Mở đầu Giáo dục và đào tạo là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đền lợi ích, nhiệm vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế xã hội đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia. Giáo dục và đào tạo phải đi trước một bước, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển. Do vậy, bất kỳ quốc gia nào trên thế giới dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù phát triển hay đang phát triển bao giờ cũng quan tâm đến giáo dục và đào tạo mà trong đó khâu quan trọng là quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo. Trong thời gian qua, giáo dục và đào tạo ở nước ta có một bước phát triển mới, chúng ta đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, trình độ dân trí được nâng lên. Góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, nền giáo dục nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, yếu kèm là chất lượng và khẩu quản lý giáo dục và đào tạo, việc đào tạo nguồn nhân lực của hệ thống giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu của đổi mới kinh tế xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, để gỉai quyết vần đề này văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX đã đưa ra giải pháp then chốt đó là “Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh đổi mới nội dung Chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại hóa cùng đổi mới quy chế quản lý” Sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở tỉnh Ninh Thuận trong những năm quan tiếp tục nhận được sự quan tâm, chăm lo của cả hệ thống chính trị, của mỗi gia đình, dòng họ và toàn xã hội; cùng với sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nên sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Quy mô và mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo phát triển khá nhanh, góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, nhất là đối với học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và cảc đối tượng chính sách, cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục. Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ việc dạy và học được quan tâm đầu tư. Chất lượng giáo dục và đào tạo có bước tiến bộ; đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000, phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2008; tiếp tục củng cố và nâng cao kết quả xóa mù chữ cho người lớn. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục từng bước được chuẩn hóa. Công tác quản lý giáo dục có những chuyển biến tích cực. Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tông chi ngân sách địa phương. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả giáo dục còn chênh lệch giữa các vùng, miền, cấp học; giáo dục mầm non và giảo dục miền núi còn nhiều khó khăn; giáo dục đại học, nghề nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dạy chữ với dạy người, dạy nghề; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Quản lý giáo dục và đào tạo có mặt còn hạn chê. Đầu tư, cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục và đào tạo một số nơi còn thiếu và lạc hậu chưa đáp ứng yêu cầu; công tác xã hội hóa giáo dục đạt hiệu quả chưa cao. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục vẫn còn bât cập; một bộ phận chưa theo kịp yêu câu phát triên giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghê nghiệp; tình trạng lạm thu trong một sô cơ sở giáo dục, tiêu cực trong dạy thêm, học thêm chậm được khăc phục. Nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên cùng với sự tâm huyết của bản thân về giáo dục và đào tạo của tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn hiện nay, tôi quyêt định chọn đề tài Tiểu luận “Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn hiện nay và giải pháp phát triển ngành giáo dục của tỉnh Ninh Thuận đến năm 2050” làm hướng nghiên cứu cho môn học quản lý nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu. Song do điều kiện và hạn chế về thời gian môn học nên đề tài chỉ đi sâu giải quyết nội dung và giải pháp đổi mới “Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo của tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020”.
Trang 1ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở TỈNH NINH THUẬN ĐẾN NĂM 2020
Mở đầu
Giáo dục và đào tạo là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếpđền lợi ích, nhiệm vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế- xã hộiđồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của mộtquốc gia Giáo dục và đào tạo phải đi trước một bước, giáo dục và đào tạo là quốcsách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển Do vậy, bất
kỳ quốc gia nào trên thế giới dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù phát triển hayđang phát triển bao giờ cũng quan tâm đến giáo dục và đào tạo mà trong đó khâuquan trọng là quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo
Trong thời gian qua, giáo dục và đào tạo ở nước ta có một bước phát triểnmới, chúng ta đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học,trình độ dân trí được nâng lên Góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầuđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, nền giáo dục nước tacòn phải đối mặt với nhiều khó khăn, yếu kèm là chất lượng và khẩu quản lý giáodục và đào tạo, việc đào tạo nguồn nhân lực của hệ thống giáo dục chưa đáp ứngnhu cầu của đổi mới kinh tế xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và nguồn nhân lựctrong thế kỷ XXI, để gỉai quyết vần đề này văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban chấphành Trung ương Đảng Khóa IX đã đưa ra giải pháp then chốt đó là “Đổi mới vànâng cao năng lực quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh đổi mớinội dung Chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại hóa cùng đổimới quy chế quản lý”
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở tỉnh Ninh Thuận trong những năm quan tiếptục nhận được sự quan tâm, chăm lo của cả hệ thống chính trị, của mỗi gia đình,dòng họ và toàn xã hội; cùng với sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lýgiáo dục nên sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả đángkhích lệ
Quy mô và mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo phát triển khá nhanh, góp phần
mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, nhất là đối với học sinh vùng đồng bào dân tộcthiểu số và cảc đối tượng chính sách, cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục
Trang 2Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ việc dạy và học được quan tâm đầu tư Chất lượnggiáo dục và đào tạo có bước tiến bộ; đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cậpgiáo dục tiểu học vào năm 2000, phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2008;tiếp tục củng cố và nâng cao kết quả xóa mù chữ cho người lớn Đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục từng bước được chuẩn hóa Công tác quản lý giáo dục
có những chuyển biến tích cực Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20%tông chi ngân sách địa phương
Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả giáo dục còn chênh lệch giữa các vùng,miền, cấp học; giáo dục mầm non và giảo dục miền núi còn nhiều khó khăn; giáodục đại học, nghề nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu Phương pháp giáo dục, việc thi,kiểm tra và
đánh giá kết quả còn lạc hậu, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dạy chữvới dạy người, dạy nghề; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống
và kỹ năng làm việc Quản lý giáo dục và đào tạo có mặt còn hạn chê Đầu tư, cơ sởvật chất kỹ thuật cho giáo dục và đào tạo một số nơi còn thiếu và lạc hậu chưa đápứng yêu cầu; công tác xã hội hóa giáo dục đạt hiệu quả chưa cao Đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục vẫn còn bât cập; một bộ phận chưa theo kịp yêu câu pháttriên giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghê nghiệp; tình trạnglạm thu trong một sô cơ sở giáo dục, tiêu cực trong dạy thêm, học thêm chậm đượckhăc phục
Nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên cùng với sự tâm huyết củabản thân về giáo dục và đào tạo của tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn hiện nay, tôiquyêt định chọn đề tài Tiểu luận “Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục và đàotạo ở tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn hiện nay và giải pháp phát triển ngành giáodục của tỉnh Ninh Thuận đến năm 2050” làm hướng nghiên cứu cho môn học quản
lý nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu Song do điều kiện và hạn chế về thời gianmôn học nên đề tài chỉ đi sâu giải quyết nội dung và giải pháp đổi mới “Quản lý nhànước về giáo dục và đào tạo của tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020”
I Một số vần đề chung về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về
một số khái niệm liên quan:
1.1 Khái niệm giáo dục và đào tạo:
Trang 3giáo í- dục và đào tạo.
Theo từ điển tiếng việt, giáo dục là hoạt động tác động có hệ thống đến sựphát triển tinh thần, thể chất của một người nào đó làm cho người ấy dần dần cóđược những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra; đào tạo là hoạt động tác động
có hệ thống đến người nào đó làm cho người ấy có những năng lực chuyên môn,nghiệp vụ theo những tiêu chuẩn nhất định
Như vậy, giáo dục và đào tạo là hoạt động cung cấp kiến thức và rèn luyện
kỹ năng nhằm hĩnh thành những năng lực và phẩm chất cho người học theo nhữngtiêu chuẩn nhất định của bậc học, ngành học
1. 2 Khái niệm quản lý giáo dục và đào tạo:
Quản lý giáo dục và đào tạo là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tớikhách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục và đào tạo đạt tới kết quả mongmuốn một cách hiệu quả nhất
Nói cách khác, quản lý 2Ĩáo dục và đào tạo là chủ thể thực hiện các chứcnăns quản lý (lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức, kiểm tra, đánh giá) đối với các đốitượng quản lý (thông tin, kiến thức; cơ sở vật chất - tài chính; đội ngũ cán bộ ngànhgiáo dục và người học ) để thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo
13y Khái niệm quản lỷ nhà nước về giáo dục và đào tạo:
Trang 4Theo cuốn “Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo dục và đàotạo” của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Quản lý nhà nước về giáo dục và đàotạo là “Nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ cáchoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi toàn xã hội đế thực hiện mục tiêu giáodục của nhà nước”.
Như vậy, quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là sự tác động có tổ chức
và điều chỉnh về quyền lực của nhà nước đối với các hoạt động của nhà nước từtrung ương đến cơ sở để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước ủy quyềnnhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, duy trì trật tự, kỷ cương, thỏa mãnnhu cầu giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạocủa nhà nước
Chủ thể quản lý nhà nước về giáo dục là các cơ quan quyền lực nhà nước (cơquan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp) và trực tiếp là các cơ quanquản lý giáo dục của nhà nước từ Trung ương đến cơ sở (Bộ, Sở Giáo dục - Đàotạo, Phòng Giáo dục - Đào tạo, các cơ sở giáo dục và đào tạo)
Đối tượng quản lý nhà nước về giáo dục là hệ thống giáo dục quốc dân, làmọi hoạt động giáo dục trong phạm vi cả nước: Các định hướng giáo dục và đào tạonhư chiến lược, chính sách, kế hoạch cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính; yếu tố conngười liên quan đến các quá trình dạy và học Điều 14 Luật Giáo dục năm 2005 quyđịnh: “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu,chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử và hệthống văn bằng”
Mục tiêu tổng thể quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là đảm bảo trật tư,
kỷ cương trong hoạt động giáo dục và đào tạo của cả nước nhằm nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và phát triến nhân cách của công dân Mỗi cấphọc, mỗi ngành học có những mục tiêu cụ thể được quy định trong Luật giáo dục vàcác '"điều lệ
2 Vai trò của giáo dục và đào tạo
- Trong đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo có vai trò rất quan trọng đối vớimọi quốc gia dân tộc, mọi thời đại Trong su thế phát triển kinh tế tri thức ngày nay,
Trang 5Ĩ1Ó được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển đất nước.Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với phát triển xã hội thể hiện ở những mặt chủyếu dưới đây:
Một là, giáo dục và đào tạo là động lực quan trọng để phát triển xã hội:Muốn phát triển xã hội phải chăm lo nhân tố con người về thể chất va tinh thần,nhất là về học vấn, nhận thức về thế giới xung quanh để họ có thể góp phân xâydựng và cải tạo xã hội Giáo dục góp phần nâng cao dân trí ở mọi quốc gia, dân tộc.Đây là lĩnh vực xuất hiện sớm nhất trong xã hội loài người nhằm truyền bá kiếnthức và kinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệ sau nhanh và hiệu quả nhất Chủ tịch
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra vai trò quyết định của giáo dục đối với sự phát triển củamỗi quốc gia, dân tộc Ngay sau khi nước Việt Nam mới giành độc lập, trong tácphẩm “Những nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”,Người cho rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”! Bởi không có tri thức, hiểubiết về xã hội, tự nhiện và chính bản thân mình, con người sẽ luôn lệ thuộc, bất lựctrước những thế lực và sức mạnh cản trở sự phát triển của dân tộc, đất nước mình.Ngày nay, giáo dục và đào tạo còn góp phần tạo ra hệ thống giá trị xã hội mới.Nguồn lực phát triển kinh tế- xã hội ở mỗi quốc gia, dân tộc từ tài nguyên, sức laođộng cơ bắp là chính chuyển sang nguồn lực con người có tri thức là cơ bản nhất
Hai là, giáo dục và đào tạo góp phần bảo vệ chế độ chính trị ở mỗi quốc gia,dân tộc: Giáo dục là điều kiện đảm bảo thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng CNXH.Lênin khẳng định: “Sự nghiệp của nhà trường chúng ta cũng là đấ tranh đánh đỗgiai cấp tư sản nói nhà người đứng ngoài cuộc sống, đứng ngoài chính trị là nóidối và lừa bịp” Do vậy, người cảnh báo rằng, người mù chữ là người đứng ngoàichính trị Từ những năm 60 của thế kỷ XX, John Kenedy (nguyên Tổng thống Mỹ)cũng đã chủ trương tăng nhịp độ và quy mô giáo dục, nhất là giáo dục đại học.Kenedy cho rằng, chủ nghĩa tư bản thắng hay bại chính là ở trường đại học của Mỹ
Tư tưởng đó cũng là một nguyên nhân quan trọng làm cho giáo dục và đào tạo,khoa học công nghệ của nước Mỹ phát triển mạnh mẽ như ngày nay
Như vậy, giáo dục đào tạo góp phần xây dựng đội ngũ lao động có trình độcao làm giàu của cải vật chất cho xã hội đồng thời có bản lĩnh chính trị vững vàng,
đủ sức đề kháng chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” trong quá trình hội nhập
Trang 6quốc tế và toàn cầu hóa.
Ba là, giáo dục và đào tạo là nhân tố quan trọng đối với phát triển kinh tế củamỗi quốc gia, dân tộc
Giáo dục và đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triểnkinh tế của mỗi quốc gia Trong tác phấm “Những nhiệm vụ trước mắt của chínhquyền Xô Viết”, Lênin coi giáo dục và đào tạo là bộ phận nằm trong kết cấu hạ tầng
ủa xã hội, là phương tiện quan trọng để phát triển xã hội Khẩu hiệu nổi tiếng của
Lê nin: “Học, học nữa, học mãi” đã được đôgn đảo nhân dân thấm nhuần và thựchiện rộng rãi, góp phần vào sự thịnh vượng của đất nước Liên Xô những năm 60-80của thế kỷ XX Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, ở những nước đã có nhữngbước tiến nhảy vọt về kinh tế, chuyển từ một nước đang phát triển sang nước pháttriển, họ đã đầu tư rất nhiều vào giáo dục Ví dụ, tỷ lệ chi cho giáo dục trên thu nhậpquốc dân ở Hàn quốc cao hơn hầu hết các quốc gia khác trên thế giới Đài Loancũng đã có một hệ thống giáo dục tiều học phổ cập trước khi quá trình tăng trưởng
“siêu tốc” của họ bắt đầu
Giáo dục và đào tạo nhằm phát huy năng lực nội sinh “đi tắt, đón đầu” rútngắn thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các nước Anh, Mỹ mất hon
200 năm để hoan thành công nghiệp hóa Các nước “con rồng châu Á” nhờ kế thừatri thức các nước trước đó thông qua giáo dục và đào tạo nên chỉ mất vài chục nămhoàn thành công nghiệp hóa
Giáo dục và đào tạo bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động có trình
độ chuyên môn, tay nghề cao Đào tạo nhân lực có trình độ cao góp phần quan trọngphát triển khoa học - công nghệ là yếu tố quyết định của kinh tế tri thức Tổ chứcvăn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) dự báo thế kỷ XXI sẽphổ biến một nền văn minh dựa vào tiềm lực của tri thức và nêu lên 4 cột trụ củagiáo dục của thế kỷ XXI đó là: Học để biết, học để làm, học để chung sống vớingười khác và học để tự khẳng định mình Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, tất cảcác nước phát triển đều có chiến lược phát triển giáo dục Trong “báo cáo giám sáttoàn cầu giáo dục cho mọi người” năm 2008, Tổ chức UNESCO khuyến khích cácnước phải chi tiêu ít nhất 6%GDP cho giáo dục Ở Việt Nam ngay khi mới giànhchính quyền 1945, Hồ Chủ tịch đã chỉ ra “giặc dốt” cũng là một thứ giặc cần phài
Trang 7chống Người dạy thế hệ trẻ Việt Nam: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang haykhông, dân tộc Việt Nma có bước lên đài vinh quang sánh vai với các cường quốcnăm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháuthiếu niên, nhi đồng” Sự nghiệp giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâmtrong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Đặc biệt, thời kỳ đổi mới là dấu mốc quantrọng, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam 1991 đã khẳng định giáo dục vàđào tạo cùng với khoa học và công nghệ là “quốc sách hàng đầu” Tư tưởng này tiếptục được cụ thể hóa trong các văn kiện Đại hội Đảng sau đó, đặc biệt là trong cácvăn kiện Hội nghị Trung ương 4-Khóa VII; văn nghị Hội nghị Trung ương 2-khóaVIII;
- Quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo là quản lý nhà nước đối với toàn
bộ hoạt động giáo dục và đào tạo của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thôngqua Hiến pháp, pháp luật nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa Quản lý hoạtđộng giáo dục và đào tạo là hoạt động có tính chất nhà nước, nhằm điều hành hoạtđộng văn hóa được thực hiện bởi cơ quan hành chính Trong công tác quản lý giáodục và đào tạo, điều quan trọng là phải xây dựng được cơ chế quản lý
Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có những vai trò quan trọng Nóđóng vai trò định hướng về giáo dục và đào tạo nước nhà phát triển phù hợp xu thếkhách quan và “đi tắt đón đầu” văn minh nhân loại Ngoài ra, quản lý nhà nước vềgiáo dục và đào tạo góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển lực lượngsản xuất, trong đó tập trang phát triển nhân tố con người
3 Phương pháp, công cụ quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo: 3.1 phương pháp quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo
Phương pháp quản 1Ỷ giáo dục và đào tạo là các cách thức của cơ quan vàcán bô quản lý giáo dục các câp tac động đến đối tượng quản lý theo những nguyêntắc nhât dịnh nhăm thực hiện những mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ quản lý về giáođục và đào tạo mà nhà nước giao cho Ví dụ: phương pháp quản lý giáo dục trongnhà trường là phương thức tác động của Ban Giám hiệu tới cá nhân và tập thể cán
bộ giáo viên, tới học sinh và tập thể học sinh nhằm thực hiện mục tiêu quản lý giáodục của nhà trường
Hệ thống phương pháp quản lý giáo dục và đào tạo bao gồm: Phương pháp
Trang 8quản lý theo mục tiêu; phương pháp hành chính - pháp chế; phương pháp tâm lý xãhội và phương pháp kinh tế.
- Phương pháp quản lý theo mục tiêu
Phương pháp quản lý theo mục tiêu là phương pháp quản lý giáo dục hướngtoàn bộ hoạt động của hệ thống quản lý đến kết quả cuối cùng Nó đòi hỏi ngườiquản lý phải xác định trước các kết quả cuối cùng của chu trình quản lý và xây dựngcác kế hoạch công tác nhằm đạt các kết quả dự tính về giáo dục và đào tạo
Các bước thực hiện phương pháp quản lý theo mục tiêu:
+ Các định mục tiêu rỏ ràng, kiểm nghiệm và đo lường được, phản ánh kếtquả mong đợi Mục tiêu có thể phân chia nhỏ hơn để gắn trách nhiệm với từng bộphận
+ xây dựng kế hoạch hành động để thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạotính tới nguồn tài lực, đơn vị hoặc cơ quan phối hợp, nhu cầu và thời hạn thực hiện
+ kiểm tra, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo
Ưu thế của phương pháp quản lý theo mục tiêu thể hiện là tạo ra động lựcquan trọng của quản lý vì nó vạch ra mục tiêu rỏ ràng để đánh giá kết quả thực hiệncủa người quản lý
Nó tạo quyền chủ động cho phép người quản lý tham gia xây dựng mục tiêu
và kế hoạch hành động liên quan Ngoài ra, nó còn tạo ra cách đánh giá khách quan
và công bằng, tuy nhiên, hạn chế của phương pháp là tạo nên áp lực lớn đối vớingười quản lý để hoàn thành mục tiêu Mặt khác, phương pháp nhân mạnh việchoàn thành mục tiêu dẫn tới cục bộ, phiến diện; nhấn mạnh mục tiêu định lượng nênđánh giá không toàn dỉện
Muốn thực hiện phương pháp có hiệu quả, chủ thể quản lý phải xác định mụctiêu rỏ ràng, khả thi Thực hiện mục tiêu đúng thực chất, tránh bệnh hình thức, chạytheo thành tích
- Phương pháp hành chính - pháp chế
Phương pháp hành chính - Pháp chế là phương pháp là phương pháp quản lýthông qua các mệnh lệnh, chỉ thị trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo phù họp vớipháp luật hiện hành để dẫn dắt, bắt buộc đối tượng thực hiện mục tiêu quản lý vềgiáo dục và đào tạo
Trang 9Phương pháp này được cấu thành theo các bước: ban hành các văn bản phápquy; ra các mệnh lệnh hành chính; kiểm tra việc thực hiện các văn bản và mệnhlệnh.
Phương pháp hành chính - pháp chế góp phần đảm bảo kỷ cương, kỷ luậttrong mọi hoạt động của tổ chức đồng thời thể hiện tính linh hoạt, kịp thời của cácquyết định Tuy yậy, hạn chế của phương pháp hành chính - pháp chế là mang tính
áp đặt Nó làm cho người bị quản lý rơi vào trạng thái bị động Nếu lạm dụngphương pháp này sẽ dân đên nạn giây tờ, quan liêu trong quản lý giáo dục
Đe thực hiện phương pháp này có hiệu quả, người lãnh đạo cần có đủ quyền
uy để chỉ thị, mệnh lệnh của mình vừa có tình thuyêt phục, vừa có tính băt buộc đôitượng thực hiện; mệnh lệnh, chỉ thị mang tính khách quan, khoa học Phải định kỳ
tổ chức kiểm tra hoặc kiểm tra đột xuất việc thực hiện các mệnh lện, chỉ thị banhành
- Phương pháp tâm lý - xã hội
Phương pháp tâm lý - xã hội là những cách thức táe động của người quản lýbằng tâm lý và tình cảm tới đội tượng quản lý nhằm biến những yêu cầu của các cấpquản lý thành nghĩa vụ tự giác bên trong, thành nhu cầu của đối tượng quản lý.Thực chất là khơi gợi tinh thần tự giác, chủ động của người bị quản lý, tạo ra bầukhông khí cởi mở, tin cậy lẫn nhau trong tổ chức nhằm phát huy tiềm năng của mỗicon người trong công việc
Phương pháp tâm lý xã hội là thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lýhiểu biết tâm tư nguyên vọng và tôn trọng đối tượng quản lý Phương pháp này gópphần phát huy quyền làm chủ tập thể của mọi thành viên trong tổ chức, phát huytiềm năng của mọi thành viên và có thể xây dựng bầu không khí lành mạnh, cởi mởtrong tổ chức Hạnh chế của phương pháp tâm lý xã hội là hiệu quả phụ thuộc rấtlớn vào nghệ thuật của người quản lý, dễ dẫn tới nạn hội họp tràn lan Người quản
lý có thể lợi dụng vì mục đích cá nhân như tạo “êkíp”, hoặc bè phái, quản lý theokiểu gia đinh
Điều kiện thực hiện phương pháp này có hiêu quả đòi hỏi người quản lý giáodục và đào tạo phải là người có uy tính trong tổ chức, trình độ chuyên môn vững,mẫu mực trong cuộc sống, khả năng ứng xử linh hoạt, cởi mở lắng nghe ý kiến
Trang 10người khác, biết tập hợp quanh minh lực lượng cốt cán có uy tín.
Người quản lý phải hiểu tâm tư nguyện yọng của eác thành viên, lắng nghe ýkiến của họ, giao việc cho họ, tin tưởng khả năng của họ, giúp họ vượt quan khókhăn, lựa chọn và bồi dưỡng cán bộ cốt cán, ủy quyền cho đội ngũ những ngườigiúp việc Mặt khác đối tượng quản lý giáo dục đào tạo cần có tính tự giác cao và cótinh thần xây dựng tập thế tốt đế cùng thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo
- Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế trong quản lý giáo dục và đào tạo là sự tác động củachủ thể tới đối tượng quản lý bằng cơ chế kích thích hoàn thành công viêc thôngquan lợi ích vật chất để họ tích cực tham gia công việc chung và thực hiện tốt cácnhiệm vụ được giao trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Ví dụ: Thưởng ho các giáoviên giỏi, học sinh giỏi, tập thể lao động giỏi hay phạt những tập thể, cá nhân khônghoàn thành nhiệm vụ giảng dâ), học tập
Ưu thế của phương pháp kinh tế trong quản lý giáo dục là giảm bớt việc banhành các chỉ thị, mệnh lệnh đồng thời giảm bớt thời gian giám sát của cán bộ quản
lý giáo dục và đào tạo Nó pháp huy tính độc lập, tự giác, sáng tạo của mỗi conngười trong công việc giảng dạy, học tập hoặc phục vụ giảng dạy, học tập Tuynhiên, áp dụng phương pháp kinh tế trong quản lý giáo dục có thể dẫn tới khuynhhướng tư lợi
Trang 11chỉ biết tới lợi ích cá nhân, ít quan tâm đến tập thể và chỉ quan tâm đếnnhững công việc có tiền thưởng Đây là nguyên nhân dẫn đến tinh trạng thương mạihóa giáo dục Ngân sách chi cho giao dục hạn hẹp sẽ khó khăn cho việc thực thiphương pháp này.
Để sử dụng phương pháp kinh tế có hiệu quả, nên kết hợp chặt chẽ phương
pháp kinh tế/VỚi các động viên về tinh thần
Nhà nước chủ yếu thông qua các luật, văn bản dưới luật, các quyết định hànhchính để quản lý giáo dục và đào tạo như: Luật giáo dục 1998; Luật giáo dục sửađổi năm 2005; Chiến lược phát triển giáo dục từ 2001-2010; Các chính sách về giáo
dục
Nhà nước thông qua hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lýgiáo dục và đào tạo để ừiển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo về giáo dục và đàotạo Tổ chức bộ máy nhà nước quản lý giáo dục và đào tạo được kiện toàn từ Trungương tới địa phương Chính phủ và UBND cấp tỉnh, huyện, xã làm nhiệm vụ quản
lý chung các lĩnh vực, trong đó có giáo dục và đào tạo Hê thống cơ quan chuyênmôn được kiện toàn, thực hiện chế độ hoạt động song trùng, vừa chịu sự lãnh đạocủa UBND cùng cấp, vừa chịu sự lãnh đạo của cơ quan chuyên môn cấp trên Dưới
Bộ Giáo dục - đào tạo có các sở, phòng giáo dục và đào tạo ở các địa phương Cóthể nói, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác quảu lý giáo dục và đào tạo
là công cụ đắc lực để thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo
II Thực tiễn quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Ninh Thuận trong thời gian qua
• 3.1 Thành tựu: v a) Qui mô:
Trong những năm gần đây, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh NinhThuận đã có bước chuyển mạnh về nhiều mặt Mạng lưới trường, lớp trên địa bàntỉnh được quy hoạch, sắp xếp hợp lý theo hướng kiên cố hoá và xã hội hoá giáo dụcphù hợp với cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân trên địa bàn và mở rộng đến tất cảcác địa bàn thôn, xã, huyện trong tỉnh Qui mô phát triển các ngành học, cấp họctiếp tục được mở rộng, nhất là ở giáo dục trung học Ngành học Mầm non mặc dù
3JA Công cụ quản lý nhà nước vê giáo dục và đào tạo
Trang 12gặp nhiều khó khăn song vẫn tiếp tục duy trì và phát triển.
Trong giai đoạn 2001-2010:
- Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học tăng nhanh, trong đó: mẫu giáo 5tuổi tăng từ 71,3% lên 93,7% (tăng 22,4%); tiểu học từ 93% lên 98,9% (tăng 5,9%);Trung học cơ sở (THCS) tăng từ 52,94% lên 84,78% (tăng'31,84%); Trung họe cơ
sở (THPT) tăng từ 33% lên 44,5% (tăng 11,5%) Giáo dục không chính qui đượcduy trì và phát triển qua việc thu hút học viên vào Trung tâm Giáo dục thườngxuyên (TTGDTX), Trung tâm Kỹ thuật tổng họp hướng nghiệp (TTKTTHHN),65/65 xã phường có Trung tâm văn hoá, thể thao và học tập cộng đồng
- Quy mô trường lớp học tăng nhanh, trong đó:
Trang 13- Công tác phô cập giáo dục tiêu học đã được củng cố và duy trì: 65/65
xã, phường giữ vững tiêu chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phố cập giáo dục tiếuhọc Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi có 41/65 xã, phường đạt tỷ lệ 63,1%.Tỉnh đã giữ vững thành quả phổ cập giáo dục THCS và được Bộ Giáo dục và Đàotạo công nhận hoàn thành phổ cập THCS vào cuối năm 2008 Hiện nay tỉnh NinhThuận đang đẩy mạnh thực hiện công tác phổ cập giáo dục trung học tại thành phốPhan Rang - Tháp Chàm
- Ước tính đến hết năm 2012 trường phổ thông đạt chuẩn Quốc gia đạt38/228 đạt 16,6% tăng 1,6% so với kế hoạch;
- Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu ủy ban nhân dân tỉnh ban hànhQuyết định số 15/2012/QĐ-UBND ngày 22/3/2012 về việc Quy định tiêu chí xétduyệt học sinh bán trú trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Vì yậy số học sinh bán trú tănglên từ 1.200 em (bán trú dân nuôi) ở năm học trước nay tăng lên 2.236 em, tăng53,6% Từ không có trường nào thuộc mô hình PT dân tộc bán trú nhưng đến năm
2012 đã có 6 trường (1 trường tiểu học và 5 trường THCS) với tổng số học sinh:1.692 em và còn 9 trường là bán trú đân nuôi
- Đã và đang xây dựng chiến lược Trường Cao đẳng Sư phạm NinhThuận đến năm 2020 để thành lập Trường Đại học Ninh Thuận trình ủy ban nhândân tỉnh phê duyệt
b) Chất lượng:
- Chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo được củng cố và pháttriển; tỷ lệ học sinh bỏ học ngày càng giảm Cụ thể: Tiểu học: giảm từ 4,53% xuống0,35% (giảm 4,18%); THCS giảm từ 12,36% xuống 3,01% (giảm 9,35%); THPTgiảm từ 12,63% xuống 2,6% (giảm 10,03%)
- Tỷ lệ hoàn thành chương trình ở tiểu học giữ mức 99,6%; tốt nghiệp
Nă
m
Mâm non(trường/lớp)
Tiêu học(trường/lớp)
THCS(trường/
lớp)
THPT(trường/lớp)20
tăng24/153
tăng29/252
tăng 8/199
Trang 14THCS: tăng từ 92,3% lên 95,4% (tăng 3,1%), THPT: tăng từ 64,6% lên 91,95%(tăng 27,35%);
e) Quản lý giáo dục:
\ Công tác quản lý giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực Công tác tài chínhđượẹ quản lý thống nhất trong toàn tỉnh Đội ngũ giáo viên phát triển ổn định về sốlượng và chất lượng Cuộc vận động "hai không" dần đi vào chiều sâu và phát huyhiệu quả Phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực được cáccấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm, các ngành phối hợp triển khai, toànngành tích
cực tham gia Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học được tăng cường Cáctrường được xây dựng kiên cố, đúng quy hoạch, tập trung, lầu hoá
Thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ yềChương trĩnh hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo”; điềunày làm cho cán bộ và nhân dân Bác Ái rất phấn khởi Thực tế trong thời gian qua,Nghị quyết 3 Oa của Chính phủ đã từng bước đi vào cuộc sống, góp phần làm chokinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc ở Bác Ái có nhiều tiến bộ; đời sống vật chất
và tinh thần của người dân được nâng lên, mạng lưới trường lớp ngày càng mở rộngtạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục phát triển Tỷ lệ học sinh bỏ học, nghỉhọc ngày càng giảm, học sinh các cấp học ngày càng tăng, chất lượng giáo dục vàđào tạo có chuyển biến rõ nét, đội ngũ cán bộ tại chỗ xuất hiện ngày càng nhiều,đồng bào các dân tộc có chuyển biến về nhận thức, các phong tục tập quán lạc lậu
có chiều hịựớng giảm đáng kể
\/d)Đội ngũ nhà giáo:
- Giáo viên trên chuẩn/chuẩn:
- Năm 2011, giáo viên có trình độ đạt chuân tăng dân: Mâm non: 93,18%
Trang 15tăng 56,08%; Tiểu học: 99,68% tăng 11,68%; THCS: 99,47% tăng 6,67%; THPT:100% tăng 0,9% so với năm 2001; số giáo viên có trình độ trên chuẩn tăng dần hàngnăm Mầm non 39,24% tăng 32,39%, Tiểu học: 93,59% tăng 48,09%; THCS:62,12% tăng 51,92%; THPT: từ 0% đến nay tăng 4,02% so với năm 2001.
ị e) pầu tư cho giáo dục:
Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ khẳng định:
“Nhà nườc tiếp tục tăng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo Bảo đảm kinhphí giáo dục phổ cập; tập trung đầu tư cho các nhiệm vụ trọng điểm, cho cácchương trình mục tiêu quốc gia; đào tạo nhân lực cho các ngành, nghề mũi nhọn,trọng điểm, khó huy động nguồn lực từ xã hội; ưu tiên đầu tư cho vùng khó khăn,vùng đồng bào dân tộc ít người”
Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII) nêu rõ: vào năm 2000 thì ngânsách
chi về giáo dục và đào tạo khoảng 20%” Trên thực tế so với định hướng trênthì ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo của tỉnh luôn cao hơn từ 1,63% đến2,75% Trong cơ cấu chi ngân sách giáo dục và đào tạo, Hội đồng nhân dân và ủyban nhân
đân tỉnh đã bố trí ưu tiên cho các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùngđồng bào dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo lương, phụ cấp, trợ cấp và các chế độ khácđối với giáo viên; những năm gần đây không còn hiện tượng nợ lương và phụ cấpnhư trước năm 2005, đã tập trung ngân sách để đầu tư cơ sở vật chất trường, lớptheo hướng chuẩn hóa, lầu hóa, đủ các phòng học bộ môn, đáp ứng nhu cầu pháttriển giáo dục và đào tạo tại các địa phương trong tỉnh
Ngoài nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, chương trình mục tiêu giáodục và đào tạo, các dự án ODA, Chính phủ còn phát hành Trái phiêu giáo dục đêthực hiện Đề án Kiên cố hóa trường, lớp giai đoạn 2008-2012 Tính đến nay Trungương đã hỗ trợ cho tỉnh được 252 tỷ đồng bằng 100% kế hoạch Sau hơn 03 nămtriển khai, tỉnh Ninh Thuận đã xây dựng được 920/1830 phòng học, đạt tỷ lệ 49,6%
so với kế hoạch, 55/522 phòng nhà công vụ cho giáo viên, đạt 10,5% so với kếhoạch Nhìn chung, chất lượng các công trình đều bảo đảm góp phần quan trọngvào việc nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học-xóa mù
Trang 16chữ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở theo Nghị quyết so 41/2000/QH10 củaQuốc hội ngày 09/12/2000 về thực hiện phổ cập trung học cơ sở.
2 Điểm mạnh:
V
\ - Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và ủy ban nhândân tỉnti ctã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng liên quan vềgiáo dục đào tạo Đây là sự cụ thể hoá các quan điểm, đường lối của Đảng về pháttriển giáo dục trong tình hình mới; có tác động tích cực tới việc nâng cao chất lượng
tổ chức, hoạt động giáo dục và đổi mới quản lý giáo dục, tạo hành lang pháp lý cănbản cho việc đẩy mạnh đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục
- Công tác đổi mới quản lý giáo dục được đẩy mạnh theo hướng tăngcường quản lý nhà nước về giáo dục; công khai, dân chủ, phân công, phân cấp, tăngquyền tự chủ, trạch nhiệm xã hội; xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo quyhoạch, kế hoạch đã có nhiều tác động tích cực trong việc phối hợp chỉ đạo giữa SởGiáo dục và Đào tạo với các Sở, ban ngành, ủy ban nhân dân các huyện, thành phốđối với các Phòng Giáo dục và Đào tạo và các cơ sở giáo dục ở địa phương Sự gắnkết, chia sẻ trách nhiệm giữa Sở Giáo dục và Đào tạo với ủy ban nhân dân các cấpđược tăng cường và có hiệu quả tích cực không chỉ trong công tác chỉ đạo, tổ chứcthực hiện các chủ trương, chính sách mà cả trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể
- Các cuộc vận động và phong trào thi đua ngày càng đi vào chiều sâu,trở thành hoạt động thường xuyên của mỗi cơ sở giáo dục và có hiệu quả rõ rệt:
phong trào thi đua “Xạy dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã có sức
lan tỏa mạnh mẽ với sự huy động sức mạnh tổng hợp của các lực ỉượng xã hội và
nhà trường; đã gắn kết chặt chẽ nội dung thực hiện “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh” với cuộc vận động “Mỗỉ thầy giáo, cô giáo là một tẩm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” với nhiều hình thức và phương pháp phù
hợp, hiệu quả
- Công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo vàcán bộ quản lý (CBQL) giáo dục được thường xuyên chú trọng, chất lượng đội ngũngày càng được nâng cao Nhiều địa phương đã triển khai đề án quy hoạch đội ngũnhà giáo, CBQL cơ sở giáo dục các cấp của địa phương đã được ủy ban nhân dântỉnh phê duyệt
Trang 17- Quy mô trường lóp tiếp tục phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhucầu học tập của nhân dân và của xã hội Nhiêu địa phương đã tích cực huy độngthêm nguôn lực để nâng cấp các cơ sở giáo dục đạt chuẩn quốc gia.
- Chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học được nâng cao thêm mộtbước qua việc thực hiện chương trình giáo dục mâm non mới; tiêp tục điêu chỉnhtheo hướng giảm tải chương trình phổ thông; hướng dẫn dạy học dựa trên chuẩnkiến thức, kỹ năng; kiên trì chỉ đạo và thực hiện đổi mới phương pháp dạy-học vàđổi mới kiểm tra đánh giá học sinh; chú trọng phụ đạo cho học sinh yếu kém; kếtquả là tỷ lệ học sinh bỏ học giảm; chất lượng giáo dục được nâng lên so với nămhọc trước
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy, học và quản
lý giáo dục tiếp tục có những chuyển biến Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, hệ thốngthư viện trường học ở các cơ sở giáo dục được tăng cường theo hướng kiên cố hoá,hiện đại hóa, theo các chuẩn quốc gia đã ban hành
- Công tác xã hội hóa giáo dục đã được triển khai có kết quả tốt ởnhiều địa phương điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn với các hình thức đadạng, phù hợp, kịp thời và hiệu quả
3‘ Điểm hạn chế:
- Cơ chế quản lý hệ thống giáo dục còn nhiều bất cập Phân cấp trongquản lý giáo dục còn nhiều nội dung chưa hợp lý, chưa phù hợp, chưa đồng bộ.Công tác quy hoạch, cơ chế quản lý cán bộ trong Ngành có tiến bộ nhưng hiệu quảchưa cao Việc đánh giá cán bộ, công chức, viên chức hằng năm còn nặng về hìnhthức, nể nang, chưa có tác dụng thúc đẩy Hệ thống quản lý và kiểm định chất lượnggiáo dục bướe đầu phát huy vai trò nhưng trong thực tế nhất là đánh giá và dự báo
về mặt chất lượng giáo dục ở các cơ sở giáo dục vẫn còn hạn chế nhất định
- Chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến nhưng còn có sự chênhlệch cao giữa các vùng và giữa các trường học trong tỉnh Ở vùng điều kiện kinh tế-
xã hội (KT-XH) khó khăn, số học sinh yếu kém còn chiếm tỷ lệ khá cao so với mặtbằng các tỉnh trong khu vực, việc huy động học sinh ra lớp và duy trì tỷ lệ đi họcchuyên cần gặp rất nhiều khó khăn; việc phân luồng học sinh sau THCS và giáo dụchướng nghiệp chưa hiệu quả rõ rệt Một bộ phận học sinh phố thông và nhất là học
Trang 18viên các lơp phổ cập, bổ túc còn có biểu hiện thiếu sự tu dưỡng rèn luyện đạo đức,động cơ thai độ học tập chưa đứng, thiếu sự chuyên cần.
- Công tác quản lý của một bộ phận CBQL các cơ sở giáo dục chưanăng động, sáng tạo, còn trông chờ, ỉ lại; yếu trong công tác quản lý hành chính, lập
kế hoạch, tổ chức thực hiện quy chế, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất và thiết bịgiáo dục Một số đơn vị chưa làm tốt việc thực hiện kịp thời báo cáo, thông tin,công tác cải cách hành chính; việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản
lý có nơi còn xem nhẹ
- Cơ cấu đội ngũ giáo viên chưa đồng bộ; năng lực chuyên môn một bộphận giáo viên còn hạn chế, bất cập; tình trạng thiếu, thừa giáo viên ở các cấp họcvẫn còn xảy ra, công tác phân loại, đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp cònhình thức; Còn một bộ giáo viên chưa thạo nghề, chưa thật sự tâm huyết đối vớinghề, thiếu tinh thần trách nhiệm trong giảng dạy và giáo dục học sinh
- Thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm trađánh giá vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đồng bộ, nhất là khâu quản lý kết quả kiểmtra, đánh giá học sinh của các trường; sự chỉ đạo và tổ chức thanh kiểm tra của Sở,của các phòng Giáo dục và Đào tạo vẫn còn thiếu quyết liệt Một số cán bộ quản lý
và giáo viên chưa thực sự quyết tâm, còn ngại khó trong việc áp dụng đổi mớiphương pháp giảng dạy; Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chưalinh hoạt, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; Giáo dục kĩ năng sông chưa được coi trọngđúng mức
- Công tác phổ cập giáo dục ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùngKT-XH khó khăn có kết quả chưa thực sự bền vững Công tác phổ cập mầm noncho trẻ em 5 tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và nhất là phổ cập giáodục THPT (ở thành phố) tuy có nhiều khởi sắc, tiến bộ song một số địa phươngchưa có sự quan tâm đầu tư đúng mức, chưa chủ động, còn có sự trông chờ ỷ lại cấptrên
- Công tác xã hội hóa giáo dục có nhiều tín hiệu tích cực nhưng chưamạnh, nhận thức về xã hội hóa giáo dục chưa được sâu rộng, sự quyết tâm chưa caonên chưa tạo được một phong trào Sự phối hợp giữa "nhà trường-gia đình-xã hội"
đã có chuyển biến nhưng chưa thường xuyên, thiếu sự đồng bộ
Trang 19- Cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường ở nhiều địa phương vẫn còn thiếuthốn và đã xuống cấp; thiếu quỹ đất để xây dựng mới hoặc mở rộng diện tíchtrường, lớp học thao chuẩn quốc gia Nhiều trường học chưa đảm bảo vệ sinh môitrường, thiếu hệ thống nước sạch; thư viện trường học chưa đạt chuẩn Cơ sở vậtchất, trường lớp chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển quy mô học sinh và yêu cầu mởrộng tổ chức lóp học 2 buổi/ngày Tình trạng thiếu phòng thí nghiệm thực hành,phòng học bộ môn và phòng chứa bảo quản thiết bị dạy học vẫn chưa được khắcphục triệt để Trang thiết bị dạy học còn hạn chế về chất lượng và hiệu quả sử dụngcòn thấp Tiến độ xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia còn rất chậm ở cấp Mầmnon, THCS và THPT.
- ứng dụng công nghệ thông tin trong Ngành chưa đồng đều nhất là ởvùng sâu, vùng xa nên việc triển khai ứng dụng CNTT chưa đồng bộ; thiết bị, cơ sở
hạ tầng về CNTT ở các đơn vị cơ sở giáo dục còn thiếu thốn, lạc hậu, không tươngthích nên không đáp ứng được yêu cầu quản lý, sử dụng khai thác các phần mềmgiảng dạy cũng như quản lý (nhất là trường mầm non, tiểu học ở vùng khó khăn);nhiều đơn vị chưa tích cực chủ động mua sắm trang bị mới
- Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
và truyền thông sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để đổi mới cơ bản nội dung,phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, tiến tới mộtnền giáo dục điện tử đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân người học
- Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy
mô toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi để tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những
mô hĩnh giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để pháttriển giáo dục
5 Thách thức:
Trang 20- Sự chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các nhóm dân cư, khoảngcách phát triển giữa các vùng miền ngày càng rõ rệt, gây nguy cơ dẫn đến sự thiếubĩnh đẳng trong tiếp cận và thụ hưởng các chính sách về giáo dục, gia tăng khoảngcách về chất lượng giáo dục giữa các vùng miên và cho các đôi tượng người học.
- Nhu cầu phát triển nhanh giáo dục đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế theo chiều sâu tri thức vớicông nghệ tiên tiến và hội nhập quốc tế, trong khi đó nguồn lực đầu tư cho giáo dục
là có hạn, sẽ tạo sức ép đối với phát triển giáo dục
- Nguy cơ tụt hậu có thể làm cho khoảng cách kinh tế, tri thức, giáodục giữa Việt Nam và các nước ngày càng gia tăng Hội nhập quốc tế và phát triểnkinh tế thị trường làm nảy sinh những vấn đề mới, như nguy cơ xâm nhập của vănhóa và lối sống không lành mạnh làm xói mòn bản sắc dân tộc, dịch vụ giáo dụckém chất lượng có thể gây nhiều rủi ro lớn đối với giáo dục đặt ra yêu cầu phải đổimới cả về lý luận cũng như những giải pháp thực tiễn phù họp để phát triển giáodục
- Sự đòi hỏi ngày càng cao của cha mẹ học sinh và xã hội trong thời kỳhội nhập về chất lượng giáo dục, về cập nhật kiến thức hiện đại, về công nghệ và kỹthuật tiên tiến trong điều kiện của tỉnh Ninh Thuận là bài toán nan giải cho các cấpquản lý giáo dục
- Tư tưởng và thói quen khoán trắng cho ngành Giáo dục trong cáchoạt động giáo dục là rào cản không nhỏ khi thực hiện xã hội hóa giáo dục và nângcao ý thức trách nhiệm của gia đình đối với việc học tập, rèn luyện của học sinh
- Việc bồi dưỡng cho học sinh nâng cao và xác định thái độ, động cơhọc tập đúng đắn, khả năng tự học, kỹ năng ứng phó trước các tệ nạn xã hội và vấnnạn nghiện gameonline cũng là những vấn đề tạo nên sự phức tạp, khó khăn choviệc nâng cao chất lượng và phát triển sự nghiệp giáo dục
- Ngoài ra, những điểm hạn chế đã trình bày ở trên cũng là những thách thứclớn đối với các cấp quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên và sự phát triên của ngànhgiáo dục tỉnh Ninh Thuận trong thời gian đến
III Quan điểm chỉ đạo của Tỉnh ủy và các giải pháp của ủy ban nhân dân về p' ' ' ’' ' ' " 0 tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020.