1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LA tiến sĩ)

167 261 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trương Văn Hòa

QUYỀN CON NGƯỜI VÀ THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐỒNG BÀO DÂN TỘC MÔNG TẠI CÁC TỈNH TÂY BẮC

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: CNDVBC &CNDVLS

Mã số : 62 22 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN ĐỨC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu và tư liệu trong luận án đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trương Văn Hòa

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI……… 7

1.1 Tình hình nghiên cứu về quyền con người và thực thi quyền con người………… 7

1.2 Tình hình nghiên cứu về dân tộc thiểu số và đồng bào dân tộc Mông 26

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON

NGƯỜI VÀ THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU

SỐ ……… 35

2.1 Một số vấn đề lý luận về quyền con người 35

2.2 Một số vấn đề lý luận thực thi quyền con người……… 44

2.3 Thực thi quyền con người của các dân tộc thiểu số và dân tộc Mông ở các

tỉnh Tây Bắc……… 68

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG THỰC

THI QUYỀN CON NGƯỜI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC MÔNG Ở CÁC TỈNH

TÂY BẮC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY……… 77

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây

Bắc 77

3.2 Thực trạng thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông tại các tỉnh Tây

Bắc trong giai đoạn hiện nay……… .81

3.3 Một số thành tựu về thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở

các tỉnh Tây Bắc 94

3 4 Một số hạn chế trong quá trình thực thi quyền con người của đồng bào đồng

bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây BắcViệt Nam 102

3 5 Những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc

Mông ở các tỉnh Tây BắcViệt Nam……… 108

Trang 4

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU,

NHẰM THỰC THI TỐT HƠN QUYỀN CON NGƯỜI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN

TỘC MÔNG Ở CÁC TỈNH TÂY BẮC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN

HIỆN NAY……… 113

4.1 Phương hướng cơ bản đảm bảo thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam 113

4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy thực thi tốt hơn quyền con người cửa đồng bàodân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam 120

KẾT LUẬN……… 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ……… 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 152

Trang 5

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Đảng và Nhà nước : Đ&NN Đồng bào dân tộc Mông : ĐBDTM

Quần chúng nhân dân : QCND

Quyền Dân sự, chính trị : QDSCT Quyền Kinh tế, xã hội và văn

hóa

: QKTXHVH

Thực thi quyền con người : TTQCN

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là một trong những vấn đề cơ bản của loài người, là vấn đề được đặc biệt quan tâm của cộng đồng nhân loại Mỗi bước phát triển của con người đều gắn liền với cuộc đấu tranh nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, xây dựng và hoàn thiện các mối quan hệ xã hội của con người Chính vì vậy, bảo

vệ và phát huy quyền con người luôn được coi là trọng tâm, là đích đến của mỗi cuộc cách mạng “Sự không hiểu biết, sự lãng quên hay sự coi thường quyền con người là những nguyên nhân duy nhất của những nỗi bất hạnh công cộng, của tệ

hủ bại của các chính phủ” (Lời nói đầu Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp) [24, tr.13]

Quyền con người mặc dù đã có lịch sử phát triển lâu dài trong tư tưởng nhân loại, tuy nhiên, do tính chất phức tạp của nó, nên vẫn đang tồn tại những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Mặc dù vậy, nhân loại tiến bộ đã đi đến những quan điểm chung về quyền con người, đó là: Quyền con người không thể tách rời giữa quyền cá nhân và quyền cộng đồng, giữa dân tộc và nhân loại, giữa quyền lợi và trách nhiệm, giữa quyền dân sự chính trị với quyền kinh tế văn hóa… Tất cả những điều đó tạo nên tính phổ biến và đặc thù của quyền con người Việc vận dụng và giải quyết vấn đề quyền con người trong thực tiễn, đang trở thành yêu cầu đòi hỏi bức thiết, cần tránh xu hướng cực đoan tuyệt đối hóa theo một chiều nhất định Điều đó một mặt đảm bảo tuân thủ các quyền cơ bản vốn có của con người đã được thừa nhận rộng dãi, mặt khác khi đề cập đến quyền con người, phải xem xét đến các yếu tố lịch sử, văn hóa, điều kiện kinh tế xã hội

Ở Việt Nam, vấn đề quyền con người và bảo vệ quyền con người, đã được Đảng và Nhà nước khẳng định và bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật Do tính chất

đa dạng về văn hóa và tộc người, sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, xã hội trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nên việc phát triển kinh tế, xã hội, phát huy quyền con người trong các tộc người thiểu số, mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng vẫn tồn tại hạn chế nhất định

Trang 7

Đồng bào người Mông sinh sống ở Tây Bắc Việt Nam, một địa bàn có vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng; là tộc người có lịch sử, truyền thống, văn hóa nhiều biến động, dễ bị tác động từ bên ngoài, nguy cơ bị tổn thương về quyền con người cao; điều kiện mọi mặt về đời sống còn nhiều khó khăn.Việc giải quyết và gắn kết mối quan hệ giữa quyền con người và phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng trong đồng bào người Mông là mục tiêu lâu dài trong chính sách phát triển ở nước ta, đảm bảo tính bền vững, tạo cơ sở cho xã hội phát triển hài hòa

Nhận thức đúng đắn về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi sự nhạy cảm chính trị trong giải quyết vấn đề quyền con người, đang là lý do tạo ra xung đột giữa các nước phương Tây và các nước phương Đông, giữa các nước phát triển và các nước kém phát triển, giữa Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa tư bản Trong khi ở các nước phương Tây, các thế lực thù địch đang lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để chống phá Chủ nghĩa xã hội với những học thuyết như: “Thuyết nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “Nhân quyền không biên giới”…Việc kích động mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, đang đe dọa đến sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào Mông ở các tỉnh Tây Bắc nước ta Chính điều đó đang đặt ra những nhiệm

vụ hết sức bức thiết trên cả lĩnh vực bảo vệ quyền con người và phát triển kinh tế,

xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc - đa tộc người (khái niệm các dân tộc thiểu số ở Việt Nam được đề cập trong công trình nghiên cứu này được hiểu là các tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam),trình độ phát triển của các dân tộc

không đồng nhất, có những nét văn hóa riêng biệt, tạo nên sự đa dạng và nét đặc sắc cho nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đồng thời, chính điều

đó cũng đòi hỏi trong nhận thức và hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước cần đứng trên quan điểm: Phát triển dựa trên quyền con người, nhằm phát huy những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, đồng thời tạo ra điều kiện thuận lợi thực hiện quyền con người một cách tốt nhất

Đối với các dân tộc thiểu số, khi đề cập đến quyền con người, luôn được

Trang 8

có quan hệ biện chứng, thống nhất nhau Quyền phát triển là điều kiện tiên quyết

để quyền con người được thực hiện Ngược lại, chỉ khi quyền con người được tôn trọng mới có quyền tự do phát triển Khi quyền phát triển không được đảm bảo, là nguyên nhân phát sinh những mâu thuẫn, tạo ra các yếu tố mất ổn định chính trị, xã hội, vi phạm đến quyền con người

Xuất phát từ thực tế đó, thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, một mặt lý luận quyền con người đã được quan tâm nghiên cứu; mặc khác, chúng ta đã tích cực chủ động trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng.Đồng thời, quan tâm đề ra các chủ trương, xây dựng các chính sách, nhằm không ngừng phát huy quyền con người một cách rộng rãi, đảm bảo cho nhân dân ta được hưởng những giá trị quyền con người một cách thực tiễn hơn, phát huy tính ưu việt thuộc

về bản chất của xã hội Xã hội Chủ nghĩa mà nhân dân ta đang ra sức phấn đấu xây dựng Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, với tính chất quá độ của nền kinh tế mới thoát thai từ một trình độ sản xuất thấp kém, điều kiện vật chất, tinh thần của nhân dân còn nhiều khó khăn, các chính sách của nhà nước, tính minh bạch về cơ chế chưa được đảm bảo, sự chênh lệch về khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, các dân tộc…vẫn đang tồn tại Chính điều đó đang bị các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng, công kích chống phá Đảng Nhà nước ta trên lĩnh vực quyền con người với những diễn biến phức tạp, khó lường

Với những lý do đó, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Quyền con người

vàthực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Môngở các tỉnh Tây Bắc Việt Namhiện nay” để nghiên cứu

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục tiêu của luận án

Nghiên cứu, làm rõ lý luận về quyền con người, lý luận thực thi quyền con người; trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng thực thi quyền con người của đồng bào Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam Đồng thời, đề ra phương hướng, giải pháp chủ yếu, nhằm thực thi tốt hơn quyền con người của họ trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

2.2 Nhiệm vụ của luận án

Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, luận án phải giải quyết ba nhiệm vụ cơ bản sau đây:

+ Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận chung về quyền con người và thực

thi quyền con người

+ Hai là, trình bày thực trạng thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc

Mông ở các tỉnh Tây Bắc từ khi Đổi mới (1986) đến nay; làm rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông

+ Ba là, đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm thực thi tốt

hơn quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng:

+ Đề tài nghiên cứu một số lý luận về quyền con người, lý luận thực thi quyền con người (các điều kiện đảm bảo, cơ chế bảo vệ) Nghiên cứu thực tiễn thực thi quyền con người củađồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay

+ Tiếp cận nghiên cứu quyền con người của đồng bào Mông dưới góc độ triết học, luận án tập trung luận giải các điều kiện ảnh hưởng đến quá trìnhthực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Môngở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam, từ đó là

cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo thực thi tốt hơn quyền con người của đồng bào dân tộc Mông tại đây

Trang 10

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án đựa trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật lịch sử, lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con người Đặc biệt, luận án dựa trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sách pháp luật của Việt Nam về quyền con người

và thực tiễn thực thi quyền con người trong đời sống hiện nay ở nước ta

4 2 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Trong quá trình nghiên cứu, thí sinh sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, trao đổi, tọa đàm, và phương pháp chuyên gia

- Đặc biệt, trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội như: triết học, luật học, chính trị, tôn giáo…, nhằm luận giải các nội dung cần quan tâm của quyền con người Từ đó phân tích mối quan

hệ giữa quyền con người và các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, truyền thống lịch

sử, luật pháp khi áp dụng vào nghiên cứu ở một đối tượng, phạm vi cụ thể

5 Đóng góp mới của luận án

- Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa những tư tưởng cơ bản nhất, đang được thừa nhận phổ biến hiện nay về quyền con ngườivà thực thi quyền con người

- Đã nghiên cứu những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề quyền con người, quyền của dân tộc thiểu số Trên cơ sở đó, luận án luận giải các quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam trong thực tiễn hiện nay

- Về mặt phương pháp nghiên cứu, luận án đã được thực hiện dựa trên cơ sở các phương pháp khác nhau Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội như: triết học, luật học, chính trị, lịch sử và xã hội học… đã được đặc biệt quan tâm, nhằm luận giải thực trạng thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay

Trang 11

- Luận án đã chỉ ra thực trạng, xác định được nguyên nhân của những hạn chế trong thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam Trong đó, nổi lên nguyên nhân hàng đầu là sự phát triển kinh tế thấp kém

về trình độ, nhỏ bé về quy mô;bên cạnh đó, nguyên nhân xã hội không kém phần quan trọng là trình độ dân trí, nguồn lực con người của đồng bào dân tộc Mông còn nhiều hạn chế

- Luận án có những đóng góp nhất định, khi đề ra được một số giải pháp có tính khả thi, nhằm thúc đẩy thực thi tốt hơn quyền con ngườicủa đồng bào dân tộc Mông tại Tây Bắc hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Về mặt lý luận, luận án trước hết là tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy

và học tập, phổ biến thực thi quyền con người, một việc đang cần triển khai rộng rãi nhưng còn nhiều hạn chế ở Việt Nam

- Về thực tiễn, luận án là tài liệu tham khảo, trang bị, nâng cao nhận thức quyền con người trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, nhằm nâng cao điều kiện về mọi mặt cho đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam, tạo cơ sở thực thi tốt hơn quyền con người của đồng bào dân tộc Mông và của các dân tộc thiểu số trong cả nước

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục tài liệu tham khảo, phụ lục và danh mục các công trình nghiên cứu khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài, luận án gồm 4 chương 11 tiết, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Một số vấn đề lý luận chung về quyền con người và thực thi quyền con người của các dân tộc thiểu số

Chương 3: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chương 4: Phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu, nhằm bảo đảm thực thi tốt hơn quyền con người của đồng bào Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Tình hình nghiên cứu về quyền con người và thực thi quyền con người

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về quyền con người

Có thể nói, ngay từ thời cổ đại, nhân loại đã có những quan niệm sơ khai

về QCN Từ đó đến nay, khái niệm QCN không ngừng được hoàn thiện, phát triển, mở rộng phạm vi, cũng như có nhiều cách tiếp cận ngày càng đa dạng

Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp của nó đến đời sống của xã hội, QCN luôn là lĩnh vực quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Với tính chất đa dạng, biểu hiện phong phú, các lĩnh vực quyền ngày càng phát triển, nhận thức và TTQCN còn nhiều tranh luận Do đó, các nghiên cứu về QCN; một mặt, đang phản ánh sôi động những tranh luận đó; đồng thời, ngày càng không ngừng hoàn thiện lý luận, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản mà nhân loại đang phấn đấu đạt đến Trong các công trình đó, khi đặt vấn đề nghiên cứu, tác giả đã khảo sát và nhận thấy về mặt lý luận, vấn đề QCN và TTQCN ở nước ta đã được các tác giả nghiên cứu, tổng kết và có thể khái quát trên một số nghiên cứu đáng chú ý sau:

Cuốn “Tư tưởng về quyền con người” (2011) do Trung tâm nghiên cứu QCN và Khoa Luật Đại học Quốc gia [27] phối hợp ấn hành, Sách “Quyền con người” (2011) do Võ Khánh Vinh chủ biên [100]; Cuốn “Tìm hiểu vấn đề nhân quyền trong thế giới hiện đại” (2009)của tác giả Chu Hồng Thanh [81], hay

“Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền dân sự và chính trị” (2011)

do Võ Khánh Vinh chủ biên [102]; Cùng với đó là cuốn “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (2011) của Võ Khánh Vinh chủ biên [103]; “Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người” (2009)của Chu Hồng Thanh[82]; “Các văn kiện quốc tế về quyền con người” (2002 )của

Trung tâm nghiên cứu quyền con người – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh [24]…

Trang 13

Những công trình nghiên cứu về QCN phản ánh đa dạng các nội dung, nhưng có thể khái quát một số nội dung cơ bản sau:

Một là, QCN là một giá trị cao quý thể hiện các đặc tính quan trọng của

nhân cách Trong sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, con người xác định phẩm giá, nhân cách, địa vị, phát triển các quan hệ tập thể, cộng đồng, quốc gia dân tộc và nhân loại

Hai là, QCN luôn gắn bó chặt chẽ với từng con người với tư cách là một

cá nhân, lại vừa với tư cách là một thành viên trong xã hội Vì vậy, nó vừa mang tính tự do cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, cộng đồng, dân tộc QCN phải

là sự cần thiết cho từng cá nhân, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, giới tính Đồng thời, QCN phải được pháp luật ghi nhận

Ba là, QCN, một mặt mang tính tự nhiên, khách quan, nhưng mặt khác,

lại luôn bị chi phối bởi điều kiện KTXH và văn hóa truyền thống, do đó vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù

Các nghiên cứu, hầu hết đều mong muốn đi tìm nguồn gốc và lịch sử phát triển QCN, nhằm đem lại cho nhân loại những nhận thức ngày càng sâu sắc hơn và cũng để thấy được những giá trị cao quý của QCN mà nhân loại cần đấu tranh để đạt được Đồng thời,qua các nghiên cứu cho thấy tính phức tạp của khái niệm QCN

Ngay từ rất sớm, trong kinh điển của các tôn giáo lớn, QCN đã được nhắc đến và ẩn chứa trong các điều răn dạy Mặc dù còn sơ khai, chưa thể hiện rõ quyền bình đẳng của con người, thậm chí có sự phân biệt đẳng cấp trong những

tư tưởng đó, nhưng đã ít nhiều quan tâm đến lòng nhân ái, ước vọng về một cuộc sống công bằng, tôn trọng sự sống, răn đe điều ác Đó là những biểu hiện về việc đề cao phẩm giá, nhân cách và quyền được đối xử bình đẳng của mỗi cá nhân, là tư tưởng quan tâm đến các nhóm yếu thế trong xã hội Điều đó thể hiện những bước tiến lớn trong quá trình con người tìm đến và khẳng định những giá trị QCN của mình trong lịch sử

Không chỉ luận giải QCN trong tôn giáo, các nghiên cứu còn tìm hiểu, làm

Trang 14

như, các tư tưởng sơ khai về QCN trong các tôn giáo mới ẩn chứa trong những răng dạy, giáo điều, giáo lý, tư tưởng vẫn còn mang yếu tố thần linh, niềm tin tôn giáo Thì các nghiên cứu đều khẳng định, tư tưởng QCN chỉ thực sự được bàn đến và xem xét cụ thể, bắt đầu trong tư tưởng của các triết gia phương Tây cổ đại

Quyền con người trong tư tưởng các triết gia phương Tây cổ đại

Tư tưởng QCN ở phương Tây đã manh nha xuất hiện từ chế độ thị tộc, thuộc thời cổ đại Ở đó, nhiều nhà tư tưởng đã quan niệm QCN như là quyền tự do bình đẳng

Hêraclit (khoảng 530 – 470 TCN) đã cho rằng, quyền là cha đẻ của chiến tranh và sự tất yếu, nó dường như là sự phản ánh tất yếu của luật thiên định muôn đời Ông nói, bất công và công bằng được hình thành bởi chính con người; bởi lẽ, đối với trời, tất cả đều hoàn mỹ và cân bằng Như vậy, có thể thấy ẩn chứa tư tưởng quyền tự nhiên trong tư tưởng của Heraclit

Zênông (khoảng 496-429 TCN) người sáng lập trường phái Khắc kỷ, đã đưa ra tư tưởng của mình nhằm giải thích nguồn gốc, cơ sở của sự bình đẳng Phái Khắc kỷ đặt ngang hàng sự hợp lý và tính thần thánh, thần thánh không phải cái gì ngoài vũ trụ, mà trái lại nó xâm nhập khắp nơi, chỗ nào có lẽ phải, chỗ đó có thần thánh Từ đó rút ra kết luận: Mọi người đều có lý trí, mọi người vì có phần lý trí, nên có phần là thần thánh và vì vậy, là người thì đều bình đẳng Rõ ràng ở đây có sự đồng điệu với quan niệm: sở dĩ anh được coi là có quyền vì và chỉ vì anh là một thực thể có nhân tính Tư tưởng này về sau đã rất phổ biến trong các triết gia phương Tây ở thế kỷ XVI, XVIII

Sau này, đế chế La Mã đã cụ thể các quyền đó trong luật pháp Việc xây dựng “Luật của các dân tộc” là con đường đem lại hiệu lực cho nguyên tắc: mọi người đều bình đẳng Đỉnh cao đạt được vào năm 202 (sau CN), khi chỉ dụ nổi tiếng của hoàng đế Caracalla ban bố QCN La Mã cho tất cả những người dân tự do (không phải nô lệ) của đế quốc này Nhưng phải đến Xpáctacút thì quyền chống áp bức của những người nô lệ mới được bắt đầu

Trang 15

Trong tác phẩm “Quyền con người” [96], tác giả Võ Khánh Vinh cũng đã

đề cập đến những tư tưởng QCN của Hy Lạp – La Mã cổ đại Lúc này, QCN mang tính giai cấp sâu sắc, chỉ có tầng lớp quý tộc trong xã hội mới có QCN, còn người

nô lệ thì không hề có chút quyền nào Aritstoteles (384-322 TCN) cho rằng, chỉ có những công dân (nam từ 18 tuổi trở lên) mới có quyền công dân, còn phụ nữ, trẻ

em, nô lệ không có QCN như những công dân khác Platon (427-447 TCN), coi nông dân và thợ thủ công là hạng người thấp nhất trong “nhà nước lý tưởng của ông” [96, tr.150], “trong xã hội phải duy trì các hạng người khác nhau và do đó, không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa mọi người được”[96, tr.192]

Đêmôcrit (460-370 TCN) là nhà triết học đầu tiên đặt ra vấn đề đấu tranh cho dân chủ, nhưng đó chỉ là bảo vệ nền dân chủ chủ nô, còn nô lệ phải tuân thủ theo người chủ (nghĩa là không có QCN) Trong thời kỳ này “cá nhân phải tuyệt đối phục tùng nhà nước, điều đó cũng đồng nghĩa với việc chưa thể có cái gọi là quyền công dân, quyền cá nhân”[96, tr.176]

Tư tưởng quyền con người trong thời cận đại

Đến thời cận đại, tư tưởng về QCN đã được phát triển lên một bước mới

“Học thuyết về pháp luật tự nhiên được Thomas Peine (1737-1809) và Thomas jeffeson (1743-1826) phát triển, không chỉ hướng tư tưởng của mình vào thành lập chế độ nhà nước dân chủ mà còn bảo vệ các quyền tự nhiên không thể tước đoạt của con người….Theo lẽ tự nhiên, tất cả mọi người sinh ra đều tự do và độc lập như nhau và đều có những quyền nhất định mà ở trong trạng thái xã hội và bằng một thỏa thuận nào đó cũng không thể bị tước đoạt, đó là quyền được sống, quyền sở hữu, quyền được mưu cầu hạnh phúc và an ninh”[27, tr.22]

Những tư tưởng đó đã được phát triển trong Tuyên ngôn độc lập của nước

Mỹ năm 1776: “Chúng tôi tin rằng những chân lý này là hiển nhiên, rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng và Đấng tạo hóa dành cho họ một số quyền không thể bị tước đoạt, trong các quyền đó có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [25, tr.7]

Trang 16

Các tư tưởng về các quyền tự nhiên không thể tước đoạt của con người đã được J.J Rousseau (1712-1778), J.Loke (1632-1704), S.L.Montesquieu (1689-1755) phát triển trong các học tuyết của mình Nhằm chống lại sự áp bức của giáo hội phong kiến, chế độ chuyên chế đặc quyền của quân chủ, lần đầu tiên, một số nhà tư tưởng của giai cấp tư sản phương Tây còn non trẻ thời kỳ này như: Hốpsơ (1588-1679), Loke, Spinôda (1632-1677)…đã đưa ra học thuyết nhân quyền tự nhiên trên

cơ sở học thuyết về quyền lợi tất nhiên; cho rằng, con người là đặc quyền tự nhiên, khẳng định pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà nước Học thuyết này lấy việc bảo vệ con người và các đặc quyền tự nhiên của con người, chống lại thần quyền và vương quyền Chẳng hạn Hốpxơ khẳng định: “Sinh mạng chỉ được bảo toàn tốt nhất trong xã hội nơi mà sự an bình lâu dài được xác lập trên nền tảng của một khế ước cộng đồng”[83, tr.114] J.J.Rousseau cũng cho rằng, “Không ai có quyền thống trị đồng loại của mình”[83, tr.118]

Cách mạng tư sản Pháp (1789) đưa tới sự ra đời của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, đây là một thành quả to lớn của cách mạng tư sản Pháp Tự do, bình đẳng, bác ái chính là những mục tiêu QCN của cách mạng tư sản Pháp được ghi trong Tuyên ngôn: “Mọi người sinh ra, sống tự do và bình đẳng về các quyền ….”[ 24, tr.14], và trên cơ sở ấy nêu rõ các quyền dân chủ tự do, bình đẳng của cá nhân với tư cách là con người và với tư cách là công dân

Trong tác phẩm “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (2003) của tác giả Trần Ngọc Đường [18] khi

nói về các tư tưởng QCN ở phương Tây cũng đã chỉ rõ các xu hướng xem xét QCN như sau:

Một là, trường phái pháp luật tự nhiên như Spinôda, Lốc cơ, Can tơ (1724

– 1804) cho rằng, “QCN là đặc tính tự nhiên Đặc quyền tự nhiên này do có pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật thực định Lốc cơ nêu ra và lập luận các quyền cơ bản, tự nhiên của con người bao gồm: quyền sống, quyền tự do và quyền

có tài sản Tư tưởng này ra đời để chống lại hai thứ quyền lực là vương quyền và thần quyền

Trang 17

Hai là, xem con người cũng như QCN trong tổng hòa các mối quan hệ xã

hội QCN là một giá trị nhân loại, khái niệm QCN mang tính lịch sử, không trừu tượng, không phải mang tính bẩm sinh vốn có Do đó, QCN không thể ra đời trước khi có nhà nước, nó không được đặt ra trong xã hội thị tộc khi chưa có sự

vi phạm QCN

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con người

Lý luận về QCN đã có một lịch sử phát triển lâu dài; tuy nhiên, chỉ đến khi chủ nghĩa Mác xuất hiện mới hoàn chỉnh về nội dung và ý nghĩa, QCN lúc này thực

sự mang nhiều nội dung mới, mang đầy đủ ý nghĩa và khoa học Những nội dung mới, những đóng góp hoàn chỉnh cho lý luận QCN đã được đúc rút chính trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, hiện thực hóa QCN trong thực tiễn

Trong cuộc đấu tranh đó, Mác (1818-1883) và Ăngghen (1820-1895) đã đưa ra nhiều tư tưởng và luận điểm đặc sắc về con người, về QCN, quyền công dân Trong đó đặc biệt phải kể đến các luận điểm về mối quan hệ giữa con người với môi trường khách quan và khả năng của con người có thể cải tạo môi trường xung quanh; về sự phân cách giữa con người công dân nói chung (tức con người lý tưởng của giai cấp tư sản) với con người cá thể (tức con người cụ thể trong xã hội tư sản),

về bản chất của con người, về bản năng phản kháng của những con người nghèo khổ trong xã hội Tư bản Chủ nghĩa về vai trò của cách mạng và sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân hiện đại

Điều đầu tiên Mác quan tâm là, làm thế nào để giải phóng con người khỏi những “tình cảnh không thể chấp nhận được” Điểm xuất phát của Mác là con người, từ lòng nhân ái thương người, vì con người (con người cụ thể con người thực tiễn) Mục đích của Chủ nghĩa Cộng sản là đạt đến mục đích cá nhân tự do, làm cho mọi người tự do, chừng nào còn một người không tự do, thì xã hội đó không tự do,

tự do đến từng người Mác đã tìm ra chìa khoá để thực hiện việc giải phóng con người, làm cho con người thoát khỏi những ảo tưởng đã cản trở con người đi đến sự

Trang 18

giải phóng đích thực của mình Muốn giải quyết vấn đề con người, phải giải quyết vấn đề giai cấp, phải giành được quyền lực chính trị

Lênin (1870-1924) đã kế thừa, vận dụng, phát triển tư tưởng nhân sinh quan Mácxít Từ sau cách mạng Tháng Mười năm 1917, đối với Lênin, muốn có tự do bình đẳng, tính người (QCN) phải qua chính trị, qua quyền lực chính trị để giải quyết Nội dung cơ bản của chính trị là phản ánh những yêu cầu kinh tế Từ đó Lênin đã không quan niệm QCN một cách phi lịch sử, trái lại, chỉ ra những yêu cầu về QCN không thoát ly những điều kiện lịch sử cụ thể: Kinh tế - chính trị - xã hội

Quyền con người trong thế kỷ XX

Theo Magatma Gandhi (1869-1948), “Bạo lực là con đường tắt dẫn đến thành công dù tôi có thể đồng cảm và ngưỡng mộ những động cơ xứng đáng, tôi vẫn là người kiên quyết phản đối bạo lực, ngay cả khi nó phục vụ những sự nghiệp cao thượng” [27, tr.229]

“Mọi thành viên trong xã hội đều bình đẳng – không cao không thấp Trong một cơ thể, cái đầu không phải vì nằm trên đỉnh mà cao, cũng cái chân, không phải nằm tiếp đất mà thấp Vì thế, không thể tạo ra sự bình đẳng giữa hoàng tử và nông dân bằng cách chặt đầu hoàng tử, cũng như bản thân quá trình chặt đầu người chủ không thể làm chủ - thợ bình đẳng” [27, tr.300] Ở đây, rõ ràng Gandhi đã nhận ra nguồn gốc của sự bất bình đẳng nằm ở chế độ chính trị, chế độ sở hữu, tạo nên sự phân chia giai cấp và bất bình đẳng Tuy nhiên, quan điểm của ông là đấu tranh phi bạo lực để đạt đến sự bình đẳng

Tôn Trung Sơn (1866-1924) nhà cách mạng dân chủ Trung Quốc: Luận giải về chế độ nhà nước, giai cấp, Tôn Trung Sơn đã khẳng định sự tất yếu tồn tại của thế giới dân quyền Tuy nhiên, lịch sử loài người trải qua những giai đoạn khác nhau từ thời hồng hoang, người và thú tranh giành quyền sống, đến thời đại thần quyền, con người phải đấu tranh với thiên nhiên để duy trì sự sống và đến thời đại quân quyền, khi giới quân sự có thế lực và các nhà chính trị đã giành quyền lực của giáo hoàng Đến lúc này cuộc đấu tranh giữa người và trời chuyển sang cuộc đấu tranh giữa người và người Khi thần quyền suy yếu, quân quyền phát triển

Trang 19

cực thịnh, hoàng đế Louis XIV(1638-1715) của Pháp đã nói “Hoàng đế và quốc gia không có gì phân biệt, ta là hoàng đế, do đó ta chính là quốc gia” Rồi đến thời đại dân quyền đã tới Ông lý giải bản thân Khổng Tử (551-479 TCN) cũng

có xu hướng dân quyền khi “Khổng Tử nói “ Khi cái đạo lớn được thực hiện thì thiên hạ là của chung” tức là ông chủ trương một thế giới đại đồng theo chế độ dân quyền” [27, tr.307]

Ông cũng phê phán Rousseau, người chủ trương dân quyền cực đoan với

tác phẩm “Khế ước xã hội” cho rằng, dân quyền là do trời sinh ra, từ khi sinh ra con

người đã có quyền tự do và bình đẳng, đó là quyền trời phú cho con người nhưng sau đó người ta đã để mất nó

Theo Tôn Trung Sơn, dân quyền và tự do gắn liền với nhau, tự do, bình đẳng, bác ái là căn cứ vào dân quyền; dân quyền đã phát triển lên từ tự do, bình đẳng, bác ái “Tự do tức là một đoàn thể mà vẫn có thể hoạt động, đi lại như ý, như thế là tự do” do đó nói dân quyền thì không thể không nói đến tự do Tuy nhiên, tự

do theo cách hiểu của Tôn Trung Sơn mà các nước Âu – Mỹ đang thực hiện lại có giới hạn rất nghiêm ngặt, muốn có tương lai cá thể thì phải xóa bỏ tự do cá nhân để kết thành đoàn thể vững chắc, tự do thái quá là phát sinh nhiều khuyết tật của tự do”[27, tr.314]

Về bình đẳng ông nói: “mọi việc sinh ra trong trời đất đều không giống nhau; đã không giống nhau đương nhiên không thể nói đến bình đẳng? Giới tự nhiên không bình đẳng thì sao loài người lại có bình đẳng Trời sinh ra loài người từ đầu đã không bình đẳng, sau khi chuyên chế của loài người phát triển, nhất là chuyên chế đế vương rất hà khắc đã làm cho tình hình không bình đẳng do trời sinh

ra, càng không bình đẳng Không bình đẳng mà đế vương tạo ra là loại không bình đẳng do con người tạo ra” [27, tr.318]

Các quan niệm khác nhau về quyền con người trong thế giới hiện đại

Bước sang thế kỷ XX sự phát triển của QCN sang giai đoạn mới Lúc này xuất hiện nhiều tư tưởng mới về QCN, có những quan điểm có tính đối lập ra

Trang 20

trong thế giới hiện đại” [9] đã khẳng định, QCN, một mặt càng có nhiều quốc gia

đóng góp tiếng nói chung trong các công ước nhân quyền quốc tế; mặt khác, có hiện tượng ra tăng sự khác biệt, đối lập các khái niệm nhân quyền Có thể chỉ ra xu hướng phát triển về QCN trên một số khía cạnh sau:

Một là; Căn cứ vào nhu cầu bản năng của con người để đưa ra khái niệm và

giải thích tiêu chuẩn QCN như một giá trị cơ bản, tự nhiên Vì QCN là sản vật tự nhiên, là thiên phú, bẩm sinh Quan niệm này có giá trị phủ nhận quyền lực của vương quyền, thần quyền, độc tài, chuyên chế, tạo cơ sở vững chắc xây dựng nguyên tắc bảo vệ QCN

Hai là, trong khái niệm QCN đang có xu hướng đề cao cá nhân, tuyệt đối

hóa vai trò của cá nhân, họ cho rằng “quyền cá nhân là gốc giá trị của mọi giá trị” Thuyết này đề cao tính vị kỷ, nhấn mạnh QCN tự bao bọc mình thoát khỏi những ràng buộc xã hội

Ba là, nhấn mạnh nội dung đạo đức trong khái niệm QCN “Quyền con

người là quyền đạo đức thuộc về mỗi người đàn ông và mỗi người đàn bà Sở dĩ người đàn ông và người đàn bà có cái quyền đó, vì họ là người có đạo đức” (Macfarlane The thecry and Practice of Human Right, Manrice temple Sunth Ltd

1985, P3) [81, tr.33]

Bốn là, QCN được phân chia theo phái thần học và phi thần học Trong đó,

“QCN theo phái thần học là nội dung phấn đấu của tôn giáo và nhiều nhà thần học đương đại Họ quan niệm nhân quyền là thiêng liêng, là phần hồn thần bí do những lực lượng siêu nhiên hoạch định” [81, tr.35]

Năm là, quan niệm, cần phải hiểu QCN theo nghĩa hẹp là “nhân quyền chủ

trương”, “nói cách khác đó là quyền hiểu theo nghĩa cơ cấu A do Y mà có quyền X đối với B, ở đây có bốn nhân tố được bàn đến: A là chủ thể của quyền, Y là tính chất của quyền, X là khách thể của quyền (nghĩa là quyền về cái gì) B là đối tượng của quyền là người có nghĩa vụ”[81, tr.35]

Trang 21

Sáu là, khái niệm QCN dựa vào trình độ phát triển của lịch sử, xây dựng

“Quyền con người thế hệ thứ tư”, tiếp sau các QCN thế hệ thứ nhất xuất hiện trong cách mạng tư sản ở Mỹ, Pháp; QCN thế hệ thứ hai chịu ảnh hưởng của khái niệm

“nhà nước phúc lợi chung”; QCN thế hệ thứ ba có quan hệ trực tiếp đến vấn đề sinh tồn, hủy diệt, duy trì hòa bình

Bảy là, khái niệm QCN được xây dựng trên thuyết “Nhân quyền quan

niệm” của Lang Nghị Hoài (Trung Quốc) Trong đó khẳng định, “Nhân quyền là sự phản ánh trong đầu óc con người trở thành quan niệm, do đó lịch sử nhân quyền và lịch sử đấu tranh cho nhân quyền chẳng qua là lịch sử của quan niệm Mọi tranh luận về nhân quyền và mọi quy định về nhân quyền đều là tự biện thuần túy ý niệm, không phải là thực tế khách quan” [81, tr.39]

Cũng theo tác giả Chu Hồng Thanh và Hoàng Văn Hảo trong cuốn “Một số vấn đề về quyền kinh tế- xã hội”[83] đã phân tích các nội dung về QCN, trong đó

khẳng định, “khái niệm QCN có thể thiết định bởi hai yếu tố cơ bản sau:

Thứ nhất, QCN được hiểu là những đặc quyền vốn có, tự nhiên của con

người và chỉ con người mới có Đó là những khả năng hành động một cách có ý thức, từ chối hoặc yêu cầu giành lấy những cái gì đó, nhất là khả năng tự bảo vệ

Thứ hai, bản thân quyền vốn có, tự nhiên chưa phải đã là quyền Để đạt đến

cái gọi là quyền, cần có thiết định, đó là các quy chế pháp lý Lúc này, các đặc quyền tự nhiên của cá nhân trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật, được pháp luật chấp nhận, tổ chức, bắt buộc hoặc ngăn cấm mới trở thành các QCN, do đó có thể nói, không có pháp luật thì không có quyền

Như vậy, qua phân tích những xu hướng xem xét QCN trên các khía cạnh khác nhau, chúng ta có thể khẳng định: Do vấn đề QCN có tính đa dạng, nên khi xem xét cần đảm bảo tính lịch sử xã hội, tuyền thống văn hóa, điều kiện phát triển, xem xét trên cơ sở đảm bảo tính phổ biến và tính đặc thù của QCN

Trang 22

Do đó, “Cần phải tiếp cận nội dung quyền con người và phân loại quyền con người bằng phương pháp lịch sử cụ thể” [24, tr.13]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu một số quyền con người được đề cập phổ biến hiện nay

Một số quyền phổ biến hiện nay đó là, các QDSCT, QKTXHVH, quyền phát triển….Có nhiều công trình nghiên cứu về các nhóm quyền này; trong đó đáng chú ý, có thể kể đến một số công trình của các tác giả sau: Theo Chu Hồng Thanh

và Hoàng Văn Hảo trong cuốn “Một số vấn đề về quyền kinh tế- xã hội” (1996)[83]

đã khẳng định, trong lịch sử có nhiều cách phân loại quyền khác nhau, trong đo có hai cách đáng chú ý:

Xem xét từ góc độ triết học,QCN được quy vào hai dạng chủ yếu:

Một là, quyền được bảo đảm các điều kiện xã hội để con người tồn tại xứng

đáng với con người, bao gồm các quyền làm việc, quyền cư trú, đi lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo đảm về chỗ ở, quyền an ninh, chính trị, quyền tự do kết hôn, quyền sở hữu, thừa kế tài sản, quyền nghỉ ngơi, chữa bệnh

Hai là, quyền tự do lựa chọn các hoạt động sáng tạo, quyền được sáng tạo

để biểu hiện mình như là một nhân cách, gồm quyền được học tập, nâng cao học vấn, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, pháp minh, sáng chế, quyền tự do ngôn luận, quyền phê bình, chất vấn, quyền bảo lưu chính kiến trên cơ sở trách nhiệm về hành vi cá nhân, quyền đấu tranh bảo vệ chân lý, quyền tự do bầu cử, ứng cử, quyền

tự do lập hội, quyền tự do tín ngững tôn giáo

Xem xét từ góc độ khoa học pháp lý, QCN bao gồm:

Một là, các quyền tự do dân chủ về chính trị như quyền tham gia quản lý

nhà nước, quyền bầu cử, ứng cử, bình đẳng nam – nữ, quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền được thông tin, quyền được hội họp, lập hội, biểu tình, tự do tín ngưỡng

Hai là, các quyền dân sự như quyền tự do đi lại, cư trú, quyền bất khả xâm

phạm về thân thể, quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm

Trang 23

Ba là, các quyền kinh tế - xã hội như quyền lao động, tự do kinh doanh,

quyền sở hữu, thừa kế, quyền học tập, nghiên cứu,quyền hôn nhân gia đình

Ngoài ra, từ yêu cầu pháp chế, người ta phân biệt thành quyền phổ biến tuyệt đối và quyền phổ biến tương đối, tức quyền phải thực hiện ngay không điều kiện, không hạn chế và quyền bảo đảm thực hiện tùy theo mức độ, điều kiện của mỗi quốc gia

Nhìn chung, khi nghiên cứu về QCN, hầu hết các tác giả đều luận giải những nhóm quyền cơ bản của con người, đó là QDSCT; quyền kinh tế, văn hóa,

xã hội…., nó là cơ sở để xem xét mức độ TTQCN ở mỗi quốc gia Ngày nay, các khái niệm quyền cơ bản của con người và của công dân đã được mở rộng hơn trước, cụ thể:

Ngoài ra, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện đại, các quyền mới nảy sinh cũng thường xuyên được nhắc tới như: Quyền được phát triển, quyền được sống trong hòa bình, quyền được sống trong môi trường trong lành hay quyền đối với các guồn tài nguyên thiên nhiên Đi vào cụ thể từng nhóm quyền chúng ta thấy:

Đối với nhóm quyền dân sự chính trị

Tác giả Chu Hồng Thanh và Hoàng Văn Hảo trong tác phẩm “Một số vấn

đề về quyền dân sự và chính trị” (1997) [84] có viết: “Nội dung quyền dân sự và

chính trị có thể hiểu dưới quan điểm hiện đại là nhóm quyền liên quan mật thiết đến

tự do cá nhân Đại thể người ta chia chúng làm hai nhóm loại quyền, quyền dân sự

và quyền chính trị[84, tr.27]

Nhóm quyền dân sự, là những quyền tự do đi lại và cư trú, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, quyền tự do đi ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về, quyền được khiếu nại, tố cáo, quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm [84, tr.27]

Nhóm quyền chính trị, bao gồm nội dung các quyền bảo đảm quá trình tham gia và quản lý, vận hành của hệ thống chính trị một quốc gia Đó là quyền tự

do bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, quyền tự do hội họp, lập hội ” [84, tr.27]

Trang 24

Công trình nghiên cứu "Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền dân sự chính trị" [102] Đây là công trình đánh giá về thực tiễn TTQCN trên lĩnh

vực dân sự, chính trị, một số vấn đề đặt ra về lý luận và thực tiễn

Từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu có tính chất tổng kết lý luận và thực tiễn về nhóm quyền này; do đó, công trình này phần nào làm thỏa mãn nhu cầu của những người đang nghiên cứu trên lĩnh vực QDSCT Tuy là công trình của nhiều tác giả, nhưng các bài viết được trình bày một cách khoa học, logic, tạo ra một kết cấu liền mạch, đề cập đến những vẫn đề cơ bản, bức thiết, những vấn đề đang nổi lên trong giai đoạn hiện nay của nhóm quyền này Các bài viết không chỉ giải quyết các vấn đề lý luận, mà tập trung nhiều đến thực tiễn TTQCN hiện nay Trong đó, lý luận về

nhóm QDSCT được thể hiện qua bài "Nhận thức chung về quyền dân sự: Khái niệm và nội dung" của tác giả Hà Thị Mai Hiên.Theo tác giả, các QDSCT được xếp vào thế hệ

nhân quyền thứ nhất Các quyền này về bản chất là các quyền thụ động, thể hiện tính độc lập, không phụ thuộc của chủ thể quyền và giới hạn sự can thiệp của nhà nước vào công việc thực thi, thụ hưởng các quyền của chủ thể Các quyền này mang tính tuyệt đối và được thực hiện không điều kiện Nội dung của các QDSCT được đề cập ở rất nhiều văn kiện quốc tế, các công ước của LHQ Tuy nhiên theo tác giả, có thể khái quát thành các quyền như sau: Quyền tự do, tự quyết định; Quyền bình đẳng và không bị phân biệt đối xử; Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân; Quyền tự do đi lại và cư trú; Quyền sở hữu tài sản của công dân; Quyền được bảo vệ đời tư; Quyền về xét xử công bằng; Các quyền và tự do trong hôn nhân và gia đình

Tác giả Phạm Hữu Nghị, trong bài "Quyền chính trị và thực hiện các quyền chính trị ở Việt Nam" đã trình bày nội dung của các quyền chính trị bao gồm:

Quyền tự do ý kiến và biểu đạt; Quyền tự do lập hội; Quyền tự do hội họp một cách hòa bình; Quyền được tham gia vào đời sống chính trị

Trang 25

Đây là hai bài viết, hai tác giả nhưng bổ sung đầy đủ cho những nhận thức

về QDSCT trên phương diện lý luận và phần nào đã đề cập đến thực tiễn thực thì quyền dân sự và chính trị ở Việt Nam

Như vậy, nội dung, phạm vi các quyền cơ bản đã được nhiều tác giả nghiên cứu và đến nay người ta không còn tranh luận về vấn đề đó Vấn đề hiện nay là tính

đa dạng của các quyền đó được thể hiện trong thực tiễn như thế nào, khi nào thi đề cao nhóm quyền nào hơn, hoặc mối liên hệ giữa chúng

Bài viết “Bảo vệ, thúc đẩy QDSCT vì mục tiêu phát triển con người” của

tác giả Nguyễn Hồng Anh đề cập đến hai vấn đề: Thứ nhất, tranh luận xung quanh vấn đề ưu tiên, đề cao QDSCT hay quyền kinh tế - xã hội; thứ hai, đề cập đến quyền

tự do như là giá trị nền tảng của QDSCT và phát triển cong người Qua đó, đã nói đến cuộc đấu tranh giữa hai xu hướng, hai nền văn hóa; phương Tây, với sự thấm nhuần tư tưởng tự do chính trị, dân sự và phương Đông, nơi vốn coi trọng tính tập thể, tính cấu kết cộng đồng Tuy nhiên, với mục đích của bài viết, tác giả cũng chỉ dừng lại ở đó mà chưa đi sâu vào nghiên cứu cơ sở hình thành nên sự khác biệt, sự so sánh có tính chất đối chiếu để rút ra tính phổ biến và đặc thù của QCN Hơn nữa, đến nay cuộc tranh luận này cũng không còn nhiều ý nghĩa khi LHQ thừa nhận tính không thể tác rời, tính không thể phân chia giữa các quyền

Đối với nhóm QKTXHVH

Quyền KTXH là gì? Trong cuốn “Một số vấn đề về quyền kinh tế - xã hội”

[83] đã luận giải cơ sở triết học của quyền kinh tế - xã hội gồm những vấn đề sau:

Trong các quyền cơ bản của con người, quyền sống là quan trọng nhất và là phương thức tồn tại của con người - hiện thực hoạt động thực tiễn qua lao động sản xuất,tạo ra đời sống vật chất Quyền kinh tế - xã hội, với tư cách là phương thức thực hiện quyền sống – là sự phản ánh của tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội quy định lên

Trang 26

Quyền kinh tế, là quyền có việc làm, quyền tự do kinh doanh, quyền trợ cấp khi thất nghiệp Quyền xã hội, là quyền được đảm bảo các phúc lợi xã hội, quyền được giáo dục, chăm sóc và chữa bệnh, quyền được giáo dục Trong đó chúng có mối quan hệ thống nhất với nhau Quyền xã hội chỉ được thực hiện khi quyền kinh

tế được bảo đảm, ngược lại quyền xã hội khi được bảo đảm, sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực thi các quyền kinh tế

Quyền kinh tế được biểu hiện thông qua các quan hệ kinh tế, đặc biệt là quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Tuy nhiên, xét đến cùng thì quan hệ KTXH

là sự phản ánh của tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội quy định nên Vì vậy, khía cạnh hiện thực của quyền KTXH chỉ được thiết lập khi những cơ sở cho sự tồn tại của nó được thiết lập, mà cơ sở đó dựa trên trình độ kinh tế cụ thể Do đó, quyền kinh tế không thể vượt quá cơ sở kinh tế mà trên đó đã nảy sinh ra nó

Trong cuốn "Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền kinh tế văn hóa – xã hội" [103], có nhiều bài viết sâu sắc về mối quan hệ giữa QCN và phát

triển kinh tế, văn hóa, xã hội Trong đó có thể kể đến một số bài viết đáng chú như

bài “Khái niệm quyền kinh tế” và bài “Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về QCN trên lĩnh vực kinh tế”của tác giả Nguyễn Minh Đức Thông qua bài viết của

mình, tác giả đã giúp người đọc phân biệt giữa quyền kinh tế và QCN trên lĩnh vực kinh tế, từ đó trình bày một cách hệ thống sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng ta về QCN trong lĩnh vực kinh tế Đây được coi là một cơ sở lý luận khi xác định các cơ chế bảo vệ QCN ở Việt Nam

Qua các bài viết của mình tác giả đã trình bày quan điểm của Đảng ta về QCN trên lĩnh vực kinh tế, ngay từ khi Đảng mới ra đời, khi mà chúng ta chưa tham gia ký kết Công ước quốc tế về các quyền kinh tế văn hóa, xã hội, trong điều lệ của Đảng năm 1935 đã chỉ rõ: Đảng cộng sản Đông Dương tranh đấu để mưu cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, dân cày có ruộng đất, các DTTS được giải phóng Chánh cương vắn tắt, văn kiện đầu tiên của Đảng đã ghi nhận nguyên tắc nam nữ bình

Trang 27

quyền, thu ruộng đất của Đế quốc Chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo

và thi hành luật ngày làm tám giờ

Theo tác giả Nguyễn Minh Đức, quyền kinh tế được diễn tả như một phần của thế thệ thứ hai của QCN, với ý nghĩa là các quyền yêu cầu và quyền tham gia.Những quyền này liên quan đến cuộc sống và việc làm cũng như nhu cầu tối thiểu của cộng đồng người.Nó hình thành trên cơ sở ý tưởng bình đẳng và sự tiếp cận được các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu và cơ hội KTXH

Quyền được phát triển và quyền đảm bảo an sinh xã hội

Ngoài nhóm QDSCT và quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, trong điều kiện hiện nay, nhóm quyền gắn liền với các DTTS cũng rất đa dạng, đòi hỏi giải quyết, nhằm đáp ứng tốt hơn các khía cạnh của QCN

Các nhóm quyền này bao gồm: Quyền được phát triển, quyền được tiếp cận các nguồn lực của phát triển, quyền được bảo đảm an sinh xã hội, quyền sống trong hòa bình, quyền được sống trong môi trường trong lành, hay quyền đối với các guồn tài nguyên thiên nhiên Về nội dung này, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:

Cuốn “Phát triển và quyền tự do” (2012) của Amartya Sen[80] Qua công

trình của mình tác giả trình bày quan điểm mới, sáng tạo và tiến bộ về phát triển, làm nổi bật khía cạnh QCN, văn hóa và đạo đức của sự phát triển Đây thực sự là cuốn sách có giá trị về mặt học thuật và ý nghĩa thực tiễn to lớn Tác giả đã đem lại cho người đọc một cách nhìn nhận mới và đầy thuyết phục để đạt được sự hiểu biết nhất định về phát triển là quyền tự do như thế nào Ở cuốn sách này, người ta có thể tìm thấy sự luận giải tương đối đầy đủ về mọi mặt trong mối quan hệ giữa phát triển

và quyền tự do, trả lời được các câu hỏi từ mục đích, phương tiện của phát triển; nền tảng của công bằng, nguyên nhân của sự bị tước đoạt mất năng lực; giải pháp

để đạt được quyền tự do phát triển… Cuốn sách cũng đề cập đến mọi lĩnh vực liên quan đến phát triển là quyền tự do như: Nghèo đói; dân số; văn hóa; nhà nước và các cơ hội… Đây là cách tiếp cận mới mà thực tiễn bảo vệ QCN cần nghiên cứu

Trang 28

khăn trong quá trình phát triển Chỉ có như thế, phát triển là quyền tự do mới là giá trị chung mà mọi con người đều có quyền được hưởng, như một giá trị cơ bản của QCN

Như vậy, rõ ràng quyền được phát triển, đang trở thành đòi hỏi bức xúc, nó

là biểu hiện tính tập thể của quyền được lao động, phản ánh nhu cầu về quyền có cuộc sống được đáp ứng tốt hơn về điều kiện kinh tế, văn hóa

Công trình “QCN ở Trung Quốc và Việt Nam - Truyền thống lý luận và thực tiễn” (2003) [26], có nhiều bài viết có giá trị Có thể kể ra các bài viết: “Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam - Nhìn từ góc độ nhân quyền” của tác giả Nguyễn Duy Sơn; “Xóa đói giảm nghèo - Một biện pháp bảo đảm quyền con người ở Việt Nam” của Chu Thị Thúy Hằng; “Tính đa dạng về văn hóa và tính phổ biến của quyền con người” do tác giả Quan Công; “Đặc điểm quyền con người trong xã hội truyền thống Việt Nam” của tác giả Vũ Hùng; “Nhân quyền và những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hải,… Các tác giả đã trình

bày về phát triển và QCN như: Nhận diện nguyên nhân đói nghèo, các chính sách

và hành động cụ thể, những trở ngại, định hướng khắc phục để đảm bảo những năng lực cơ bản mà một người có thể có được; luận giải về vai trò của văn hóa đối với việc hình thành nên những giá trị của QCN Các tác giả cũng chỉ rõ: đối với nước ta hiện nay, muốn thúc đẩy QCN, cần tạo ra các cơ hội thuận lợi và chính sách phát triển kinh tế để người dân thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói, từ đó mới có điều kiện phát huy các QCN của mình… Những vấn đề nêu lên trong công trình này là sự gợi

mở cho tác giả khi thực hiện đề tài nghiên cứu của luận án

1.1.3 Tình hình nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền con người

Khi nghiên cứu vấn đề QCN, một nội dung quan trọng là nghiên cứu điều kiện đảm bảo thực hiện và bảo vệ QCN, đây cũng chính là một nội dung của TTQCN Trên

cơ sở lý luận về QCN ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, đã đặt ra những nhiệm vụ cho lĩnh vực TTQCN, cần có các giải pháp nhằm đảm bảo QCN được thực hiện rộng rãi trong thực tiễn Trên thực tế, có khoảng cách giữa sự hiểu biết cũng như các cam kết quốc tế về QCN và quá trình vận hành, thực thi các cam kết đó

Trang 29

Về vấn đề này cuốn “Cơ chế bảo vệ và bảo đảm quyền con người” (2011)

[101] đã trình bày nhiều nội dung có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Trong cuốn sách này có bài “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người: Những nhận thức chung”, của tác giả Phạm Hữu nghị, bài “Các nhân tố tác động đến việc hình thành và hoạt động của các cơ chế bảo đảm quyền con người”, của tác giả Chu Văn Tuấn, bài “Một số suy nghĩ về cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay”, của tác giả Nguyễn Thị Báo

Trong các bài viết này đã tập trung phân biệt, làm rõ hai nội dung thể chế

và thiết chế khi nêu khái niệm cơ chế bảo vệ QCN Thể chế là quy định pháp luật, các quy tắc được ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhất định Còn thiết chế

là các cơ quan, tổ chức được lập ra để thực thi những chức năng, nhiệm vụ nhất định

Do đó, có thể hiểu cơ chế bảo vệ, bảo đảm QCN là những thể chế, thiết chế toàn nhân loại, xã hội, hay do Nhà nước tạo ra để bảo đảm, bảo vệ QCN ở cấp độ toàn cầu khu vực hay quốc gia; đó còn là cơ chế xã hội bảo đảm, bảo vệ QCN Xu hướng chung hiện nay, ngoài các thể chế, thiết chế của nhà nước, các thể chế, thiết chế xã hội ngày càng có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm, bảo vệ QCN Vai trò của nó được thể hiện ở chỗ phản ánh ý nguyện của nhân dân, giám sát các cơ quan nhà nước, góp phần nâng cao nhận thức về QCN của người dân và tạo ra sức ép, tạo dư luận xã hội, buộc nhà nước phải quan tâm đến vấn đề QCN

Thể chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người

Một là, trên phạm vi quốc tế, đó là các văn bản pháp lý quốc tế về bảo vệ

QCN như: Hiến chương LHQ, Tuyên ngôn toàn thế giới về QCN (10/12/1948), Công ước năm 1966 về các QDSCT và Công ước về các QKTXHVH, ngoài ra còn hàng loạt các văn bản, Công ước pháp lý khác của LHQ, nhằm bảo đảm và bảo vệ QCN

Hai là, trong phạm vi quốc gia, trước hết QCN phải được long trọng công

bố trong Hiến pháp, Hiến pháp phải tạo ra được cơ chế kiểm soát việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo những nguyên tắc tiến bộ đã được thừa nhận

Trang 30

Sau Hiến pháp, các luật trong từng lĩnh vực cần thể hiện rõ yêu cầu cần bảo đảm, bảo vệ QCN trong lĩnh vực của đời sống xã hội Ở Việt Nam, các đạo luật liên quan đến các QCN đã được quan tâm xây dựng nhưng quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế vẫn cần được tiếp tục Tác giả cũng chỉ ra, hiện nay chúng ta còn thiếu Luật tiếp cận thông tin, Luật trưng cầu dân ý, Luật về Hội đang trở thành nhu cầu bức thiết Tác giả cũng đã khẳng định bên cạnh việc ban hành các văn bản pháp luật, cần phải có chương trình quốc gia về bảo đảm, bảo vệ QCN, thông qua chương trình này, xác định những công việc cần làm, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức

và nguồn lực để đảm bảo

Thiết chế để bảo đảm, bảo vệ quyền con người

Một là, trên phạm vi thế giới,các thiết chế đó là Hội đồng Bảo an, Hội đồng

Nhân quyền, Ủy ban nhân quyền, Ủy ban về quyền phụ nữ, Tòa án Nhân quyền Ngoài ra còn thành lập các Ủy ban chuyên trách, các Tiểu ban

Hai là, trong phạm vi quốc gia, bao gồm Đảng, Quốc hội, cơ quan hành

pháp, cơ quan tư pháp, các tổ chức chính trị, xã hội Trước hết nhà nước giao cho các cơ quan nhà nước hiện hành bảo đảm, bảo vệ QCN trên lĩnh vực khác nhau như cơ quan bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan quản lý nguồn tài nguyên, các quỹ hỗ trợ

Có thể nói, các công trình nghiên cứu về cơ chế bảo đảm và bảo vệ QCN đều đã thống nhất về cách phân loại cơ chế theo phạm vi quốc tế, khu vực, quốc gia, Các công trình đều khẳng định, đề cao vai trò của các thể chế pháp lý, các văn bản pháp luật trong bảo vệ QCN Tuy nhiên, về khía cạnh thiết chế bảo vệ QCN, đặc biệt là trong phạm vi quốc gia, các nghiên cứu đều không nêu được các giải pháp tăng cường vai trò của các thiết chế trong việc bảo vệ QCN, hay cách thức hoạt động để đạt hiệu quả cao nhất của các thiết chế này trong bảo đảm QCN Các nghiên cứu đều không nêu khái niệm TTQCN, nếu đăt vấn đề này, đều đồng nhất thực thi và bảo đảm điều kiện bảo vệ, là nội dung của cơ chế bảo vệ QCN

Trang 31

Như vậy, nghiên cứu cơ chế bảo vệ QCN đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu; tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện trong thực tế có hiệu quả, vấn đề cần làm rõ là phương pháp, cách thức thực hiện quyền đó như thế nào

1.2 Tình hình nghiên cứu về dân tộc thiểu số và đồng bào dân tộc Mông

1.2.1 Một số nghiên cứu về dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam

Có thể nói, do vấn đề nghiên cứu QCN của ĐBDTM chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều, nên khi tìm hiểu về thực trạng cũng như giải pháp TTQCN của ĐBDTM, cần phải được tiếp cận qua các nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Đ&NN về vấn đề dân tộc và ĐBDTM Nhưng trên thực tế, những nghiên cứu này cũng rải rác và không nhiều Các nghiên cứu về các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là ĐBDTM lại rất hạn chế Chỉ có thể trình bày một số công trình nghiên cứu sau đây:

Công trình nghiên cứu “Đặc điểm nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Việt Nam”(2009) của Nguyễn Đăng Thành [85] Đây là bằng chứng thu thập từ cuộc

điều tra hộ gia đình DTTS năm 2009 tại 11 tỉnh Mặc dù không nghiên cứu riêng về dân tôc Mông, nhưng qua phân tích các số liệu, công trình này đem lại rất nhiều thông tin bổ ích cho tác giả trong quá trình giải quyết những vấn đề liên quan đến thực tiễn các QKTXHVH của ĐBDTM ở các tỉnh TBVN Bởi, đây là những số liệu

đã được điều tra công phu, khoa học, là nguồn thông tin chính thống, tin cậy, có thể

sử dụng làm minh chứng cho các lập luận khoa học của tác giả trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đề ra của luận án

Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay” (2011) của Phạm Hữu Dật [11]; Qua

công trình nghiên cứu đã khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi nhằm

đảm bảo xây dựng mối quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta hiện nay "Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay"(1999) của tác giả Hoàng Chí Bảo [1] Qua đó khẳng định: “thực

hiện bình đẳng giữa các dân tộc là nhu cầu rất to lớn trong tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam” [1, tr.7] Đây cũng được coi là nhân tố quan trọng đảm bảo xã hội ổn

Trang 32

trong giáo dục đào tạo giữa các dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay”(2009) của Phạm Văn Dũng [14]; Cuốn “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu

số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” (2010) của Lô Quốc Toản[89]

Luận án tiến sỹ "Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay”(2012) của Phạm Thị Hoàng Hà[35]; “Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay” (2011) của Bế Trường Thành[86] Có

thể khái quát các vấn đề được đề cập trong những công trình này trên một số nội dung cơ bản sau:

Một là, làm sáng tỏ khái niệm dân tộc và quan hệ dân tộc;

Hai là, vị trí, tầm quan trọng chiến lược của vùng đồng bào dân tộc, gắn với

ĐBDTM;

Ba là, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong

việc giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, dân tộc và thời đại;

Bốn là, phác họa bức tranh tổng thể rất phức tạp về xung đột dân tộc đang

diễn ra trên thế giới, đồng thời nêu rõ bài học kinh nghiệm và phương hướng để hạn chế những xung đột ấy;

Năm là, đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo công bằng, bình

đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng đa tộc người ở miền núi nước ta hiện nay

Cụ thể, luận án"Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay" [35] Đây là công trình nghiên cứu công phu về

lĩnh vực văn hóa của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc ở nước ta Có thể nói, nghiên cứu về sự bình đẳng giữa các dân tộc là vấn đề đã được nhiều tác giả quan tâm; tuy nhiên, ở đây tác giả lựa chọn lĩnh vực bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa để nghiên cứu, thể hiện sự quan tâm và sự hiểu biết nhất định trên lĩnh vực này của tác giả Trong luận án của mình, tác giả đã làm rõ khái niệm bình đảng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa và những nội dung cơ bản của nó, thực trạng và giải pháp để đạt được

sự bình đảng đó Trong đó nổi lên một số vấn đề mà tác giả đã giải quyết đó là:

Trang 33

Quan hệ giữa bình đẳng và công bằng dân tộc trong quốc gia đa tộc người, tầm quan trọng của bình đẳng dân tộc… Thiết nghĩ giữa công bằng, bình đẳng và QCN

có mối liên hệ mật thiết với nhau, do đó nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa trong việc giải quyết nhiệm vụ của luận án "Quyền con người và thực thi quyền con người của đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam hiện nay" mà tác giả đang nghiên cứu

Về vấn đề dân tộc và DTTS ở Việt Nam, Đ&NN ta luôn quan tâm, chăm lo giải quyết, vận dụng đúng đắn lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc để giải quyết vấn đề dân tộc trong quốc gia đa tộc người như nước ta hiện nay Các công trình nghiên cứu về vấn đề này đã đã phản ánh sự đa dạng về điều kiện tự nhiên, văn hóa và trình độ phát triển giữa các dân tộc, khẳng định sự cần thiết phải xây dựng khối đại đoàn kết giữa các dân tộc để các dân tộc cùng giúp đỡ nhau phát triển, đem lại cuộc sống ấm no, phồn vinh cho cả dân tộc Tuy nhiên, có thể thấy những nghiên cứu dưới góc độ triết học còn hạn chế, vẫn chủ yếu là dưới góc độ dân tộc học, kinh tế, văn hóa

Luận án “Thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện hay” (2015) của

Đỗ Thị Thơm [89] Quan luận án này, tác giả đã tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện pháp luật về QKTXHVH đối với DTTS các tỉnh phía Bắc Trong đó có nêu ra bốn hình thức thực hiện pháp luật là: tuân thủ, sử dụng, thi hành và áp dụng pháp luật Đồng thời chỉ ra ba yếu tố đảm bảo thực hiện là: đảm bảo chính trị, KTXH; bảo đảm pháp lý và tổ chức thực hiện; bảo đảm cơ chế giám sát hiệu quả tổ chức thực hiện Tuy nhiên, đây là nghiên cứu dưới góc độ luật học nên tác giả mới tập trung các điều kiện, giải pháp về mặt pháp luật mà chưa bao quát các vấn đề khác Hơn nữa, ở đây tác giả cũng chỉ nghiên cứu thực hiện pháp luật về một nhóm quyền

cụ thể, cho đối tượng là các DTTS nói chung ở các tỉnh miền núi phía bắc Do đó, phạm vi tương đối rộng, các số liệu khảo sát chưa mang tính điển hình, chưa gắn liền với một dân tộc cụ thể nào

Trang 34

Đối với vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc, ngoài những nội dung mà các nghiên cứu đã tập trung giải quyết, cần tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Bắc nói chung, thực trạng phát triển kinh tế xã hội trong ĐBDTM nói riêng Tập trung nghiên cứu các điều kiện TTQCN và giải pháp tăng cường năng lực thụ hưởng các QCN của ĐBDTM ở Tây Bắc Việt Nam Đặc biệt, cần làm rõ những mặt hạn chế do cơ chế, chính sách, do khâu tổ chức thực hiện

1.2.2 Một số nghiên cứu về đồng bào dân tộc Mông

Nghiên cứu về ĐBDTM ở các tỉnh TBVN là đề tài đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, tìm hiểu Tuy nhiên, các nghiên cứu về ĐBDTM, hầu hết được thực hiện dưới góc độ tìm hiểu về lịch sử, văn hóa, truyền thống, những nét đặc sắc về văn hoá, nghệ thuật của người Mông Gần đây, các nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu tình trạng di cư, điều kiện phát triển kinh tế, tình trạng phát triển đạo trong ĐBDTM có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia….Các nghiên cứu này mới chỉ xem xét các khía cạnh cụ thể, nhằm phục vụ mục tiêu nghiên cứu riêng biệt, chưa có nghiên cứu tổng hợp về ĐBDTM, chưa có nghiên cứu nào đánh giá xem xét các điều kiện phát triển KTXH, văn hóa…dưới góc độ QCN Do đó, chưa đề cập đến vấn đề xem xét thực trạng, điều kiện thụ hưởng các QCN của ĐBDTM, cũng chưa

có đánh giá về mức độ hiện thực hóa những quan điểm chỉ đạo của Đảng, những cam kết của Nhà nước ta về QCN đã và đang được thực thi trong ĐBDTM hiện nay như thế nào

Trong các công trình đó có thể kể tên một số nghiên cứu đáng chú ý sau đây:

"Bản sắc văn hóa đồng bào dân tộc Mông và giải pháp giữ gìn, phát huy nó ở Việt Nam hiện nay"(2002) của Hoàng Xuân Lương [46]; Sách chuyên khảo“Di cư của người HMông từ đổi mới đến nay” (2013) của tác giả Đậu Tuấn Nam [67]; Đề tài khoa học cấp Bộ “Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo an ninh, trật tự vùng đồng bào dân tộc Mông ở nước ta” (2005) của Phạm Ngọc Hà [34]

Các công trình nghiên cứu trên đã quan tâm đến việc khái quát điều kiện chung nhất về tình hình kinh tế xã hội vùng ĐBDTM ở các tỉnh TBVN “Xác định vùng Tây Bắc Việt Nam bao gồm sáu tỉnh: Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu,

Trang 35

Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, với diện tích trên 5,64 triệu ha với 4,4 triệu dân” [43, tr.76]; chỉ ra những nét đặc trưng văn hóa, truyền thống dân tộc và điều kiện sống nói chung

Những nghiên cứu về người Mông chưa nhiều, các nghiên cứu này chủ yếu quan tâm đến vấn đề thuần túy kinh tế, văn hóa, xã hội chưa có công trình nào nghiên cứu, gắn kết, hay đặt trong mối quan hệ với việc đảm bảo và bảo vệ QCN Chính vì thế, khi xem xét về điều kiện sống, các nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của người Mông không được xem xét như một khía cạnh của QCN cần được bảo đảm thực hiện

Về cuốn chuyên khảo “Di cư của người HMông từ đổi mới đến nay”[67]

Đây có thể nói là một trong số ít cuốn sách nghiên cứu về ĐBDTM Đặc biệt, nghiên cứu về vấn đề di dân, một trong những nguyên nhân tác động đến việc hoạch định chính sách dài hạn của chính quyền, là nhân tố ảnh hưởng đến việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tại vùngDTTS, trong đó có ĐBDTM Đây cũng là nguyên nhân tác động đến việc ổn định tình hình KTXH, phát triển kinh tế bền vững, gây khó khăn trong việc từng bước không ngừng bảo đảm TTQCN của ĐBDTM trong cả nước nói chung và vùng Tây Bắc nói riêng

Trong công trình, tác giả đã thu thập được những số liệu tương đối đa dạng

để minh chứng cho những nghiên cứu của mình Tuy nhiên “Nghiên cứu vấn đề di dân của người Mông là vấn đề rất khó, nguồn tư liệu hạn chế, tài liệu lưu trữ hầu như không có, phương pháp chủ yếu là khảo sát thực tế, trong khi địa bàn cư trú, điểm di cư đến rất rộng lớn ” [67, tr.2] Trong cuốn sách này tác giả chủ yếu tập trung trình bày về người Mông ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An, chưa trình bày đầy đủ kết quả điều tra về người Mông trong toàn quốc Đây có thế coi là những vấn đề cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu

Về luận án tiến sỹ triết học "Bản sắc văn hóa đồng bào dân tộc Mông và giải pháp giữ gìn, phát huy các giá trị của nó ở Việt Nam hiện nay”[46], tác giả tuy

chỉ tập trung nghiên cứu về khía cạnh văn hóa ĐBDTM và việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa ĐBDTM; nhưng có thể thấy, đây là khía cạnh phản ánh chiều sâu

Trang 36

trọng, nhưng cũng rất dễ bị tổn thương, bị xâm hại trong quá trình phát triển Văn hóa cũng là một nội dung cần bảo vệ của QCN; chính vì thế, nó được xếp bằng và cùng chung trong nhóm quyền thứ hai khi nói về QCN Tuy nhiên, do tác giả chỉ đề

ra mục tiêu nghiên cứu là giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa người Mông, nên chưa có ý định nghiên cứu, xem xét dưới góc độ coi việc giữ gìn, phát huy, phát triển văn hóa như la một QCN của người Mông

Đề tài khoa học cấp Bộ “Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo an ninh, trật tự vùng đồng bào dân tộc Mông ở nước ta” [34], đề tài mới chỉ

khảo sát, đánh giá công tác đảm bảo an ninh, trật tự ở vùng ĐBDTM trên cả nước, trên cơ sở đó đã đề ra các giải pháp chung, giải pháp riêng đảm bảo an ninh, trật tự vùng ĐBDTM mà chưa đề ra được những giải pháp cụ thể, đặc thù để bảo vệ an ninh vùng DTTS ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam Ở đây chúng ta thấy có mối liên hệ gắn bó giữa bảo đảm an ninh, trật tự và bảo đảm các QCN Có nhiều nội dung, để đảm bảo mục tiêu an ninh, trật tự có thể cản trở, hạn chế, thậm chí vi phạm các quyền Ngược lại, bảo đảm thực thi các QCN ở những mức độ khác nhau, sẽ tác động tích cực hoặc tiêu cực đến các mục tiêu đảm bảo an ninh, trật tự Do đó, xem xét vấn đề đảm bảo an ninh trật tự vùng ĐBDTM, nếu được đặt trong mối quan hệ với QCN, sẽ góp phần nhìn nhận khách quan, toàn diện hơn, các giải pháp sẽ đáp ứng được tốt hơn với yêu cầu thực tiễn

Đề tài khoa học cấp Bộ "Vấn đề “Vương quốc Mông tự trị" - Thực trạng và giải pháp”(2007) của Nguyễn Ngọc Trang [91] Đề tài đã có những tổng kết, đánh giá sâu sắc về thực trạng và hoạt động lợi dụng vấn đề "Vương quốc Mông tự trị"

của các thế lực thù địch và công tác đấu tranh của ta Trên cơ sở đó, đề tài đã đưa ra

hệ thống các giải pháp sâu sắc, toàn diện, nhằm đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt

động lợi dụng vấn đề "Vương quốc Mông tự trị" của các nước lớn và trong khu vực

Thông qua đề tài này, tác giả luận án nắm rõ hơn về các điều kiện tự nhiên, KTXH, văn hóa của đồng bào Mông, là nền tảng quan trong khi bước vào nghiên cứu, khảo sát những vấn đề liên quan đến đề tài của mình

Luận án Tiến sĩ triết học: "Vấn đề đạo Tin lành trong đồng bào dân tộc Mông các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay" (2002) của Phan Viết Phong

Trang 37

[76] Đề tài này tiếp cận nghiên cứu về ĐBDTM dưới các góc độ triết học, dân tộc học Thông qua công trình nghiên cứu của mình, tác giả đề cập đến một vấn đề có tính phức tạp về mặt xã hội trong vùng ĐBDTM ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước

ta hiện nay Do đó, vấn đề đạo Tin Lành, thực chất là vấn đề tuyên truyền đạo Tinh Lành trái pháp luật, lợi dụng đạo Tin Lành để hoạt động gây rối, tuyên truyền chống phá khối đoàn kết toàn dân trong những năm qua, ảnh hưởng đến ổn định chính trị,

xã hội, an ninh quốc phòng Đặc biệt, vấn đề này lại đang gắn với đồng bào Mông, với tính chất ngày càng phức tạp; do đó, đây đang là nguyên nhân làm sáo trộn cuộc sống của người dân, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Mông, tác động không nhỏ đến việc thực hiện các mục tiêu KTXH, khả năng nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân Tuy nhiên, trong luận án của mình, tác giả chủ yếu mới

đề cập đến thực trạng đạo Tinh Lành với tính chất nghiên cứu xã hội học, chưa chú trọng đến việc đề ra các giải pháp, nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của vấn

đề này

Tóm lại, ĐBDTM là một trong số những dân tộc ít người có số dân lớn ở nước ta Người Mông lại sống ở những khu vực có vị trí địa lý chiến lược về an ninh, quốc phòng Tuy nhiên, những nghiên cứu về người Mông ở nước ta thực sự chưa nhiều, hơn nữa lại chưa có một chiến lược nghiên cứu bài bản mang tính chất quốc gia dưới những tiêu chí như: Dân số, thổ nhưỡng, lịch sử, tâm lý, ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, kinh tế Tất cả các nghiên cứu đều tách rời tổng thể, theo lát cắt ngang Đây là khó khăn trong hoạch định chính sách phát triển, cũng là khó khăn khi muốn nghiên cứu tìm hiểu về ĐBDTM ở Việt Nam Điều đó đang cản trở, hạn chế những hiểu biết về ĐBDTMở các tỉnh TBVN, gây khó khăn trong thúc đẩy phát triển mọi mặt của ĐBDTM những năm qua

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài, tác giả

có một số nhận xét đánh giá về tình hình nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, vấn đề lý luận về QCN đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm,

Trang 38

nhân cách trong quá trình tồn tại của con người Mặc dù, có nhiều vấn đề liên quan đến QCN chưa đạt được sự thống nhất trong nhìn nhận, đánh giá ở các quốc gia.Tuy nhiên, những nội dung cơ bản của QCN đều đã được thừa nhận rộng rãi Ở Việt Nam, QCN đã được quan tâm nghiên cứu, đảm bảo tiếp cận và kế thừa những tư tưởng tiến bộ nhất về QCN đang được thừa nhận rộng rãi hiện nay, đồng thời cũng phản ánh nhất quán quan điểm của Đ&NN ta về QCN Đó là, QCN gắn liền với quyền công dân, QCN được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật Tất cả các quan điểm của Đ&NN ta đều dựa trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích cá nhân, gắn liền với quyền và lợi ích của tập thể, quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm Trong

đó, QCN gắn liền với quyền ĐLDT, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, là sự phản ánh tính đặc trưng, phản ánh hoàn cảnh lịch sử, truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Thứ hai, khẳng định, QCN bị chi phối bởi trình độ phát triển và tính đa

dạng văn hóa Do đó, đã có những nghiên cứu về mối quan hệ giữa QCN và các lĩnh vực như công bằng xã hội, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, an ninh xã hội , cũng như chính sách liên quan Các công trình nghiên cứu đã phác họa lên bức tranh đa dạng về các khía cạnh mà QCN cần đảm bảo Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa gắn việc đề ra và giải quyết vấn đề QCN đối với một dân tộc cụ thể, một địa bàn cụ thể nào Cần có một nghiên cứu gắn với địa bàn để tạo cơ sở trong việc hoạch định chính sách, đảm bảo khả năng thực thi có hiệu quả hơn trong thực tiễn TTQCN ở Việt Nam

Thứ ba, có nhiều nghiên cứu về chính sách phát triển đối với đồng bào dân

tộc ít người ở các tỉnh miền núi, nhưng chưa đầy đủ và chưa có hệ thống Đặc biệt, đối với ĐBDTM ở các tỉnh TBVN nước ta Đây chính là mục tiêu, nhiệm vụ, là hướng cần tiếp tục nghiên cứu của luận án mà tác giả phải giải quyết, vượt qua để hoàn thành

Với những hiểu biết nhất định về tình hình nghiên cứu tác giả cũng mạnh dạn nêu ra một số vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ trên một số nội dung sau:

Trang 39

Đối với vấn đề lý luận QCN: Luận án cần tập trung luận giải: vì sao khi

xem xét QCN cần đảm bảo tính phổ biến và tính đặc thù; gắn vấn đề lý luận với giải quyết vấn đề QCN của ĐBDTMở các tỉnh TBVN

Cần hệ thống hóa, xây dựng các bước phát triển về tư duy lý luận QCN của Đảng qua các giai đoạn Trong sự phát tiển tư duy nhân quyền đó không chỉ mang tính tổng thể, tầm quốc gia mà cần quan tâm đến xây dựng tư tưởng QCN theo các nhóm thụ hưởng, phạm vi nhỏ tránh lúng túng, triển khai kém hiệu quả

Đối với vấn đề TTQCN của ĐBDTM ở các tỉnh Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay: Do xuất phát từ mô hình nhà nước đơn nhất, không thiết lập cơ chế vùng

nên các quan điểm, chính sách nói chung và về QCN nói riêng không có khả năng bao quát được tính đặc thù, đa dạng của từng vùng, từng dân tộc, và các nhóm đối tượng Địa phương là nơi triển khai thực hiện chính sách, nhưng chính sách không phải lúc nào cũng phù hợp với nhu cầu địa phương, không xuất phát từ thực tiễn

Do đó, TTQCN của ĐBDTM cũng trong tình hình chung đó

Vì vậy, trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội vùng ĐBDTM ở Tây Bắc hiện nay, luận án cần tiếp tục nghiên cứu, luận giải và xem xét thực trạng TTQCN trên các khía cạnh: các điều kiện đảm bảo TTQCN, những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực thi QDSCT; QKTXHVH; quyền phát triển, quyền tiếp cận các nguồn lực, quyền đảm bảo an sinh xã hội gắn liền với đồng bào Mông hiện nay

Tìm hiểu những nguyên nhân, cơ chế tác động đến khả năng TTQCN của các cơ quan nhà nước và năng lực thụ hưởng các QCN của ĐBDTM ở các tỉnh TBVN

Đề ra phương hướng, giải pháp thúc đẩy thực thi các QCN, những thuận lợi

và khó khăn trong quá trình thực hiện

Trang 40

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ THỰC

THI QUYỀN CON NGƯỜI CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.1 Một số vấn đề lý luận về quyền con người

2.1.1 Khái niệm quyền con người

Khái niệm QCN mang tính lịch sử xã hội,đồng thời là một phạm trù tổng hợp, vừa có tính chất phổ biến, vừa mang tính đặc thù trong tổng thể các quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa chính trị với kinh tế, văn hoá, giữa tự do dân chủ với chủ quyền quốc gia

Trong quá trình phát triển, hoàn thiện khái niệm QCN cho thấy, QCN là một giá trị nhân văn và tiến bộ, gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người, trở thành tiếng nói cho tự do, bình đẳng và công bằng xã hội Trong một thời gian dài, giai cấp tư sản nắm lấy ngọn cờ nhân quyền và sử dụng nó như một công cụ để biện hộ cho bản chất bóc lột và áp bức giai cấp Xét về bản chất, QCN là động lực và mục tiêu đấu tranh của quần chúng, nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột, của các phong trào giải phóng, của các lựclượng dân chủ, tiến bộ và hoà bình trên thế giới

Khi nghiên cứu QCN chúng ta nhận thấy, nó thể hiện khả năng, xu hướng, nhu cầu và chỉ có ý nghĩa khi được xã hội thừa nhận qua quá trình giáo dục đào tạo, đấu tranh và phát triển Trong sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, con người xác định phẩm giá, nhân cách, địa vị, phát triển các quan hệ tập thể, cộng đồng, quốc gia, dân tộc và nhân loại QCN là một giá trị cao quý, thể hiện các đặc tính quan trọng của nhân cách Khái niệm đúng đắn nhất về QCN đòi hỏi, phải giải quyết tốt nhất trong các quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa tính nhân loại và tính giai cấp, giữa các giá trị đạo đức với pháp luật và quyền lực, giữa quan hệ quốc tế và lợi ích quốc gia, giữa khả năng và nhu cầu tự nhiên với nỗ lực chủ quan

Có nhiều quan điểm khác nhau về QCN, mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào

Ngày đăng: 12/05/2017, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w