1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển mô hình trồng cây tăng vụ nhằm hỗ trợ xóa đói giảm nghèo tại xã đồng quang, huyện quốc oai, thành phố hà nội (Tóm tắt, trích đoạn)

53 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 659,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và kết quả là khi chương trình, dự án kết thúc thì vấn đề của cộng đồng được hỗ trợ không được giải quyết một cách hiệu quả, người dân vẫn sống trong hoàn cảnh khó khăn Ở địa phương cũng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ QUYÊN

PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH TRỒNG CÂY TĂNG VỤ NHẰM HỖ TRỢ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ ĐỒNG QUANG, HUYỆN QUỐC OAI,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Công tác xã hội

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ QUYÊN

PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH TRỒNG CÂY TĂNG VỤ NHẰM HỖ TRỢ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ ĐỒNG QUANG, HUYỆN QUỐC OAI,

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều thầy cô, người thân và bạn bè

Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ được hoàn thành nhờ có sự dìu dắt và giúp

đỡ nhiệt tình của TS Trương An Quốc, giảng viên khoa Xã hội học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, trườn Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi xin gửi đến Thầy lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất

Tôi cũng xin cảm được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo giảng dạy trong khoa Xã hội học cũng như các thầy cô giáo trong trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, trườn Đại học Quốc gia Hà Nội, khóa học 2013-

2015 đã dạy dỗ và cung cấp cho tôi nhiều kiến thức bổ ích và quí giá

Cuối cùng tôi xin cảm ơn người dân, một số hộ dân nghèo nói riêng và chính quyền địa phương xã Đồng Quang cùng bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Người thực hiện

Nguyễn Thị Quyên

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 2

3 Tình hình nghiên cứu 3

4 Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể 8

5 Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 9

7 Giả thuyết nghiên cứu 9

8 Phương pháp nghiên cứu 10

9 Kết cấu của luận văn 11

PHẦN NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

1.1 Các khái niệm công cụ 12

1.1.1 Nghèo và các khái niệm liên quan đến nghèo 12

1.1.2 Phát triển cộng đồng 19

1.1.3 Dự án phát triển cộng đồng 24

1.1.4 Lý thuyết hệ thống 26

1.2 Thực trạng nghèo ở xã Đồng Quang – Quốc Oai – Hà Nội 28

1.2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 28

1.2.2 Thực trạng nghèo 34

1.2.3 Nguyên nhân thực trạng nghèo ở xã Đồng Quang 39

1.2.4 Những vấn đề gặp phải và nhu cầu của người nghèo, hộ nghèo ở xã Đồng Quang – Quốc Oai – Hà Nội 41

1.2.5 Đánh giá các chương trình, chính sách giảm nghèo ở xã Đồng Quang - Quốc Oai- Hà Nội 42

CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH TRỒNG CÂY TĂNG VỤ TẠI XÃ ĐỒNG QUANG, HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 49

Trang 5

2.1 Tìm hiểu cộng đồng 49

2.1.1 Nhận diện cộng đồng 49

2.1.2 Đánh giá nhu cầu: 53

2.1.3 Đánh giá tiềm năng và khó khăn trong cộng đồng 55

2.1.4 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong dự án 57

2.2 Xây dựng dự án 59

2.2.1 Địa điểm thực hiện 59

2.2.2 Chủ thể và thời gian thực hiện 60

2.2.3 Mục tiêu và các hoạt động 61

2.2.4 Biện pháp kỹ thuật gieo trồng 61

2.2.5 Xây dựng các hoạt động của dự án 62

2.2.6 Kinh phí thực hiện dự án 67

2.2.7 Phân công trách nhiệm thực hiện các hoạt động 72

2.2.8 Thực hiện kế hoạch 73

2.3 Lƣợng giá dự án 75

2.4 Những kết quả đạt đƣợc, thuận lợi và khó khăn khi thực hiện dự án 76

2.4.1 Những kết quả đạt được của dự án 76

2.4.2 Những thuận lợi khi thực hiện dự án 77

2.4.3 Những khó khăn khi thực hiện dự án 78

2.5 Một số bài học kinh nghiệm 79

KẾT LUẬN 81

KHUYẾN NGHỊ 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 6

và vươn lên khá giả Thu nhập và đời sống của người dân tăng lên rõ rệt Tuy nhiên bên cạnh một số hộ giàu, khá vươn lên thoát nghèo hiện nay thì còn một

bộ phận kinh tế hộ nông dân còn thuộc diện trung bình và nghèo do trình độ dân trí, trình độ canh tác còn hạn chế chưa tận dụng hết đất nông nghiệp hiện

có để tạo ra việc làm và tăng thu nhập

Là một xã thuần nông, diện tích đất tự nhiên đứng thứ 2 của huyện sau

xã Sài Sơn Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển trồng trọt, chăn nuôi Cũng như các địa phương khác, diện tích đất nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa

và hoa màu vào hai vụ chính đó là vụ lúa mùa và vụ hè thu Sang vụ đông, hầu hết diện tích đất chưa được khai thác để tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân đặc biệt là các hộ dân nghèo ở địa phương

Các chương trình, chính sách, các dự án của Nhà Nước, của các tổ chức phi chính phủ đầu tư nhằm giúp người dân thoát nghèo vẫn tồn tại nhiều hạn chế chưa phát huy được sự tham gia tích cực của người dân, chưa khai thác được được các tiềm năng và thế mạnh của cộng đồng trong việc giải quyết vấn đề Các chương trình được thực hiện theo cơ chế “từ trên xuống”, các dự

án mang đến cho người dân “con cá” mà không cho họ “cần câu và dạy họ cách câu” Một thực tế mà chúng ta có thể thấy trong các dự án hiện nay là họ

Trang 7

2

chỉ mang tiền đến cho người dân để giúp người dân nghèo vượt qua được khó khăn trước mắt, tạm thời Và kết quả là khi chương trình, dự án kết thúc thì vấn đề của cộng đồng được hỗ trợ không được giải quyết một cách hiệu quả, người dân vẫn sống trong hoàn cảnh khó khăn

Ở địa phương cũng một số chương trình, dự án của các công ty và doanh nghiệp hỗ trợ người nghèo nhưng họ chỉ mang nguồn vốn đến cho người dân để họ giải quyết khó khăn trước mắt Sự tham gia của người dân vào các chương trình còn hạn chế chủ yếu thực hiện theo kế hoạch của các

nhà đầu tư Do đó, xuất phát từ lí do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển mô hình

trồng cây tăng vụ nhằm hỗ trợ xóa đói giảm nghèo tại xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa về lý luận

Luận văn nghiên cứu và đánh giá việc vận dụng phát triển mô hình trồng cây tăng vụ để hỗ trợ người dân nghèo tại xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội đồng thời bổ sung và làm phong phú hơn các nhìn nhận, đánh giá của mọi người về tầm quan trọng của công tác xóa đói giảm nghèo nói chung và làm rõ hơn về phương pháp phát triển cộng đồng trong công tác xã hội

Những kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người làm nghiên cứu hay giảng dạy và những người quan tâm về phát triển cộng đồng

Giúp cho nhân viên xã hội có thêm kiến thức về tiến trình phát triển cộng đồng cũng như nhìn nhận khách quan về vấn đề nghèo ở nông thôn hiện nay và để thực hành công tác xã hội phát triển cộng đồng tốt hơn

2.2 Ý Nghĩa về thực tiễn

Nghiên cứu này giúp người dân và chính quyền địa phương hiểu rõ hơn

về thực trạng nghèo trong giai đoạn hiện nay Đồng thời giúp cho các gia đình thuộc diện hộ nghèo tự trang bị cho mình những kiến thức, hiểu biết cần thiết,

Trang 8

3

biết khai thác tiềm năng sẵn có ở địa phương, các nguồn nội lực của gia đình

và bản thân để vươn lên thoát nghèo

Phát triển mô hình trồng cây tăng vụ giúp cho người dân có thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống, khắc phục được tình trạng đất trống

3 Tình hình nghiên cứu

Chúng ta đều biết nghèo đói là vấn đề mang tính toàn cầu và nó đang

là lực cản trên con đường tăng trưởng và phát triển của Quốc gia Nghèo luôn

đi liền với trình độ dân trí thấp, tệ nạn xã hội, bệnh tật phát triển, trật tự an ninh chính trị không ổn định Nghiên cứu về nghèo đói, công tác xóa đói giảm nghèo và việc vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng trong hỗ trợ người dân vươn lên thoát nghèo đã và đang thu hút được nhiều nhà nghiên cứu,các

tổ chức phi chính phủ, các học giả trong và ngoài nước Có thể khẳng định rằng nghèo đói hiện nay đang được quan tâm một cách nghiêm túc và sâu rộng Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn ngày, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu trên thế giới và trong nước

Trên thế giới Ngân hàng Thế giới với công trình (tháng 8/2003) “Đánh

giá nghèo đói có sự tham của người dân tại xã Tế Tiêu, xã Phúc Lâm huyện

Mỹ Đức” Báo cáo đánh giá thực trạng, nguyên nhân nghèo đói, các chương trình đang thực hiện tại 2 địa phương và sự tham gia của người dân trong việc thực hiện các chương trình giảm nghèo

Tổ chức liên giáo hội vì sự hợp tác phát triển ICCO- Hà Lan tài trợ với

dự án“ Phát triển cộng đồng tại xã Đại Đồng- Tràng Định- Lạng Sơn” cho những người phụ nữ nghèo và phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại xã Đại Đồng về vốn cũng như kiến thức, tạo điều kiện cho họ tham gia vào hoạt động sản xuất nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống Đồng thời nâng cao năng lực cho cán bộ phụ nữ xã trong việc thực hiện chủ trương phụ nữ giúp nhau làm kinh tế

Trang 9

4

Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam với dự án “Phát triển cộng đồng

có sự tham gia của người dân” (PACODE) được thực hiện tại hai tỉnh An Giang và Sóc Trăng của Việt Nam trong vòng 5 năm (2005 - 2009) với sự tài trợ của Chương trình Liên minh Danida kết hợp với Hội Phụ Nữ tỉnh An Giang và Sóc Trăng, Bệnh Viện Nhi Đồng 1 ở TPHCM và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về Tiết kiệm Năng lượng (ENERTEAM) Nội dung của dự

án tập trung vào việc trợ giúp phụ nữ trong vùng dự án có thể tiếp cận các giải pháp năng lượng và quản lý rác thải hiệu quả, tiết kiệm đồng thời bảo vệ sức khỏe của họ và gia đình; Nhận thức của cộng đồng về năng lượng sạch và vệ sinh môi trường được nâng cao

Bên cạnh đó còn có các cuộc hội thảo, chương trình xung quanh vấn đề này như: hội thảo ở Amxtecdam, Beclin; Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và vì người nghèo nhằm đạt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ ở Việt Nam- ILO; Chương trình phát triển LHQ, cơ quan hợp tác phát triển Thụy Điển-10/2004…

Ở Việt Nam Báo cáo “Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành:

Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức: của World Bank.Báo cáo đã đánh giá những thành tựu nổi bật giảm nghèo của Việt Nam trong 20 năm Tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm gần 60 % đầu năm

1990 xuống còn 20,7% năm 2010, ngoài ra còn đạt được những thành tựu ấn tượng trong giáo dục và y tế Tỷ lệ học sinh ở bậc tiểu học của người nghèo đạt hơn 90 % và ở bậc trung học đạt 70% Tuy nhiên báo cáo cũng chỉ ra rằng tăng trưởng đang suy giảm trong những năm gần đây do các bất ổn vĩ mô và các cú sốc từ bên ngoài, bất bình đẳng gia tăng, nghèo trong nhóm dân tộc thiểu số vẫn cao và khó xóa bỏ chiếm 50% năm 2010 Đồng thời báo cáo cũng đưa ra giải pháp là thực hiện mô hình tăng trưởng mang lại lợi ích cho mọi người dân bằng cách mở rộng đầu tư vào khu vực nông thôn, lĩnh vực sản xuất, đầu tư vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 10

5

Báo cáo tổng hợp nghiên cứu “Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia tại một số cộng đồng dân cư nông thôn Việt Nam, 2007-2011” do Oxfam và ActionAid cùng thực hiện tháng 5/2012 Đây là một dự án được triển khai từ năm 2007, sau khi Việt nam chính thức trở thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Điều này đã mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thứ, rủi ro đặc biệt cho nhóm nghèo và dễ bị tổn thương Điểm nổi bật của báo cáo là những thành tựu trong giảm nghèo nông thôn Việt Nam hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm Hệ thống an sinh xã hội đang hướng tới người nghèo dễ bị tổn thương và cung cấp các chương trình

hỗ trợ quan trọng để thoát nghèo Tuy nhiến báo cáo cũng chỉ ra dù có nhiều tiến bộ thì công tác giảm nghèo là vấn đề ưu tiên cấp thiết trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Báo cáo tổng hợp nghiên cứu “Khuyến nông và giảm nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số: Những lựa chọn chiến lược: thuộc dự án “ Theo dõi và phân tích chiến lược giảm nghèo” của Oxfam tháng 03/2015 Báo cáo đã chỉ ra cần

ưu tiên “ Khuyến nông sinh kế” hướng tới đảm bảo an sinh lương thực và nâng cao thu nhập cho người dân ở các cộng đồng nghèo dựa trên gắn kết khuyến nông với các hỗ trợ sinh kế, tư vấn, thúc đẩy cùng làm việc tại chỗ cùng với người dân

Nghiên cứu “Đánh giá tác động của quỹ hỗ trợ phát triển xã trong chương trình PSARD tại Hòa Bình” của cơ quan hợp tác phát triển Thụy Sỹ SCD tháng 12/2014 Quỹ hỗ trợ phát triển xã (CDF) là nguồn vốn đầu tư phân cấp trọ gói cho cấp xã nhằm chủ động đầu tư một số hạng mục nhỏ và đơn giản theo nhu cầu với sự tham gia đóng góp,thực hiện của người dân Điểm nổi bật trong việc thực hiện quỹ CDF được báo cáo chỉ ra đó là vai trò cảu người dân và cộng đồng được đề cao trong quá trình thực hiện kinh tế xã hội tại địa phương Công trình CDF do xã làm chủ đầu tư thực sự, hoàn toàn chủ

Trang 11

kế hoạch, họ tự bàn bạc thống nhất về số lượng và hình thức đóng góp (chủ yếu là đóng góp công lao động hoặc hiến đất, khai thác vật liệu địa phương để làm công trình)

Nghiên cứu “Huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực giảm nghèo” của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tổ chức Oxfam và Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội (cụ thể là Vụ vấn đề xã hội) tháng 03/2015 Báo cáo chỉ ra rằng Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững thiếu khung kết quả Văn kiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và văn kiện của các chương trình thành phần như 30a, 135 đều có “mục tiêu chung”,

“mục tiêu cụ thể” nhưng còn thiếu các “kết quả” – Thành tựu trung gian trực tiếp Do khung kết quả không đươc thiết kế cùng lúc với xây dựng văn kiện chương trình nên đến thời điểm hiện tại dù đã hết thời gian thực hiện giai đoạn 2011-2005 mà Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và các Chương trình mục tiêu quốc gia khác vận chưa thể công bố khung kết quả

để phục vụ giám sát và đánh giá Nguồn lực cấp cho các dự án thấp hơn nhiều

so với phê duyệt, chồng chéo khó lồng ghép Tất cả các yếu tố trên dẫn đến công tác giảm nghèo chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Người dân được hưởng lợi nhiều từ Chương trình giảm nghèo, thoát nghèo nhưng thực tế không được cải thiện

Trạm Khuyến nông - Khuyến ngư (KNKN) huyện Điện Biên Đông

“Mô hình trình diễn canh tác 17,5 ha đậu tương vụ đông xuân trên đất lúa một

vụ tại các bản Háng Trợ A, B, C (xã Pú Nhi, huyện Điện Biên Đông) cùng với

Trang 12

cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, góp phần quan trọng đẩy nhanh công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương Bằng nguồn vốn Nghị quyết 30a/CP và vốn sự nghiệp nông nghiệp, 51 hộ tham gia mô hình được Nhà nước hỗ trợ 100% giống, phân bón và được hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh Người dân tận dụng được diện tích đất bỏ hoang trên chân ruộng lúa 1 vụ; tận dụng lượng phân hữu cơ sẵn có tại địa phương

Trung tâm Phát triển cây trồng Hà Nội với “Mô hình sản xuất đậu tương giống DT 84 vụ hè thu năm 2015” với diện tích canh tác 210 ha tập chung tại 5 hợp tác xã ở hai huyện Đan Phượng và Phúc Thọ nhằm tạo nguồn cung ứng giống đạt chuẩn cho sản xuất vụ đông Tham gia vào mô hình này, nông dân ở 5 Hợp tác xã được hỗ trợ 100% giống, 30% vật tư phân bón, thuốc Bảo vệ thực vật cũng như được tập huấn kỹ thuật Toàn bộ quá trình sản xuất đề được kiểm định gắt gao bởi đội ngũ các nhà chuyên môn Năng suất đạt trung bình 80kg/sào tương đương 2,3-2,5 tấn/ha (theo ông Hoàng Việt Hồng, nông dân xã Trung Châu huyện Đan Phượng)

KS Hoàng Thị Liên, Trưởng phòng Trồng trọt - Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương (vụ đông năm 2002-2003) “

Dự án xây dựng mô hình trồng đậu tương đông bằng phương pháp gieo thẳng trên đất làm đơn giản để cải tạo đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp” Cơ quan thực hiện là Phòng trồng trọt và nông nghiệp được triển khai gieo trồng tại 10 hợp tác xã trên địa bàn huyện Cẩm Giàng và huyện Thanh Miện với tổng diện tổng diện tích là 81,5ha trên đất cấy 2 vụ lúa băng

Trang 13

8

phương pháp gieo trồng trên gốc dạ Theo đánh giá kết quả thì năng suất đat 52,5kg/sào tương đương 14,5 tạ/ha

Trung tâm nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ, Viện Cây lương thực và

Cây thực phẩm (2014) “Mô hình trồng cây đậu tương đông năng suất cao tại

xã Mỹ Thành, huyện Mỹ Đức năm 2014” Diện tích gieo trồng khoảng 70 ha,

sử dụng giống đậu tương ĐT26

Theo báo cáo của Ban chủ nhiệm HTX Mỹ Thành, vụ Đông năm 2014,

xã Mỹ Thành gieo trồng 232 ha đậu tương, trong đó có 70 ha trồng giống đậu tương ĐT26, còn lại là giống đậu tương ĐT84 Do phù hợp với đồng đất nơi đây nên cây đậu tương ĐT26 cho thu nhập và hiệu quả kinh tế cao hơn giống ĐT84 Với năng suất vượt so với ĐT84 là 800 kg/ha, giá bán bình quân cả đậu giống và đậu thương phẩm khoảng 20.000 đồng/kg, thu nhập tăng thêm của nông dân Mỹ Thành từ 70 ha đậu tương ĐT26 khoảng 1,12 tỷ đồng

Như vậy thông qua các nghiên cứu đánh giá về công tác xóa đói giảm nghèo, các mô hình trồng cây tăng vụ nhằm hỗ trợ người dân ta thấy được những thành tựu của công tác giảm nghèo, các chính sách hỗ trợ người nghèo của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua, hiệu quả kinh tế các mô hình trồng cây tăng vụ đem lại cho người dân Đời sống của người dân nhất là người nghèo được cải thiện theo hướng tốt lên Song vẫn còn tồn tại những bất hợp lý từ các chính sách hỗ trợ đã và đang thực hiện, những bất lợi, rào cản khiến người nghèo khó vươn lên Qua việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu của đề tài, tác giả thấy được những thuận lợi và khó khăn từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục trong triển khai và thực hiện dự án

4 Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể

4.1 Mục tiêu tổngquát

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu và phát triển mô hình trồng cây tăng vụ nhằm hỗ trợ xóa đói giảm nghèo tại xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

Trang 14

9

4.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài nghiên cứu cần thực hiện các mục tiêu cụ thể sau: (1) Mô tả tình trạng và nguyên nhân nghèo ở nông thôn hiện nay (2) Xây dựng dự án phát triển mô hình trồng cây tăng vụ trong việc hỗ trợ giảm nghèo tại xã Đồng Quang huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

5 Đối tƣợng, phạm vi và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là việc tìm hiểu và vận dụng phát triển mô hình trồng cây tăng vụ nhằm hỗ trợ xóa đói giảm nghèo xã Đồng Quang, huyện

Quốc Oai, thành phố Hà Nội

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian nghiên cứu của đề tài là thôn Đồng Lư, xã Đồng Quang,

huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

Về thời gian thực hiện nghiên cứu đề tài: Từ 10/2015 đến 01/2016

5.3 Khách thể nghiên cứu là một số hộ dân nghèo, đoàn thể và cán bộ địa

phương

6 Câu hỏi nghiên cứu: Người dân nghèo có những nhu cầu gì? Các nguồn

lực nào được huy động để triển khai mô hình trồng cây tặng vụ nhằm hỗ trợ

xóa đói giảm nghèo xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội?

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong dự án là gì? Những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm rút ra từ dự án?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài, người thực hiện có đưa ra một số giả thuyết cho vấn đề nghiên cứu

(1) Tình trạng nghèo ở nông thôn hiện nay chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau ( gia đình, sức khỏe, cơ sở vật chất….)

(2) Việc phát triển mô hình trồng cây tăng vụ có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người dân nghèo cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống

Trang 15

10

8 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người thực hiện sử dụng một số phương pháp để chứng minh, trả lời cho câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

(1) Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích thông tin từ các tài liệu

và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài như các báo cáo về xóa đói giảm nghèo, báo cáo phát triển kinh tế xã hội, kết quả của các chương trình hỗ trợ giảm nghèo của xã Đồng Quang Các văn bản pháp lý, tài liệu từ các nguồn sách báo, điện tử, công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả có liên quan đến đề tài…

(2) Phương pháp quan sát về địa hình, nhà ở, điều kiện cơ sở vật chất, môi trường sống xung quanh của hộ nghèo để nhận định về thực trạng tiếp cận các dịch vụ xã hội, xác định được hộ nào nghèo, nguyên nhân dẫn đến nghèo của họ, các mối quan hệ của họ trong cộng đồng Trên cơ sở đó xây dựng dự án hỗ trợ

(3) Phương pháp phỏng vấn sâu Đối tượng phỏng vấn sâu là một số hộ nghèo, cán bộ xã và thôn Trong đề tài nghiên cứu này người nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 04 hộ nghèo, 02 cán bộ xã và 02 cán bộ thôn

Thông qua việc phỏng vấn các cán bộ và hộ dân nghèo trên địa bàn nghiên cứu nhằm mục đích thu thập các thông tin chuyên sâu về tình hình nghèo, khả năng tiếp cận các nguồn lực và hiệu quả từ các chương trình hỗ trợ giảm nghèo

(4) Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham (PRA:Participatory Rural Appraisal) Sử dụng các các công cụ trong phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia như Ma trận SWOT, xếp thứ

tự ưu tiên, sơ đồ Ven để phân tích các vấn đề đang tồn tại và nảy sinh để xác định vấn đề ưu tiên trước mắt cần giải quyết Các điểm mạnh điểm yếu,

cơ hội và rủi ro, các mối quan hệ giữa hộ nghèo và các tổ chức trong cộng

Trang 16

11

đồng và khuyến khích người dân cùng tham gia, chia sẻ, thảo luận các vấn đề gặp phải để họ tham gia vào việc xây dựng và thực hiện kế hoạch để giải quyết vấn đề của mình

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài bao gồm 2 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Phát triển mô hình trồng cây tăng vụ tại xã Đồng Quang huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

Trang 17

12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Nghèo và các khái niệm liên quan đến nghèo

1.1.1.1 Trên thế giới

Nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính chất toàn cầu Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển mà nó còn tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện

tự nhiên, thể chế kinh tế, chính trị xã hội mà tính chất, mức độ nghèo đói khác nhau Nhìn chung mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định múc

độ nghèo và đưa ra các tiêu chí xác định nghèo khổ Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành

Theo Ngân hàng thế gới(WB): “ Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn

cùng về vật chất ( được đo lường theo một khái niệm về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự thiếu thốn trong việc giáo dục và y tế ( Theo báo cáo phát

triển Việt Nam 2000: Tấn công nghèo đói)

Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng

Cốc- Thái Lan 9/1993, đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: “ Nghèo

đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương” Theo

định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nước khác nhau là khác nhau Theo số liệu của ngân hàng thế giới WB thì hiện nay trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ, trong đó chủ yếu là phụ nữ và trẻ em

Trang 18

13

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển tổ chức tại Copenhagen -

Đan Mạch năm 1995 đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: “ Người nghèo là

tất cả những ai mà có thu nhập dưới một đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”

Tuy nhiên quan điểm này không nhận được sự đồng thuận của nhiều quốc gia

do chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người của mỗi quốc gia là không thống nhất Quan niệm như vậy sẽ dẫn đến sự phân biệt quá lớn về tình trạng nghèo của mỗi quốc gia đặc biệt là những quốc gia phát triển so với những quốc gia không phát triển

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Từ trước đến nay đã có rất nhiều khái niệm nói về nghèo Dựa trên những khái niệm do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của nước ta và hiện trạng đời sống phổ biến của dân cư hiện nay, các nhà khoa học đã đưa ra những khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực

để đánh giá vấn đề nghèo, đói ở nước ta hiện nay Những khái niệm và phương pháp đo lường được áp dụng phổ biến ở các địa phương trong khuôn khổ thực hiện chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo bao gồm:

Khái niệm nghèo là một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một

phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện.[8, tr.83]

Khái niệm nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận người dân có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng trên một địa bàn và trong một thời điểm đang xem xét.[8, tr.83]

Khái niệm nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức độ tối thiểu những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và nhu cầu hàng ngày gồm văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại giao tiếp.[8, tr.83]

Trang 19

14

Khái niệm đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức sống tối thiểu và không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống của họ Đó là những bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến

2 tháng, thường vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng hoàn trả.[8, tr.88]

Khái niệm nghèo đa chiều được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản của cuộc sống.[23, tr.84]

Khái niệm hộ nghèo, theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo cho giai đoạn 2011-2015 thì hộ nghèo là hộ không đủ no, mặc không lành và không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất…( thu nhập bình quân đầu người 500.000 đồng/người/tháng ở thành thị (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống; ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống

Theo Quyết định số 59/2015 của Thủ tướng chính phủ ngày 19/11/2015

Về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 –

2020 Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số

đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số

đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Khái niệm xã nghèo Theo quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày

22/05/2002 về việc ban hành tiêu chí xã nghèo giai đoạn 2001-2005 qui định

xã nghèo là xã: (1) Tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên (2) Chưa đủ từ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (bao gồm: đường giao thông; trường học; trạm y tế; nước sinh hoạt; điện sinh hoạt; chợ) cụ thể là:

Trang 20

15

+ Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch;

+ Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt;

+ Chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô tô không đi lại được cả năm; + Số phòng học (theo qui định của Bộ Giáo dục- Đào tạo) chỉ đáp ứng

được dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bằng tranh, tre, nứa, lá;

+ Chưa có trạm y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm;

+ Chưa có chợ hoặc chợ tạm thời

1.1.1.3 Chuẩn nghèo hiện nay ở Việt Nam

Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao Do đó, trong những năm qua Đảng và nhà Nước

ta đã nhiều lần ban hành chuẩn nghèo phù hợp với sự phát triển của đất nước

với mục tiêu mở rộng đối tượng hưởng lợi từ chương trình “ Mục tiêu quốc

gia xóa đói giảm nghèo” cũng như các chương trình hỗ trợ khác của các tổ

chức quốc tế Cụ thể chuẩn nghèo ở nước ta qua các giai đoạn như sau:

Trang 21

16

Bảng 1.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các thời kì

Đơn vị: Kg gạo hoặc đồng/người/tháng

Khu vực

Giai đoạn 1993-

03 chỉ số tiếp cận các dịch vụ

xã hội cơ bản trở lên

+ Nông thôn vùng miền

< 15kg tương đương 55.000đ 80.000đ

[Nguồn: 10, tr.84]

Trang 22

17

1.1.1.4 Các tiêu chí xác định nghèo

Trên thế giới, nghèo được đánh giá trên 2 tiêu chí:

Một là, thu nhập: được đánh giá thông qua giá trị tổng sản phẩm quốc

nội (GDP) và giá trị tổng sản phẩm Quốc gia (GNP)

GDP: Tổng sản phẩm trong nước là tổng giá trị của toàn bộ hàng hóa

và dịch vụ được cung ứng trên phạm vi quốc gia trong thời gian 1 năm

GNP: Tổng sản phẩm quốc gia là giá trị của toàn bộ hàng hóa và dịch

vụ mà công dân một nước sản xuất và cung ứng trong 1 năm, không phân biệt sản xuất ở trong hay ngoài nước

Như vậy, có thể GNP > GDP hoặc GNP < GDP Chẳng hạn như: Ai Cập GNP < GDP; Singapo GNP >GDP ( giai đoạn 1976 - 1993)

Chỉ tiêu GDP và GNP được tính bằng: tổng sản phẩm quốc dân chia cho tổng số dân của nước đó Năm 2009, GDP bình quân đầu người ở nước ta

là 1024 USD/người/năm

Việc tính GDP và GNP của một quốc gia có ý nghĩa rất lớn Qua chỉ tiên này người ta có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế, mức sống của dân cư trong từng nước Và thông qua chỉ tiêu này cũng đánh giá được mức sống của nhân dân dân các nước khác nhau trên thế giới

Hai là, chỉ tiêu Calo/người/ngày Đó là số calo tiêu dùng hàng ngày

cho một người được coi là chỉ số tốt nhất về mức độ cung ứng nhu cầu thiết yếu Theo tổ chức FAO(1967), đưa ra mức Calo tối thiểu cho một người/ngày

là 2200 calo Trong khi đó Tổ chức Y tế thế giới giới hạn đưa ra con số là

2100 calo/người/ngày làm ranh giới cho nghèo Tuy nhiên ranh giới này có sự khác nhau giữa các quốc gia, các khu vực

Đối với các nước phát triển lượng calo cung cấp luôn thừa với nhu cầu

cơ thể, khẩu phần ăn hàng ngày đạt 3377 calo/người/ngày, cao hơn 749 calo/người/ngày so với các nước đang phát triển

Trang 23

Ở Việt Nam Theo Bộ LĐTB-XH, Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa ra tiêu chí: thu nhập là chính, tiêu chí phụ

là ăn, mặc, ở, điều kiện học tập, chữa bệnh và đi lại

Nguyễn Thị Hằng (1996) đưa ra 4 chỉ tiêu chính: Thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, tư liệu sản xuất và vốn để dành Trong 4 chỉ tiêu này đặc biệt chú ý tới chỉ tiêu thu nhập và nhà ở ( cùng các tiện nghi sinh hoạt trong nhà)

Các cuộc điều tra, nghiên cứu khác đưa ra thêm các tiêu chí: Calo, nhà

ở, việc làm,tiện nghi sinh hoạt, sức khỏe, giáo dục, tư liệu sản xuất để đánh giá nghèo đói ( nguồn TCCS No- 22, tháng11/1998)

Như vậy, thu nhập luôn là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ nghèo đói của một quốc gia, khu vực đồng thời cũng là chỉ tiêu hiện nay được

sử dụng trong việc hoạch định chính sách giảm nghèo của cơ quan chính phủ Chỉ tiêu này thuận lợi trong việc điều tra, đánh giá bởi vì có đơn vị thống nhất

là tiền Các hộ gia đình nghề nghiệp, có nguồn thu nhập khác nhau về dạng sản phẩm, song thu nhập khi tính toán bằng tiền hoặc quy bằng hiện vật có thể

so sánh với nhau

Khái niệm thu nhập ở đây được hiểu là thu nhập thuần túy Đối với hộ dân cư ở nông thôn, thu nhập được xác định bằng hiệu số giữa tổng thu từ mọi hoạt động và chi phí sản xuất, không kể chi phí lao động Đối với công

Trang 24

ăn, họ không có điều kiện thực hiện các nhu cầu văn hóa, y tế, giáo dục và đời sống tinh thần nói chung

Các chỉ tiêu khác cũng được hầu hết các nhà nghiên cứu đưa ra để đánh giá tình trạng nghèo như: Nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, ăn mặc, chi tiêu, học hành, chữa bệnh, đi lại…nhưng đó là chỉ tiêu có tính chất hỗ trợ, làm rõ thêm cho chỉ tiêu thu nhập

1.1.2 Phát triển cộng đồng

1.1.2.1 Khái niệm phát triển cộng đồng (PTCĐ): Có nhiều quan niệm khác

nhau khi định nghĩa về phát triển cộng đồng

Khái niệm PTCĐ được chính phủ Anh sử dụng đầu tiên năm 1940 được hiểu “là một chiến lược nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cũng nỗ lực của nhà nước để cải thiện

cơ sở hạ tầng và tăng khả nặng tự lực của cộng đồng”

Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia ( Mỹ) thì : Phát triển cộng

đồng hay xây dựng cộng đồng “ là một khái niện rộng dùng/áp dụng trong

thực tiễn hoặc trong chương trình đào tạo những người lãnh đạo dân sự, những tích cực viên làm việc với dân và các nhà chuyên môn để cải thiện lĩnh vực cộng đồng địa phương Phát triển cộng đồng là tiến trình tạo dựng/trao

Trang 25

20

quyền cho cá nhân và nhóm người bằng cách cung cấp những kĩ năng cần thiết để họ có thể thay đổi cộng đồng của chính mình”.[12, tr.84]

Theo Alison Gilchrist trong bài tham luận : Một số suy nghĩ về giá trị

và hệ giá trị của phát triển cộng đồng có đề cập “Phát triển cộng đồng là tiến

trình tăng cường mối quan hệ trong cộng đồng và giữa cộng đồng với các tổ chức để củng cố cơ sở cho các hành động tập thể và hoạt động đối tác Điều này bao gồm cả việc thay đổi mối quan hệ quyền lực cũng như mở rộng tầm với của mạng lưới các nhóm xã hội”

Theo định nghĩa chính thức về phát triển cộng đồng của tổ chức Liên Hợp Quốc đưa ra năm 1956 thì “Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua

đó nỗ lực của người dân kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế văn hóa, xã hội của các cộng đồng và giúp cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia”

Theo Hội chữ thập đỏ Việt Nam: “Phát triển cộng đồng là một phương thức phát triển, dựa trên giả thiết rằng nhân viên có thể hoạt động trong một địa phương hoặc một cộng đồng để giúp họ phát triển tiềm năng sẵn có của

họ Trong quá trình này nhân viên đóng vai trò xúc tác để giúp cộng đồng nhận định mục tiêu, tiềm năng và các nguồn lực hỗ trợ để đạt mục tiêu”

Qua các khái niệm trên ta có thể thấy các khái niệm này có những danh giới khác biệt, rộng hẹp khác nhau tùy vào quan điểm tiếp cận, mục đích sử dụng của tác giả Tuy có sự khác biệt nhưng giữa các quan điểm cũng có những điểm chung Trong đề tài nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm phát triển cộng đồng của cố Thạc sĩ Phát triển cộng đồng Nguyễn Thị Oanh

“Phát triển cộng đồng là tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo,

thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục giúp người dân trong cộng đồng nhận thức rõ tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có của họ, tổ chức các hoạt động chung tự giúp,

Trang 26

Lịch sử cho thấy, PTCĐ đã trải qua nhiều mô hình khác nhau Mỗi mô hình có những đặc trưng riêng, do vậy có sự khác biệt trong quy trình tiến hành Mỗi quy trình phản ánh cách tiếp cận của từng mô hình và điều kiện cộng đồng Tuy nhiên, tựu chung quy trình PTCĐ thường theo diễn tiến cơ bản sau:

Cộng đồng yếu kém là cộng đồng đang có vấn đề, đặc biệt là đối tượng

nghèo, yếu thế trong xã hội

Cộng đồng thức tỉnh là quá trình giúp cộng đồng nhận thức được về các

nhu cầu, vấn đề khó khăn cũng như những tiềm năng và thuận lợi từ cộng đồng để họ có cơ sở giải quyết vấn đề Giúp họ nhận ra sự hợp tác của chính mình là yếu tố quyết định trong việc thay đổi tình trạng yếu kém hiện tại

Cộng đồng tăng năng lực là hoạt động để họ có thể hiểu rõ và biết cách

khai thác và huy động những gì mình có mà chưa sử dụng (đất đai, kinh nghiệm, nhân tài), những nguồn hỗ trợ bên ngoài (kiến thức chuyên môn, tín dụng, đầu tư, cơ quan tài trợ); Để sử dụng và quản lý được những nguồn lực này thì họ cần được hỗ trợ tăng khả năng, kiến thức và kỹ năng để cùng hành động, bằng các hình thức học tập, huấn luyện chính thức và không chính thức như trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm; tham quan học tập mô hình

Cộng đồng tự lực vừa là tiến trình, là mục đích quan trọng nhất của

phát triển cộng đồng

Ngày đăng: 11/05/2017, 12:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w