10 Gia Lộc- huyện Chi Lăng- tỉnh Lạng Sơn” tôi mong muốn tìm ra thực trạng vấn đề bất bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực kinh tế trong gia đình người Nùng tại địa phương, từ đó đưa ra
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
MÃ THỊ HOÀNG YẾN
THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ TIẾP CẬN
NGUỒN LỰC TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI NÙNG
DƯỚI GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI (Nghiên cứu tại xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
MÃ THỊ HOÀNG YẾN
THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ TIẾP CẬN
NGUỒN LỰC TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI NÙNG
DƯỚI GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI (Nghiên cứu tại xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Bá Thịnh
Hà Nội- 2016
Trang 31
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Hoàng Bá Thịnh Các kết quả trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Mã Thị Hoàng Yến
Trang 42
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này Để tôi có thể đạt được các mục tiêu và kết quả nhất định trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi đã nhận được sự chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của giảng viên hướng dẫn GS.TS Hoàng Bá Thịnh , cùng sự hợp tác giúp đỡ của tập thể cán bộ công chức đang công tác tại UBND xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Vì vậy, nhân dịp này tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới giảng viên hướng dẫn GS.TS Hoàng Bá Thịnh, cùng tập thể cán bộ tập thể cán bộ công chức đang công tác tại UBND xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, đã tạo điều kiện hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ tận tình cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu một cách thuận lợi nhất
Trong phạm vi của công trình nghiên cứu này, do bản thân tác giả còn hạn hẹp về kinh nghiệm, vì vậy, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo và toàn thể bạn đọc
Trang 53
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 10
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 15
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 16
5.1 Đối tượng nghiên cứu 16
5.2 Khách thể nghiên cứu 16
6 Phạm vi nghiên cứu 16
7 Câu hỏi nghiên cứu 17
8 Giả thuyết nghiên cứu 17
9 Phương pháp nghiên cứu 18
9.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 18
9.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 18
9.3 Phương pháp thảo luận nhóm 18
9.4 Phương pháp quan sát 18
9.5 Phương pháp điền dã dân tộc học 19
9.6 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 19
9.7 Phương pháp xử lý số liệu SPSS 21
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 22 1.1 Các khái niệm công cụ 22
1.1.1 Khái niệm giới và giới tính 22
1.1.2 Khái niệm bình đẳng giới và bất bình đẳng giới 24
1.1.3 Tiếp cận nguồn lực kinh tế 25
1.1.4 Các khái niệm liên quan: 26
Trang 64
1.1.5 Khái niệm vai trò của công tác xã hội trong thúc đẩy bình đẳng giới về tiếp cận nguồn
lực trong gia đình 29
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 30
1.2.1 Lý thuyết chân đế/bệ đỡ 30
1.2.2 Lý thuyết nữ quyền 31
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ TIẾP CẬN NGUỒN LỰC TRONG GIA ĐÌNH TẠI XÃ GIA LỘC, HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN 38
2.1 Bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực 38
2.1.1 Tiếp cận đất đai sản xuất 38
2.1.2 Tiếp cận nguồn vốn vay phát triển sản xuất 44
2.1.3 Tiếp cận thu nhập, tài chính 47
2.2 Công tác thúc đẩy bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực tại địa phương 50
2.2.1 Nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức về vấn đề bình đẳng giới 50
2.2.2 Nhận thức của người dân về vấn đề bình đẳng giới 52
2.2.3 Thúc đẩy bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực đất đai 54
2.2.4 Thúc đẩy bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn vốn vay phát triển sản xuất 56
2.2.5 Công tác dạy nghề cho lao động nữ nông thôn tại địa phương 59
Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ TIẾP CẬN NGUỒN LỰC KINH TẾ TRONG GIA ĐÌNH BẰNG CÔNG TÁC XÃ HỘI 63
3.1 Truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực trong gia đình 64
3.1.1 Khuyến khích người dân làm thủ tục đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định mới 64
3.1.2 Nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề bình đẳng giới 66
Trang 75
3.1.3 Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức về vấn đề bình đẳng giới, phát huy hiệu
quả hoạt động của sự nghiệp vì sự tiến bộ của phụ nữ tại địa phương 69
3.2 Nâng cao năng lực của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 71
3.2.1.Tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng cho phụ nữ 72
3.2.2 Nâng cao năng lực tự thân của phụ nữ 73
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN 80
KHUYẾN NGHỊ 81
1 Khuyến nghị với Chính quyền địa phương 81
2 Khuyến nghị với người dân 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN
Trang 97
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Bảng 2.2: Người được ưu tiên hưởng thừa kế đất
Bảng 2.3 Mức độ ưu tiên khi đưa ra quyết định sử dụng đối với đất đai
Bảng 2.4 Người được ưu tiên đưa ra các quyết định liên quan đến vốn vay Bảng 2.5 Người trực tiếp đi vay vốn qua các kênh tín dụng
Bảng 2.6 Người được ưu tiên đưa ra các quyết định trong gia đình
Bảng 2.7 Tình hình thực hiện cấp đổi GCNQSDĐ qua các năm
Bảng 2.8 Số lượng người được đào tạo nghề qua các năm
Trang 10sự tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của phụ nữ nhằm nâng cao vai trò và vị trí của người phụ nữ trong gia đình nói riêng và ngoài xã hội nói chung
Sự phát triển của xã hội làm vai trò và vị trí của người phụ nữ được nâng lên đáng kể Phụ nữ đã có quyền bình đẳng so với nam giới Họ được tự do học hành, được tham gia vào các hoạt động của xã hội theo khả năng của mình, có được quyền bỏ phiếu, ứng cử… Tuy nhiên ở nước ta, các yếu tố truyền thống, đặc biệt là tư tưởng nho giáo vẫn còn là một nhân tố đáng kể tác động trực tiếp đến quan niệm và hành vi ứng xử của người dân trong xã hội Các chuẩn mực xã hội và những lễ giáo phong kiến khiến cho người phụ nữ luôn bị rằng buộc trong gia đình, rơi vào địa vị phụ thuộc, luôn sống bó hẹp trong “tam tòng tứ đức” và có thân phận thấp hèn, không được bình đẳng với nam giới Nhiều nơi phụ nữ bị đối xử bất công, luôn bị lép vế, lao động cực nhọc, thức khuya dậy sớm, không có tiếng nói trong gia đình, không được tham gia vào các công việc xã hội Quan niệm “trọng nam khinh nữ” và tư tưởng coi thường người phụ nữ vẫn còn đang tồn tại dưới nhiều biến thái khác nhau Chế độ gia trưởng và sự bất bình đẳng thường là những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc trong cuộc sống gia đình của người phụ nữ Định kiến hẹp hòi của xã hội đang bao trùm lên người phụ nữ, gán vai trò nội trợ như là một biểu trưng chung của người phụ nữ, khiến họ không thể tách rời khỏi gia đình, khỏi vai trò nội trợ của mình để tham gia hoạt động xã hội Bác Hồ đã
Trang 11độ nghĩa vụ mà còn là quyền lợi, quyền được đào tạo, học hành, quyền được tham gia lao động xã hội, quản lí xã hội…Bình đẳng cho phụ nữ là một đòi hỏi cần thiết và thiết thực nhằm đem lại sự giải phóng cho phụ nữ, tạo cho phụ nữ có nhiều cơ hội cùng nam giới tham gia vào các hoạt động xã hội, có được vị trí và chỗ đứng cả trong gia đình và ngoài xã hội
Trong những năm gần đây, vấn đề giới và bình đẳng giới đã trở thành vấn đề được quan tâm trong các diễn đàn phát triển trên thế giới Bình đẳng giới đã có những tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực giáo dục, lao động việc làm hay cơ hội tham gia chính trị Tuy nhiên, bên cạnh đó còn một số lĩnh vực khác vẫn còn có ít sự thay đổi, trong đó phải kể đến bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực Việc tồn tại khoảng cách giữa nam giới và phụ nữ trong tiếp cận nguồn lực là một trong các nguyên nhân làm hạn chế cơ hội phát triển của phụ nữ gây ảnh hưởng tới vị thế của người phụ nữ trong cuộc sống
Tại một địa phương miền núi như xã Gia Lộc - huyện Chi Lăng- tỉnh Lạng Sơn, người dân đa phần là người dân tộc thiểu số, kinh tế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, trình độ dân trí còn thấp, tư tưởng trọng nam khinh nữ còn nặng nề, việc thực hiện vấn đề bình đẳng giới vẫn còn nhiều bất cập ngay
từ trong mỗi gia đình, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống người phụ nữ Trong đó bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực là một vấn đề nổi cộm, đáng được quan tâm
Qua nghiên cứu đề tài “Thúc đẩy Bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực trong gia đình người Nùng dưới góc nhìn công tác xã hội- Nghiên cứu tại xã
Trang 1210
Gia Lộc- huyện Chi Lăng- tỉnh Lạng Sơn” tôi mong muốn tìm ra thực trạng vấn đề bất bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực kinh tế trong gia đình người Nùng tại địa phương, từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần giải quyết vấn
đề này
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới đã và đang được quan tâm nghiên cứu hàng đầu trên thế giới cũng như tại Việt Nam
Nghiên cứu của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ thực hiện
“Phân tích tình hình và đề xuất chính sách nhằm tăng cường tiến bộ của phụ
nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam”(2004) đã đề cập tới thực trạng cũng như
các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp chính sách của 4 khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, đó là vấn đề giới trong việc làm và địa vị kinh tế; giáo dục
và phát triển nguồn nhân lực; sức khỏe và an toàn; và tham gia lãnh đạo và hoạt động chính trị [31]
Báo cáo của các tổ chức phi chính phủ về việc thực hiện công ước xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ tại Việt Nam năm 2010 được
xây dựng dưới góc nhìn của NGO về những kết quả đạt được, những thách thức trong thực hiện CEDAW trong một số lĩnh vực được quan tâm và đưa ra một số khuyến nghị để Chính phủ xem xét nhằm thực hiện bình đẳng giới thực chất ở Việt Nam Báo cáo bao gồm các chủ đề: Phụ nữ tham gia chính trị; Phụ nữ dân tộc thiểu số với giáo dục; Quyền kinh tế của phụ nữ nông thôn; Quyền bình đẳng chống phân biệt đối xử với trẻ em gái; Bạo lực trên cơ
sở giới trong gia đình và buôn bán phụ nữ và trẻ em; Sức khỏe sinh sản và tình dục của phụ nữ yếu thế.[1]
Các công trình: Viện Chủ nghĩa xã hội-khoa học (2007) “Những vấn
đề giới từ lịch sử đến hiện tại”, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội [31]; Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học(2008), Kỷ yếu khoa học “Vai trò của hệ thống
Trang 1311
chính trị cơ sở với việc thực hiện Bình đẳng giới ở vùng Đồng bằng sông
Hồng”[32] đã nêu lên quan điểm về giới và Bình đẳng giới của chủ nghĩa
Mác- Lenin, Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam qua các văn kiện và các văn bản pháp luật, Các công trình này còn nghiên cứu về vấn đề giới trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong hệ thống sách giáo khoa phổ thông
Hai công trình của Lê Thi (1999) “Việc làm, đời sống phụ nữ trong
chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam” NXB Khoa học xã hội [14], và Hoàng Bá Thịnh (2000) “Vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn”, NXB Chính trị Quốc gia [10] đã trình bày lý luận về
vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, quan điểm của Hồ Chí Minh và của Đảng, chính sách của nhà nước về vấn đề này trên quan điểm và phương pháp tiếp cận giới trong lao động và hưởng thụ, vấn đề xây dựng chính sách đáp ứng bình đẳng giới hiện nay
Ngân hàng thế giới (2001) với báo cáo “Đưa vấn đề giới vào phát triển: thông qua sự bình đẳng giới về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói”, được coi
là nghiên cứu đầu tiên mang tính tổng hợp về vấn đề giới, chính sách công và
sự phát triển Thừa hưởng kết quả của các nghiên cứu đa ngành về vấn đề giới
có liên quan đến sự phát triển như kinh tế, luật pháp, nhân khẩu học, xã hội học và các chuyên ngành khác đã được thực hiện trước đó, báo cáo đã đưa ra khái niệm bình đẳng giới là bình đẳng về luật pháp, về cơ hội (bao gồm cả sự bình đẳng trong thù lao công việc và việc tiếp cận đến nguồn vốn con người
và các nguồn lực sản xuất khác cho phép mở ra các cơ hội này) và bình đẳng
về “tiếng nói” (khả năng tác động và đóng góp cho quá trình phát triển), đồng thời chỉ ra thực trạng phân biệt giới theo các khía cạnh đó trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt tập trung vào các nước đang phát triển, cũng như cái giá phải trả cho vấn đề bất bình đẳng giới đối với phúc lợi của con người cũng
Trang 1412
như quá trình phát triển Báo cáo cũng chú trọng phân tích vai trò của thể chế
xã hội như tập quán và luật lệ, các thể chế kinh tế như thị trường; vai trò của mối quan hệ quyền lực, nguồn lực và ra quyết định trong hộ gia đình; vai trò của những thay đổi kinh tế và chính sách phát triển như những yếu tố giải thích cho sự bất bình đẳng giới để từ đó giúp xác định các đòn bẩy chính sách hữu hiệu dể thực đẩy sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới [15]
Trong Báo cáo phát triển con người châu Á Thái Bình Dương (UN, 2009)[2] Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) trong báo cáo phát triển con người năm 2010 (UNDP, 2010) [28], cũng xem xét bình đẳng giới trong quyền pháp lý, tiếng nói trên chính trường, và quyền năng kinh tế
và đưa cách tiếp cận đó vào việc xây dựng chỉ số đánh giá bất bình đẳng giới mới (GII)
Sau hơn một thập kỷ kể từ báo cáo 2001 của Ngân hàng thế giới ra đời, quá trình hoàn thiện thể chế về mặt luật pháp đảm bảo bình đẳng giới đã được thực hiện rộng khắp nhất là ở các nước đang phát triển, do đó trong nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2011) với chủ đề “Bình đẳng giới và phát triển” [16] trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó của Ngân hàng thế giới liên quan đến chủ đề giới, đã tập trung đánh giá bình đẳng giới được xem xét theo
3 khía cạnh: sự tích tụ năng lực (sức khỏe, học hành, tài sản vật chất); việc sử dụng năng lực để nắm bắt các cơ hội kinh tế và tạo thu nhập; và việc sử dụng các năng lực được tích tụ đó để tác động đến quyền lợi của cá nhân và hộ gia đình Báo cáo đánh giá những bước tiến trong các khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, đồng thời cũng chỉ ra những khía cạnh bất bình đẳng giới còn tồn tại dai dẳng, từ đó lựa chọn chính sách tập trung giải quyết nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực ưu tiên
Trên cơ sở báo cáo phát triển thế giới 2012, Ngân hàng thế giới khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (WB, 2012) đã nghiên cứu chi tiết các khía
Trang 1513
cạnh bất bình đẳng giới được đặt ra trong báo cáo phát triển thế giới trong bối cảnh của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương từ đó đưa ra cơ sở hoạch định chính sách hướng tới bình đẳng giới mang tính đặc trưng cho khu vực này
Một nghiên cứu có thể được coi là đầu tiên của Việt Nam tổng quan
về vấn đề giới đó là nghiên cứu của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ thực hiện với tên gọi “Phân tích tình hình và đề xuất chính sách nhằm tăng cường tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam”(2004) [30] trong đó
đề cập tới thực trạng cũng như các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp chính sách của 4 khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, đó là vấn đề giới trong việc làm và địa vị kinh tế; giáo dục và phát triển nguồn nhân lực; sức khỏe và an toàn; và tham gia lãnh đạo và hoạt động chính trị
Tiếp theo nghiên cứu đó, đã có một số công trình khác cũng nhằm đánh giá tổng quan thực trạng vấn đề bình đẳng giới, từ đó đưa ra một số khuyến nghị chính sách như Báo cáo thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam (2005, 2010); “Đánh giá tình hình Giới ở Việt Nam”(WB, 2006);
“Đánh giá Giới ở Việt Nam” (WB, 2012); Chuỗi báo cáo của UNDP (2008)
“Việt Nam tiếp tục thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ ” - trong đó có báo cáo Việt Nam thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ thứ 3; Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB, 2008) “Bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm và chăm sóc sức khỏe, nghiên cứu dựa vào số liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2006” hay nghiên cứu của Naila Kabeer, Trần Thị Vân Anh, Vũ Mạnh Lợi (2005), “Chuẩn bị cho tương lai: Các chiến lược ưu tiên nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam” [7]
Các nghiên cứu tổng quan này với việc đánh giá bất bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua các tiêu chí được đưa ra trong 2 chỉ số đánh giá bình đẳng giới của UNDP là GDI và GEM về cơ bản đã đánh giá thực trạng bất bình đẳng giới trên nhiều phương diện như giáo dục, y tế, và lao động việc
Trang 1614
làm, cũng như vị thế của phụ nữ Việt Nam trong các cơ quan quyền lực và so sánh được vị thế của Việt Nam trong khu vực và quốc tế về vấn đề bình đẳng giới Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đánh giá được hết các khía cạnh của vấn đề bình đẳng, mặt khác, các nghiên cứu tổng quan này cũng chưa chỉ ra các căn nguyên sâu xa của vấn đề bất bình đẳng giới để từ đó đề xuất các chính sách tổng thể hiệu quả
Bên cạnh những nghiên cứu mang tính tổng quan, có rất nhiều các nghiên cứu chuyên sâu xem xét vấn đề bất bình đẳng giới theo các khía cạnh hoặc trong nhóm nhỏ dân số
Một số nghiên cứu với góc độ đặt vấn đề về những thách thức đặt ra trong việc thực hiện bình đẳng giới trong các điều kiện mới như biến đổi khí hậu và toàn cầu hóa của Naila Kabeer và Trần Thị Vân Anh (2006); Phan Thị Nhiệm (2008), Nguyễn Thị Bích Thúy, Đào Ngọc Nga, Annalise Moser và April Pham (2009) Tuy nhiên, việc xem xét tác động của toàn cầu hóa mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu đơn lẻ trong một số lĩnh vực hẹp như lĩnh vực lao động và việc làm, hay đối tượng cụ thể là phụ nữ dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc của Việt Nam.[7]
Trong lĩnh vực lao động và việc làm, các nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới đã tập trung vào một số khía cạnh như việc làm, thu nhập, tuyển dụng, di cư, lao động nữ nông thôn, tuổi nghỉ hưu, an sinh xã hội như nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt (2006); Trung tâm nghiên cứu lao động
nữ và giới (2007 - 2008); Báo cáo của ILO (2007).[7]
Trong lĩnh vực giáo dục, các nghiên cứu về bất bình đẳng giới thường tập trung vào đánh giá sự khác biệt về trình độ dân trí giữa nam và nữ, cơ hội
đi học các cấp phổ thông của trẻ em trai và gái (Đỗ Thiên Kính, (2005); Ngân hàng thế giới (2008)) Nghiên cứu của Vũ Hồng Anh (2010) được tập trung nghiên cứu vấn đề bất bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số của
Trang 1715
Việt Nam.[7]
Nghiên cứu: "Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" do Trung tâm Nghiên cứu gia đình và phụ nữ tiến hành năm 1998 – 2000 đã chỉ ra sự biến đổi các mối quan hệ cơ bản trong gia đình như quan hệ vợ chồng, cha
mẹ, con cái Những mối quan hệ này đã có sự thay đổi căn bản dưới sự tác động của biến đổi về kinh tế - xã hội Tuy nhiên khẳng định vị thế của nghiên cứu chỉ phân tích bình đẳng giới trong gia đình và người phụ nữ đã được nâng lên so với trước đây.[27]
Những công trình nghiên cứu, bài viết, báo cáo trên đây đã trình bày sâu sắc mỗi nội dung, đặc điểm, của các vấn đề liên quan đến Bình đẳng giới tại nước ta hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về vấn đề Thúc đẩy bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực trong gia đình người
Nùng Trên cơ sở kế thừa vận dụng kết quả nghiên cứu của một số công trình,
bài báo cáo, bài viết có nội dung liên quan, luận văn này góp phần thấy được thực trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực trong gia đình người Nùng từ đó đề ra giải pháp giải quyết vấn đề này để nâng cao vị thế của phụ
nữ trong xã hội
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
Việc nghiên cứu về thực trạng bất bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực trong gia đình người Nùng tại xã Gia Lộc- huyện Chi Lăng- tỉnh Lạng Sơn làm phong phú thêm các khía cạnh liên quan tới bất bình đẳng giới trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nói chung và cộng đồng người Nùng tại địa phương nói riêng Hơn nữa việc nghiên cứu chính là cơ hội để nhìn nhận vai trò của phụ nữ và nam giới trong đời sống xã hội, những bất cập đang tồn tại trong mối quan hệ giới tại cộng đồng Từ đó tạo lập cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp nhằm góp phần cải thiện quan hệ giới và thực hiện việc đảm
Trang 1816
bảo quyền con người cho phụ nữ ở các cộng đồng dân tộc thiểu số
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
- Phân tích thực trạng bất bình đẳng giới, các nguyên nhân và hậu quả của vấn đề bất bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực trong gia đình người Nùng tại
xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
- Đưa ra một số khuyến nghị và biện pháp giải quyết nhằm cải thiện thực trạng bất bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực ở địa phương
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Thúc đẩy bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực trong gia đình người dân tộc Nùng
5.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài này là hộ gia đình người dân tộc Nùng ở
xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
6 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2016 đến tháng 9/2016
Trang 1917
- Không gian nghiên cứu: Xã Gia Lộc- huyện Chi Lăng- tỉnh Lạng Sơn
- Nội dung: Đề tài Nghiên cứu thực trạng bất bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực kinh tế trong gia đình người Nùng tại xã Gia Lộc, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, tập trung vào các nguồn lực đất đai, vốn vay phát triển sản xuất, tài chính thu nhập
7 Câu hỏi nghiên cứu
- Vấn đề bất bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực kinh tế trong gia đình
người Nùng tại địa phương như thế nào?
- Nguyên nhân gì dẫn đến vấn đề bất bình đẳng giới về tiếp cận nguồn
lực kinh tế trong gia đình người Nùng tại địa phương?
- Công tác thúc đẩy bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới về tiếp
cận nguồn lực kinh tế trong gia đình người Nùng nói riêng đang ở mức độ nào?
8 Giả thuyết nghiên cứu
- Bất bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực kinh tế trong gia đình người
Nùng được biểu hiện qua cách tiếp cận đất đai, nguồn vốn vay, thu nhập giữa nam và nữ trong gia đình Phụ nữ tỏ ra yếu thế hơn nam giới trong tiếp cận nguồn lực kinh tế
- Nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực
kinh tế trong gia đình là do người dân là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, còn tồn tại nhiều quan niệm cổ hủ, lạc hậu; phụ nữ không có điều kiện tiếp cận thông tin về chính sách, pháp luật bằng nam giới
- Công tác thúc đẩy bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới về tiếp cận nguồn lực kinh tế trong gia đình người Nùng nói riêng chưa được chính quyền địa phương chú trọng, hoạt động chưa hiệu quả