, thời gian từ khi thu hoạch đến tay người tiêu dùng (hoặc chế biến) khá dài nên chất lượng giảm đáng kể.

4 Đối với một số sản phẩm đặc biệt như hoa, cây cảnh, thủy đặc sản, trái cây, rau sản xuất theo GAP Các chủ sản xuất thường phải chủ động tìm kiếm hợp đồng từ các địa phương khác Ưu điểm của hình thức này là người sản xuất chủ động ngay từ khi ký kết hợp đồng nên sản phẩm đạt chất lượng theo yêu cầu người mua, không bị tình trạng được mùa, mất giá Nhược điểm chính của hình thức này là chi phí thương thảo hợp đồng cao, khả năng tìm nguồn tiêu thụ của người sản xuất có hạn nên cơ hội để mở rộng sản xuất kinh doanh bị hạn chế

5 Đối với một số mô hình như trồng rau ăn quả, trồng rau, cây ngắn ngày khác, chăn nuôi gà vịt (quy mô nhỏ), các nông hộ thường đem ra chợ để bán;

ưu điểm của hình thức này là người sản xuất chủ động quy mô về sản lượng, sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhanh nên bảo đảm độ tươi sống; tuy nhiên, do sản xuất nhỏ lẻ nên khó kiểm soát được mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm, chi phí tiêu thụ sản phẩm cao, thu nhập của người sản xuất bấp bênh

Tóm lại, ở Đồng Nai hiện có 5 hình thức tiêu thụ sản phẩm; mỗi hình thức đều có những ưu, nhược điểm riêng của nó Tuy nhiên, có một điểm chung là sản phẩm từ khi được thu hoạch đến tay người tiêu dùng trải qua nhiều khâu trung gian Giữa các khâu dường như không có mối liên hệ chặt chẽ; hay nói cách khác

là các khâu trong chuỗi giá trị sản phẩm đang bị đứt đoạn Hậu quả là người sản xuất và người tiêu dùng luôn chịu thiệt thòi, nhà chế biến và nhà xuất khẩu luôn trong tình trạng bị động, chi phí lưu thông gia tăng, chất lượng sản phẩm giảm nhanh, không có cơ hội để có thể truy nguyên nguồn gốc sản phẩm; sản xuất trong tình trạng tự phát Giải pháp để khắc phục tình trạng này là khuyến khích các doanh nghiệp tham gia ngày càng nhiều vào quá trình sản xuất và kinh doanh sản phẩm, có chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn theo Quyết định số 62/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ

II.3 Hiện trạng về mối quan hệ của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị

1 Hiện trạng về sơ đồ chuỗi và các tác nhân tham gia chuỗi

Theo báo cáo quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, các ngành hàng chủ lực trên địa bàn tỉnh gồm có: điều (47 ngàn ha), cao su (45 ngàn ha), cà phê (25 ngàn ha), bắp (51 ngàn ha), rau thực phẩm (14 ngàn ha), hồ tiêu (9 ngàn ha), chôm chôm (11 ngàn ha), xoài (10 ngàn ha), chuối (7 ngàn ha), sầu riêng (4 ngàn ha), heo (1,3 triệu con), gà

Trang 8

(11 triệu con), nuôi thủy sản (32 ngàn ha) Chuỗi giá trị các ngành hàng được hình thành dựa trên sự gắn kết giữa các nhóm tác nhân có chức năng sản xuất trực tiếp hoặc gián tiếp bao gồm nhà cung ứng vật tư đầu vào, người trồng trọt, chăn nuôi, thương nhân, các doanh nghiệp chế biến và các tổ chức hỗ trợ giá trị như Đảng, chính quyền các cấp, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Sở Nông nghiệp và PTNT, phòng nông nghiệp các huyện, các hội, hiệp hội, tổ chức đoàn thể, ngân hàng, các

bộ ngành liên quan, các cơ quan truyền thông Căn cứ kết quả điều tra đối với từng chủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh, tiến hành phân tích chuỗi giá trị đối với từng ngành hàng như sau:

+ Ngành hàng cao su:

Nhà cung ứng vật tư cung cấp vật tư cho hộ nông dân (cao su tiểu điền) và nông trường cao su (cao su quốc doanh) để họ sản xuất ra mủ cao su Mủ cao su được bán cho các nhà máy chế biến sản phẩm cao su các loại Sản phẩm này sẽ được xuất khẩu hoặc bán cho cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng từ cao su Như vậy, sơ

đồ chuỗi giá trị như sau:

Hình 1: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng cao su

Bảng 1: Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng cao su

Các khâu

trong chuỗi Cung ứng đầu vào Sản xuất Thu gom Sơ chế biến Chế Thương mại

Hoạt động

của từng

nhà máy

Sản phẩm Vật tư nông nghiệp Mủ cao su Mủ cao su đã được vận chuyển về nhà máy Cao su đạt tiêu chẩn xuất khẩu

Trang 9

cấp vật tư đầu vào

trường cao

Hỗ trợ giá

trị Đảng, chính phủ và chính quyền các cấp, Tập đoàn cao su Việt Nam Bộ Nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT, phòng nông nghiệp các huyện

Các hội, hiệp hội, các tổ chức đoàn thể Các bộ ngành liên quan, ngân hàng, các cơ quan truyền thông…

Nhận xét: Trong chuỗi này, doanh nghiệp tham gia một cách có hiệu quả vào hầu hết các khâu trong quá trình sản xuất nên, về cơ bản đảm bảo tốt tính công bằng đối với các chủ thể tham gia chuỗi và có nhiều cơ hội để nâng cấp chuỗi

hồ tiêu (siêu thị, các chợ bán buôn hoặc bán lẻ); phần còn lại, cung ứng cho các doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu Như vậy, sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu như sau:

Hình 2: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu

Bảng 2: Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu

Xuất khẩu

thị

Sản phẩm

Vật tư NN, đất đai, lao động, tiền vốn…

Hạt tiêu đen

Hồ tiêu đã được thu gom về đại lý

Hồ tiêu đã được bán cho nhà chế biến hoặc nhà XK

Hạt tiêu sọ (tiêu trắng)

Hạt tiêu (đen hoặc trắng) đã được XK hoặc bán trong nước

Trang 10

Tác nhân Nhà cung cấp vật tư

đầu vào

Trang trại Thương lái tại ấp, xã Thương lái tại huyện, tỉnh Doanh nghiệp chế biến Nhà XK

Hỗ trợ giá

trị Đảng, chính phủ và chính quyền các cấp, Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) Bộ Nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT, phòng nông nghiệp các huyện

Các hội, hiệp hội, các tổ chức đoàn thể Các bộ ngành liên quan, ngân hàng, các cơ quan truyền thông…

- Giá trị gia tăng và cơ cấu giá trị gia tăng của từng chủ thể tham gia chuỗi: Theo kết quả điều tra kinh tế nông hộ, và kết quả sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi giá trị sản phẩm hồ tiêu, các khoản chi phí, doanh thu

và giá trị gia tăng của từng chủ thể trong chuỗi như sau:

Bảng 3: GTGT và cơ cấu GTGT của từng chủ thể tham gia chuỗi GTNH hồ tiêu

STT Chủ thể Chi phí (đồng) Doanh thu (đồng) tăng (đồng) Giá trị gia GTGT %

(tiêu đen)

% GTGT (tiêu trắng)

Đối với hồ tiêu đen, tổng giá trị gia tăng là 124.348 đồng/kg; trong đó, nhà cung ứng vật tư nông nghiệp hưởng 2.096 đồng (1,69%); người trồng hồ tiêu hưởng 88.300 đồng (71,01%); người thu gom 1 hưởng 7.650 đồng (6,15%); đại lý

hồ tiêu hưởng 9.928 đồng (7,98%) và nhà xuất khẩu hồ tiêu đen hưởng 16.373 đồng (13,17%) Đối với hồ tiêu trắng, tổng giá trị gia tăng 129.940 đồng; trong đó, nhà cung ứng vật tư nông nghiệp hưởng 2.096 đồng (1,5%); người trồng hồ tiêu hưởng 88.300 đồng (63,1%); người thu gom 1 hưởng 7.650 đồng (5,47%); đại lý

hồ tiêu hưởng 9.928 đồng (7,09%); doanh nghiệp chế biến hồ tiêu hưởng 11.050 đồng (7,90%) và nhà xuất khẩu hồ tiêu trắng hưởng 20.915 đồng (14,95%)

+ Ngành hàng cà phê:

- Sản phẩm cà phê sản xuất ra gồn 2 loại: Sản phẩm phụ là vỏ cà phê có thể được bán cho các doanh nghiệp sản xuất phân vi sinh; sau đó được bán trở lại cho người trồng cà phê, thông qua nhà cung ứng vật tư nông nghiệp Sản phẩm chính là cà phê nhân, sau khi được thu gom, đến các đại lý, sản phẩm được phân phối theo 2 kênh cung ứng cho các doanh nghiệp xuất khẩu hoặc cung ứng cho các doanh nghiệp rang xay, chế biến cà phê thành sản phẩm tiêu dùng như cà phê bột, bánh kẹp cà phê bán ở thị trường trong nước hoặc xuất khẩu Như vậy, sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng cà phê được thể hiện như sau:

Trang 11

Hình 3: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

Bảng 4: Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

cà phê

Cà phê nhân đã được thu gom về đại lý

Cà phê nhân

đã được bán cho nhà chế biến hoặc nhà XK

Phân vi sinh Cà phê bột

Cà phê nhân đã được tạm trữ

Cà phê nhân, bột

đã được

XK hoặc bán trong nước Tác nhân Nhà cung cấp vật tư

đầu vào

Trang trại Thương lái

tại ấp, xã Thương lái tại huyện, DN chế biến DN chế biến cà nghiệp Doanh Nhà XK

nhân Đảng, chính phủ và chính quyền các cấp, Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa)

Trang 12

Bộ Nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT, phòng nông nghiệp các huyện

Các hội, hiệp hội, các tổ chức đoàn thể

Các bộ ngành liên quan, ngân hàng, các cơ quan truyền thông…

- Giá trị gia tăng và cơ cấu giá trị gia tăng của từng chủ thể tham gia chuỗi: Theo kết quả điều tra kinh tế nông hộ, và kết quả sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi giá trị sản phẩm cà phê, các khoản chi phí, doanh thu

và giá trị gia tăng của từng chủ thể trong chuỗi như sau:

Bảng 5: GTGT và cơ cấu GTGT của từng chủ thể tham gia chuỗi GTNH cà phê

STT Chủ thể Đầu tư (đồng) Doanh thu (đồng) GTGT (đồng) % GTGT XK % GTGT TT

cà phê hưởng 7.600 đồng (67,66%); người thu gom 1 hưởng 563 đồng (5,02%); đại lý cà phê hưởng 781 đồng (6,96%); doanh nghiệp tạm trữ và xuất khẩu cà phê hưởng 1.711 đồng (15,23%)

+ Ngành hàng điều:

- Sản phẩm của người trồng điều gồm 2 loại quả điều và nhân hạt điều Quả điều bước đầu đã có một số doanh nghiệp tham gia chế biến thành phân vi sinh, rượu hoặc nước trái cây; tuy nhiên quy mô và tỷ trọng còn rất nhỏ ở mức không đáng kể Riêng nhân hạt điều, thông qua sau khi qua người thu gom 1 đến đại lý sẽ được cung ứng cho các doanh nghiệp chế biến hoặc doanh nghiệp xuất khẩu hạt điều thô; hạt điều sau khi được chế biến thành hạt điều rang muối, kẹo hạt điều sẽ được phân phối đến các siêu thị và các điểm bán lẻ Theo đó, sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng điều được thể hiện như sau:

Hình 4: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng điều

Ngày đăng: 12/05/2017, 14:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng cao su - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Bảng 1 Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng cao su (Trang 8)
Hình 1: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng cao su - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Hình 1 Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng cao su (Trang 8)
Bảng 2: Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Bảng 2 Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu (Trang 9)
Hình 2: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Hình 2 Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng hồ tiêu (Trang 9)
Bảng 3: GTGT và cơ cấu GTGT của từng chủ thể tham gia chuỗi GTNH hồ tiêu - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Bảng 3 GTGT và cơ cấu GTGT của từng chủ thể tham gia chuỗi GTNH hồ tiêu (Trang 10)
Bảng 4: Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng cà phê - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Bảng 4 Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng cà phê (Trang 11)
Hình 3: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng cà phê - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Hình 3 Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng cà phê (Trang 11)
Bảng 5: GTGT và cơ cấu GTGT của từng chủ thể tham gia chuỗi GTNH cà phê - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Bảng 5 GTGT và cơ cấu GTGT của từng chủ thể tham gia chuỗi GTNH cà phê (Trang 12)
Bảng 7: GTGT và cơ cấu GTGT của từng chủ thể tham gia chuỗi GTNH điều - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Bảng 7 GTGT và cơ cấu GTGT của từng chủ thể tham gia chuỗi GTNH điều (Trang 13)
Hình 6: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng trái cây - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Hình 6 Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng trái cây (Trang 15)
Bảng 10: Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng trái cây - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Bảng 10 Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng trái cây (Trang 15)
Bảng 11: GTGT và CC GTGT của từng chủ thể tham gia CGTNH trái cây - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Bảng 11 GTGT và CC GTGT của từng chủ thể tham gia CGTNH trái cây (Trang 16)
Bảng 13: GTGT và CCGTGT của từng chủ thể tham gia CGTNH rau TP - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Bảng 13 GTGT và CCGTGT của từng chủ thể tham gia CGTNH rau TP (Trang 17)
Bảng 14: Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng bắp - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Bảng 14 Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng bắp (Trang 18)
Sơ đồ 1: Các mối liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản - Mối quan hệ bốn nhà trong sản xuất, thu mua, bảo quản và chế biến nông sản
Sơ đồ 1 Các mối liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w