1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tranh Thờ Trong Đời Sống Tín Ngưỡng Của Người Dao Ở Huyện Lục Yên Tỉnh Yên Bái

105 494 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận văn Xã hội học ĐỘC QUYỀN gồm 105 trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo bằng phần mềm Adobe Pro DC. MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................... ...... 1 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO VÀ TRANH THỜ CỦA NGƯỜI DAO ................................................................................................. 10 1.1. Về người Dao và quá trình di cư tới Việt Nam........................................ 10 1.2. Người Dao ở Yên Bái và huyện Lục Yên................................................ 13 1.3. Vài nét về tranh thờ của người Dao ......................................................... 20 CHƯƠNG 2 VIỆC SỬ DỤNG TRANH THỜ CỦA NGƯỜI DAO Ở HUYỆN LỤC YÊN ....................................................................................... 26 2.1. Cách sử dụng tranh thờ trong các nghi lễ ................................................ 27 2.2. Tranh thờ trong ngày thường ................................................................... 47 CHƯƠNG 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI TRANH THỜ CỦA NGƯỜI DAO Ở HUYỆN LỤC YÊN HIỆN NAY ..................................... 49 3.1. Vấn đề bảo tồn và gìn giữ tranh thờ......................................................... 49 3.2. Về phát huy các giá trị của tranh thờ ....................................................... 53 3.3. Một số kiến nghị, giải pháp bảo tồn tranh thờ ......................................... 62 KẾT LUẬN .................................................................................................... 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 69 PHỤ LỤC MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Người Dao là một trong 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở toàn quốc năm 2009, người Dao ở Việt Nam có 751.067 người, trong đó 377.185 nam, 373.882 nữ, đông thứ hai trong các dân tộc nói ngôn ngữ Hmông Dao và thứ 9 trong 54 dân tộc ở Việt Nam. Tại tỉnh Yên Bái, dân tộc Dao có 74.847 người, dân số đông thứ ba trong 33 dân tộc trong tỉnh (sau hai dân tộc Kinh và Tày). Tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, dân tộc Dao có 16.216 người, dân số đông thứ ba trong 18 dân tộc trong huyện (sau hai dân tộc Kinh và Tày). Xét về nguồn gốc lịch sử, người Dao là tộc người di cư từ Nam Trung Quốc vào Việt Nam từ lâu đời. Tại Việt Nam, trải qua nhiều đời sinh sống, người Dao đã cùng hòa hợp với các dân tộc anh em, tiếp tục duy trì đời sống kinh tế, xã hội và bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của mình. Do những lý do và đặc điểm riêng dân tộc Dao được biết đến như là dân tộc cho đến nay còn bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng cho văn hóa nhóm Hmông Dao, có nguồn gốc từ Nam Trung Quốc. Bên cạnh các giá trị văn hóa vật thể như trang phục, trang sức, nhà cửa, bố trí làng bản, đồ gia dụng, ẩm thực, các giá trị văn hóa phi vật thể như tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Bàn Vương, nghi lễ cấp sắc..., nghệ thuật dân gian cũng là một thực hành văn hóa có giá trị tiêu biểu của người Dao. Trong nghệ thuật dân gian, tranh thờ chứa đựng các giá trị văn hóa dân gian đặc sắc của người Dao, cần được quan tâm nghiên cứu để kế thừa và phát huy. Nghiên cứu tranh thờ trong đời sống tín ngưỡng của người Dao có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh hiện nay. Về ý nghĩa khoa học, nghiên cứu tranh thờ trong tín ngưỡng của người Dao sẽ góp phần làm sáng tỏ và tăng nhận thức của chúng ta về các vấn đề như nguồn gốc ra đời, 1 lịch sử phát triển, cách thức sử dụng, ứng xử đối với tranh thờ cũng như vai trò và ý nghĩa của nó trong đời sống người dân. Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu tranh thờ sẽ cho thấy một bức tranh văn hóa truyền thống đa dạng, phong phú của người Dao, từ đó, góp phần vào việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa 8 của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc và Nghị quyết và Nghị quyết Trung ương 9, khóa 11 năm 2014 của Đảng về xây dựng văn hóa và con người Việt Nam trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong khi các thực hành văn hóa truyền thống khác của người Dao như lễ cấp sắc, nhà cửa, trang phục, dòng họ, hôn nhân, gia đình, tang ma, nghi lễ vòng đời và tín ngưỡng đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, văn hóa nghệ thuật dân gian, bao gồm không chỉ tranh thờ mà còn dân ca, dân nhạc, dân vũ của người Dao còn chưa hoặc ít được tìm hiểu. Là một người con của dân tộc Dao, đang theo học tại khoa văn hóa học và đặc biệt quan tâm tới mảng nghệ thuật dân gian, học viên mạnh dạn đề xuất nghiên cứu: “Tranh thờ trong đời sống tín ngưỡng của người Dao ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái” làm đề tài tốt nghiệp của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Nói đến lịch sử nghiên cứu về văn hóa ở Việt Nam thì đây là một vấn đề khá rộng và đã được quan tâm từ rất sớm. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, người Pháp đã có nhiều ghi chép về văn hóa Việt Nam nói chung và của các dân tộc thiểu số nói riêng. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XX thì văn hóa Việt và đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số mới thực sự lôi cuốn các nhà khoa học vào cuộc và văn hóa dân tộc Dao cũng không nằm ngoài sự quan tâm đó. Nghiên cứu về dân tộc Dao đã có rất nhiều tác giả thực hiện và công bố trên các tạp chí khác nhau như Dân Tộc học, Nghiên cứu lịch sử và một vài tạp chí chuyên ngành khác. 2 Về tên gọi, lịch sử thành phần tộc người, quá trình di cư, các thực hành tín ngưỡng tôn giáo và các luận bàn về đặc điểm tộc người ở quá khứ và tương lai có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như: Người Dao ở Việt Nam do các tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nam Tiến biên soạn (1971); Người Dao đỏ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam do Đỗ Quang Tụ và Nguyễn Liễn làm chủ biên (1971); và cuốn Sự phát triển Văn hoá – Xã hội của người Dao Hiện tại và tương lai do Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia biên soạn (1998)...vv. Một số công trình nghiên cứu khác lại đi sâu phân tích các đặc điểm cảnh quan, môi trường sinh thái và những sinh hoạt văn hóa vật chất, tinh thần của người Dao như: về tín ngưỡng, nhà ở, các phong tục, tập quán, lễ hội và trò chơi dân gian, đó là: Hồ sơ khoa học Văn hoá dân tộc Dao đỏ, bản Động Ỉnh xã Tân Lĩnh , huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Đây là một nhánh của đề tài Thực trạng và giải pháp bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội và du lịch do tác giả Đổng Thị Hồng Hạnh (2008) thực hiện; Đề tài luận văn thạc sỹ Văn hoá học Phong tục cưới xin của người Dao đỏ ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái do học viên Triệu Thị Bình, niên khoá 2000 2003 thực hiện; Đề tài luận văn thạc sỹ Văn hoá học Lễ hội cầu mùa của người Dao đỏ xã Phúc Lợi, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, do học viên Đào Đức Toàn, niên khoá 2000 – 2003 thực hiện ... Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về người Dao chủ yếu đề cập đến các vấn đề mang tính khái quát về đặc điểm tộc người hoặc thực hành văn hoá tín ngưỡng và nguồn gốc di cư của tộc người Dao. Trong các công trình này đề cập tương đối đầy đủ các khía cạnh của đời sống văn hoá tinh thần hay các không gian văn hoá phi vật thể của người Dao. Tuy nhiên, do người Dao là một dân tộc có dân số khá đông và phân bố rải rác ở nhiều vùng với nhiều dòng họ khác nhau; có những phong tục giống nhau cùng tồn tại song song 3 bên cạnh những khác biệt, do vậy, các thông tin về người Dao được đề cập trong những công trình nghiên cứu này có thể không đúng với tất cả tộc người Dao ở Việt Nam; người Dao ở địa phương này có thể có những đặc điểm khác biệt với người Dao ở các địa phương khác. Ngoài những công trình nghiên cứu như đã nêu ở trên, riêng về mảng tranh thờ, đã được một số tác giả đi sâu nghiên cứu. Có thể kể đến một số cuốn sách tiêu biểu như: Cuốn Tranh thờ đạo giáo ở Bắc Việt Nam của tác giả Phan Ngọc Khuê (2001) do Nhà xuất bản Mỹ Thuật công bố. Tác giả là một họa sĩ. Ông là một cán bộ làm công tác nghiên cứu mỹ thuật lâu năm. Đặc biệt là mỹ thuật cổ truyền của các dân tộc ít người. Tác giả Phan Ngọc Khuê từng có nhiều năm sinh sống và nghiên cứu về mỹ thuật của các dân tộc vùng núi phía Bắc. Tranh Đạo Giáo là một vấn đề khá rộng và hấp dẫn đối với ông. Trong cuốn sách này tác giả đã trình bày tóm lược những nét cơ bản về nghệ thuật của tranh Đạo giáo nói chung ở phía Bắc Việt Nam. Trên cơ sở của các tư liệu đã sưu tầm, tác giả trình bày vấn đề rất đơn giản nhưng mạch lạc, giúp cho người đọc dễ dàng nắm bắt nội dung. Tác giả đưa vào trong cuốn sách từng bức tranh của các dân tộc khác nhau, trình bày chi tiết tiểu sử của nhân vật trong bức tranh đó nhằm giúp người xem hiểu rõ hơn về ý nghĩa của việc thờ các nhân vật trong tranh. Ngoài tác phẩm tiêu biểu nêu trên, tác giả Phan Ngọc Khuê còn có một bài viết trình bày chi tiết về tranh thờ của người Dao, đăng trong cuốn kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 1998. Bài viết của tác giả có tiêu đề Tranh thờ của người Dao ở Bắc Bộ Việt Nam. Trong bài viết này, tác giả Phan Ngọc Khuê đã trình bày rất cụ thể, chi tiết về tranh thờ; ông đặt tranh thờ của người Dao trong sự so sánh với các 4 dân tộc khác như Tày và Cao Lan, phân biệt rõ đặc điểm tiêu biểu của tranh thờ của dân tộc Dao. Ở phần khảo tả về phân loại tranh thờ, tác giả đã trình bày chi tiết về bức tranh, gắn với truyền thuyết lịch sử của tộc người và nhóm gộp các tranh thờ dành cho cúng gia tiên trong gia đình, gia tộc để phân biệt với tranh dùng trong nghi lễ cấp sắcphong sắc của người Dao. Trong phần viết so sánh, ông chỉ ra những loại tranh nào xuất hiện ở cả dân tộc Dao và các dân tộc khác (Tày, Nùng, Cao Lan, Kinh). Tác giả cũng trình bày chi tiết nội dung bức tranh về các thần linh trong cõi Thượng Nguyên (Tam Thanh cung, Ngọc Hoàng thượng đế, Trương Thiên Sư và Lý Thiên Sư, Tứ Đại Nguyên Súy, Bắc Đẩu Tinh Quân), tranh về các vị thần ở cõi Trung Nguyên (tranh Đương kim Hoàng đế trong tranh này lại phân loại ra Kiếm Khảnh và Sần Tào mỗi tranh có 4 bức), tranh về các thần linh ở cõi Hạ Nguyên (Địa Tạng Vương, Thập Điện Linh Vương), tranh vẽ chung các vị thần linh ở các cõi Thượng – Trung Hạ Nguyên (gồm có bộ tranh có 2 bức vẽ Thiên Phủ (Thiên Khố) Địa Phủ (Địa Khố) và Nhạc Phủ (Dương Phủ) Thoải Phủ (Thủy Khố). Theo tác giả Phan Ngọc Khuê, bộ tranh vẽ chung các vị thần linh ở ba cõi Thượng – Trung Hạ nguyên (tức Thiên Phủ Địa Phủ và Dương Phủ Thủy Phủ) rất hiếm, khó có thể sưu tầm được, ngay cả với dân tộc Dao, đây là bức tranh thâu tóm toàn bộ quan niệm của Đạo giáo về ba cõi Thượng Trung Hạ Nguyên; từ bộ tranh này người ta có thể hình dung thứ tự, lớp lang của các thần được vẽ trên bộ tranh. Trong bài viết này tác giả cũng đề cập đến vấn đề về xuất xứ, niên đại và tác giả, tác phẩm và những giá trị nghệ thuật của tranh. Tiếp theo, bên cạnh các nghiên cứu của tác giả Phan Ngọc Khuê, Frederick Harris Chủ tịch quỹ Đông Sơn ngày nay đã xuất bản cuốn Tranh thờ các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam (người dịch: Phạm Hoài Nam, nhà xuất bản Lao độngXã hội, năm 2006). Đây có thể coi là “một bộ sưu tập 5 đồ sộ” với hơn 2000 bức tranh và các loại mặt nạ của người Dao, Tày, Nùng, Cao Lan và Sán Dìu, trong đó đặc biệt chú ý đến văn hóa tín ngưỡng của người Dao. Theo như tác giả Frederick Farris nhận xét thì: “Sự sùng bái thần linh và sức sống mãnh liệt của linh hồn tạo ra nhu cầu cho những suy nghĩ, bùa chú và các bức tranh thiêng liêng. Theo thần thoại Hy Lạp, không phải con người sinh ra để đại diện cho các Thánh thần mà chính con người mới là nguyên mẫu cho họ. Sự tồn tại song song của vật chất và thức, linh hồn và thể xác, suy nghĩ và thực tại chính là nhân tố để người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc vẽ lên những bức tranh mang tính nghi lễ của Đạo giáo” 04, tr.11. Khoảng 300 bức tranh tiêu biểu nhất của cuốn sách đã được lựa chọn và đưa ra triển lãm. Cũng đề cập về chủ đề tranh thờ, tác giả Chu Xuân Giao (2016) gần đây có bài viết Hệ thống thờ Tứ Phủ trong tín ngưỡng của người Dao đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian. Bài viết mặc dù không đi quá sâu phân tích tranh thờ, tác giả cũng đã chỉ ra một đặc điểm của Tứ Phủ của người Dao thể hiện trong kinh sách, trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của họ và so sánh với việc thờ Tứ Phủ ở nhóm người Kinh. Tóm lại, nghiên cứu về văn hóa người Dao nói chung và tranh thờ nói riêng, mặc dù đã có nhiều tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu song chưa có công trình chuyên sâu nào giới thiệu về thực trạng tranh thờ trong bối cảnh thực hành đời sống của người Dao; cách thờ tranh hiện nay được quan tâm và sử dụng như thế nào? các ứng xử và thực hành liên quan đến nó hiện nay ra sao và có những vấn đề nào đang đặt ra đối với tranh thờ.... dường như vẫn còn là một khoảng trống, chưa được giới nghiên cứu đề cập một cách tương xứng. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu 6 Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm giới thiệu một bức tranh tổng quan về việc sử dụng tranh thờ trong đời sống của người Dao hiện nay ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái và Việt Nam nói chung. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu và trả lời cho các câu hỏi: tranh thờ hiện đang “sống” như thế nào trong cộng đồng người Dao ở huyện Lục Yên? sự tham gia của tranh thờ trong một số thực hành văn hóa cụ thể và thường ngày ở đây ra sao?. Trên cơ sở thực trạng, chúng tôi sẽ đưa ra một số luận bàn xung quanh việc sử dụng tranh thờ của người Dao ở huyện Lục Yên trong bối cảnh hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tranh thờ và việc sử dụng tranh trong đời sống tín ngưỡng của người Dao. Tranh thờ là một trong những loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo, được sử dụng trong các nghi lễ cấp sắc, đám tang và nhảy lửa của gia đình và cộng đồng. Đề tài được thực hiện chủ yếu trong phạm vi cộng đồng người Dao ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái. Tại đây, chúng tôi tập trung nghiên cứu ở các xã có đông người Dao cư trú, còn lưu giữ được nhiều thực hành văn hóa truyền thống liên quan đến tranh thờ như: Tân Phượng, Phúc Lợi, Khai Trung, Tân Lĩnh và An Lạc. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn này sẽ được chúng tôi tiếp cận từ quan điểm của Văn hóa học và Nhân học Văn hóa trong đó nhấn mạnh tiếng nói của người trong cuộc những người Dao ở huyện Lục Yên chủ nhân của tranh thờ. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài này là nghiên cứu định tính. Cụ thể, chúng tôi coi việc đi điền dã, thâm nhập vào thực tế cộng đồng để lấy tư liệu là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Chúng tôi đã tiến hành nhiều 7 đợt nghiên cứu điền dã tại huyện Lục Yên. Chúng tôi quan sát, phỏng vấn và ghi chép lại những lời kể của thầy tào và người dân ở huyện Lục Yên và Văn Yên (chỉ phỏng vấn 1 họa công ở Văn Yên bởi vì họa công này được người dân ở Lục Yên rất tin tưởng và đặt vẽ tranh). Quá trình thâm nhập thực địa, tiếp xúc và trò chuyện với người dân địa phương đã giúp chúng tôi có được nguồn tư liệu phong phú, tạo cơ sở quan trọng để hoàn thiện luận văn. Bên cạnh đó, để có cái nhìn bao quát đối với chủ đề nghiên cứu, chúng tôi còn tiến hành tổng thuật các tài liệu có liên quan đã công bố, bao gồm: sáchbáotạp chí và các đề tài luận văn, luận án. Các hiện vật ở bảo tàng trung ương và địa phương cũng được chúng tôi quan tâm tìm hiểu. 6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Đề tài luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về Tranh thờ trong đời sống của người Dao ở huyện Lục Yên. Thông qua nội dung nghiên cứu, luận văn cho chúng ta biết được thực trạng và cách thức sử dụng tranh thờ hiện nay. Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tư liệu giúp người đọc có được một hiểu biết đầy đủ và sâu sắc hơn về tranh thờ của người Dao tại huyện Lục Yên và Việt Nam nói chung. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo dành cho các nhà quản l văn hóa và những ai quan tâm tới chủ đề tranh thờ của người Dao; góp phần vào công tác quản l , bảo vệ, gìn giữ và phát huy những giá trị của tranh thờ gắn với một tộc người cụ thể. 7. Cơ cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài luận văn được bố cục thành ba chương: Chương 1: Khái quát về người Dao và tranh thờ của người Dao 8 Chương 2: Việc sử dụng tranh thờ của người Dao ở huyện Lục Yên Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với tranh thờ của người Dao ở huyện Lục Yên hiện nay 9 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO VÀ TRANH THỜ CỦA NGƯỜI DAO 1.1. Vài nét về người Dao và quá trình di cư tới Việt Nam Việt Nam là quốc gia có số lượng người Dao đông thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Hiện nay ở Trung Quốc người Dao có khoảng 2,5 triệu người; họ sinh sống tại 31 tỉnh, đông nhất là Quảng Tây và sau đó là một số tỉnh như: Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu và Hồ Nam. Ở Việt Nam, dân số của người Dao là 751.067 người; họ cư trú xen kẽ với các tộc người H’mông, Tày, Nùng,Thái, Mường và Việt. Phạm vi cư trú của người Dao ở Việt Nam phủ khắp các tỉnh biên giới (Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn và Lai Châu) và trung du ven biển Bắc Bộ, dọc theo biên giới Việt Lào đến miền núi Nghệ An và Hà Tĩnh. Tại Châu Á, người Dao tập trung chủ yếu ở miền Nam Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á (Việt Nam, Lào, Thái Lan, Miến Điện). Ngoài ra, người Dao cũng đã nhập cư vào một số nước như: Mĩ, Pháp, Canada, và một số nước Âu Mĩ khác (Hoàng Quý Quyền 2003: 1; Hà Hồng NhấtHe Hongyi 2007: 47). Người Dao có tên dùng trong giới nghiên cứu dân tộc học quốc tế là Yao hay Iu Mien. Họ tự gọi dân tộc mình là Dìu Miền; viết và đọc theo tiếng Hán là Dao Nhân, tức là người Dao. Hoặc, tự xưng là Kiềm Miền hay Kiềm Mùn, viết và đọc phiên âm theo chữ Hán là sơn nhân, có nghĩa người ở rừngnúi. Ở nước ta, người Dao được chia thành nhiều nhóm với những nét riêng về phong tục tập quán và thể hiện rõ nhất qua trang phục. Đó là: Dao Đỏ (Đại Bản), Dao Tiền (Tiểu Bản), Dao Quần chẹt, Dao Lô Gang và Dao Áo Dài. Trong quá trình di cư và sinh sống, do cư trú riêng theo bản làng độc lập hoặc sống xen kẽ với một hoặc nhiều tộc người khác, người Dao hiện nay có nhiều nhóm ở địa phương và giữa họ không hiểu tiếng nói của nhau, phải dùng đến ngôn ngữ tiếng Kinh để giao tiếp. 10 Câu chuyện lịch sử viết bằng thơ Đặng Hành và Đại Bàn Hồ, về quá trình di cư của người Dao tới Việt Nam kể rằng: tổ tiên của họ sinh sống lâu đời ở đất Quảng Đông (phía Nam Trung Quốc), khoảng cuối thế kỷ II trước Công Nguyên. Theo tác giả Phan Ngọc Khuê, Tranh thờ đạo giáo ở Bắc Việt Nam (2001) viết: “Có trường hợp chỉ rõ là khu vực Động Đình Hồ (tỉnh Hồ Nam). Cứ liệu khảo cổ học cho hay nơi đây và khu vực láng giềng, thời đồ đồng, đồ đá, đã phát hiện một nền nông nghiệp dùng cuốc với rìu có vai, khác với nền văn hóa Ngưỡng Thiều (R.F.Ito. 1960). Chủ nhân là những bộ lạc gọi chung là Tam Miêu hay Miêu Dân. Về sau họ ly tán xuống Quảng Tây, Quảng Đông. Đến thời Tần – Hán (thế kỷ II – II trước Công Nguyên) trong thư tịch không còn thấy xuất hiện tên gọi Tam Miêu nữa, mà xuất hiện nhiều tộc danh mới như Man, Di, Việt...kế đó là Man Dao, Man Mieu”. Còn theo ông Trương Hữu Tuấn, Viện trưởng Viện nghiên cứu Dân Tộc Học, Học Viện Dân Tộc Quảng Tây, Phó chủ tịch Hội người Dao Trung Quốc, trong một tranh luận tại Hội nghị quốc tế về người Dao, họp tại Thái Nguyên, tháng 12 – 1995 cho rằng: Thời kỳ Đường Tống, người Dao sống chủ yếu ở tỉnh Hồ Nam có một bộ phận sống ở miền Bắc Lưỡng Quảng. Thời Nguyên (1280 – 1369) trung tâm cư trú của người Dao bắt đầu di chuyển về phía nam, thời Minh (1836 – 1662) Quảng Tây mới trở thành nơi cư trú chủ yếu của người Dao. Từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX, người Dao di cư vào Việt Nam theo ba con đường. Đó là: Con đường đất liền: từ vùng Phòng Thành, Thượng Tứ tỉnh Quảng Tây vào Quảng Yên, Quảng Ninh của Việt Nam. Từ Quảng Tây (Ninh Minh) đi vào vùng Lạng Sơn và Quảng Ninh của Việt Nam. 11 Một con đường nữa theo phía Tây của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) qua biên giới Việt Trung vào các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng của Việt Nam và các nước Mianma, Thái Lan, Lào. Người Dao ở nước ta là một trong những tộc người có nhiều nhóm địa phương. Nếu dựa theo tên tự gọi của cộng đồng người Dao, tên phiếm xưng và những tên mà dân tộc khác đặt cho thì có thể có tới 30 nhóm Dao khác nhau. Song, theo sự phân loại của nhiều nhà dân tộc học, căn cứ vào một số đặc điểm văn hóa, người Dao ở nước ta có 7 nhóm. Đó là: Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Phán (Dao Lô Gang), Dao Quần Trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y (Dao Chàm), Dao Áo Dài (Dao Làn Tuyển). Nếu dựa theo phương ngữ thì có 2 ngành là: Ngành nói phương ngữ thứ nhất, gồm các nhóm Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt và Dao Thanh Phán; ngành nói phương ngữ thứ hai là Dao Quần Trắng, Dao Áo Dài và Dao Thanh Y. Riêng Dao Tiền, có đặc điểm là người phụ nữ mặc váy in hoa văn xanh lơ, mặc áo dài nhuộm chàm, đặc biệt cổ áo, phía sau gáy có treo 7 hoặc 9 đồng tiền xu kim loại và dây thắt lưng; cũng bởi nét đặc trưng này họ có tên gọi là Dao Tiền. Ở nước ta, Dao Tiền phân bố ở hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc. Phía Tây Bắc, người Dao cư trú ở các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ và Sơn La. Phía Đông Bắc người Dao cư trú ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang và Hà Giang. Tỉnh Bắc Kạn có 4 huyện có Dao Tiền sinh sống và đông nhất là 2 huyện Ba Bể và Ngân Sơn. Trước đây, người dao ở nước ta sinh sống chủ yếu bằng phương thức canh tác nương rẫy và thường du cư từ nơi này tới nơi khác. Ngày nay, người Dao đã kết hợp làm ruộng, trồng rừng, trồng cây ăn quả và chăn nuôi; chỉ có một số ít còn làm nương rẫy. Đa số làng của người Dao nay đã định cư, có kinh tế khá ổn định, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được cải thiện. 12 Người Dao có nền văn hóa lâu đời và phong phú. Đó là các hình thức sinh hoạt ca hát, các loại truyện cổ, những điệu múa dân gian trong dịp tết Nguyên đán và lễ cấp sắc, các loại hoa văn trang trí thêu thùa, kho tàng tri thức dân gian về thời tiết, chữa bệnh,... Tuy sống phân tán, nhưng người Dao rất trân trọng giá trị văn hóa cổ truyền, luôn quan tâm truyền dạy và tạo điều kiện kế thừa, phát huy những đặc trưng văn hóa của mình. Một trong những điều kiện quan trọng đồng bào trao truyền và bảo lưu những giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác là việc duy trì các nghi lễ vòng đời, các nghi lễ sinh đẻ, cấp sắc, cưới xin, và tang ma là những nghi lễ chủ yếu, bởi vì ai cũng phải trải qua một lần. Nhờ vậy, trong điều kiện hiện nay là đoàn kết, bình đẳng và giao lưu với các dân tộc anh em, nền văn hóa của người Dao vốn đa dạng và phong phú lại càng trở nên đa dạng, phong phú hơn. Trải qua hàng ngàn năm ly tán trong không gian rộng lớn người Dao đã xây dựng nên một tục lệ chung của dân tộc Dao là thờ Bàn Vương thủy tổ của dân tộc, mang tinh thần tôn giáo nghiêm ngặt nhằm củng cố và mở rộng huyết thống của cộng đồng người Dao. 1.2. Người Dao ở Yên Bái và huyện Lục Yên 1.2.1. Người Dao ở Yên Bái Yên Bái là một tỉnh miền núi có dân số 1.000.234 người (tính đến năm 2015), bao gồm 30 dân tộc cùng sinh sống trong đó người Dao là dân tộc có số dân đông thứ 3, chiếm 10,31%. Theo các tư liệu lịch sử, Yên Bái là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ; nơi đây các nhà khoa học đã tìm thấy được xương cốt động vật hóa thạch, có niên đại cách đây hơn 10 vạn năm ở Hang Hùm (Lục Yên) và hang Thẩm Thoong (Văn Chấn) cùng với nhiều công cụ bằng đá, đồng thau khác nằm rải rác trên toàn bộ địa bàn tỉnh. 13 Thạp Đào Thịnh (Trấn Yên), cao 81cm, đường kính 70cm và nặng 60kg cùng với trống đồng Ngọc Lũ là những di vật được tìm thấy nguyên vẹn và lớn nhất ở Việt Nam từ trước đến nay. Chúng được chế tác ở thời đại đồng thau tại Việt Nam, tức khoảng vài trăm năm trước công nguyên. Trên di vật này, có nhiều chạm khắc hoa văn trang trí đẹp mắt. Đặc biệt, trên nắp thạp đồng Đào thịnh trang trí 4 đôi nam nữ đang ở tư thế giao cấu, biểu hiện cho mong muốn sinh sôi nảy nở của con người; Đây có thể coi là một tác phẩm nghệ thuật vô giá của thời cổ. Người Dao ở Yên Bái thường cư trú chủ yếu trên các rẻo giữa, tức khu vực tiếp giáp giữa vùng thấp và vùng cao. Họ sinh sống tập trung nhất là ở các huyện Văn Yên, Yên Bình, Lục Yên, Văn Chấn và Trấn Yên. Tại đây, người Dao có 4 nhóm chính đó là: Dao Đỏ (Dao Đại Bản), Dao Quần Chẹt (Dao Nga Hoàng, Dao Sơn Đầu), Dao Quần Trắng, Dao Làn Tuyển (Dao Tuyển). Họ có thể dễ dàng phân biệt qua trang phục. Người Dao Đỏ lấy màu đỏ làm màu chủ đạo của trang phục và trang trí với nhiều tua và núm bông đỏ. Trong đám cưới, phụ nữ Dao Đỏ đội mũ to, có khung gỗ hay nan tre nứa bẻ thành góc nhọn nhô ra phía trước mặt. Bên ngoài phủ vải đỏ và khăn thêu. Dao Quần Chẹt mặc quần ống bó sát vào chân. trước đây phụ nữ của nhóm Dao này có tục chải tóc bằng sáp ong nên gọi là Dao Sơn Đầu. Đặc điểm trang phục của Dao quần trắng là ở chiếc yếm, sử dụng để che kín cả phần ngực và bụng. Người Dao Quần Trắng mặc quần màu trắng trong lễ cưới. Cuối cùng, Dao Làn Tuyển mặc áo dài, đội mũ nhỏ như cái đấu gỗ. Giữa các nhóm Dao ở đây cũng có sự khác biệt tương đối về tiếng nói, do đặc điểm cư trú đưa lại. Tuy nhiên họ đều thuộc nhóm ngôn ngữ H’mông – Dao (ngôn ngữ Nam Á) và có chung tục thờ Bàn Vương. Ngày nay, trong cộng đồng người Dao vẫn lưu truyền phổ biến câu chuyện về Bàn Hồ. 14 Chuyện kể rằng xưa có hai vị Cao Vương và Bình Vương cầm đầu hai nước đánh nhau không phân thắng bại. Một lần Cao Vương uy hiếp thành công Bình Vương. Bình Vương rất lo sợ liền tuyến bố sẽ gả công chúa cho ai có thể đánh thắng được giặc. Không một viên tướng nào dám nhận. Sau đó, bỗng nhiên xuất hiện một người tự xưng là Bàn Hồ đến xin đánh mà không cần dùng quân lính. Cực chẳng đã, Bình Vương buộc phải bằng lòng. Bàn Hồ đi tới thành của Cao Vương, biến thành con chó, canh một tới chân thành, canh hai vào thành tới chỗ Cao Vương. Thấy chó quý đến, Cao Vương cho rằng có điềm lành, bèn giữ lại, luôn cho theo bên mình. Một hôm, Cao Vương quá chén, rượu say bất tỉnh, Bàn Hồ bèn chém đầu và đưa về dâng cho Bình Vương. Thắng trận, Bình Vương mặc dù không muốn gả con gái cho Bàn Hồ song, vì đã chót hứa nên đành phải giữ lời. Đôi vợ chồng Bàn Hồ trở về núi Nam Sơn và sinh sống ở trong động. Sau ba năm, vợ chồng Bàn Hồ sinh được 6 người con trai, 6 người con gái, kết hôn với nhau và thành thủy tổ 12 dòng họ của người Dao hiện nay. Vợ chồng Bàn Hồ cùng con cái sau đó trở về thăm bố vợ. Thương các cháu, Bình Vương ban cho các cháu áo, quần (váy), sặc sỡ. Tuy nhiên, vợ chồng và con cái của Bàn Hồ không quen ở đất bằng, họ xin trở về núi sinh sống. Nhà vua phong cho làm Bàn Vương, cấp cho Bình Hoàng khoán điệp mà người Dao gọi là “Quỷ son poong” làm chủ tất cả khu vực rừng núi phía Nam. Trong các câu chuyện kể về nguồn gốc của người Dao, chuyện Bàn Vương là phổ biến. Câu chuyện này hiện có nhiều phiên bản khác nhau, do ảnh hưởng qua lại với các tộc người khác... Một số nhóm không thuộc người Dao cũng phổ biến câu chuyện Bàn Hồ. Dù câu truyện được truyền miệng và kể với mô típ nào chăng nữa thì cũng cho thấy một đặc điểm rất rõ là nguồn gốc của nười Dao là kết quả của sự giao lưu văn hóa. Nếu câu truyện Bàn Hồ liên kết toàn bộ cộng đồng người Dao, thì một số tín ngưỡng và thực hành 15 hành tôn giáo nhuốm màu sắc Đạo giáo cũng góp phần củng cố thêm thức tự giác tộc người của người Dao và từng nhóm bộ phận. Hình thái kinh tế của người Dao ở Yên Bái trước đây chủ yếu sản xuất nông nghiệp, trồng lúa nương và lúa nước. Trong đó lúa nước chiếm tỷ lệ ít hơn. Ngày nay, người Dao ở đây chủ yếu trồng lúa nước do họ đã sống định cư và canh tác lúa nương không còn được chính quyền sở tại khuyến khích. Ngoài cây lúa, người Dao còn trồng thêm một số cây hoa màu khác như ngô, khoai, sắn,... Rau của người Dao có các loại bầu, bí, mướp đắng, cây họ đậu, củ từ, dưa gang. Đặc biệt, người Dao ở Yên Bái hiện đang phát triển hai loại cây công nghiệp đó là quế và cây chè. Cây quế là cây trồng truyền thống của người Dao ở huyện Văn Yên, khi sinh con gái bố mẹ lại trồng thêm quế để làm của hồi môn, khi sinh con trai cũng trồng thêm quế để dành cho con. Người Dao ở Yên Bái cũng chú ý tổ chức chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà,..vv. 1.2.2. Người Dao ở Lục Yên Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Lục Yên Lục Yên là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Yên Bái, cách thành phố 93km. Phía Đông của huyện giáp với Hàm Yên (Tuyên Quang), phía Tây giáp Văn Yên (Yên Bái), phía Nam giáp Yên Bình (Yên Bái) và phía Bắc giáp Quang Bình (Hà Giang) và Bảo Yên (Lào Cai). Huyện Lục Yên có diện tích tự nhiên là 808,7 km2 bằng 11% diện tích tự nhiên của tỉnh Yên Bái, sếp thứ 49 so với 9 huyện của tỉnh về quy mô đất đai. Toàn huyện có 23 xã và 1 thị trấn. Đây là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Yên Bái, nối cửa khẩu Lào Cai với Yên Bái, Hà Nội với cả nước. Về địa hình, huyện Lục Yên thuộc khu vực miền núi, bị chia cắt bởi 2 dãy núi chính chạy dọc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, tạo ra các thung lũng, bồn địa bằng phẳng là nơi tập chung sản xuất và sinh sống lâu đời của 16 nhân dân các dân tộc trong huyện. Nơi đây có đất đai phì nhiêu khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Lục Yên nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình từ 22oC đến 24oC, nhiệt độ cao nhất 39oC – 41oC thấp nhất 1 2oC. Lượng mưa trung bình trong năm tương đối lớn từ 1500 – 2500mm tập chung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10. Thời tiết khí hậu huyện Lục Yên chỉ thích ứng với việc phát triển nông lâm nghiệp. Ở đây người dân trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, trồng cây công nghiệp (chè), cây ăn quả (cam, qu t, hồng không hạt) và các loại cây đem lại lợi ích kinh tế khác như măng Mai. Sản phẩm măng khô của Lục Yên đã được bán ở khắp các vùng miền trong cả nước … Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, huyện Lục Yên đã được đầu tư xây dựng nhiều hạng mục cơ sở hạ tầng: 100% các xã trong huyện đều đã có trạm xá, điện thắp sáng, đường xe ôtô tới trụ sở Ủy Ban Nhân Dân và trường học đến cấp Trung học cơ sở. Theo số liệu thống kê gần nhất, tốc độ tăng trưởng bình quân ở huyện Lục Yên là 13,76%. Mức thu nhập bình quân đầu người từ 56 triệu đồng. Thu ngân sách trên địa bàn đạt 5.158 tỉ đồng. Nếu cuối năm 2014, toàn huyện có 3460 hộ nghèo, chiếm 35,96% so với tổng số hộ trên địa bàn thì sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 30A, đến 31122015 tổng số hộ nghèo của huyện chỉ còn 2315 hộ nghèo. Việc thực hiện công tác xóa nhà tạm trên địa bàn đã hoàn thành từ 2014 với trên 1.172 nhà. (Những thông tin, số liệu trên đây dựa theo kết quả thống kê của Phòng thống kê huyện Lục Yên năm 2014).). Các yếu tố môi trường, tự nhiên và xã hội vừa nêu ở trên có ảnh hưởng chi phối tới đời sống của những người dân đang sinh sống trên địa bàn, trong đó có người Dao. Với những đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình của một huyện 17 miền núi... người Dao ở đây đã xây dựng cho mình cách thích nghi để phát triển nông lâm nghiệp từ đó cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống. Về người Dao ở Lục Yên Tại Lục Yên, hai nhóm Dao Quần Trắng và Dao Đỏ chiếm đa số; họ sống tập trung ở hai khu vực khác nhau. Nếu người Dao Đỏ sinh sống chủ yếu ở khu vực Đông Bắc và Tây Bắc thì người Dao Quần Trắng lại chủ yếu hai bên bờ sông Chảy thuộc phía Nam của huyện Lục Yên, do môi trường sinh sống xen kẽ giữa các tộc người khác nhau và gần đường quốc lộ nên hiện nay các nghi lễ văn hóa của nhóm Dao Quần Trắng đã biến đổi đi rất nhều. Người Dao ở Lục Yên phần đông là Dao Đỏ, cư trú chủ yếu ở khu vực tiếp giáp giữa vùng thấp và vùng cao, sinh sống thành làngbản có khi chỉ có vài nóc nhà. Trước kia người Dao thường sống phân tán, khoảng cách các bản khá xa vì phải chạy theo nương rẫy. Hiện nay, dưới sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, người Dao đã sống định cư, nhà cửa ở sườn đồi, gần suối hoặc những nơi có điều kiện dẫn các mỏ nước ngầm tự nhiên. Họ sống tập trung đông nhất ở các xã như: Tân Phượng, Khai Trung, Phúc Lợi, Tân Lĩnh và Tô Mậu,... Hình thái kinh tế của người Dao ở huyện Lục Yên chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Một số ngành nghề thủ công cũng phát triển như dệt vải, nhuộm chàm, in và thêu hoa văn trên vải. Một số nghề đan lát các dụng cụ để đựng bằng che, nứa, mây, giang song. Nghề rèn của người Dao cũng phát triển, chủ yếu là sản suất ra các công cụ phục vụ cho công việc sản suất như: dao, cuốc cào cỏ, lưỡi cày,... Các hoạt động trao đổi, mua bán chưa thực sự trở thành loại hình kinh tế quan trọng nhưng cũng giúp cải thiện đời sống của nhiều người dân. Nhà ở của người Dao ở Lục Yên cũng giống như người Dao ở những nơi khác, chủ yếu là nhà đất, nhà hình chữ nhật và thường có hai mái, trong 18 nhà có từ 3 đến 5 gian và bàn thờ được đặt ở gian giữa. Vật liệu làm nhà của người Dao chủ yếu bằng gỗ, khai thác từ những khu rừng gần nơi cư trú. Về trang phục, người Dao ở huyện Lục Yên cũng có trang phục giống như người Dao của tỉnh Yên Bái. Cách nhận diện và phân biệt các nhóm tộc người chủ yếu là dựa vào trang phục của họ. Người Dao Đỏ của huyện Lục Yên là Dao Đại Bản, trang phục của họ là chiếc áo dài. Họ không mặc áo ngắn. Áo tứ thân màu chàm hoặc màu đen, không khoét nách mà tay đấu thẳng vào thân áo, nẹp ngực được thêu họa tiết với màu chủ đạo là màu đỏ, chủ yếu là những sợi chỉ với gam màu đỏ (nhiều nhất), vàng, xanh,...thêu trên nền vải màu đen. Dao Họ, còn được gọi là Dao Quần Trắng; trang phục của họ mặc bó sát, áo dài qua hông, quần dài đến đầu gối và bó sát đùi, chân quấn xà cạp. Theo các nhà dân tộc học, trang phục dân tộc Dao nói chung và trang phục dân tộc Dao Đỏ nói riêng thể hiện trên những họa tiết là hình con chó và nhiều màu lá bởi nó gắn liền với sự tích về Bàn Hồ hóa thân thành con Long khuyển ngũ sắc vào thành giết Cao Vương để giúp Bình Vương giữ được đất nước. Mặc trang phục nhiều màu sắc như vậy là để tưởng nhớ và biết ơn Bàn Hồ. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, quần áo của tộc người Dao sặc sỡ là bởi vì họ chủ yếu sống ở vùng rừng núi; trang phục có tác dụng bảo vệ họ khỏi sự tấn công của hổ báo – những con vật vốn sợ màu đỏ. Qua tìm hiểu về trang phục dân tộc cho thấy, trang phục dân tộc của người Dao vừa đảm bảo yếu tố truyền thống, tâm linh cũng như sắc thái văn hóa. Quần áo của đàn ông may rộng để phù hợp cho việc đi rừng, săn bắt,... Quần áo của phụ nữ may dài, ôm sát cơ thể vừa tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ vừa che chắn cho người phụ nữ khi lên rừng, đi nương rẫy khỏi nắng, bụi bặm,... trong khi chiếc xà cạp lại có tác dụng chống lạnh, muỗi, vắt hay những vật cứng. 19 Trong tín ngưỡng của Dao, nếu câu chuyện về Bàn Hồ liên kết toàn bộ cộng đồng người Dao về một mối thì tương tự, một số thực hành tín ngưỡng và tôn giáo nhuốm màu sắc của Đạo giáo cũng góp phần củng cố thêm ý thức tộc người của họ. Đạo giáo ra đời ở Trung Quốc và từ lâu đã có ảnh hưởng đến người Dao. Dù ở sách cúng hay tranh về các vị thánh Đạo giáo đều thấy là nội dung Đạo giáo đã được người Dao tiếp thu và biến hóa cho phù hợp. Nói cách khác, Đạo giáo đã sử dụng các tín ngưỡng và hành vi tôn giáo sâu sắc nhất vốn có ở người Dao và đưa vào đó nghi thức và nội dung mới. Điều này phản ánh rõ nhất ở trong tranh thờ của người Dao trong đời sống tín ngưỡng. 1.3. Khái quát về tranh thờ của người Dao Tranh thờ không phải như những bức tranh để chơi như quan niệm thông thường; nó là tranh dùng để phục vụ trong các nghi lễ của thầy mo, thầy cúng (thầy Tào). Tranh thờ, như tên gọi của nó được sử dụng trong các nghi lễ thờ cúng và một phần trong hệ thống các đồ thờ khác như mũ, áo, thầy tào, ấn, kiếm, mặt nạ dùng trong lễ cúng. Tranh thờ mang sắc thái và giá trị thẩm mỹ rất riêng, được vẽ theo nội dung của các điển tích về thần linh, vũ trụ và con người qua lý thuyết của Đạo Giáo và bị pha trộn những ảnh hưởng của Đạo Phật, cộng với những biến thể do bị thêm bớt của từng địa phương khác nhau. Tranh thờ có bố cục lạ: hẹp, dài với dày đặc hình ảnh của các vị thần linh. Các nhân vật thần chủ này lại tuân theo một quy tắc xã hội nhất định: Ai có quyền năng cao được vẽ to, chiếm vị trí trung tâm và với các vị thần ít quyền thì được vẽ đơn giản, nhỏ. Màu sắc tranh thờ là màu tự nhiên, ít pha trộn như đỏ, vàng, trắng, đen, xanh lá cây,... đâu đó các họa công còn dùng cả vàng lá, bạc lá, bạc thếp để thêm vào tranh tạo sự quyện ấm tươi tắn cho bức tranh – có thể dễ dàng đoán được những màu ấy trong tranh, mang tính ước lệ, biểu trưng nhiều hơn là tả thực. 20 Một trong những điều đáng chú ý nhất ở tranh thờ là phong cách nghệ thuật Đồng Hiện và Liên Hoàn được sử dụng triệt để, tạo nên hiệu quả rất cao. Nghĩa là, trong cùng một khuôn tranh, người ta bắt gặp các lớp không gian, thời gian, thật và ảo khác nhau; các thần chính, thần phụ, ma quỷ và con người trên cùng một mặt tranh. Lại có những bức tranh vẽ đủ cả các cảnh từ mặt đất lên bầu trời, từ núi sông tới biển cả, từ địa ngục tới tiên cảnh tùy theo trí tưởng tượng của người vẽ. Điều ấy khiến cho không gian của tranh trở nên mênh mang, không gian tranh trở nên vô tận chứ không ghim chặt vào một thời điểm sáng hay chiều. Xét về mặt nào đó, đây là một thành công trong tư duy sáng tác của các họa công tranh thờ. Tranh vẽ một loạt các nhân vật đáng chú khác đó là những vị thần chủ như là Thập Điện Linh Vương, Tứ Đại Nguyên Súy, Tả Sư Hữu Thánh... và các thần phụ đi kèm. Những vị thần chủ chính thường được khắc họa nổi bật, các chi tiết được chọn lựa kỹ càng, mang tính biểu trưng cao, ví như những lưỡi lửa bừng bừng cháy trên thanh gươm của vị Tả Sư và con rắn xanh quấn quanh gươm của vị Hữu Thánh – trong bộ tranh đôi Tả Sư Hữu Thánh. Những hình ảnh nói trên là ví dụ về sự khái quát, cô đọng bằng đường nét: diễn tả sức mạnh bừng bừng không gì cản nổi (như ngọn lửa), thâm sâu lạnh lẽo (như nọc độc của con rắn xanh) thứ quyền lực bao trùm, mạnh mẽ của hai vị quan chấp pháp. Trong khi đó, những nhân vật phụ thường được vẽ không mấy cụ thể, mang những tư thế giống hệt nhau, đôi khi là những bản sao hoàn chỉnh về sắc độ. Chính những hình tượng phụ này cũng là một điểm rất đáng lưu ý: hàng trăm hình tượng vẽ lặp lại, na ná nhau, lại xếp liền tù tì thành một hàng hay nhiều hàng chồng chéo, giống như một họa tiết trang trí độc đáo. Với các dân tộc thiểu số, người thầy cúng và đồ thờ cúng luôn là chỗ dựa cho đời sống tâm linh của họ. Người thầy cúng được kính trọng, có uy tín trong cộng đồng và phải được cấp sắc và có học hành. Các lễ cúng không chỉ 21 là phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số mà còn là hoạt động sinh hoạt văn hóa. Gắn liền với các lễ cúng đó, tranh thờ đóng một vai trò quan trọng, thể hiện và diễn tả các tín ngưỡng, lối tư duy và cách hành xử trong cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong sinh hoạt thường ngày, với nhiều dân tộc, tranh thờ và một số tác phẩm điêu khắc sẽ không được sử dụng vì mục đích trang trí. Tranh thờ do các họa công tranh thờ vẽ và sao chép nằm trong hệ thống đồ để thờ cúng như áo choàng mũ, kiếm cúng, lệnh bài, mặt nạ, nhạc cụ, sách cúng.... tất cả những vật này thuộc sở hữu của thầy tào và chỉ được đưa ra sử dụng vào những dịp lễ cúng. Các thầy Tào có quy tắc bảo vệ sự linh thiêng của bộ tranh thờ rất chặt chẽ. Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc Khuê trong bài viết Tranh thờ của người Dao ở Bắc Bộ Việt Nam in trong cuốn; Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai có nhận xét: “Phía dưới cùng của tranh, vẽ một người mặc áo đội mũ của thầy tào đang quỳ để dâng hương lên các vị thần linh vẽ ở toàn bộ phần trên. Thầy Tào chỉ vẽ phần lưng, không thấy mặt. Làn khói hương tỏa bay ngoằn nghoèo như một con đường dẫn tới những vị thần linh ở các cung điện, lên tới tận Tam Thanh cung trên cao tột đỉnh – nơi ở của ba vị thiên tôn tối cao, biểu hiện cho lời cầu khấn của thầy tào sẽ thấu tới các vị thần linh mà người vẽ trong tranh. Cho nên tranh có tên là Dẫn Hương, đó là xét về mặt hình thức biểu hiện của tranh” 06, tr.15. Chi tiết này cho thấy người dâng hương rất quan trọng – nóxác định trung tâm của bức tranh, có trong hệ thống tranh Đạo Giáo của các dân tộc Dao, Tày, Nùng, Cao Lan ở miền núi và Kinh ở vùng đồng bằng. Đồng thời cũng cho ta thấy hình ảnh của các vị thần linh được vẽ toàn bộ phần trên bức tranh là thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần, cũng là để xác định các vị thần linh trong ba cõi Thượng Trung Hạ Nguyên như cách chia của Đạo Giáo mà không có trong bất kỳ loại tranh Phật Giáo nào ở Việt Nam. 22 Tranh thờ có ở một số dân tộc như Dao, Cao Lan, Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc và người Kinh ở khu vực đồng bằng. Những tranh này mặc dù có chung chủ đề, đề tài và tác dụng trong hành lễ nhưng lại khác nhau về cách thể hiện trên tranh. Theo Frederick Harris Chủ tịch quỹ Đông ngày nay – tác giả của cuốn Tranh thờ các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, nhận xét: “Tranh thờ là di sản của một nền văn hóa lớn để lại. Đó là nền văn hóa của Đạo Giáo, hình thành từ Trung Quốc khoảng hơn 2000 năm. Đạo Giáo cũng được mang vào Việt Nam từ thời Thái Thú Giao Châu là Sỹ Nhiếp, tại trung tâm Luy Lâu (136 – 226). Hiện nay, toàn bộ văn hóa Việt Nam đã thấm nhuần Đạo Giáo. Nhưng có dòng tranh nhà thờ là không còn thấy lưu hành trong tộc người đa số của Việt Nam. Chỉ còn tồn tại trong cộng đồng các dân tộc thiểu số miền núi như Tày, Nùng, Dao, Cao Lan Sán Chỉ và Khơ Mú. Tranh thờ được dùng không phải một bức tranh để chơi, mà dùng trong các nghi lễ của các thầy Mo, thầy cúng (thầy Tào). Các dân tộc này đều có nguồn gốc từ Trung Quốc,...vì nhiều lí do khác nhau nhưng chủ yếu là do xung đột sắc tộc, nên đã di cư, lánh nạn xuống phía Bắc của Việt Nam sinh sống trong nhiều thế kỷ qua. Các dân tộc này có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong những năm sau đổi mới và trong thời kỳ hiện đại hóa hiện nay. Nhưng phải nói rằng, dù trải qua nhiều biến cố, thăng trầm nhưng các dân tộc này vẫn còn giữ được nhiều đời sống văn hóa riêng của họ ít bị biến đổi và nhạt phai vì thế mà tranh thờ vẫn còn tồn tại, cùng các nghi lễ và đời sống tín ngưỡng vẫn còn giữ được gần như trước đây trong đời sống của họ”. Ngày nay, có những tranh đề lạc khoản rõ ràng cho biết xuất xứ. Tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, một bộ tranh thờ của người Dao Đỏ vùng Bắc Hà, Lào Cai đang được trưng bày tại đây, trong khoản lạc ghi rõ: thuê hai bố con nghệ nhân người Quảng Lâm, Quảng Tây vẽ năm Gia Khánh thứ 16, triều 23 nhà Thanh, tức năm 1812, với giá khoảng 20 lạng bạc. Tuy nhiên, đó không phải là hiện tượng phổ biến; đại đa số các tranh đều không có niên đại. Qua tìm hiểu của chúng tôi tại xã Khai Trung có bộ tranh của ông Phùng Kim Vui, hiện nay người thờ là Phùng Xuân Phú (đời thứ 6, bộ tranh khoảng trên 200 năm), tuy nhiên, bức tranh không đề người vẽ năm bao nhiêu... Sự xuất hiện của tranh thờ ở người Dao tại Việt Nam từ bao giờ hiện vẫn chưa có dẫn chứng rõ ràng để minh chứng. Trong quá trình điền dã tại địa bàn huyện Lục Yên, các thầy tào, nghệ nhân và các cụ cao tuổi có hiểu biết về tranh thờ đều cho biết họ không rõ xuất sứ của tranh thờ. Họ chỉ biết rằng, tranh thờ đã có trong cộng đồng người Dao từ rất lâu đời. Ở sâu vùng nội địa, việc giao lưu văn hóa giữa hai vùng biên giới Việt – Trung có khó khăn, người Dao thuê các nghệ nhân người Tày, Kinh vẽ tranh thờ. Các nghệ nhân thường vẽ theo mẫu tranh của Trung Quốc và không có nhiều sai sót và khác biệt lớn về nội dung. Điểm khác ở đây chỉ là chất liệu và phong cách vẽ của người hoa công.. Với tranh Trung Quốc, mặt sau thường có một tờ giấy biểu là bản vẽ nét đen của tranh. Sau khi bồi biểu hai tờ với nhau, người họa công sẽ có hình vẽ lờ mờ trên mặt tranh. Dựa trên các nét, hình đó người ta sẽ tô phẩm màu hoặc mực nho và đi các nét bao hình vẽ chính và chi tiết. Các bức tranh của người Việt nam vẽ không có chi tiết này. Về chất liệu màu, người Trung Quốc thường dùng phẩm màu và mực nho để vẽ nên màu tranh thường rực rỡ và mặt tranh thì mịn màng. Tranh của người Việt Nam sử dụng bột màu cho nên mặt tranh xốp và gợn hơn. Tương tự, giấy vẽ của người Trung Quốc là bằng chất liệu giấy dó, rất dày và độ bền của tranh sẽ tốt hơn tranh của người Việt Nam. Hoặc, liên quan đến kỹ thuật; do truyền thống hàng nghìn năm sử dụng bút lông để viết chữ và vẽ tranh nên nét vẽ trên tranh của người Trung Quốc khá là hoạt bát, sinh động, chính xác 24 và chủ động. Những độ chuyển màu đậm nhạt thường êm mà khỏe khoắn. Ngược lại, trên tranh vẽ bằng bột màu của người Việt Nam, độ chuyển màu đậm nhạt dễ bị cứng hoặc có khoảng hình màu phẳng. TIỂU KẾT Người Dao là một tộc người thiểu số, sinh sống chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc. Họ có những giá trị văn hóa phong phú, là kết quả của một quá trình tích lũy, trau dồi và mài rũa từ hàng nghìn năm, tạo nên những nét tinh hoa văn hóa của một tộc người. Văn hóa người Dao giống như một sợi chỉ màu góp phần tô điểm cho bức tranh các dân tộc Việt Nam; giúp cho bức tranh ấy ngày càng đa dạng và rực rỡ hơn. Tranh thờ của người Dao cũng không ngoại lệ. Dù còn nhiều điểm chưa rõ về nguồn gốc và xuất xứ tuy nhiên để tồn tại đến ngày hôm này, đằng sau những bức tranh thờ là cả một câu truyện dài gắn liền với nguồn gốc của tộc người. Nếu như “văn dĩ tải đạo” thì tranh vẽ cũng là công cụ đem Đạo của thánh hiền đến với con người. Tranh là hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ quan của người Dao. Các nhân vật trong tranh có cuộc sống linh thiêng và thần bí. Ở đó có sự hài hòa, đồng nhất giữa con người và vũ trụ, được chi phối bởi tư duy vũ trụ Á Đông: Thiên Địa Nhân hợp nhất. 25 CHƯƠNG 2 VIỆC SỬ DỤNG TRANH THỜ CỦA NGƯỜI DAO Ở HUYỆN LỤC YÊN Mỗi một dân tộc đang sinh sống trên đất nước Việt Nam đều nhận thức được về một nền văn hóa đa dạng, đa dân tộc. Mối quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam là quan hệ đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau giữ gìn và xây dựng đất nước. Thể hiện chính sách dân tộc, các cơ quan đoàn thể của Nhà nước đã tạo mọi điều kiện cho các dân tộc tiến hành từng bước trong việc bảo tồn, chấn hưng văn hóa của mình, đồng thời giao lưu văn hóa giữa dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số. Mặc dù có những điều kiện địa l tự nhiên và lịch sử xã hội khác nhau về mặt văn hóa, ngoài những điểm tương đồng, mỗi dân tộc ở Việt Nam không phân biệt trình độ phát triển kinh tế, số lượng dân số lớn hay nhỏ đều sáng tạo nên những bản sắc riêng biệt, độc đáo và đều có giá trị như nhau. Những bản sắc riêng, độc đáo ấy thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống, ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết), trang phục, tập quán cư trú, công trình kiến trúc, tập quán sản xuất, công cụ sản xuất, nghệ thuật, tôn giáo và cả những phong tục, tín ngưỡng. Dân tộc Dao cũng là một trong những tộc người thiểu số ở Việt Nam có lịch sử, văn hóa phong phú và lâu đời. Đó là các hình thức sinh hoạt ca hát, các loại truyện cổ, những điệu múa dân gian trong dịp tết nguyên đán và lễ cấp sắc, các loại hoa văn trang trí thêu thùa, kho tàng tri thức dân gian về thời tiết, chữa bệnh. Một trong những thực hành văn hóa được người Dao trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác là các nghi lễ vòng đời, nghi lễ sinh đẻ, cưới xin, tang ma, nhảy lửa, cấp sắc... Ngày nay, trong môi trường xã hội hóa, công nghiệp hóa nhưng những nghi lễ cấp sắc, tang ma, nhảy lửa, nghi lễ vòng đời, chi thức dân gian... vẫn được gìn giữ cẩn trọng. Tại một số địa phương hiện nay vẫn có thể quan sát được những nét văn hóa đặc trưng, giàu 26 tính truyền thống dân tộc, các nghi lễ vẫn đang tiếp tục được duy trì trong đời sống của cộng đồng và các hộ gia đình người Dao. Hiện nay nghi lễ cấp sắc của người Dao ở các tỉnh Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ ngày 27122013. Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn, trong khuôn khổ của chương này, chúng tôi không bàn luận sâu về nghi lễ cấp sắc, tang ma, nghi lễ vòng đời hay lễ nhảy lửa,.. Thay vào đó chúng tôi muốn bàn đến một hiện vật đóng vai trò rất quan trọng trong nghi lễ, một hiện vật mà theo như cách gọi của những người thầy tào là một “nhân chứng”, là linh hồn của các nghi lễ, nếu thiếu nó các nghi lễ cấp sắc, nhảy lửa và tang ma đó sẽ không bao giờ có thể được thực hiện... đó chính là các bộ tranh thờ. Trong chương này chúng tôi sẽ chỉ trình bày những cách sử dụng tranh mang tính truyền thống, đều có ở cả hai nhóm Dao ở huyện Lục Yên (Dao Quần Trắng và Dao Đỏ). 2.1. Cách sử dụng tranh thờ trong các nghi lễ 2.1.1. Trong cấp sắc a) Về đặc điểm của tranh Tranh thờ của người Dao trọn bộ có tên là Mãn Đường, bao gồm 18 bức. Trong bộ Mãn Đường này người ta chia ra thành hai bộ Tam Thanh và Hành Say. Bộ Tam Thanh được sử dụng đối với các nghi lễ cấp sắc 7 đèn. Bộ Hành Say thì được sử dụng trong lễ cấp sắc 3 đèn và có một bức được dùng riêng khi làm lễ nhảy lửa là Trúng Vương (Miền Hùng). Kích thước tranh của người Dao Đỏ rộng 50cm, dài 70cm và kích thước tranh của người Dao Trắng thì rộng 30cm, dài 50cm. Bất kì người làm thầy nào cũng đều phải học thuộc thứ tự của các bức tranh và cách thức treo tranh theo thứ tự, cấp bậc. Như vậy, theo cấp bậc thì bộ Hành Say sẽ là 3 vị tối cao, đứng đầu của bộ tranh sau đó đến Tam Thanh và Miền Hùng. 27 Bộ tranh Hành Say hay còn gọi là Tiểu Tam Thanh thường được sử dụng trong lễ cấp sắc 3 đèn. Hành Say có 3 bức chính, đại diện cho ba vị; Thái Thanh, Ngọc Thanh và Thượng Thanh. Cụ thể theo tác giả Phan Ngọc Khuê (2001) như sau: 1) Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn còn gọi là Thượng Thanh Cao Thánh Thái Thượng Ngọc Thần Huyền Hoàng Đại Đạo Quân, hay gọi là Thái Thượng Đạo Quân. Linh Bảo Thiên Tôn biểu trưng cho nguyên lý dương, không có bản chất thần, được cho là bậc thiên nhân (người tiên), ở trên núi Phù Sa Uất Sát Sơn của Tây Na Thiên, ngồi dưới gốc cây thất bảo...độ thiên nhân, từ tâm vạn kiếp, cứu độ chúng sinh, công đức rất lớn, tên tuổi vang trong ức vạn kiếp. 2) Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn còn gọi là Thái Thanh Cảnh Đại Xích Thiên Đạo Đức Thiên Tôn, biểu trưng cho nguyên lý âm, tôn xưng là Thái Thượng Lão Quân. Đó là vị thần trí tôn được Đạo Giáo tôn thờ sớm nhất, là hóa thân của Lão Tử, đến nay, đời đời là thầy của các thánh (trích Quan Thiền Lão Tử Minh) 3) Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn còn gọi là Ngọc Thanh Cảnh Huy Thiên Nguyên Thủy Thiên Tôn được cho rằng từ thời hỗn độn huyễn hoàng (vô cực) đã có Bàn Cổ chân nhân – tinh của Trời, Đất tự hiệu là Nguyên Thủy Thiên Tôn, đi lại trong cõi hỗn mang đó “truyền mật đạo, khai kiếp độ nhân”.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO VÀ TRANH THỜ CỦA NGƯỜI DAO 10

1.1 Về người Dao và quá trình di cư tới Việt Nam 10

1.2 Người Dao ở Yên Bái và huyện Lục Yên 13

1.3 Vài nét về tranh thờ của người Dao 20

CHƯƠNG 2 VIỆC SỬ DỤNG TRANH THỜ CỦA NGƯỜI DAO Ở HUYỆN LỤC YÊN 26

2.1 Cách sử dụng tranh thờ trong các nghi lễ 27

2.2 Tranh thờ trong ngày thường 47

CHƯƠNG 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI TRANH THỜ CỦA NGƯỜI DAO Ở HUYỆN LỤC YÊN HIỆN NAY 49

3.1 Vấn đề bảo tồn và gìn giữ tranh thờ 49

3.2 Về phát huy các giá trị của tranh thờ 53

3.3 Một số kiến nghị, giải pháp bảo tồn tranh thờ 62

KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC

Trang 2

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Người Dao là một trong 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở toàn quốc năm 2009, người Dao ở Việt Nam có 751.067 người, trong đó 377.185 nam, 373.882 nữ, đông thứ hai trong các dân tộc nói ngôn ngữ Hmông - Dao và thứ 9 trong 54 dân tộc ở Việt Nam Tại tỉnh Yên Bái, dân tộc Dao có 74.847 người, dân số đông thứ ba trong 33 dân tộc trong tỉnh (sau hai dân tộc Kinh và Tày) Tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, dân tộc Dao có 16.216 người, dân số đông thứ ba trong 18 dân tộc trong huyện (sau hai dân tộc Kinh và Tày)

Xét về nguồn gốc lịch sử, người Dao là tộc người di cư từ Nam Trung Quốc vào Việt Nam từ lâu đời Tại Việt Nam, trải qua nhiều đời sinh sống, người Dao đã cùng hòa hợp với các dân tộc anh em, tiếp tục duy trì đời sống kinh tế, xã hội và bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của mình Do những lý

do và đặc điểm riêng dân tộc Dao được biết đến như là dân tộc cho đến nay còn bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng cho văn hóa nhóm Hmông- Dao, có nguồn gốc từ Nam Trung Quốc

Bên cạnh các giá trị văn hóa vật thể như trang phục, trang sức, nhà cửa, bố trí làng bản, đồ gia dụng, ẩm thực, các giá trị văn hóa phi vật thể như tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ Bàn Vương, nghi lễ cấp sắc , nghệ thuật dân gian cũng là một thực hành văn hóa có giá trị tiêu biểu của người Dao Trong nghệ thuật dân gian, tranh thờ chứa đựng các giá trị văn hóa dân gian đặc sắc của người Dao, cần được quan tâm nghiên cứu để kế thừa và phát huy

Nghiên cứu tranh thờ trong đời sống tín ngưỡng của người Dao có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh hiện nay Về ý nghĩa khoa học, nghiên cứu tranh thờ trong tín ngưỡng của người Dao sẽ góp phần làm sáng tỏ và tăng nhận thức của chúng ta về các vấn đề như nguồn gốc ra đời,

Trang 3

2

lịch sử phát triển, cách thức sử dụng, ứng xử đối với tranh thờ cũng như vai trò và ý nghĩa của nó trong đời sống người dân Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu tranh thờ sẽ cho thấy một bức tranh văn hóa truyền thống đa dạng, phong phú của người Dao, từ đó, góp phần vào việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa 8 của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc và Nghị quyết và Nghị quyết Trung ương 9, khóa 11 năm

2014 của Đảng về xây dựng văn hóa và con người Việt Nam trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong khi các thực hành văn hóa truyền thống khác của người Dao như

lễ cấp sắc, nhà cửa, trang phục, dòng họ, hôn nhân, gia đình, tang ma, nghi lễ vòng đời và tín ngưỡng đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, văn hóa nghệ thuật dân gian, bao gồm không chỉ tranh thờ mà còn dân ca, dân nhạc, dân vũ của người Dao còn chưa hoặc ít được tìm hiểu

Là một người con của dân tộc Dao, đang theo học tại khoa văn hóa học

và đặc biệt quan tâm tới mảng nghệ thuật dân gian, học viên mạnh dạn đề

xuất nghiên cứu: “Tranh thờ trong đời sống tín ngưỡng của người Dao ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái” làm đề tài tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nói đến lịch sử nghiên cứu về văn hóa ở Việt Nam thì đây là một vấn

đề khá rộng và đã được quan tâm từ rất sớm Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, người Pháp đã có nhiều ghi chép về văn hóa Việt Nam nói chung

và của các dân tộc thiểu số nói riêng Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XX thì văn hóa Việt và đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số mới thực sự lôi cuốn các nhà khoa học vào cuộc và văn hóa dân tộc Dao cũng không nằm ngoài sự quan tâm đó Nghiên cứu về dân tộc Dao đã có rất nhiều tác giả thực hiện và công bố trên các tạp chí khác nhau như Dân Tộc học, Nghiên cứu lịch sử và một vài tạp chí chuyên ngành khác

Trang 4

3

Về tên gọi, lịch sử thành phần tộc người, quá trình di cư, các thực hành tín ngưỡng tôn giáo và các luận bàn về đặc điểm tộc người ở quá khứ và tương lai có

thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như: Người Dao ở Việt Nam do các tác

giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nam Tiến biên soạn

(1971); Người Dao đỏ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam do Đỗ Quang Tụ và Nguyễn Liễn làm chủ biên (1971); và cuốn Sự phát triển Văn hoá – Xã hội của người Dao Hiện tại và tương lai do Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân

văn Quốc gia biên soạn (1998) vv

Một số công trình nghiên cứu khác lại đi sâu phân tích các đặc điểm cảnh quan, môi trường sinh thái và những sinh hoạt văn hóa vật chất, tinh thần của người Dao như: về tín ngưỡng, nhà ở, các phong tục, tập quán, lễ hội

và trò chơi dân gian, đó là: Hồ sơ khoa học Văn hoá dân tộc Dao đỏ, bản Động Ỉnh xã Tân Lĩnh , huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Đây là một nhánh của

đề tài Thực trạng và giải pháp bảo tồn và phát triển kinh tế - xã hội và du lịch

do tác giả Đổng Thị Hồng Hạnh (2008) thực hiện; Đề tài luận văn thạc sỹ Văn

hoá học Phong tục cưới xin của người Dao đỏ ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái

do học viên Triệu Thị Bình, niên khoá 2000- 2003 thực hiện; Đề tài luận văn

thạc sỹ Văn hoá học Lễ hội cầu mùa của người Dao đỏ xã Phúc Lợi, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, do học viên Đào Đức Toàn, niên khoá 2000 – 2003

thực hiện

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về người Dao chủ yếu đề cập đến các vấn đề mang tính khái quát về đặc điểm tộc người hoặc thực hành văn hoá tín ngưỡng và nguồn gốc di cư của tộc người Dao Trong các công trình này đề cập tương đối đầy đủ các khía cạnh của đời sống văn hoá tinh thần hay các không gian văn hoá phi vật thể của người Dao Tuy nhiên, do người Dao

là một dân tộc có dân số khá đông và phân bố rải rác ở nhiều vùng với nhiều dòng họ khác nhau; có những phong tục giống nhau cùng tồn tại song song

Trang 5

4

bên cạnh những khác biệt, do vậy, các thông tin về người Dao được đề cập trong những công trình nghiên cứu này có thể không đúng với tất cả tộc người Dao ở Việt Nam; người Dao ở địa phương này có thể có những đặc điểm khác biệt với người Dao ở các địa phương khác

Ngoài những công trình nghiên cứu như đã nêu ở trên, riêng về mảng tranh thờ, đã được một số tác giả đi sâu nghiên cứu Có thể kể đến một số cuốn sách tiêu biểu như:

Cuốn Tranh thờ đạo giáo ở Bắc Việt Nam của tác giả Phan Ngọc Khuê

(2001) do Nhà xuất bản Mỹ Thuật công bố Tác giả là một họa sĩ Ông là một cán bộ làm công tác nghiên cứu mỹ thuật lâu năm Đặc biệt là mỹ thuật cổ truyền của các dân tộc ít người Tác giả Phan Ngọc Khuê từng có nhiều năm sinh sống và nghiên cứu về mỹ thuật của các dân tộc vùng núi phía Bắc Tranh Đạo Giáo là một vấn đề khá rộng và hấp dẫn đối với ông Trong cuốn sách này tác giả đã trình bày tóm lược những nét cơ bản về nghệ thuật của tranh Đạo giáo nói chung ở phía Bắc Việt Nam Trên cơ sở của các tư liệu đã sưu tầm, tác giả trình bày vấn đề rất đơn giản nhưng mạch lạc, giúp cho người đọc dễ dàng nắm bắt nội dung Tác giả đưa vào trong cuốn sách từng bức tranh của các dân tộc khác nhau, trình bày chi tiết tiểu sử của nhân vật trong bức tranh đó nhằm giúp người xem hiểu rõ hơn về ý nghĩa của việc thờ các nhân vật trong tranh

Ngoài tác phẩm tiêu biểu nêu trên, tác giả Phan Ngọc Khuê còn có một bài viết trình bày chi tiết về tranh thờ của người Dao, đăng trong cuốn kỷ yếu

Hội thảo quốc tế: Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm

1998 Bài viết của tác giả có tiêu đề Tranh thờ của người Dao ở Bắc Bộ Việt Nam Trong bài viết này, tác giả Phan Ngọc Khuê đã trình bày rất cụ thể, chi

tiết về tranh thờ; ông đặt tranh thờ của người Dao trong sự so sánh với các

Trang 6

5

dân tộc khác như Tày và Cao Lan, phân biệt rõ đặc điểm tiêu biểu của tranh thờ của dân tộc Dao Ở phần khảo tả về phân loại tranh thờ, tác giả đã trình bày chi tiết về bức tranh, gắn với truyền thuyết lịch sử của tộc người và nhóm gộp các tranh thờ dành cho cúng gia tiên trong gia đình, gia tộc để phân biệt với tranh dùng trong nghi lễ cấp sắc/phong sắc của người Dao Trong phần viết so sánh, ông chỉ ra những loại tranh nào xuất hiện ở cả dân tộc Dao và các dân tộc khác (Tày, Nùng, Cao Lan, Kinh) Tác giả cũng trình bày chi tiết nội dung bức tranh về các thần linh trong cõi Thượng Nguyên (Tam Thanh cung, Ngọc Hoàng thượng đế, Trương Thiên Sư và Lý Thiên Sư, Tứ Đại Nguyên Súy, Bắc Đẩu Tinh Quân), tranh về các vị thần ở cõi Trung Nguyên (tranh Đương kim Hoàng đế trong tranh này lại phân loại ra Kiếm Khảnh và Sần Tào mỗi tranh có 4 bức), tranh về các thần linh ở cõi Hạ Nguyên (Địa Tạng Vương, Thập Điện Linh Vương), tranh vẽ chung các vị thần linh ở các cõi Thượng – Trung - Hạ Nguyên (gồm có bộ tranh có 2 bức vẽ Thiên Phủ (Thiên Khố) - Địa Phủ (Địa Khố) và Nhạc Phủ (Dương Phủ) - Thoải Phủ (Thủy Khố) Theo tác giả Phan Ngọc Khuê, bộ tranh vẽ chung các vị thần linh

ở ba cõi Thượng – Trung - Hạ nguyên (tức Thiên Phủ - Địa Phủ và Dương Phủ - Thủy Phủ) rất hiếm, khó có thể sưu tầm được, ngay cả với dân tộc Dao, đây là bức tranh thâu tóm toàn bộ quan niệm của Đạo giáo về ba cõi Thượng - Trung - Hạ Nguyên; từ bộ tranh này người ta có thể hình dung thứ tự, lớp lang của các thần được vẽ trên bộ tranh Trong bài viết này tác giả cũng đề cập đến vấn đề về xuất xứ, niên đại và tác giả, tác phẩm và những giá trị nghệ thuật của tranh

Tiếp theo, bên cạnh các nghiên cứu của tác giả Phan Ngọc Khuê,

Frederick Harris - Chủ tịch quỹ Đông Sơn ngày nay đã xuất bản cuốn Tranh thờ các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam (người dịch: Phạm Hoài Nam,

nhà xuất bản Lao động-Xã hội, năm 2006) Đây có thể coi là “một bộ sưu tập

Trang 7

6

đồ sộ” với hơn 2000 bức tranh và các loại mặt nạ của người Dao, Tày, Nùng, Cao Lan và Sán Dìu, trong đó đặc biệt chú ý đến văn hóa tín ngưỡng của người Dao Theo như tác giả Frederick Farris nhận xét thì: “Sự sùng bái thần linh và sức sống mãnh liệt của linh hồn tạo ra nhu cầu cho những suy nghĩ, bùa chú và các bức tranh thiêng liêng Theo thần thoại Hy Lạp, không phải con người sinh ra để đại diện cho các Thánh thần mà chính con người mới là nguyên mẫu cho họ Sự tồn tại song song của vật chất và ý thức, linh hồn và thể xác, suy nghĩ và thực tại chính là nhân tố để người dân tộc thiểu số miền

núi phía Bắc vẽ lên những bức tranh mang tính nghi lễ của Đạo giáo” [04, tr.11] Khoảng 300 bức tranh tiêu biểu nhất của cuốn sách đã được lựa chọn

và đưa ra triển lãm

Cũng đề cập về chủ đề tranh thờ, tác giả Chu Xuân Giao (2016) gần

đây có bài viết Hệ thống thờ Tứ Phủ trong tín ngưỡng của người Dao đăng

trên Tạp chí Văn hóa dân gian Bài viết mặc dù không đi quá sâu phân tích tranh thờ, tác giả cũng đã chỉ ra một đặc điểm của Tứ Phủ của người Dao thể

hiện trong kinh sách, trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của họ và so sánh

với việc thờ Tứ Phủ ở nhóm người Kinh

Tóm lại, nghiên cứu về văn hóa người Dao nói chung và tranh thờ nói riêng, mặc dù đã có nhiều tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu song chưa có công trình chuyên sâu nào giới thiệu về thực trạng tranh thờ trong bối cảnh thực hành đời sống của người Dao; cách thờ tranh hiện nay được quan tâm và sử dụng như thế nào? các ứng xử và thực hành liên quan đến nó hiện nay ra sao

và có những vấn đề nào đang đặt ra đối với tranh thờ dường như vẫn còn là một khoảng trống, chưa được giới nghiên cứu đề cập một cách tương xứng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 8

7

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm giới thiệu một bức tranh tổng quan về việc sử dụng tranh thờ trong đời sống của người Dao hiện nay ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái và Việt Nam nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu và trả lời cho các câu hỏi: tranh thờ hiện đang “sống” như thế nào trong cộng đồng người Dao ở huyện Lục Yên? sự tham gia của tranh thờ trong một số thực hành văn hóa cụ thể và thường ngày ở đây ra sao?

- Trên cơ sở thực trạng, chúng tôi sẽ đưa ra một số luận bàn xung quanh việc sử dụng tranh thờ của người Dao ở huyện Lục Yên trong bối cảnh hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tranh thờ và việc sử dụng tranh trong đời sống tín ngưỡng của người Dao Tranh thờ là một trong những loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo, được sử dụng trong các nghi lễ cấp sắc, đám tang

và nhảy lửa của gia đình và cộng đồng

Đề tài được thực hiện chủ yếu trong phạm vi cộng đồng người Dao ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái Tại đây, chúng tôi tập trung nghiên cứu ở các

xã có đông người Dao cư trú, còn lưu giữ được nhiều thực hành văn hóa truyền thống liên quan đến tranh thờ như: Tân Phượng, Phúc Lợi, Khai Trung, Tân Lĩnh và An Lạc

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn này sẽ được chúng tôi tiếp cận từ quan điểm của Văn hóa học

và Nhân học Văn hóa trong đó nhấn mạnh tiếng nói của người trong cuộc - những người Dao ở huyện Lục Yên - chủ nhân của tranh thờ

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài này là nghiên cứu định tính Cụ thể, chúng tôi coi việc đi điền dã, thâm nhập vào thực tế cộng đồng để lấy tư liệu là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Chúng tôi đã tiến hành nhiều

Trang 9

8

đợt nghiên cứu điền dã tại huyện Lục Yên Chúng tôi quan sát, phỏng vấn và ghi chép lại những lời kể của thầy tào và người dân ở huyện Lục Yên và Văn Yên (chỉ phỏng vấn 1 họa công ở Văn Yên bởi vì họa công này được người dân ở Lục Yên rất tin tưởng và đặt vẽ tranh) Quá trình thâm nhập thực địa, tiếp xúc và trò chuyện với người dân địa phương đã giúp chúng tôi có được nguồn tư liệu phong phú, tạo

cơ sở quan trọng để hoàn thiện luận văn

Bên cạnh đó, để có cái nhìn bao quát đối với chủ đề nghiên cứu, chúng tôi còn tiến hành tổng thuật các tài liệu có liên quan đã công bố, bao gồm: sách/báo/tạp chí và các đề tài luận văn, luận án Các hiện vật ở bảo tàng trung ương và địa phương cũng được chúng tôi quan tâm tìm hiểu

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về Tranh thờ trong đời sống của người Dao ở huyện Lục Yên Thông qua nội dung nghiên cứu, luận văn cho chúng ta biết được thực trạng và cách thức sử dụng tranh thờ hiện nay Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tư liệu giúp người đọc có được một hiểu biết đầy đủ và sâu sắc hơn về tranh thờ của người Dao tại huyện Lục Yên và Việt Nam nói chung

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo dành cho các nhà quản lý văn hóa và những ai quan tâm tới chủ đề tranh thờ của người Dao; góp phần vào công tác quản lý, bảo vệ, gìn giữ và phát huy những giá trị của tranh thờ gắn với một tộc người cụ thể

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài luận văn được bố cục thành ba chương:

Chương 1: Khái quát về người Dao và tranh thờ của người Dao

Trang 10

9

Chương 2: Việc sử dụng tranh thờ của người Dao ở huyện Lục Yên

Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với tranh thờ của người Dao ở huyện Lục Yên hiện nay

Trang 11

Á (Việt Nam, Lào, Thái Lan, Miến Điện) Ngoài ra, người Dao cũng đã nhập

cư vào một số nước như: Mĩ, Pháp, Canada, và một số nước Âu Mĩ khác (Hoàng Quý Quyền 2003: 1; Hà Hồng Nhất/He Hong-yi 2007: 4-7)

Người Dao có tên dùng trong giới nghiên cứu dân tộc học quốc tế là Yao hay Iu Mien Họ tự gọi dân tộc mình là Dìu Miền; viết và đọc theo tiếng Hán là Dao Nhân, tức là người Dao Hoặc, tự xưng là Kiềm Miền hay Kiềm

Mùn, viết và đọc phiên âm theo chữ Hán là sơn nhân, có nghĩa người ở rừng/núi

Ở nước ta, người Dao được chia thành nhiều nhóm với những nét riêng về phong tục tập quán và thể hiện rõ nhất qua trang phục Đó là: Dao Đỏ (Đại Bản), Dao Tiền (Tiểu Bản), Dao Quần chẹt, Dao Lô Gang và Dao Áo Dài

Trong quá trình di cư và sinh sống, do cư trú riêng theo bản làng độc lập hoặc sống xen kẽ với một hoặc nhiều tộc người khác, người Dao hiện nay

có nhiều nhóm ở địa phương và giữa họ không hiểu tiếng nói của nhau, phải dùng đến ngôn ngữ tiếng Kinh để giao tiếp

Trang 12

11

Câu chuyện lịch sử viết bằng thơ Đặng Hành và Đại Bàn Hồ, về quá

trình di cư của người Dao tới Việt Nam kể rằng: tổ tiên của họ sinh sống lâu đời ở đất Quảng Đông (phía Nam Trung Quốc), khoảng cuối thế kỷ II trước

Công Nguyên Theo tác giả Phan Ngọc Khuê, Tranh thờ đạo giáo ở Bắc Việt Nam (2001) viết: “Có trường hợp chỉ rõ là khu vực Động Đình Hồ (tỉnh Hồ Nam) Cứ liệu khảo cổ học cho hay nơi đây và khu vực láng giềng, thời đồ đồng, đồ đá, đã phát hiện một nền nông nghiệp dùng cuốc với rìu có vai, khác với nền văn hóa Ngưỡng Thiều (R.F.Ito 1960) Chủ nhân là những bộ lạc gọi chung là Tam Miêu hay Miêu Dân Về sau họ ly tán xuống Quảng Tây, Quảng Đông Đến thời Tần – Hán (thế kỷ II – II trước Công Nguyên) trong thư tịch không còn thấy xuất hiện tên gọi Tam Miêu nữa, mà xuất hiện nhiều tộc danh mới như Man, Di, Việt kế đó là Man Dao, Man Mieu”

Còn theo ông Trương Hữu Tuấn, Viện trưởng Viện nghiên cứu Dân Tộc Học, Học Viện Dân Tộc Quảng Tây, Phó chủ tịch Hội người Dao Trung Quốc, trong một tranh luận tại Hội nghị quốc tế về người Dao, họp tại Thái Nguyên, tháng 12 – 1995 cho rằng: Thời kỳ Đường Tống, người Dao sống chủ yếu ở tỉnh Hồ Nam có một bộ phận sống ở miền Bắc Lưỡng Quảng Thời Nguyên (1280 – 1369) trung tâm cư trú của người Dao bắt đầu di chuyển về phía nam, thời Minh (1836 – 1662) Quảng Tây mới trở thành nơi cư trú chủ yếu của người Dao

Từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX, người Dao di cư vào Việt Nam theo ba con đường Đó là:

- Con đường đất liền: từ vùng Phòng Thành, Thượng Tứ tỉnh Quảng Tây vào Quảng Yên, Quảng Ninh của Việt Nam

- Từ Quảng Tây (Ninh Minh) đi vào vùng Lạng Sơn và Quảng Ninh của Việt Nam

Trang 13

12

- Một con đường nữa theo phía Tây của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) qua biên giới Việt Trung vào các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng của Việt Nam và các nước Mianma, Thái Lan, Lào

Người Dao ở nước ta là một trong những tộc người có nhiều nhóm địa phương Nếu dựa theo tên tự gọi của cộng đồng người Dao, tên phiếm xưng

và những tên mà dân tộc khác đặt cho thì có thể có tới 30 nhóm Dao khác nhau Song, theo sự phân loại của nhiều nhà dân tộc học, căn cứ vào một số đặc điểm văn hóa, người Dao ở nước ta có 7 nhóm Đó là: Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Phán (Dao Lô Gang), Dao Quần Trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y (Dao Chàm), Dao Áo Dài (Dao Làn Tuyển) Nếu dựa theo phương ngữ thì có 2 ngành là: Ngành nói phương ngữ thứ nhất, gồm các nhóm Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt và Dao Thanh Phán; ngành nói phương ngữ thứ hai là Dao Quần Trắng, Dao Áo Dài và Dao Thanh Y Riêng Dao Tiền, có đặc điểm là người phụ nữ mặc váy in hoa văn xanh lơ, mặc áo dài nhuộm chàm, đặc biệt cổ áo, phía sau gáy có treo 7 hoặc 9 đồng tiền xu kim loại và dây thắt lưng; cũng bởi nét đặc trưng này họ có tên gọi là Dao Tiền Ở nước ta, Dao Tiền phân bố ở hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc Phía Tây Bắc, người Dao cư trú ở các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ và Sơn La Phía Đông Bắc người Dao cư trú ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang và

Hà Giang Tỉnh Bắc Kạn có 4 huyện có Dao Tiền sinh sống và đông nhất là 2 huyện Ba Bể và Ngân Sơn

Trước đây, người dao ở nước ta sinh sống chủ yếu bằng phương thức canh tác nương rẫy và thường du cư từ nơi này tới nơi khác Ngày nay, người Dao đã kết hợp làm ruộng, trồng rừng, trồng cây ăn quả và chăn nuôi; chỉ có một

số ít còn làm nương rẫy Đa số làng của người Dao nay đã định cư, có kinh tế khá ổn định, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được cải thiện

Trang 14

13

Người Dao có nền văn hóa lâu đời và phong phú Đó là các hình thức sinh hoạt ca hát, các loại truyện cổ, những điệu múa dân gian trong dịp tết Nguyên đán và lễ cấp sắc, các loại hoa văn trang trí thêu thùa, kho tàng tri thức dân gian về thời tiết, chữa bệnh, Tuy sống phân tán, nhưng người Dao rất trân trọng giá trị văn hóa cổ truyền, luôn quan tâm truyền dạy và tạo điều kiện kế thừa, phát huy những đặc trưng văn hóa của mình Một trong những điều kiện quan trọng đồng bào trao truyền và bảo lưu những giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác là việc duy trì các nghi lễ vòng đời, các nghi lễ sinh đẻ, cấp sắc, cưới xin, và tang ma là những nghi lễ chủ yếu, bởi vì ai cũng phải trải qua một lần Nhờ vậy, trong điều kiện hiện nay là đoàn kết, bình đẳng và giao lưu với các dân tộc anh em, nền văn hóa của người Dao vốn đa dạng và phong phú lại càng trở nên đa dạng, phong phú hơn

Trải qua hàng ngàn năm ly tán trong không gian rộng lớn người Dao đã xây dựng nên một tục lệ chung của dân tộc Dao là thờ Bàn Vương - thủy tổ của dân tộc, mang tinh thần tôn giáo nghiêm ngặt nhằm củng cố và mở rộng huyết thống của cộng đồng người Dao

1.2 Người Dao ở Yên Bái và huyện Lục Yên

1.2.1 Người Dao ở Yên Bái

Yên Bái là một tỉnh miền núi có dân số 1.000.234 người (tính đến năm 2015), bao gồm 30 dân tộc cùng sinh sống trong đó người Dao là dân tộc có

số dân đông thứ 3, chiếm 10,31%

Theo các tư liệu lịch sử, Yên Bái là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ; nơi đây các nhà khoa học đã tìm thấy được xương cốt động vật hóa thạch, có niên đại cách đây hơn 10 vạn năm ở Hang Hùm (Lục Yên) và hang Thẩm Thoong (Văn Chấn) cùng với nhiều công cụ bằng đá, đồng thau khác nằm rải rác trên toàn bộ địa bàn tỉnh

Trang 15

Người Dao ở Yên Bái thường cư trú chủ yếu trên các rẻo giữa, tức khu vực tiếp giáp giữa vùng thấp và vùng cao Họ sinh sống tập trung nhất là ở các huyện Văn Yên, Yên Bình, Lục Yên, Văn Chấn và Trấn Yên Tại đây, người Dao có 4 nhóm chính đó là: Dao Đỏ (Dao Đại Bản), Dao Quần Chẹt (Dao Nga Hoàng, Dao Sơn Đầu), Dao Quần Trắng, Dao Làn Tuyển (Dao Tuyển) Họ có thể dễ dàng phân biệt qua trang phục Người Dao Đỏ lấy màu

đỏ làm màu chủ đạo của trang phục và trang trí với nhiều tua và núm bông đỏ Trong đám cưới, phụ nữ Dao Đỏ đội mũ to, có khung gỗ hay nan tre nứa bẻ thành góc nhọn nhô ra phía trước mặt Bên ngoài phủ vải đỏ và khăn thêu Dao Quần Chẹt mặc quần ống bó sát vào chân trước đây phụ nữ của nhóm Dao này có tục chải tóc bằng sáp ong nên gọi là Dao Sơn Đầu Đặc điểm trang phục của Dao quần trắng là ở chiếc yếm, sử dụng để che kín cả phần ngực và bụng Người Dao Quần Trắng mặc quần màu trắng trong lễ cưới Cuối cùng, Dao Làn Tuyển mặc áo dài, đội mũ nhỏ như cái đấu gỗ

Giữa các nhóm Dao ở đây cũng có sự khác biệt tương đối về tiếng nói,

do đặc điểm cư trú đưa lại Tuy nhiên họ đều thuộc nhóm ngôn ngữ H’mông – Dao (ngôn ngữ Nam Á) và có chung tục thờ Bàn Vương Ngày nay, trong

cộng đồng người Dao vẫn lưu truyền phổ biến câu chuyện về Bàn Hồ

Trang 16

15

Chuyện kể rằng xưa có hai vị Cao Vương và Bình Vươngcầm đầu hai nước đánh nhau không phân thắng bại Một lần Cao Vương uy hiếp thành công Bình Vương Bình Vương rất lo sợ liền tuyến bố sẽ gả công chúa cho ai

có thể đánh thắng được giặc Không một viên tướng nào dám nhận Sau đó, bỗng nhiên xuất hiện một người tự xưng là Bàn Hồ đến xin đánh mà không cần dùng quân lính Cực chẳng đã, Bình Vương buộc phải bằng lòng Bàn Hồ

đi tới thành của Cao Vương, biến thành con chó, canh một tới chân thành, canh hai vào thành tới chỗ Cao Vương Thấy chó quý đến, Cao Vương cho rằng có điềm lành, bèn giữ lại, luôn cho theo bên mình Một hôm, Cao Vương quá chén, rượu say bất tỉnh, Bàn Hồ bèn chém đầu và đưa về dâng cho Bình Vương Thắng trận, Bình Vương mặc dù không muốn gả con gái cho Bàn Hồ song, vì đã chót hứa nên đành phải giữ lời Đôi vợ chồng Bàn Hồ trở về núi Nam Sơn và sinh sống ở trong động Sau ba năm, vợ chồng Bàn Hồ sinh được

6 người con trai, 6 người con gái, kết hôn với nhau và thành thủy tổ 12 dòng

họ của người Dao hiện nay Vợ chồng Bàn Hồ cùng con cái sau đó trở về thăm bố vợ Thương các cháu, Bình Vương ban cho các cháu áo, quần (váy), sặc sỡ Tuy nhiên, vợ chồng và con cái của Bàn Hồ không quen ở đất bằng,

họ xin trở về núi sinh sống Nhà vua phong cho làm Bàn Vương, cấp cho Bình Hoàng khoán điệp mà người Dao gọi là “Quỷ son poong” làm chủ tất cả khu

vực rừng núi phía Nam

Trong các câu chuyện kể về nguồn gốc của người Dao, chuyện Bàn Vương là phổ biến Câu chuyện này hiện có nhiều phiên bản khác nhau, do

ảnh hưởng qua lại với các tộc người khác Một số nhóm không thuộc người Dao cũng phổ biến câu chuyện Bàn Hồ Dù câu truyện được truyền miệng và

kể với mô típ nào chăng nữa thì cũng cho thấy một đặc điểm rất rõ là nguồn gốc của nười Dao là kết quả của sự giao lưu văn hóa Nếu câu truyện Bàn Hồ liên kết toàn bộ cộng đồng người Dao, thì một số tín ngưỡng và thực hành

Trang 17

16

hành tôn giáo nhuốm màu sắc Đạo giáo cũng góp phần củng cố thêm ý thức

tự giác tộc người của người Dao và từng nhóm bộ phận

Hình thái kinh tế của người Dao ở Yên Bái trước đây chủ yếu sản xuất nông nghiệp, trồng lúa nương và lúa nước Trong đó lúa nước chiếm tỷ lệ ít hơn Ngày nay, người Dao ở đây chủ yếu trồng lúa nước do họ đã sống định

cư và canh tác lúa nương không còn được chính quyền sở tại khuyến khích Ngoài cây lúa, người Dao còn trồng thêm một số cây hoa màu khác như ngô, khoai, sắn, Rau của người Dao có các loại bầu, bí, mướp đắng, cây họ đậu,

củ từ, dưa gang Đặc biệt, người Dao ở Yên Bái hiện đang phát triển hai loại cây công nghiệp đó là quế và cây chè Cây quế là cây trồng truyền thống của người Dao ở huyện Văn Yên, khi sinh con gái bố mẹ lại trồng thêm quế để làm của hồi môn, khi sinh con trai cũng trồng thêm quế để dành cho con Người Dao ở Yên Bái cũng chú ý tổ chức chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, vv

1.2.2 Người Dao ở Lục Yên

- Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Lục Yên

Lục Yên là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Yên Bái, cách thành phố 93km Phía Đông của huyện giáp với Hàm Yên (Tuyên Quang), phía Tây giáp Văn Yên (Yên Bái), phía Nam giáp Yên Bình (Yên Bái) và phía Bắc giáp Quang Bình (Hà Giang) và Bảo Yên (Lào Cai) Huyện Lục Yên có diện tích tự nhiên là 808,7 km2 bằng 11% diện tích tự nhiên của tỉnh Yên Bái, sếp thứ 4/9 so với 9 huyện của tỉnh về quy mô đất đai Toàn huyện có 23 xã và 1 thị trấn Đây là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Yên Bái, nối cửa khẩu Lào Cai với Yên Bái, Hà Nội với cả nước

Về địa hình, huyện Lục Yên thuộc khu vực miền núi, bị chia cắt bởi 2 dãy núi chính chạy dọc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, tạo ra các thung lũng, bồn địa bằng phẳng là nơi tập chung sản xuất và sinh sống lâu đời của

Trang 18

4 năm sau Nhiệt độ trung bình từ 22oC đến 24oC, nhiệt độ cao nhất 39oC –

41oC thấp nhất 1 - 2oC Lượng mưa trung bình trong năm tương đối lớn từ

1500 – 2500mm tập chung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10

Thời tiết khí hậu huyện Lục Yên chỉ thích ứng với việc phát triển nông lâm nghiệp Ở đây người dân trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, trồng cây công nghiệp (chè), cây ăn quả (cam, quýt, hồng không hạt) và các loại cây đem lại lợi ích kinh tế khác như măng Mai Sản phẩm măng khô của Lục Yên

đã được bán ở khắp các vùng miền trong cả nước …

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, huyện Lục Yên đã được đầu tư xây dựng nhiều hạng mục cơ sở hạ tầng: 100% các xã trong huyện đều đã có trạm xá, điện thắp sáng, đường xe ôtô tới trụ sở Ủy Ban Nhân Dân và trường học đến cấp Trung học cơ sở

Theo số liệu thống kê gần nhất, tốc độ tăng trưởng bình quân ở huyện Lục Yên là 13,76% Mức thu nhập bình quân đầu người từ 5-6 triệu đồng Thu ngân sách trên địa bàn đạt 5.158 tỉ đồng Nếu cuối năm 2014, toàn huyện

có 3460 hộ nghèo, chiếm 35,96% so với tổng số hộ trên địa bàn thì sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 30A, đến 31/12/2015 tổng số hộ nghèo của huyện chỉ còn 2315 hộ nghèo Việc thực hiện công tác xóa nhà tạm trên địa bàn đã hoàn thành từ 2014 với trên 1.172 nhà (Những thông tin, số liệu trên đây dựa theo kết quả thống kê của Phòng thống kê huyện Lục Yên năm 2014).)

Các yếu tố môi trường, tự nhiên và xã hội vừa nêu ở trên có ảnh hưởng chi phối tới đời sống của những người dân đang sinh sống trên địa bàn, trong

đó có người Dao Với những đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình của một huyện

Trang 19

18

miền núi người Dao ở đây đã xây dựng cho mình cách thích nghi để phát triển nông lâm nghiệp từ đó cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống

- Về người Dao ở Lục Yên

Tại Lục Yên, hai nhóm Dao Quần Trắng và Dao Đỏ chiếm đa số; họ sống tập trung ở hai khu vực khác nhau Nếu người Dao Đỏ sinh sống chủ yếu ở khu vực Đông Bắc và Tây Bắc thì người Dao Quần Trắng lại chủ yếu hai bên bờ sông Chảy thuộc phía Nam của huyện Lục Yên, do môi trường sinh sống xen kẽ giữa các tộc người khác nhau và gần đường quốc lộ nên hiện nay các nghi lễ văn hóa của nhóm Dao Quần Trắng đã biến đổi đi rất nhều Người Dao ở Lục Yên phần đông là Dao Đỏ, cư trú chủ yếu ở khu vực tiếp giáp giữa vùng thấp và vùng cao, sinh sống thành làng/bản có khi chỉ có vài nóc nhà Trước kia người Dao thường sống phân tán, khoảng cách các bản khá xa vì phải chạy theo nương rẫy Hiện nay, dưới sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, người Dao đã sống định cư, nhà cửa ở sườn đồi, gần suối hoặc những nơi có điều kiện dẫn các mỏ nước ngầm tự nhiên Họ sống tập trung đông nhất ở các xã như: Tân Phượng, Khai Trung, Phúc Lợi, Tân Lĩnh và Tô Mậu,

Hình thái kinh tế của người Dao ở huyện Lục Yên chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Một số ngành nghề thủ công cũng phát triển như dệt vải, nhuộm chàm, in và thêu hoa văn trên vải Một số nghề đan lát các dụng cụ để đựng bằng che, nứa, mây, giang song Nghề rèn của người Dao cũng phát triển, chủ yếu là sản suất ra các công cụ phục vụ cho công việc sản suất như: dao, cuốc cào cỏ, lưỡi cày, Các hoạt động trao đổi, mua bán chưa thực sự trở thành loại hình kinh tế quan trọng nhưng cũng giúp cải thiện đời sống của nhiều người dân

Nhà ở của người Dao ở Lục Yên cũng giống như người Dao ở những nơi khác, chủ yếu là nhà đất, nhà hình chữ nhật và thường có hai mái, trong

Trang 20

họ mặc bó sát, áo dài qua hông, quần dài đến đầu gối và bó sát đùi, chân quấn

nước Mặc trang phục nhiều màu sắc như vậy là để tưởng nhớ và biết ơn Bàn

Hồ Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, quần áo của tộc người Dao sặc sỡ là bởi vì họ chủ yếu sống ở vùng rừng núi; trang phục có tác dụng bảo vệ họ khỏi sự tấn công của hổ báo – những con vật vốn sợ màu đỏ

Qua tìm hiểu về trang phục dân tộc cho thấy, trang phục dân tộc của người Dao vừa đảm bảo yếu tố truyền thống, tâm linh cũng như sắc thái văn hóa Quần áo của đàn ông may rộng để phù hợp cho việc đi rừng, săn bắt, Quần áo của phụ nữ may dài, ôm sát cơ thể vừa tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ vừa che chắn cho người phụ nữ khi lên rừng, đi nương rẫy khỏi nắng, bụi bặm, trong khi chiếc xà cạp lại có tác dụng chống lạnh, muỗi, vắt hay những vật cứng

Trang 21

là nội dung Đạo giáo đã được người Dao tiếp thu và biến hóa cho phù hợp Nói cách khác, Đạo giáo đã sử dụng các tín ngưỡng và hành vi tôn giáo sâu sắc nhất vốn có ở người Dao và đưa vào đó nghi thức và nội dung mới Điều này phản ánh rõ nhất ở trong tranh thờ của người Dao trong đời sống tín ngưỡng

1.3 Khái quát về tranh thờ của người Dao

Tranh thờ không phải như những bức tranh để chơi như quan niệm thông thường; nó là tranh dùng để phục vụ trong các nghi lễ của thầy mo, thầy cúng (thầy Tào) Tranh thờ, như tên gọi của nó được sử dụng trong các nghi

lễ thờ cúng và một phần trong hệ thống các đồ thờ khác như mũ, áo, thầy tào,

ấn, kiếm, mặt nạ dùng trong lễ cúng Tranh thờ mang sắc thái và giá trị thẩm

mỹ rất riêng, được vẽ theo nội dung của các điển tích về thần linh, vũ trụ và con người qua lý thuyết của Đạo Giáo và bị pha trộn những ảnh hưởng của Đạo Phật, cộng với những biến thể do bị thêm bớt của từng địa phương khác nhau Tranh thờ có bố cục lạ: hẹp, dài với dày đặc hình ảnh của các vị thần linh Các nhân vật thần chủ này lại tuân theo một quy tắc xã hội nhất định: Ai

có quyền năng cao được vẽ to, chiếm vị trí trung tâm và với các vị thần ít quyền thì được vẽ đơn giản, nhỏ Màu sắc tranh thờ là màu tự nhiên, ít pha trộn như đỏ, vàng, trắng, đen, xanh lá cây, đâu đó các họa công còn dùng cả vàng lá, bạc lá, bạc thếp để thêm vào tranh tạo sự quyện ấm tươi tắn cho bức tranh – có thể dễ dàng đoán được những màu ấy trong tranh, mang tính ước

lệ, biểu trưng nhiều hơn là tả thực

Trang 22

21

Một trong những điều đáng chú ý nhất ở tranh thờ là phong cách nghệ thuật Đồng Hiện và Liên Hoàn được sử dụng triệt để, tạo nên hiệu quả rất cao Nghĩa là, trong cùng một khuôn tranh, người ta bắt gặp các lớp không gian, thời gian, thật và ảo khác nhau; các thần chính, thần phụ, ma quỷ và con người trên cùng một mặt tranh Lại có những bức tranh vẽ đủ cả các cảnh từ mặt đất lên bầu trời, từ núi sông tới biển cả, từ địa ngục tới tiên cảnh tùy theo trí tưởng tượng của người vẽ Điều ấy khiến cho không gian của tranh trở nên mênh mang, không gian tranh trở nên vô tận chứ không ghim chặt vào một thời điểm sáng hay chiều Xét về mặt nào đó, đây là một thành công trong tư duy sáng tác của các họa công tranh thờ Tranh vẽ một loạt các nhân vật đáng chú ý khác đó là những vị thần chủ như là Thập Điện Linh Vương, Tứ Đại Nguyên Súy, Tả Sư Hữu Thánh và các thần phụ đi kèm Những vị thần chủ chính thường được khắc họa nổi bật, các chi tiết được chọn lựa kỹ càng, mang tính biểu trưng cao, ví như những lưỡi lửa bừng bừng cháy trên thanh gươm của vị Tả Sư và con rắn xanh quấn quanh gươm của vị Hữu Thánh – trong bộ tranh đôi Tả Sư Hữu Thánh Những hình ảnh nói trên là ví dụ về sự khái quát,

cô đọng bằng đường nét: diễn tả sức mạnh bừng bừng không gì cản nổi (như ngọn lửa), thâm sâu lạnh lẽo (như nọc độc của con rắn xanh) thứ quyền lực bao trùm, mạnh mẽ của hai vị quan chấp pháp

Trong khi đó, những nhân vật phụ thường được vẽ không mấy cụ thể, mang những tư thế giống hệt nhau, đôi khi là những bản sao hoàn chỉnh về sắc độ Chính những hình tượng phụ này cũng là một điểm rất đáng lưu ý: hàng trăm hình tượng vẽ lặp lại, na ná nhau, lại xếp liền tù tì thành một hàng hay nhiều hàng chồng chéo, giống như một họa tiết trang trí độc đáo

Với các dân tộc thiểu số, người thầy cúng và đồ thờ cúng luôn là chỗ dựa cho đời sống tâm linh của họ Người thầy cúng được kính trọng, có uy tín trong cộng đồng và phải được cấp sắc và có học hành Các lễ cúng không chỉ

Trang 23

22

là phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số mà còn là hoạt động sinh hoạt văn hóa Gắn liền với các lễ cúng đó, tranh thờ đóng một vai trò quan trọng, thể hiện và diễn tả các tín ngưỡng, lối tư duy và cách hành xử trong cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số Trong sinh hoạt thường ngày, với nhiều dân tộc, tranh thờ và một số tác phẩm điêu khắc sẽ không được sử dụng vì mục đích trang trí Tranh thờ do các họa công tranh thờ vẽ và sao chép - nằm trong

hệ thống đồ để thờ cúng như áo choàng mũ, kiếm cúng, lệnh bài, mặt nạ, nhạc

cụ, sách cúng tất cả những vật này thuộc sở hữu của thầy tào và chỉ được đưa ra sử dụng vào những dịp lễ cúng Các thầy Tào có quy tắc bảo vệ sự linh thiêng của bộ tranh thờ rất chặt chẽ

Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc Khuê trong bài viết Tranh thờ của người Dao ở Bắc Bộ Việt Nam in trong cuốn; Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai có nhận xét: “Phía dưới cùng của tranh,

vẽ một người mặc áo đội mũ của thầy tào đang quỳ để dâng hương lên các vị thần linh vẽ ở toàn bộ phần trên Thầy Tào chỉ vẽ phần lưng, không thấy mặt Làn khói hương tỏa bay ngoằn nghoèo như một con đường dẫn tới những vị thần linh ở các cung điện, lên tới tận Tam Thanh cung trên cao tột đỉnh – nơi

ở của ba vị thiên tôn tối cao, biểu hiện cho lời cầu khấn của thầy tào sẽ thấu tới các vị thần linh mà người vẽ trong tranh Cho nên tranh có tên là Dẫn Hương, đó là xét về mặt hình thức biểu hiện của tranh” [06, tr.15]

Chi tiết này cho thấy người dâng hương rất quan trọng – nó xác định trung tâm của bức tranh, có trong hệ thống tranh Đạo Giáo của các dân tộc Dao, Tày, Nùng, Cao Lan ở miền núi và Kinh ở vùng đồng bằng Đồng thời cũng cho ta thấy hình ảnh của các vị thần linh được vẽ toàn bộ phần trên bức tranh là thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần, cũng là để xác định các vị thần linh trong ba cõi Thượng - Trung - Hạ Nguyên như cách chia của Đạo Giáo mà không có trong bất kỳ loại tranh Phật Giáo nào ở Việt Nam

Trang 24

số của Việt Nam Chỉ còn tồn tại trong cộng đồng các dân tộc thiểu số miền núi như Tày, Nùng, Dao, Cao Lan - Sán Chỉ và Khơ Mú Tranh thờ được dùng không phải một bức tranh để chơi, mà dùng trong các nghi lễ của các thầy Mo, thầy cúng (thầy Tào) Các dân tộc này đều có nguồn gốc từ Trung Quốc, vì nhiều lí do khác nhau nhưng chủ yếu là do xung đột sắc tộc, nên đã

di cư, lánh nạn xuống phía Bắc của Việt Nam sinh sống trong nhiều thế kỷ qua Các dân tộc này có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong những năm sau đổi mới và trong thời kỳ hiện đại hóa hiện nay Nhưng phải nói rằng, dù trải qua nhiều biến cố, thăng trầm nhưng các dân tộc này vẫn còn giữ được nhiều đời sống văn hóa riêng của họ ít bị biến đổi và nhạt phai vì thế mà tranh thờ vẫn còn tồn tại, cùng các nghi lễ và đời sống tín ngưỡng vẫn còn giữ được gần như trước đây trong đời sống của họ”

Ngày nay, có những tranh đề lạc khoản rõ ràng cho biết xuất xứ Tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, một bộ tranh thờ của người Dao Đỏ vùng Bắc

Hà, Lào Cai đang được trưng bày tại đây, trong khoản lạc ghi rõ: thuê hai bố con nghệ nhân người Quảng Lâm, Quảng Tây vẽ năm Gia Khánh thứ 16, triều

Trang 25

24

nhà Thanh, tức năm 1812, với giá khoảng 20 lạng bạc Tuy nhiên, đó không phải là hiện tượng phổ biến; đại đa số các tranh đều không có niên đại Qua tìm hiểu của chúng tôi tại xã Khai Trung có bộ tranh của ông Phùng Kim Vui, hiện nay người thờ là Phùng Xuân Phú (đời thứ 6, bộ tranh khoảng trên 200 năm), tuy nhiên, bức tranh không đề người vẽ năm bao nhiêu

Sự xuất hiện của tranh thờ ở người Dao tại Việt Nam từ bao giờ hiện vẫn chưa có dẫn chứng rõ ràng để minh chứng Trong quá trình điền dã tại địa bàn huyện Lục Yên, các thầy tào, nghệ nhân và các cụ cao tuổi có hiểu biết về tranh thờ đều cho biết họ không rõ xuất sứ của tranh thờ Họ chỉ biết rằng, tranh thờ đã có trong cộng đồng người Dao từ rất lâu đời

Ở sâu vùng nội địa, việc giao lưu văn hóa giữa hai vùng biên giới Việt – Trung có khó khăn, người Dao thuê các nghệ nhân người Tày, Kinh vẽ tranh thờ Các nghệ nhân thường vẽ theo mẫu tranh của Trung Quốc và không

có nhiều sai sót và khác biệt lớn về nội dung Điểm khác ở đây chỉ là chất liệu

và phong cách vẽ của người hoa công

Với tranh Trung Quốc, mặt sau thường có một tờ giấy biểu là bản vẽ nét đen của tranh Sau khi bồi biểu hai tờ với nhau, người họa công sẽ có hình

vẽ lờ mờ trên mặt tranh Dựa trên các nét, hình đó người ta sẽ tô phẩm màu hoặc mực nho và đi các nét bao hình vẽ chính và chi tiết Các bức tranh của người Việt nam vẽ không có chi tiết này

Về chất liệu màu, người Trung Quốc thường dùng phẩm màu và mực nho để vẽ nên màu tranh thường rực rỡ và mặt tranh thì mịn màng Tranh của người Việt Nam sử dụng bột màu cho nên mặt tranh xốp và gợn hơn Tương

tự, giấy vẽ của người Trung Quốc là bằng chất liệu giấy dó, rất dày và độ bền của tranh sẽ tốt hơn tranh của người Việt Nam Hoặc, liên quan đến kỹ thuật;

do truyền thống hàng nghìn năm sử dụng bút lông để viết chữ và vẽ tranh nên nét vẽ trên tranh của người Trung Quốc khá là hoạt bát, sinh động, chính xác

Trang 26

25

và chủ động Những độ chuyển màu đậm nhạt thường êm mà khỏe khoắn Ngược lại, trên tranh vẽ bằng bột màu của người Việt Nam, độ chuyển màu đậm nhạt dễ bị cứng hoặc có khoảng hình màu phẳng

TIỂU KẾT

Người Dao là một tộc người thiểu số, sinh sống chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc Họ có những giá trị văn hóa phong phú, là kết quả của một quá trình tích lũy, trau dồi và mài rũa từ hàng nghìn năm, tạo nên những nét tinh hoa văn hóa của một tộc người Văn hóa người Dao giống như một sợi chỉ màu góp phần tô điểm cho bức tranh các dân tộc Việt Nam; giúp cho bức tranh ấy ngày càng đa dạng và rực rỡ hơn Tranh thờ của người Dao cũng không ngoại lệ Dù còn nhiều điểm chưa rõ về nguồn gốc và xuất xứ tuy nhiên để tồn tại đến ngày hôm này, đằng sau những bức tranh thờ là cả một câu truyện dài gắn liền với nguồn gốc của tộc người Nếu như “văn dĩ tải đạo” thì tranh vẽ cũng là công cụ đem Đạo của thánh hiền đến với con người Tranh là hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ quan của người Dao Các nhân vật trong tranh có cuộc sống linh thiêng và thần bí Ở đó có sự hài hòa, đồng nhất giữa con người và vũ trụ, được chi phối bởi tư duy vũ trụ Á Đông: Thiên - Địa - Nhân hợp nhất

Trang 27

26

CHƯƠNG 2 VIỆC SỬ DỤNG TRANH THỜ CỦA NGƯỜI DAO

Ở HUYỆN LỤC YÊN

Mỗi một dân tộc đang sinh sống trên đất nước Việt Nam đều nhận thức được về một nền văn hóa đa dạng, đa dân tộc Mối quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam là quan hệ đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau giữ gìn và xây dựng đất nước Thể hiện chính sách dân tộc, các cơ quan đoàn thể của Nhà nước đã tạo mọi điều kiện cho các dân tộc tiến hành từng bước trong việc bảo tồn, chấn hưng văn hóa của mình, đồng thời giao lưu văn hóa giữa dân tộc Kinh

và các dân tộc thiểu số Mặc dù có những điều kiện địa lý tự nhiên và lịch sử

xã hội khác nhau về mặt văn hóa, ngoài những điểm tương đồng, mỗi dân tộc

ở Việt Nam - không phân biệt trình độ phát triển kinh tế, số lượng dân số lớn hay nhỏ - đều sáng tạo nên những bản sắc riêng biệt, độc đáo và đều có giá trị như nhau Những bản sắc riêng, độc đáo ấy thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống, ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết), trang phục, tập quán cư trú, công trình kiến trúc, tập quán sản xuất, công cụ sản xuất, nghệ thuật, tôn giáo và cả những phong tục, tín ngưỡng

Dân tộc Dao cũng là một trong những tộc người thiểu số ở Việt Nam có lịch sử, văn hóa phong phú và lâu đời Đó là các hình thức sinh hoạt ca hát, các loại truyện cổ, những điệu múa dân gian trong dịp tết nguyên đán và lễ cấp sắc, các loại hoa văn trang trí thêu thùa, kho tàng tri thức dân gian về thời tiết, chữa bệnh Một trong những thực hành văn hóa được người Dao trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác là các nghi lễ vòng đời, nghi lễ sinh đẻ, cưới xin, tang ma, nhảy lửa, cấp sắc Ngày nay, trong môi trường xã hội hóa, công nghiệp hóa nhưng những nghi lễ cấp sắc, tang ma, nhảy lửa, nghi lễ vòng đời, chi thức dân gian vẫn được gìn giữ cẩn trọng Tại một số địa phương hiện nay vẫn có thể quan sát được những nét văn hóa đặc trưng, giàu

Trang 28

27

tính truyền thống dân tộc, các nghi lễ vẫn đang tiếp tục được duy trì trong đời sống của cộng đồng và các hộ gia đình người Dao Hiện nay nghi lễ cấp sắc của người Dao ở các tỉnh Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

từ ngày 27/12/2013 Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn, trong khuôn khổ của chương này, chúng tôi không bàn luận sâu về nghi lễ cấp sắc, tang ma, nghi lễ vòng đời hay lễ nhảy lửa, Thay vào đó chúng tôi muốn bàn đến một hiện vật đóng vai trò rất quan trọng trong nghi lễ, một hiện vật

mà theo như cách gọi của những người thầy tào là một “nhân chứng”, là linh hồn của các nghi lễ, nếu thiếu nó các nghi lễ cấp sắc, nhảy lửa và tang ma đó

sẽ không bao giờ có thể được thực hiện đó chính là các bộ tranh thờ Trong chương này chúng tôi sẽ chỉ trình bày những cách sử dụng tranh mang tính truyền thống, đều có ở cả hai nhóm Dao ở huyện Lục Yên (Dao Quần Trắng

và Dao Đỏ)

2.1 Cách sử dụng tranh thờ trong các nghi lễ

2.1.1 Trong cấp sắc

a) Về đặc điểm của tranh

Tranh thờ của người Dao trọn bộ có tên là Mãn Đường, bao gồm 18 bức Trong bộ Mãn Đường này người ta chia ra thành hai bộ Tam Thanh và Hành Say Bộ Tam Thanh được sử dụng đối với các nghi lễ cấp sắc 7 đèn Bộ Hành Say thì được sử dụng trong lễ cấp sắc 3 đèn và có một bức được dùng

riêng khi làm lễ nhảy lửa là Trúng Vương (Miền Hùng) Kích thước tranh của

người Dao Đỏ rộng 50cm, dài 70cm và kích thước tranh của người Dao Trắng thì rộng 30cm, dài 50cm Bất kì người làm thầy nào cũng đều phải học thuộc thứ tự của các bức tranh và cách thức treo tranh theo thứ tự, cấp bậc Như vậy, theo cấp bậc thì bộ Hành Say sẽ là 3 vị tối cao, đứng đầu của bộ tranh

sau đó đến Tam Thanh và Miền Hùng

Trang 29

28

Bộ tranh Hành Say hay còn gọi là Tiểu Tam Thanh thường được sử

dụng trong lễ cấp sắc 3 đèn Hành Say có 3 bức chính, đại diện cho ba vị; Thái Thanh, Ngọc Thanh và Thượng Thanh Cụ thể theo tác giả Phan Ngọc Khuê (2001) như sau:

1) Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn còn gọi là Thượng Thanh Cao Thánh Thái Thượng Ngọc Thần Huyền Hoàng Đại Đạo Quân, hay gọi là Thái Thượng Đạo Quân Linh Bảo Thiên Tôn biểu trưng cho nguyên lý dương, không có bản chất thần, được cho là bậc thiên nhân (người tiên), ở trên núi Phù Sa Uất Sát Sơn của Tây Na Thiên, ngồi dưới gốc cây thất bảo độ thiên nhân, từ tâm vạn kiếp, cứu độ chúng sinh, công đức rất lớn, tên tuổi vang trong ức vạn kiếp

2) Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn còn gọi là Thái Thanh Cảnh Đại Xích Thiên Đạo Đức Thiên Tôn, biểu trưng cho nguyên lý âm, tôn xưng là Thái Thượng Lão Quân Đó là vị thần trí tôn được Đạo Giáo tôn thờ sớm nhất, là hóa thân của Lão Tử, đến nay, đời đời là thầy của các thánh (trích Quan Thiền Lão Tử Minh)

3) Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn còn gọi là Ngọc Thanh Cảnh Huy Thiên Nguyên Thủy Thiên Tôn được cho rằng từ thời hỗn độn huyễn hoàng (vô cực) đã có Bàn Cổ chân nhân – tinh của Trời, Đất - tự hiệu là Nguyên Thủy Thiên Tôn, đi lại trong cõi hỗn mang đó “truyền mật đạo, khai kiếp độ nhân”

Theo cách hiểu phổ biến, ba vị này làm thành thiên tiên tối cao và tiên cảnh tối cao của Đạo giáo

Bộ tranh Tam Thanh hay còn gọi là Đại Tam Thanh hay Đại Đường, có

14 tranh tương ứng với 14 vị thần linh bao gồm: 1) Ngọc Hoàng (tiếng phiên

âm Dao là Nhụt Hùng), 2) Nguyên Thủy Thiên Tôn (Uần Sỉ Thiền Thuân), 3) Linh Bảo Thiên Tôn ( Lềnh Pú Thiền Thuân), 4) Đạo Đức Thiên Tôn (Tồ Tá

Trang 30

29

Thiền Thuân), 5) Thánh Chủ ( Sính Chiếu), 6) Trương Thiên Sư ( Chiang Thin Sai), 7)Thập Điện Linh Vương ( Chiệp Tỉn Lình Hùng), 8) Lý Thiên Sư (Lấy Thìn Sai), 9) Hòi Phan (Khòi Phan), 10) Lười Công (Pùa Cấu), 11) Thiên Phủ Địa Phủ ( Thin Phấu Tẩy Phấu), 12) Dương Phủ Thủy Phủ (Dzàng Kên Xzúi Phấu), 13) Triệu Nguyên Sư (Chếu Dzùn Szúi), 14) Lão Quân Đại Kho (Lồ Quân Tồm Kho)

Trong tất cả 14 bức tranh, các vị thánh chủ trong mỗi bức đều được vẽ phần bên trên và chiếm phần lớn diện tích của tranh Tranh chủ yếu được vẽ bằng các màu đỏ, đen, vàng đất, màu sám và trên chất liệu giấy dó, đắp thành nhiều lớp dày lên khoảng 0,1 đến 0,2mm Tranh cổ giữ màu được lâu, rất bền

và có đường nét uốn lượn, “bay bổng” do vẽ bằng bút lông Trải qua thời gian, nhiều thế hệ sử dụng, bảo quản nên có sự sửa chữa; họ bổi thêm một lớp giấy phía sau mỗi bức tranh để giữ độ bền cho tranh Ngày nay các họa công thường bút vẽ và màu pha nên màu sắc của tranh thường đa dạng (xanh, đỏ, vàng, ) tuy nhiên đường nét của tranh bị “cứng” hơn, không còn nét uốn lượn, mềm mại như vẫn thấy trong các bức tranh xưa Một số ít họa công vẽ bằng bút lông tuy nhiên lại sử dụng mực sơn dầu trên nền giấy ki-tô, đường nét khá đẹp, màu sắc hài hòa khác với tranh cổ là nền màu thường bóng và có bản giấy mỏng hơn so với những bức tranh cổ

Trong bộ Tam Thanh, có hai bức rất đáng chú ý đó là Thiên Phủ Địa Phủ và Dương Phủ Thủy Phủ, được vẽ thành hai tranh khác nhau Một số tài liệu ghi chép rằng hai bức tranh này là không thể phân biệt và hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên theo tìm hiểu của chúng tôi, các thầy Tào phân biệt hai bức này bằng những con linh vật của mỗi vị thánh chủ Cụ thể, Thiên phủ cưỡi con cò, Địa phủ cưỡi hổ, Dương phủ cưỡi ngựa và Thủy phủ cưỡi rồng

Trang 31

30

b) Cách sử dụng trong nghi lễ cấp sắc

Cấp sắc là một nghi lễ được tổ chức long trọng, thể hiện sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái Hằng năm, lễ cấp sắc thường được tổ chức vào khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 12 âm lịch, cũng có trường hợp tổ chức vào tháng 1 hoặc tháng 2 âm Đây là khoảng thời gian nhàn rỗi trong năm, tính theo lịch sản xuất truyền thống của người Dao Thời điểm này cũng thường diễn ra những công việc khác như cúng bái, cưới xin và làm ma Trước khi mọi người trong dòng họ biết về việc tổ chức, lễ cấp sắc cần có một quá trình để chuẩn bị Khoảng thời gian này dài hay ngắn tùy phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi gia đình, đặc biệt là sự đồng thuận của những gia đình có nhiều người cùng tổ chức Đối với lễ cấp sắc 3 đèn của người Dao Đỏ cũng như Dao Quần Trắng ở Lục Yên, khoảng thời gian chuẩn bị là từ 6 tháng đến 1 năm Riêng lễ cấp sắc ở những bậc cao hơn, thời gian chuẩn bị có thể kéo dài từ một đến hai năm và thậm chí là lâu hơn

Cấp sắc là một nghi lễ không thể thiếu được đới với người đàn ông Dao, đó cũng là một nét đặc trưng văn hóa của người Dao ở huyện Lục Yên nói riêng và của người Dao Việt Nam nói chung Ở nước ta, tên gọi lễ cấp sắc được nhiều nhà khoa học sử dụng Tên gọi này xuất phát từ việc người trải qua lễ cấp sắc được thầy cúng cấp cho một bản sắc ghi bằng chữ nôm Dao với nội dung nói về lai lịch của người thụ lễ, nguyên do thụ lễ, Đạo sắc này được coi là bằng chứng để người thụ lễ được phép thực hiện các nghi lễ cúng bái và có vị thế nhất định trong cộng đồng theo quy định của tập quán người

Dao Ngoài tên gọi cấp sắc, xuất hiện một số tên gọi khác như lập tịch, lập tịnh hoặc cấp tính

Lễ cấp sắc trong tiếng Dao gọi là “quá tang”hay “qua tang” (tùy vào cách phát âm của từng vùng miền hoặc từng nhóm Dao khác nhau) “qua” hay “quá” tức là đã từng trải qua hoặc đã được thử thách, còn “tang” là đèn

Trang 32

31

hoặc vật dụng để thắp sáng Nếu dịch sang tiếng Việt thì “qua tang” hay “quá tang” có nghĩa là trải qua lễ soi đèn hay còn gọi là đội đèn Tên gọi đó xuất

phát từ tình tiết; thắp đèn dầu hay nến lên soi sáng người thụ lễ trong tiến

trình làm lễ cấp sắc Cấp tính mà nhiều nhà khoa học ở trong nước đã sử

dụng Trong ngôn ngữ nhóm Dao Đỏ ở huyện Lục Yên và ở những nơi khác

vẫn gọi là “qua tang” hoặc do phát âm nặng nhẹ mà thành “quá tang”, tuy nhiên với nhóm Dao Quần Trắng lại là “chay xay” Như vây, tên gọi “qua tang” đồng nghĩa với tên gọi lập tịnh hay cấp tính mà nhiều nhà khoa học ở

nước ta đã nhắc tới Để phân biệt lễ cấp sắc theo thứ bậc, trong cộng đồng

người Dao còn có tên gọi khác đó là “chấu sai”, nghĩa là lễ công nhận được

làm thầy cúng cấp cao Cụ thể, người ta gọi theo các cấp bậc của lễ cấp sắc

như “pham thoi tang” tương đương với lễ cấp sắc 3 đèn, tức là “qua tang”;

“thiêt phing tang” tương đương với lễ cấp 7 đèn, nghĩa là “tẩu sai” và cấp bậc cuối cùng là 12 đèn được gọi là “tấu sai chiệp nhẩy phing tang” Theo

đúng tục lệ, lễ cấp sắc 3 đèn diễn ra trong 3 ngày 2 đêm, người thụ lễ được cấp 36 binh mã (binh tướng) Lễ cấp sắc 7 đèn diễn ra trong 7 ngày 7 đêm, còn người thụ lễ sẽ được cấp 72 binh mã, vợ ông ta cũng được cấp 36 binh

mã Riêng lễ cấp sắc 12 đèn thì diễn ra trong 12 ngày 12 đêm, người thụ lễ được cấp 120 binh mã, vợ ông ta được cấp 72 binh mã Lễ cấp sắc ở cấp bậc càng cao thì chi phí càng lớn và tốn kém càng nhiều Một đặc điểm đặc biệt là chỉ có người đàn ông thụ lễ (vợ ông ta chỉ tham dự trong buổi lễ đó) nhưng vẫn được hưởng các quyền lợi theo cấp bậc cấp sắc của chồng Nếu người chồng chưa thụ lễ thì người vợ cũng coi như chưa thụ lễ, khi đó cả hai vợ chồng sẽ bị coi là “trẻ con”, chưa có vị trí, vai trò như các thành viên khác trong lễ cấp sắc Hiện nay, lễ cấp sắc 3 đèn là phổ biến, lễ cấp 7 đèn thì tương đối ít, còn lễ cấp sắc 12 đèn chủ yếu dành cho các bậc thầy đã cấp sắc 7 đèn

và muốn cấp lên một bậc nữa để có thể đủ trình độ làm một số nghi lễ cúng

Trang 33

bộ tranh thờ và tổ tiên của người thụ lễ cũng như của các thầy tào Nói cách khác, không có bộ tranh thờ, sẽ không thể thực hiện được nghi lễ cấp sắc

Tranh thờ là bộ tranh rất quý và linh thiêng đối với người Dao; tuy nhiên, không phải mọi gia đình, họ tộc nào cũng có tranh Hiện nay, ngay cả một số thầy tào cao tay cũng không có bộ tranh thờ, bởi lẽ tranh thờ rất kén người vẽ và thường mất rất nhiều thời gian để hoàn thiện Trải qua hàng trăm năm, nhiều bộ tranh cổ đã bị mất/thất lạc hoặc bị rách Vì vậy, trong trường hợp người thầy nào được mời làm thầy cả mà không có tranh thờ thì phải đi mượn tranh của gia đình khác để làm lễ Gọi là thầy cả, bởi lẽ, trong nghi lễ cấp sắc của người Dao có cấp sắc 3 đèn, cấp sắc 7 đèn, cấp sắc 12 đèn Cấp sắc 3 đèn sẽ có 3 thầy Tào (thầy cúng), cấp 7 đèn sẽ có 9 thầy Tào đó là: 1) Chì chiếu (thầy cả), 2) Yzen chái (thầy hai), 3) Chềnh mềnh (người thầy chứng kiến), 4) Pù chế, 5) Chầy zùn sai (người sắm lễ), 6) Tòng tàn (người tranh trí bàn thờ, ghế ngồi), 7) Khòi tàn (chuyên mời các thần linh đến), 8) Sài

mả (chuyên nấu cơm, làm bánh - người thầy duy nhất là phụ nữ), 9) Tham cun (người chuyên làm mặt nạ)

Trước khi người thầy cả đi mượn tranh, người thụ lễ sẽ phải đến nhà thầy để làm lễ nhận thầy (người thụ lễ lúc này được gọi là học trò của thầy cả) Người học trò này sẽ phải mang theo một gói muối và 4 chén rượu Bốn chén rượu tượng trưng cho 4 mùa của năm Muối có màu trắng trong thể hiện

Trang 34

33

sự sạch sẽ tinh khiết, cũng là biểu trưng cho một mối quan hệ tốt đẹp mặn mà Muối là muốn nói đến những gian truân, vất vả, và dù vậy thì vị mặn của nó vẫn đậm đà, rất khó quên; muối có thể so sánh với tình cảm sâu nặng, thắm thiết Dù trải qua bao nhiêu khó khăn/“phong ba bão táp” thì tình thầy trò vẫn luôn gắn bó, trung thành, trọn đời trọn kiếp vẫn luôn dành cho nhau sự tôn trọng, có trước sau, Khi trao gói muối và rượu bắt buộc phải thực hiện trước bàn thờ tổ tiên Nhận gói muối từ tay của người học trò người thầy phải mời

tổ tiên và “sư phụ” (người thầy đã từng làm lễ cấp sắc cho thầy cả trước kia) đến chứng giám Đã nhận gói muối đồng nghĩa với việc không được thay đổi

ý kiến, nếu thay đổi thì sẽ bị sư phụ và thần linh trong bộ tranh trách phạt Sau khi nhận muối phải mời “sư phụ” nếm rượu và muối trước và sau đó mới thông báo cho sự phụ biết về người học trò (về tên họ, năm sinh, nơi cư trú)

và lý do đến nhờ làm thầy Sau đó, nếu trong số những “sư phụ” của thầy cả còn sống và có mặt tại đó thì thầy cả phải mời ‘sư phụ” của mình uống trước Nếu có mặt của ông hoặc bố thì cũng phải mời theo thứ tự, vai vế; ông, bố, thầy uống trước Trường hợp “sư phụ” đã quá cố, phải lấy ngón tay chỏ chấm vào rượu và muối rồi hất qua hai bên vai, qua vai bên trái rồi đến bên phải Chỉ sau khi các “sư phụ” của thầy đã ở bên chứng giám và nhận lễ, người thầy cả mới đưa cho người học trò của mình uống và tiếp đến là bản thân thầy Từ lúc này người thầy sẽ ăn chay, kiêng không giết mổ, không làm hại bất cứ con vật nào và không chửi bậy, cáu giận

Trong trường hợp chưa đi mượn tranh thờ ngay, từ thời điểm đã nhận lời làm thầy cả thì trên bàn thờ lúc này trở đi phải luôn thắp đèn và hương khói liên tục, kể cả khi lấy tranh về và mang đi làm lễ ở nhà thầy cả đèn, hương vẫn phải thắp liên tục như vậy Gói muối lúc mới nhận về thì sẽ để dựa nghiêng sang tường nhà sau khi mang tranh thờ sang nhà người thụ lễ thì gói muối phải đặt nằm ngang

Trang 35

34

Thông thường các thầy cả sẽ không đi mượn tranh ngay lập tức Họ phải tìm hiểu và xin phép gia chủ để biết liệu gia đình họ có đồng ý cho mượn hay không Các thầy cả thường đi mượn tranh vào ngày tiếp theo Khi đến nhà của gia chủ có bộ tranh và được phép mượn, thầy cả sẽ phải rửa mặt, rửa tay sạch sẽ, thắp hương, giấy mã, nói rõ với tổ tiên và các thần linh, thánh chủ của bộ tranh là muốn mượn binh tướng của bộ tranh này đến để làm lễ cấp sắc

3 đèn hoặc 7 đèn cho ai, tên họ là gì, nơi ở và năm sinh bao nhiêu sau đó mới hóa vàng cho tổ tiên và thần linh của bộ tranh Tiếp đó, người thầy sẽ điểm binh, điểm tướng lên bộ tranh, thánh chủ và binh tướng nào ở tờ tranh nào sẽ lên ngụ tại bức tranh đó rồi thầy cả mới mang bộ tranh về nhà của mình Khi

về đến nhà, thầy cả phải đi vào bằng của chính, đứng trước bàn thờ tổ tiên thắp hương và thưa với tổ tiên; trình bày rõ ràng, người tên là gì, địa chỉ, ngày tháng năm sinh mời làm thầy Nay mượn bộ tranh thờ về, xin phép tổ tiên cho các vị thánh chủ, binh tướng được sum họp cùng với tổ tiên Bắt buộc phải thắp hương, đèn liên tục để tổ tiên và các vị thánh chủ, binh tướng phù

hộ cho thầy cả có sức khỏe tốt để hoàn thành nhiệm vụ của mình sắp tới

- Đến ngày mang tranh đi làm lễ cấp sắc

Trước khi mang bộ tranh thờ sang làm lễ cấp sắc, người thầy phải chuẩn bị hành lí xong xuôi, lấy một bát rượu để điểm binh, điểm tướng Người thầy cả phải đọc tên từng vị thánh chủ và binh tướng của họ cho ngụ

lên cây gậy tầm xích (“thình cuốn”) Tiếp theo, thầy điểm binh, tướng của

mình và mời ngụ lên cơ thể của mình; các binh tướng này sẽ là “người” bảo

hộ cho thầy cả (người đã cấp sắc 3 đèn thì có 36 binh tướng, người cấp sắc 7 đèn thì có 72 binh tướng, người đã cấp sắc 12 đèn thì có 120 binh tướng, người làm thầy trong lễ cấp sắc là người phải được cấp bậc ngang hoặc cao hơn) Tiếp theo, thầy điểm đến các vị trong bộ Hành Say và Tam Thanh, mỗi

vị tương ứng 120 binh tướng và mời ngụ lên gậy tầm xích (“thình cuốn”)

Trang 36

35

Mỗi khi điểm đến binh tướng của vị thánh chủ nào thầy cả sẽ chấm rượu mời từng người đó ngụ lên bức tranh Khi điểm binh, điểm tướng xong, nếu có ông hoặc bố của thầy cả ở cạnh, thầy cả sẽ mời ông hoặc bố của mình uống bát rượu trước rồi mới đến lượt thầy Sau đó, thầy đặt bát rượu lên bàn thờ Thầy cả sẽ đeo bộ tranh lên người và cầm theo cây gậy tầm xích đi ra cửa chính Khi ra khỏi cửa chính người thầy sẽ quay lại vái 3 lạy bàn thờ tổ tiên với ý nghĩa chào từ biệt và thể hiện sự cảm tạ đối với tổ tiên Khi ra trước cổng nhà, người sửa soạn hành lí cho thầy sẽ chuẩn bị 1 bát rượu và đưa cho thầy cả để thầy điểm binh, điểm tướng thêm một lần nữa và mời họ lên ngựa

để tiếp tục đi sang nhà của người làm lễ

Đến nhà của người thụ lễ, người thầy cả sẽ đi vào bằng cửa chính vái 4 bên với ý nghĩa là bộ tranh đại diện cho các thần thánh của 4 cõi Sau đó vái

tổ tiên của người thụ lễ rồi mới đi thẳng vào Khi đặt cây gậy tầm xích, bắt buộc phải dựng thẳng rồi treo bộ tranh lên cây gậy Gia đình thụ lễ lấy cho thầy một bát rượu và để thầy cả điểm binh điểm tướng và lấy ngón tay chấm vào bát rượu và phẩy sang bên trái rồi bên phải với ý nghĩa là mời các thầy tào ở cõi âm uống Sau đó, nếu có ông, bố, thầy có mặt ở đó thì mời họ uống còn nếu không có thể mời những người nhiều tuổi đã làm lễ cấp sắc uống, sau cùng mới đến thầy cả và những thầy tiếp theo

Sau khi các thầy hoàn thành công việc viết sớ, người thụ lễ sẽ cảm ơn các thầy tào bằng một bát canh thịt gà Hai vợ chồng người thụ lễ sẽ dùng hai tay bưng bát canh đến mời các thầy để cảm tạ người viết sớ Thầy sắm lễ sẽ là người chọc tiết con lợn đầu tiên và con lợn đó được đem sơ chế sạch sẽ, đặt nguyên con ở gian giữa ngay bên dưới bàn thờ, đầu con lợn hướng vào bên trong bàn thờ Bắt buộc thầy cả hoặc thầy 2 phải cúng mời tổ tiên của người thụ lễ đến để chứng dám làm khởi lễ Công việc chế biến thịt lợn thành các món bắt buộc phải có là công việc của người sắm lễ phải đảm nhận Họ không

Trang 37

36

được phép ăn thử hoặc nếm gia vị trước khi bày biện các món trước bàn thờ Các thầy tào (8 người) ngồi đầy đủ ở mâm, chưa được phép ăn, người thầy cả

sẽ mời các binh tướng của bộ Hành Say và Tam Thanh với tổ tiên, “sư phụ”

của các thầy tào xuống dự bữa đầu tiên khởi lễ Khi thầy cả mời từng món ăn các thầy khác và những người khác mới được ăn Người Dao quan niệm, từ thời gian này trở đi cho đến khi làm xong lễ cấp sắc trong gia đình họ có hai loại “khách” là các thần ma và những người đến giúp phục vụ lễ Người ta coi các thần ma, binh, tướng, tổ tiên là khách âm, còn các thầy tào (thầy cúng) và những người giúp việc là khách dương Do có cả khách âm và khách dương tất cả mọi người có mặt trong những ngày lễ phải tuân thủ một số điểm như sau: nam nữ không được trêu ghẹo nhau, không nói tục, không chửi bới và cãi

vã, không uống rượu quá say, không làm vỡ đồ dùng sinh hoạt Tất cả thầy cúng, thầy múa những người được mời đến đọc thơ, nam thanh, thiếu niên đến hát và cả những người thụ lễ đều phải mặc nữ phục Việc mặc nữ phục khi thụ lễ không chỉ có ở người Dao ở huyện Lục Yên mà còn có ở nhiều địa phương khác của các nhóm của tộc người Dao Đây vẫn còn là đề tài khoa học lý thú

Khi ăn xong, người thầy “Sai Mả” phải trực tiếp đun nước cho tất cả các học trò tắm, trong nồi nước này, thầy “Sai Mả” sẽ bẻ một nắm hương vào

đó Ý nghĩa của hành động này là lúc này cơ thể của người thụ lễ mới thực sự sạch sẽ, không bám những khói, bụi bẩn của trần thế Từ lúc này trở đi, những người thụ lễ sẽ phải ăn chay, nam nữ ngủ riêng buồng; người thụ lễ cũng không được phép nói to, không đi ra ngoài tiếp khách hay chào hỏi bất kỳ ai Ngày xưa, trước khi diễn ra lễ cấp sắc người thụ lễ phải ăn chay và kiêng kỵ không sát sinh, không nói tục, chửi bậy, trước đó một tháng tuy nhiên hiện nay họ chỉ phải thực hiện kiêng cữ trước đó 7 ngày

Trang 38

37

Tiếp theo, các thầy cúng sẽ làm lễ ngủ Tất cả các thầy cúng và những người thụ lễ đều nằm ở gian giữa, bên dưới bàn thờ Các thầy sẽ ngủ ở hàng trên (tính từ bàn thờ trở ra cửa), các học trò sẽ nằm hàng dưới Khi mọi người nằm xuống, người thầy cả sẽ đập vào thân trống giả làm tiếng gà vỗ cánh và giả tiếng gáy, sau đó là tiếng gà con kêu, báo hiệu và gọi các học trò dậy để tiếp tục công việc của mình

Sau khi ngủ dậy, thầy “Sai Mả” sẽ lấy một chậu nước ấm, bẻ 3 cây

hương bỏ vào chậu nước để cho lần lượt các thầy rửa tay Và lúc này các thầy mới bắt đầu mở bộ tranh thờ Hành Say Khi mở tranh phải đánh trống, thổi tù

và, đánh chiêng và lần lượt treo tranh lên theo tứ tự, cấp bậc Công việc treo

tranh nay do thầy Khai đàn là người phải chịu trách nhiệm Mỗi bộ tranh

được treo lên sẽ đi kèm với một bài trống riêng dành riêng cho nó

Tiếp đó, người sắm lễ sẽ chuẩn bị một mâm cơm chay, chỉ có rau xanh, không có dầu ăn hay gia vị và mang đặt ở một nơi vắng vẻ, không người qua lại, không có thờ cúng gì ở đó Người thầy cả sẽ vào buồng mời tất cả những người thụ lễ đến trước mâm cơm chay và căn dặn người thụ lễ một số điều trong và sau khi kết thúc lễ cấp sắc Người thầy sẽ căn dặn người thụ lễ những điều như:

- Khi cấp sắc xong đã trở thành người lớn, có tên âm riêng Tương lai sau này, nếu chết đi sẽ về với Thái Thượng Lão Quân Làm lễ cấp sắc xong, mỗi người sẽ có bài vị riêng ở trên Thái Thượng Lão Quân, nếu người vợ chết trước hoặc chồng chết trước thì đều phải chờ đợi người vợ (chồng) mình trên

đó Dù khi sống hay chết họ vĩnh viễn là vợ chồng của nhau vì vậy không được yêu vợ hoặc chồng của người khác

- Khi làm ăn giàu có, phát đạt không được coi khinh người khác, phải luôn có tâm giúp đỡ những người gặp khó khăn

- Không được chửi trời, chửi đất, không chửi thề

- Không được làm hại các loại vật nuôi, gia súc

Trang 39

38

- Trọng cuộc sống vợ chồng phải luôn nhường nhịn nhau

- Không chửi mắng ông, bà, cha, mẹ và những người bề trên của mình

- Đặc biệt, người thầy còn căn dặn những người thụ lễ một điều rất quan trọng đó là: Trong buổi gần cuối của nghi lễ cấp sắc sẽ có tiến trình hoàn hồn vào cõi âm Người thụ lễ sẽ được về thăm chỗ ở của mình kiếp sau ở trên Thái Thượng Lão Quân, và người thụ lễ sẽ được nhìn thấy nơi ở, công việc kiếp sau của mình Dù nhìn thấy cuộc sống của mình sung túc đến đâu đi chăng nữa người thụ lễ phải “sống để bụng chết mang đi” không được phép nói ra với bất kỳ một ai, kể cả là

vợ hoặc chồng mình cũng không được kể Có một số người, trong lúc làm lễ hoàn hồn này có thể không nhập được vào cõi âm nhưng trong 7 đêm tiếp sau đó sẽ có một giấc mơ kỳ lạ, thấy mình đang ở đâu đó, hay đang đi đâu đó, thấy cuộc sống sung túc, phồn vinh thì cũng không được kể với ai Ai trong số những người thụ lễ cũng sẽ mơ thấy nhưng không được phép nói

Trong suốt quá trình làm lễ cấp sắc, tất cả các vị thánh chủ, binh tướng của bộ tranh luôn luôn thường trực tại buổi lễ Tất cả các tiến trình như: lễ thụ

đèn (“quá tang”), lễ lên đèn (“thao tang vuầy tang”), lễ hạ đèn và đặt tên âm (“siêu tang trio phạ búa”), lễ cấp binh, tướng và dụng cụ cúng bái, lễ qua cửa

ải và cấp pháp, lễ tập múa của người thụ lễ (“sai ton lạ miến”), lễ của thầy cúng múa (“lạ miếm’), lễ cúng Bàn Vương (“chấu đàng”), cúng mời Bàn Vương và các ma khác đến dự lễ (“thinh miến”) đều dưới sự chứng dám, bảo

hộ của tổ tiên và các vị thánh chủ và các binh, tướng của họ

Trang 40

39

và thầy cả cũng làm lễ “gáp cháo” mời các vị thánh chủ trong bộ tranh chứng

dám để thể hiện sự cảm tạ của người thụ lễ đối với các vị thánh chủ và binh, tướng của họ đã chứng dám cho họ thụ lễ trong suốt cả quá trình làm lễ cấp sắc đó Đồng thời, thầy tào sẽ làm lễ Khai chay, từ lúc này trở đi người thụ lễ mới được động chạm đến dầu mỡ, đồ ăn mặn và mới được chế biến các món

ăn Người thụ lễ sẽ trực tiếp chế biến các món từ thịt con lợn vừa mổ đặt ở trước bàn thờ và thầy cả sẽ mời các vị thánh chủ và binh, tướng của bộ tranh xuống chứng dám, mỗi món ăn thầy sẽ chấm và mời các vị thánh chủ nếm trước, sau đó mới đến các thầy và học trò, cùng mọi người có mặt trong buổi lễ Khi các học trò của thầy tào cảm ơn các thầy của mình phải thực hiện theo nghi thức sau: Người thụ lễ sẽ rót rượu vào bát, mỗi thầy Tào một bát rượu và được đặt trên chiếc chiêng và hai tay bưng lên mời các thầy theo thứ tự, cấp bậc Việc đặt bát rượu trên chiêng để mời thầy với ý nghĩa là, trong suốt 3 ngày 3 đêm (đối với lễ cấp 3 đèn), hoặc 7 ngày 7 đêm (với lễ cấp 7 đèn) đã phải sử dụng chiêng để gõ

và phục vụ lễ, nên họ làm vậy thể hiện sự chân trọng, thành kính đối với bất kỳ một dụng cụ, một đồ vật nào dùng để phục vụ lễ cấp sắc

Khi người thụ lễ làm lễ cảm tạ các thầy xong, việc sử dụng tranh thờ trong nghi lễ cấp sắc là đã hoàn thiện Khi cất tranh mang về, các thầy sẽ lại phải thực hiện lại các nghi thức điểm binh, điểm tướng của các tờ tranh với một bát rượu và mời các vị ngụ lên cây gậy tầm xích và mang trở về nhà của thầy cả, trình tự và các bước thì tiến hành tương tự như trước, khi mang tranh

từ nhà thầy cả sang nhà người thụ lễ Khi cất tranh mang về, tất cả các tờ tranh phải được sắp xếp theo thứ tự, cuộn tròn và gói vào khăn Chiếc khăn để cuốn, gói bộ tranh thờ cũng rất đặc biệt Chiếc khăn thường được thêu rất tỉ

mỉ Những họa tiết thêu trên chiếc khăn thường mang nhiều màu sắc sặc sỡ với những hình chim, hình cây, hình con chó, hoặc những họa tiết hình chũ thập, hình thoi, những họa tiết đó được thêu dùng trang trí phủ kín toàn bộ

Ngày đăng: 11/05/2017, 20:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tỉnh ủy Yên Bái (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái
Tác giả: Tỉnh ủy Yên Bái
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
2. Trần Bình, (2009), Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc
Tác giả: Trần Bình
Năm: 2009
3. Trần Bình (2014), Các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Lao Động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb Lao Động Hà Nội
Năm: 2014
4. Truyện cổ dân tộc Dao, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ dân tộc Dao
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc Hà Nội
5. Nguyễn Đăng Duy (1998), Văn hóa tâm linh, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1998
6. Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971), Người Dao Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao Việt Nam
Tác giả: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1971
7. Mạc Đường (1959), Dân tộc Mán trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. Nguyễn Đăng Duy (1998), Văn hóa tâm linh, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Mán trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, "Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. Nguyễn Đăng Duy (1998), "Văn hóa tâm linh
Tác giả: Mạc Đường (1959), Dân tộc Mán trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
8. Chu Xuân Giao (2016), Hệ thống Tứ Phủ trong tín ngưỡng của người Dao, Tạp chí chuyên ngành nghiên cứu Văn hóa, số 1 (136), tr.18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống Tứ Phủ trong tín ngưỡng của người Dao
Tác giả: Chu Xuân Giao
Năm: 2016
9. Đổng Thị Hồng Hạnh ( 2008), Văn hóa dân tộc Dao đỏ, bản Động Ính, xã Tân Lĩnh, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Sở- Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân tộc Dao đỏ, bản Động Ính, xã Tân Lĩnh, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
10. Nguyễn Duy Hinh (2001), Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam của Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
11. Diệp Đình Hoa (1998), “Người Dao ở xóm Yên (xóm Suối Yên)”, in trong: Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, tr.214-222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao ở xóm Yên (xóm Suối Yên)”, in trong: "Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai
Tác giả: Diệp Đình Hoa
Năm: 1998
12. Diệp Đình Hoa (2002), Người Dao ở Trung Quốc: Qua những công trình nghiên cứu của học giả Trung Quốc, Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao ở Trung Quốc: Qua những công trình nghiên cứu của học giả Trung Quốc
Tác giả: Diệp Đình Hoa
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2002
13. Vũ Quốc Khánh (2007), Người Dao Việt Nam, Nxb Thông tấn xã, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Người Dao Việt Nam
Tác giả: Vũ Quốc Khánh
Nhà XB: Nxb Thông tấn xã
Năm: 2007
14. Phan Ngọc Khuê (2001), Tranh đạo giáo ở Bắc Việt Nam, Nxb Mỹ Thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh đạo giáo ở Bắc Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc Khuê
Nhà XB: Nxb Mỹ Thuật Hà Nội
Năm: 2001
15. Phan Ngọc Khuê (2003), Lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang ở Lạng Sơn, Hà Nội: Nxb. Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang ở Lạng Sơn
Tác giả: Phan Ngọc Khuê
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 2003
16. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Sự phát triển Văn hóa – xã hội của nười Dao hiện tại và tương lai (1998), Nxb Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển Văn hóa – xã hội của nười Dao hiện tại và tương lai
Tác giả: Kỷ yếu hội thảo khoa học: Sự phát triển Văn hóa – xã hội của nười Dao hiện tại và tương lai
Nhà XB: Nxb Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia
Năm: 1998
18. Hoàng Nam (1998), “Nghề trồng quế của người Dao ở Văn Yên (Yên Bái)”, in trong: Trung tâm Khoa học xã hội nhân văn quốc gia, Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, tr.208-213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề trồng quế của người Dao ở Văn Yên (Yên Bái)”, in trong: Trung tâm Khoa học xã hội nhân văn quốc gia, "Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai
Tác giả: Hoàng Nam
Năm: 1998
19. Quỹ Đông Sơn Ngày Nay (2006), Tranh thờ các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, Nxb Lao Động – Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh thờ các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Quỹ Đông Sơn Ngày Nay
Nhà XB: Nxb Lao Động – Xã Hội
Năm: 2006
20. Lý Hành Sơn (2002), Lễ cấp sắc và bản sắc văn hóa người Dao, Tạp chí Dân tộc học, (3), tr.31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ cấp sắc và bản sắc văn hóa người Dao
Tác giả: Lý Hành Sơn
Năm: 2002
21. Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Năm: 1997

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w