ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- VŨ VĂN TOÀN TỘI ÁC DIỆT CHỦNG CỦA KHMER ĐỎ Ở CAMPUCHIA VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC TIÊU DIỆT CHẾ ĐỘ DIỆT
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ VĂN TOÀN
TỘI ÁC DIỆT CHỦNG CỦA KHMER ĐỎ Ở
CAMPUCHIA VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG
VIỆC TIÊU DIỆT CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ VĂN TOÀN
TỘI ÁC DIỆT CHỦNG CỦA KHMER ĐỎ Ở
CAMPUCHIA VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG
VIỆC TIÊU DIỆT CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.02.06
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Thành Văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn “Tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ ở Campuchia và vai trò của Việt Nam trong việc tiêu diệt chế độ diệt chủng”, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tâm huyết của TS Nguyễn Thành Văn – Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Nhờ có sự quan tâm, nhắc nhở, gợi mở, đánh giá của TS Nguyễn Thành Văn và những tài liệu quý
mà TS đã cung cấp, tôi mới có thể hoàn thiện công trình nghiên cứu này Chính vì vậy, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thành Văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Quốc
tế học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất, hướng dẫn quy trình, quy cách làm việc để tôi có thể hoàn thiện luận văn “Tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ ở Campuchia và vai trò của Việt Nam trong việc tiêu diệt chế độ diệt chủng”
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016
Tác giả
Vũ Văn Toàn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn thạc sĩ với tiêu đề “Tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ ở Campuchia và vai trò của Việt Nam trong việc tiêu diệt chế độ diệt chủng” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các kết qủa nghiên cứu, thông tin và số liệu trong Luận văn là trung thực, tin cậy Những kết luận khoa học của Luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực và các kết quả nghiên cứu của Luận văn
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016
Tác giả
Vũ Văn Toàn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ TỘI ÁC CỦA CHẾ ĐỘ KHMER ĐỎ 10
1.1 Khái quát về Khmer Đỏ 10
1.2 Các nhân tố tác động tới sự hình thành tội ác của Khmer Đỏ 12
1.2.1 Nhân tố bên trong đất nước Campuchia 12
1.2.2 Nhân tố bên ngoài 19
1.3 Tội ác của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ 25
1.3.1 Tội ác diệt chủng 25
1.3.2 Tội ác xâm lược 41
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH TIÊU DIỆT CHẾ ĐỘ KHMER ĐỎ VÀ VAI TRÕ CỦA VIỆT NAM 46
2.1 Khái quát quá trình tiêu diệt Khmer Đỏ 46
2.1.1 Lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ 46
2.1.2 Tiêu diệt hoàn toàn chế độ diệt chủng Khmer Đỏ 47
2.2 Vai trò của Việt Nam 49
2.2.1 Giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ Campuchia dân chủ 49
2.2.2 Giúp hồi sinh đất nước Campuchia, xây dựng nhà nước CHND Campuchia 57
2.2.3 Truy quét tàn quân Khmer Đỏ trên chiến trường 62
2.2.4 Ngặn chặn Khmer Đỏ quay trở lại trên chính trường 70
2.3 Kết quả đạt được 79
CHƯƠNG 3 BÀI HỌC RÖT RA CHO VIỆT NAM TRONG CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI 84
3.1 Phản ứng của cộng đồng quốc tế khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia 84
Trang 63.1.1 Phản ứng của Thái Lan 84
3.1.2 Phản ứng của Trung Quốc 86
3.1.3 Phản ứng của ASEAN 87
3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong công tác đối ngoại 90
3.2.1 Kinh nghiệm trong quan hệ với Campuchia 90
3.2.2 Kinh nghiệm trong quan hệ với các nước lớn 98
3.2.3 Kinh nghiệm trong quan hệ với ASEAN 110
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ASEAN: Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CPP: Cambodian People’s Party
Đảng Nhân dân Campuchia
IMC: Informal Meeting on Cambodia
Cuộc gặp không chính thức giữa các bên về Campuchia
JIM: The Jakarta Informal Meeting
Cuộc gặp không chính thức tại Jakarta
KPRP: Kampuchean People’s Revolutionary Party
Đảng nhân dân cách mạng Campuchia
KPNLF: Khmer People's National Liberation Front
Mặt trận giải phóng dân tộc nhân dân Khmer
P5: Permanent Five
5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
PICC: Paris International Conference on Cambodia
Hội nghị quốc tế Paris về vấn đề Campuchia
SEATO: Southeast Asia Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á
SNC: The Supreme National Council
Hội đồng Dân tộc Tối cao
SOC: The State of Cambodia (Nhà nước Campuchia)
UNTAC: The United Nations Transitional Authority in Cambodia,
Cơ quan quyền lực lâm thời của Liên hợp quốc tại Campuchia
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Campuchia là một nước láng giềng liền kề, có cả đường biên giới trên đất liền và trên biển với Việt Nam Đây là địa bàn tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn và cũng là địa bàn thâm nhập thường xuyên của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam Lịch sử cho thấy, mọi biến cố ở Campuchia, dù lớn hay nhỏ, đều có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau tới Việt Nam Xử lý thành công quan hệ với Campuchia luôn là một vấn đề có tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Quan hệ Việt Nam - Campuchia trải qua nhiều thăng trầm, trong đó có thể nói, giai đoạn cầm quyền của Khmer Đỏ tại Campuchia là giai đoạn có nhiều diễn biến phức tạp nhất, trở thành một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc Việt Nam bị cô lập về chính trị, bị bao vây cấm vận về kinh tế, đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng kéo dài Sự ra đời của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ tại Campuchia không chỉ gây ra thảm họa cho nhân dân Campuchia mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng đến Việt Nam cũng như quan
hệ Việt Nam - Campuchia Việc Việt Nam bảo vệ biên giới trước sự khiêu khích, tấn công của quân Khmer Đỏ, đồng thời đưa quân vào Campuchia theo nguyện vọng của nhân dân nước này để diệt trừ chế độ Khmer Đỏ đã khiến không ít quốc gia hiểu lầm, đồng thời gây ra không ít khó khăn cho Việt Nam trên mặt trận ngoại giao Giai đoạn này, giải quyết tốt "vấn đề Campuchia" là trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, trở thành chìa khóa để bình thường hóa quan hệ với các nước nhằm phá thế bị bao vây, cô lập và cấm vận, tạo môi trường hòa bình, ổn định để Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới và mở cửa
Trang 9Luận văn sẽ tập trung trả lời một số câu hỏi như: Chế độ Khmer Đỏ được hình thành như thế nào và những nhân tố nào tác động đến sự hình thành và phát triển của chế độ này? Chính sách đối nội và đối ngoại của chế độ này như thế nào và hậu quả ra sao? Vì sao Việt Nam lại quyết định đưa quân sang Campuchia và gặp những khó khăn gì? Việt Nam có thể rút ra những kinh nghiệm gì trong việc giải quyết "vấn đề Campuchia"?
Về khoa học, nghiên cứu tội ác của chế độ diệt chủng tại Campuchia và vai trò của Việt Nam trong việc tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer Đỏ là nghiên cứu về cách giải quyết của Việt Nam đối với một vấn đề khu vực bị quốc tế hóa cao Các kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp vào việc nghiên cứu giải quyết xung đột Đóng góp về khoa học của Luận văn cũng đến từ việc tổng kết và đánh giá một cách khoa học, toàn diện về hoạch định các chủ trương, chính sách đối ngoại liên quan đến vấn đề Campuchia và rút ra bài học cho giai đoạn hiện nay Về thực tiễn, việc nghiên cứu về chủ đề này sẽ mang đến cái nhìn khách quan, toàn diện về tội ác của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, phân tích hành động và chính sách đối ngoại của Việt Nam, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho thế hệ hiện nay, góp phần xây dựng đội ngũ chuyên gia về Campuchia cho tương lai Tác giả cũng hy vọng Luận văn sẽ góp phần cung cấp thông tin cho người đọc về một giai đoạn lịch sử quan trọng trong lịch sử quan hệ giữa hai nước Campuchia và Việt Nam, đồng thời là một nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu về lịch sử quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại của Việt Nam và quan hệ Việt Nam - Campuchia
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của công trình nghiên cứu là làm rõ quá trình ra đời và tội ác của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ; nguyên nhân Việt Nam phải đưa quân sang Campuchia tiêu diệt chế độ Khmer Đỏ và tính chính nghĩa của hành động này; những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam rút ra trong công tác đối ngoại
Trang 10trong quá trình tiêu diệt Khmer Đỏ Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu kham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về quan hệ quốc tế
Nhiệm vụ của đề tài là sử dụng những chứng cứ, tư liệu lịch sử, lập luận phân tích khoa học, khách quan làm rõ tội ác của chế độ diệt chủng Khmer
Đỏ tại Campuchia cũng như tội ác mà chế độ này đã gây ra cho nhân dân Việt Nam; làm rõ vai trò của Việt Nam trong quá trình tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer Đỏ; Rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong công tác đối ngoại
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Những tội ác mà chế độ diệt chủng Khmer Đỏ gây ra đã làm thế giới bàng hoàng Không chỉ nhân dân Campuchia mà các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam, Lào, Thái Lan cũng phải gánh chịu những hậu quả của tội
ác ấy Thêm vào đó, sự ra đời và tồn tại của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ còn
có sự tác động của một số quốc gia trên thế giới Chính vì vậy, các vấn đề liên quan đến chế độ diệt chủng Khmer Đỏ đã nhận được sự quan tâm của không
ít nhà nghiên cứu, học giả quốc tế
Chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và mối quan hệ giữa Việt Nam - Campuchia - Trung Quốc liên quan đến chế độ này đã được nhiều cuốn sách,
tạp chí khoa học quốc tế đề cập Trong đó, có thể kể đến cuốn "Pol Pot plans the future: Confidential leadership documents from Democratic Kampuchea"
của ba tác giả David P Chandler, Ben Kiernan và Chanthou Boua phát hành năm 1988 Cuốn sách đã công bố những tài liệu mật liên quan đến chính sách, quan điểm của những người lãnh đạo chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, đặc biệt là của Pol Pot Năm 1992, tác giả David P.Chandler cũng xuất bản một cuốn
sách nói về cuộc đời của Pol Pot với nhan đề"Brother number one: A political
Trang 11thành chế độ Khmer Đỏ và nguyên nhân dẫn đến việc chế độ này thực hiện những tội ác diệt chủng Năm 1984, Kimmo Kiljunen đã cho ra mắt cuốn
"Kampuchea: Decade of the Genocide" phản ánh xã hội Campuchia dưới chế
độ diệt chủng Khmer Đỏ Nhìn chung, các cuốn sách trên có giá trị giúp kiểm chứng số liệu và thông tin về các sự kiện chính Tuy nhiên, các cuốn sách này chủ yếu khai thác ở góc độ lịch sử, nêu ra sự kiện, chưa có sự phân tích sâu
Cuốn "The third Indochina war: conflict between China, Vietnam and Cambodia" (Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba: Xung đột giữa Trung
Quốc, Việt Nam và Campuchia) do Odd Arne Westad và Sophie Quinn-Judge chủ biên, xuất bản năm 2006, dành hẳn một chương nói về chiến thắng của Việt Nam trên chiến trường Campuchia, phân tích lý do Việt Nam đưa quân vào Campuchia, quan hệ Việt Nam - Campuchia thời hậu Pol Pot và việc Việt Nam bị bao vây, cô lập trong những năm 1980
Cuốn "Brother enemy: The war after war" (Cuộc chiến giữa những
người anh em: Chiến tranh nối tiếp chiến tranh) của tác giả Nayan Chanda đề cập chủ yếu về quan hệ Việt Nam - Campuchia giai đoạn 1975 - 1979, phân tích những mâu thuẫn giữa Khmer Đỏ và Việt Nam giai đoạn 1975 - 1979, nguyên nhân dẫn tới cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia
Hai cuốn sách trên đã đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam, tuy nhiên chưa thể hiện rõ được tội ác của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, đồng thời chưa phân tích được hết những khó khăn mà Việt Nam gặp phải khi đưa quân vào Campuchia và những giải pháp đối ngoại để giải quyết "vấn đề Campuchia"
3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đầu những năm 1990, Bộ Ngoại giao đã có nhiều nỗ lực nhằm tổng kết công tác đối ngoại nói chung cũng như lịch sử truyền thống của ngành nói
Trang 12riêng sau 50 năm hình thành và phát triển Những nỗ lực đã mang lại nhiều công trình tổng kết rất có giá trị và một số đã được xuất bản thành sách, kỷ
yếu như "Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000", "Tổng luận 50 năm ngoại giao Việt Nam", "Kỷ yếu về hoạt động ngoại giao giai đoạn 1975 đến nay"… Đây
là những công trình nghiên cứu tâm huyết, có sự đóng góp to lớn, sâu rộng của nhiều lãnh đạo, chuyên gia hàng đầu của Bộ ngoại giao như Trần Quang
Cơ, Đinh Nho Liêm, Hà Văn Lâu, Nguyễn Văn Lợi, Ngô Điền, Lưu Đoàn Huynh, Lưu Văn Lợi, Đào Huy Ngọc, Phan Doãn Nam… Tuy nhiên, đa phần các tác phẩm trên đều đề cập chủ yếu tới chính sách đối ngoại của Việt Nam qua các thời kỳ từ góc độ tổng kết lịch sử, trong đó có một phần liên quan tới vấn đề Campuchia chứ chưa có tác phẩm nào đề cập riêng về chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và đóng góp của Việt Nam cho việc tiêu diệt chế độ này
Một số cơ quan nghiên cứu của Việt Nam như các Viện thuộc viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, một số trường Đại học và Học viện Ngoại giao đã từng tham gia nghiên cứu, xuất bản một số ẩn phẩm liên quan đến công tác đối ngoại nói chung và về Campuchia nói riêng, trong đó có một số
tác phẩm đáng chú ý như cuốn "Lịch sử Campuchia", "Cộng hòa nhân dân Campuchia: 10 năm bảo vệ và xây dựng đất nước"… của tác giả Phạm Đức Thành, một số cuốn giáo trình phục vụ giảng dạy như "Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đối mới (1975 - 2002) của tác giả Vũ Dương Huân…
Ngoài ra, tại Thư viện Quốc gia và Thư viện Khoa học xã hội đang lưu trữ một số luận án tiến sĩ như luận án của Tiến sĩ Ngô Tất Tố về "Quan hệ Đông Dương - Trung Quốc" bảo vệ năm 1986, "Chính sách diệt chủng của Khmer Đỏ" của Tiến sĩ Phạm Đức Thành bảo vệ năm 1987… Đây là những nguồn tư liệu quý giá
Đề cập đến việc tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer Đỏ còn có luận án
Trang 13khoa học xã hội Việt Nam) với đề tài "Vấn đề Campuchia và luật quốc tế hiện đại", bảo vệ năm 1990 Luận án chủ yếu nghiên cứu về tính hợp pháp của nhà nước Campuchia, "Người đại diện chân chính và hợp pháp của nhân dân Campuchia", đưa ra cách giải quyết chính trị vấn đề Campuchia và luật quốc
tế hiện đại, phân tích cơ sở pháp lý quốc tế của giải pháp đồng bộ cho vấn đề Campuchia Đây là tài liệu đáng tham khảo, tuy nhiên nó chủ yếu đề cập đến luật và chưa làm nổi bật được vai trò của Việt Nam trong việc tiêu diệt chế độ Khmer Đỏ
Công trình nghiên cứu gần đây nhất là luận án Tiến sĩ ngành Quan hệ
quốc tế của tác giả Trần Việt Thái với đề tài "Quá trình giải quyết vấn đề Campuchia trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1979 -1991 và một
số bài học kinh nghiệm" bảo vệ năm 2014 Luận án đã giải thích "Vấn đề
Campuchia" và nguồn gốc của vấn đề, đồng thời đi sâu vào phân tích cách giải quyết của Việt Nam, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn 1979 -
1991 Tuy nhiên, Luận án chưa đi sâu vào phân tích được tội ác của chế độ diệt chủng Pol Pot, đồng thời bỏ qua giai đoạn 1975 - 1979 khi chế độ này đang trong giai đoạn hoạt động mạnh mẽ nhất Ngoài ra, theo đánh giá của Hội đồng chấm điểm, Luận án "chưa phân tích sâu nhân tố lịch sử, văn hóa - xã hội"
Tại khoa Quốc tế học của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn cũng đã có một số công trình nghiên cứu về Campuchia, trong đó có thể kể đến đề tài "Quan hệ Việt Nam-Campuchia (1991-2012)" của tác giả Nguyễn Hải Anh hoàn thành năm 2014; "Quan hệ Campuchia-Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI" của tác giả Doãn Thành Kiên bảo vệ năm 2014 Các luận văn này có điểm chung là tập trung vào nghiên cứu quan hệ của Campuchia với các nước kể từ năm 1991
Tóm lại, qua khảo cứu các tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học ở trong nước và nước ngoài, có thể thấy mặc dù đã có không ít công trình
Trang 14nghiên cứu khác nhau về chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, về quan hệ Việt Nam
- Campuchia, nhiều tác phẩm có giá trị để kế thừa, tham khảo nhưng vẫn còn khoảng trống trong việc làm rõ những tội ác diệt chủng tại Campuchia và vai trò của Việt Nam trong việc tiêu diệt chế độ này Vì vậy nghiên cứu "Tội ác của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và vai trò của Việt Nam trong việc tiêu diệt chế độ này" không trùng lắp với các công trình nghiên cứu trước đó
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Chế độ diệt chủng Khmer Đỏ cũng như những tội ác mà chế độ này gây ra; Vai trò của Việt Nam trong việc xóa bỏ chế độ này
Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian, Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu tội ác diệt chủng và sụp
đổ của chế độ Khmer Đỏ từ năm 1975 đến năm 1979 Tuy nhiên, để làm rõ quá trình hình thành chế độ Khmer Đỏ cũng như việc giải quyết “vấn đề Campuchia”, Luận văn cũng sẽ nghiên cứu các giai đoạn lịch sử từ năm 1954
- 1975 và 1979 - 1991
Về không gian, Luận văn không chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu vấn
đề tại Campuchia, Việt Nam mà còn nghiên cứu các nước, tổ chức có liên quan đến chế độ Khmer Đỏ và quá trình giải quyết “vấn đề Campuchia”
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chung được sử dụng trong Luận văn bao gồm: Phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích văn bản, phương pháp chuyên gia… Vì đề tài thuộc chuyên ngành Quan hệ quốc tế nên trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng sẽ sử dụng một số phương pháp riêng được sử dụng trong nghiên cứu quốc tế như: Phương pháp phân tích lợi ích, phương pháp phân tích chính sách, phương pháp phân tích tác động, phương pháp phân tích
Trang 15khu vực, phương pháp phân tích xung đột quốc tế, phương pháp phân tích hợp tác quốc tế, phương pháp phân tích quyền lực và phương pháp so sánh
Về cách tiếp cận của Luận văn, tác giả cũng sử dụng các lý thuyết của ngành quan hệ quốc tế như thuyết chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa kiến tạo Ngoài ra, các lý thuyết liên quan tới "Chủ thể" (actor) trong quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại, và nhóm các mô hình liên quan đến
"quá trình hoạch định chính sách" (Policy - making process) cũng được sử dụng trong Luận văn Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích, tác giả cũng sẽ
bổ sung thêm 3 cấp độ phân tích, bao gồm cấp độ cá nhân (Individual level), cấp độ quốc gia (State level), hệ thống quốc tế (System level) để làm rõ hơn vai trò của các cá nhân, tổ chức, quốc gia trong việc hoạch định, thi hành chính sách và mức độ ảnh hưởng của chính sách
6 Bố cục của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 - Quá trình ra đời và tội ác của chế độ Khmer Đỏ Chương
này tập trung làm rõ quá trình hình thành và phát triển của Khmer Đỏ, tiến trình lên cầm quyền của Pol Pot (thủ lĩnh của Khmer Đỏ) và biến Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia thành Đảng cộng sản Campuchia với tư tưởng lệch lạc, biến dị của chủ nghĩa cộng sản Đặc biệt, chương này chỉ rõ nguyên nhân tác động đến sự ra đời của chế độ Khmer Đỏ, trong đó có cả nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quan Một nội dung trọng tâm của chương này là những tội ác khủng khiếp mà Khmer Đỏ đã gây ra đối với nhân dân Campuchia và Việt Nam
Chương 2 - Quá trình tiêu diệt chế độ Khmer Đỏ và vai trò của Việt
Nam Nội dung trọng tâm của chương này là chỉ ra nguyên nhân Việt Nam phải đưa quân vào Campuchia từ năm 1978 đến 1989; những hành động của Việt Nam trong thời gian đưa quân vào Campuchia để giúp đỡ nhân dân
Trang 16Campuchia phục hồi đất nước sau khi thoát khỏi chế độ diệt chủng và những việc cần phải làm để tiêu diệt hoàn toàn chế độ diệt chủng Khmer Đỏ Đặc biệt, chương này cũng làm rõ mối quan hệ quốc tế phức tạp xoay quanh vấn
đề Campuchia và những khó khăn mà Việt Nam gặp phải khi đưa quân vào Campuchia, đồng thời làm rõ những đóng góp quan trọng của Việt Nam trong quá trình tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer Đỏ
Chương 3 - Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam trong công tác đối ngoại
Chương này đi sâu vào phân tích phản ứng của các nước liên quan, đặc biệt là các nước lớn, khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia Vì vấn đề Campuchia
bị quốc tế hóa, do đó, trong quá trình tiêu diệt chế độ Khmer Đỏ, Việt Nam - nước trực tiếp tham gia tiêu diệt chế độ này bị cuốn vào vòng xoáy ảnh hưởng của quan hệ giữa các nước đòi hỏi Việt Nam phải có những chính sách khôn khéo trong công tác đối ngoại để vừa có thể bảo vệ thành quả cách mạng tại Campuchia, ngăn cản chế độ Khmer Đỏ quay trở lại, đồng thời khôi phục và phát triển đất nước Việt Nam Chương 3 chỉ ra những kinh nghiệm cho Việt Nam trong công tác đối ngoại hiện nay
Trang 17Chương 1 QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ TỘI ÁC CỦA CHẾ ĐỘ KHMER ĐỎ 1.1 Khái quát về Khmer Đỏ
Tên gọi Khmer Đỏ (theo tiếng Khmer là Khmer Crohom, theo tiếng Pháp là Khmer Rouge) do Norodom Sihanouk đặt ra để chỉ những lực lượng Khmer cánh tả hoạt động tại Campuchia vào những năm 1950 Về bản chất, nội hàm khái niệm Khmer Đỏ ban đầu không xấu, nó dùng để chỉ những người Khmer theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng từ sau khi lên nắm quyền (tháng 4/1975), khái niệm Khmer Đỏ dần trở thành một khái niệm chỉ một lực lượng diệt chủng chính dân tộc mình và đi theo chủ nghĩa dân tộc xô vanh điên cuồng dưới thời Campuchia Dân chủ Trên thực tế Khmer Đỏ là lực lượng được hình thành và phát triển dựa trên sự kết hợp và đấu tranh giữa
nhiều lực lượng Khmer khác nhau, cụ thể như sau:
Một là các đội vũ trang Khmer Issarak chống Pháp tại Campuchia dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương Tháng 4/1950, đại hội toàn quốc đầu tiên của phong trào Khmer Issrak đã được triệu tập và từ đó hình thành nên mặt trận Issarak thống nhất Theo quyết định của Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ hai (tháng 2/1951), ngày 28/6/1951, những người cách mạng Campuchia đã thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia (KPRP) Dưới sự lãnh đạo của KPRP, nhân dân Campuchia đã anh dũng đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp và thu được nhiều thắng lợi quan trọng, góp phần buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán tại Genève vào năm 1954 Sau hội nghị Genève về Đông Dương, do bị buộc phải giải giáp tại chỗ vì không có vùng giải phóng và do sự đàn áp của chính phủ Campuchia lúc đó, chỉ có khoảng 1.000 cán bộ của phong trào Khmer Issarak, trong đó có cả Sơn Ngọc Minh, đã tập kết ra miền Bắc Việt Nam Từ cuối năm 1954, những người còn lại ở Campuchia của phong trào Khmer Issrak đã
Trang 18thành lập ra một đảng chính trị hợp pháp lấy tên là Đảng Pracheachon (Đảng Nhân dân), tham gia vào các cuộc bầu cử Quốc hội Campuchia năm 1955 và
1958, trong đó tại cuộc bầu cử năm 1955, Đảng Pracheachon giành được 4%
số phiếu bầu, nhưng không có ghế trong quốc hội Các đảng viên Pracheachon thường bị người của Norodom Sihanouk sách nhiễu và bắt giữ,
do đó từ năm 1962 đảng này rút vào hoạt động bí mật
Lực lượng thứ hai và cũng là lực lượng nòng cốt tạo thành ban lãnh đạo của Khmer Đỏ là số sinh viên người Khmer được đào tạo tại Pháp, gồm những nhân vật quan trọng là Saloth Sar (sau gọi là Pol Pot), Ieng Sary, Khieu Samphan, Son Sen, Hu Nim, Hou Yuon, Khieu Ponnary, Khieu Thirith… Những sinh viên này đã lập ra Hiệp hội sinh viên Khmer (KSA) với khoảng
200 thành viên, nhưng sau đó KSA bị chính quyền Pháp giải tán Tới năm
1956, Hou Yuon và Khieu Samphan đã giúp đỡ thành lập một nhóm với tên gọi Liên đoàn sinh viên Khmer mà nòng cốt vẫn là những nhân vật chủ chốt của KSA Từ năm 1953 tới 1960, các thành viên của KSA lần lượt trở về nước tham gia phong trào cách mạng tại Campuchia, trong đó Saloth Sar (Pol Pot) về nước năm 1953, tham gia “Ủy ban đô thị” do Tou Samouth lãnh đạo Khieu Samphan về nước năm 1959, dạy học ở Đại học Phnom Penh và lập ra
tờ báo tiếng Pháp rất có uy tín tại Campuchia lúc đó là tờ L’Oservateur Tháng 9/1960, Đảng KPRP đã tổ chức đại hội bí mật và sau đó đổi tên thành Đảng Công nhân Kampuchean (WPK) Sau khi Tou Samouth bị mất tích (tháng 7/1962), Đảng WPK đã tiến hành Đại hội lần thứ hai (tháng 2/1963) và bầu Pol Pot làm Tổng Bí thư của đảng Từ đây, một loạt nhân vật thuộc nhóm sinh viên trí thức Khmer từ Pháp về nước được bầu vào các chức vụ quan trọng trong Đảng, trong khi đó các nhân vật kháng chiến cũ lần lượt bị thanh trừng Chính vì vậy, nhóm của Pol Pot đã từng bước thâu tóm mọi quyền lực
Trang 19trong Đảng và lãnh đạo phong trào cánh tả ở Campuchia cho tới ngày Phnom
Penh được giải phóng năm (17/4/1975)
1.2 Các nhân tố tác động tới sự hình thành tội ác của Khmer Đỏ
1.2.1 Nhân tố bên trong đất nước Campuchia
1.2.1.1 Mâu thuẫn trong đảng và khoảng trống quyền lực khi Norodom Sihanouk bị lật đổ
Mâu thuẫn trong KPRP:
Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia được thành lập vào năm 1951 nhưng từ những năm 1960 đã bắt đầu biến chất ở hàng ngũ cao nhất, khi các đảng viên cộng sản thuộc “nhóm Paris” từ Pháp trở về và bằng nhiều thủ đoạn, chiếm ưu thế trong KPRP, vượt qua đội ngũ đảng viên trung kiên sát thực tế đã chịu nhiều tổn thất trong cuộc đối đầu với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Trong KPRP đã có những căng thẳng đáng kể ngay từ những năm 1960
và giữa nhiều người lãnh đạo của tổ chức này đã có những hố ngăn cách sâu rộng về tư tưởng và sách lược Một trong những bất đồng đầu tiên và quan trọng giữa nhóm trí thức từ Paris và những người kỳ cựu là về việc xác định Norodom Sihanouk hay đế quốc Mỹ là kẻ thù số một cần phải đánh bại Pol Pot và Ieng Sary coi Norodom Sihanouk là kẻ thù lớn nhất Trong khi những
người cách mạng kỳ cựu coi Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất
Điều phân biệt hầu hết những người cấp tiến được đào tạo tại Pháp với các chiến sĩ kỳ cựu của cuộc đấu tranh giành độc lập là quan điểm của họ đối lập với chế độ của Norodom Sihanouk Nhóm Pol Pot có xu hướng kiên quyết chống chế độ này, coi đó là một chế độ quân chủ lạc hậu, độc tài Với tư cách
là chiến sĩ trẻ, họ muốn chống trả sự đàn áp Mặt khác, do thuộc tầng lớp
“trung lưu”, họ không thích những đặc điểm “phong kiến” của Norodom Sihanouk, vì sự độc tài cá nhân của ông ta và vì việc mọi người trong sinh
Trang 20hoạt công cộng phải “xun xoe ca ngợi” ông ta Trong khi đó những đảng viên
kỳ cựu nhìn nhận sự trung lập và thái độ chống Mỹ của Norodom Sihanouk lúc đó như là những nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh trên phạm vi toàn Đông Dương, đồng thời coi Hoàng thân là người có công duy trì nền độc lập dân tộc của đất nước, một mục tiêu mà bản thân họ đã chịu nhiều hy sinh trong quá khứ để thực hiện Cũng có thể là do có quan hệ chặt chẽ hơn với quần chúng nông thôn, họ nhìn thấy Norodom Sihanouk có uy tín trong nông dân, đặc biệt có lẽ do việc chính phủ không đánh thuế hoa màu và việc chấm
dứt tình trạng mất an ninh ở nông thôn
Nội bộ Khmer Đỏ có ba phái khác biệt: Nhóm sô vanh, dân tộc cực đoan và phân biệt chủng tộc, đứng đầu là Pol Pot, Ieng Sary, Xon Xen, Khieu Samphan, muốn hình thành một xã hội “cộng sản” độc đáo, theo kiểu riêng của Campuchia, chứ không mô phỏng theo Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam hay bất cứ mô hình nào khác Họ nhận được sự cổ vũ và ảnh hưởng mạnh mẽ của “chủ nghĩa Mao” và cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc Một nhóm đứng đầu là Hu Nim, Hu Yun, Phúc Chay và Tin Óp đấu tranh đòi áp dụng
mô hình Cách mạng Văn hóa Trung Quốc vào điều kiện Campuchia Một nhóm khác gồm Xô Phim, Keo Mô-ni, Chu Chét và những người khác, tán thành xây dựng một nước Campuchia xã hội chủ nghĩa bằng cách theo mô hình Việt Nam Nhóm này chủ yếu gồm những đảng viên kỳ cựu thuộc đảng
bộ Khmer của Đảng cộng sản Đông Dương trước đây và những người ủng hộ
lập trường quốc tế chủ nghĩa của họ
Mỗi nhóm có căn cứ và trung tâm quyền lực riêng: Pol Pot lúc đầu ở vùng Đông Bắc dựa vào người Thượng, Hu Nim ở miền Nam và Tây Nam trong vùng núi Voi và núi Đậu Khấu (Phnom Kravanh), còn Xô Phim ở các tỉnh đông dân miền Đông nằm giữa sông Mekong và biên giới Việt Nam Hầu
Trang 21hết những người lãnh đạo nhóm “khu miền đông” của Xô Phim về sau đều bị
giết trong nhưng cuộc thanh trừng của Pol Pot
Qua từng bước, nhóm trí thức Paris đã gạt bỏ những đảng viên trong KPRP Ngày 20 tháng 7 năm 1962, Tổng Bí thư Tou Samouth bỗng nhiên bị mất tích sau khi bị bắt cóc tại nơi ẩn náu ở Phnom Penh và được cho là bị sát hại ngay sau đó Lời giải thích thỏa đáng nhất về vụ giết người này là: Tou Samouth là nạn nhân của sự xung đột nội bộ đảng Nhóm Pol Pot chưa bao giờ công khai phủ nhận trách nhiệm và mọi bằng chứng, dù là gián tiếp, đều nói lên sự dính líu của họ Sau khi Tou Samuth bị thủ tiêu, tháng 2/1963 Pol
Pot triệu tập Đại hội và được bầu làm Tổng bí thư của Đảng
Điều đáng lưu ý là nhằm lợi dụng uy tín của phong trào cộng sản để giành bá quyền lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Campuchia, tập đoàn Pol Pot đã đổi tên đảng Công nhân Kampuchean thành Đảng Cộng sản Campuchia năm 1966 Có thể nói, phong trào của Pol Pot là một dạng chủ nghĩa dân tộc cực đoan phản động Nó khoác vỏ bọc cộng sản để tận diệt những người cộng sản chân chính, tích cực sử dụng ngôn ngữ cách mạng để
phá hoại cách mạng một cách không thương tiếc
Đại hội Đảng cộng sản Campuchia tháng 7 năm 1971 được tiến hành tại tổng hành dinh của Pol Pot ở khu Bắc Trong số khoảng hơn 60 người tham dự có Pol Pot, Nuon Chea, Von Vét, Non Suôn, Ney Saran, Um Neng, Chu Chét, Sô Phim, Chuông, Chhốc, Seng Hong, Xon Xen, Koi Thuôn, Ke Pốc, Mốc, Muôn Sambat, Khieu Samphan, Hu Yuôn, Hu Nim, một số đại diện của lực lượng dân tộc thiểu số cùng một số người Khmer do Việt Nam đào tạo Hội nghị đã đưa ra một số quyết định quan trọng và đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm khoảng 30 ủy viên nhưng không có ai là những đảng viên kỳ cựu hoạt động từ thời Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh
Trang 22đạo Điều này cho thấy, nhóm của Pol Pot đã toàn quyền lãnh đạo Đảng Cộng
sản Campuchia
Cuộc đảo chính của Lon Nol và sự xoay chuyển quyền lực ở Campuchia:
Ngày 18/3/1970, Lon Nol đảo chính lật đổ Norodom Sihanouk, sau đó thành lập chính thể Cộng hòa Khmer mà thực tế là biến Campuchia thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ Cuộc đảo chính này đã gây ra cho nhân dân Campuchia một số khó khăn, đồng thời tạo ra một cục diện mới cho cách mạng Campuchia Tương quan giữa lực lượng cách mạng và phản
cách mạng đã có sự thay đổi
Theo Philip Short, tác giả cuốn “Pol Pot: Anatomy of a Nightmare”
xuất bản năm 2005 tại New York, quyết định tàn sát của Pol Pot sau năm
1975 một phần là phản ứng các đợt giết chóc dã man của quân Lon Nol Chính quyền của Lon Nol đã giết hại không chỉ những người chống đối ông
ta, theo Norodom Sihanouk mà đồng thời mở những cuộc tàn sát người Việt
Nam, đuổi Việt kiều ra khỏi đất nước Campuchia
Chính cuộc đảo chính của Lon Non đã khiến mối quan hệ giữa Pol Pot
và Norodom Sihanouk trở nên gần gũi hơn Bởi vì lúc này, khác với giai đoạn trước đó, cả Khmer Đỏ và Norodom Sihanouk đều có mục tiêu chung là lật đổ Lon Nol Norodom Sihanouk muốn lấy lại địa vị lãnh đạo của mình và tiêu diệt Lon Nol, kẻ phản bội ông ta Để làm được điều đó, Norodom Sihanouk cần đến sự giúp đỡ của Khmer Đỏ, nhóm cộng sản mà ông vẫn coi là kẻ thù Tuy nhiên, lúc này, Norodom Sihanouk không có gì trong tay, không có quân đội, chính vì vậy, ông phải nhờ cậy sự giúp đỡ của cả Việt Nam và Trung Quốc Đặc biệt, dưới sự kết nối của Trung Quốc, Norodom Sihanouk phải
“xuống nước” để phối hợp với Pol Pot thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc
Campuchia vào ngày 23/3/1970
Trang 23Tháng 4 năm 1975, sau 5 năm chiến đấu, lực lượng của Pol Pot lên nắm quyền ở Thủ đô Phnom Penh Norodom Sihanouk với tư cách là lãnh tụ của Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia đã trở thành nguyên thủ danh nghĩa của Campuchia Dân chủ, nhưng địa vị của ông ta là một địa vị danh dự, không có thực quyền Chính vì vậy, ông đã từ chức vào ngày 4 tháng 4 năm
Tại Campuchia, một chính phủ hoàn toàn Khmer Đỏ đã được thành lập với Khieu Samphan làm Quốc trưởng thay Norodom Sihanouk và Pol Pot trở thành Thủ tướng, Ieng Sary vẫn là ngoại trưởng Tháng 1 năm 1976, Pol Pot cho ban hành Hiến pháp mới, thành lập chế độ Campuchia Dân chủ (Democratic Kampuchea)
1.2.1.2 Yếu tố cá nhân Pol Pot
Cá nhân Pol Pot có vai trò đặc biệt trong việc hình thành tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ Pol Pot, tên thật là Saloth Sar, sinh ngày 25/5/1928, là con một phú nông lớp trên ở huyện Kompong Xvay, tỉnh Kompong Thom Ngay từ nhỏ Pol Pot đã lên Phnom Penh sống với anh trai và chị dâu là vũ nữ trong hoàng cung Campuchia Pol Pot đã từng đi tu ở chùa Thamayut, học trong trường cố đạo Mise và trường trung học Kongpong Cham Năm 1948, Pol Pot học ở trường kỹ nghệ Russay Keo và năm 1949 được chọn là một trong 100 học sinh Khmer đi Pháp học (trường vô tuyến điện Paris) và trở thành đảng viên Đảng Xã hội Pháp
Trang 24Năm 1953, Pol Pot về nước, tham gia Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia Thời kỳ này đảng KPRP còn rất non trẻ, thiếu đường lối và phương pháp cách mạng thích hợp nên đã tạo cho Pol Pot cơ hội từng bước
đánh dấu sự “thoát khỏi ảnh hưởng” của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nghiên cứu về quá trình Pol Pot thâu tóm quyền lực, có thể rút ra một
số yếu tố đã đẩy Pol Pot vào con đường chống Việt Nam và đưa Campuchia tới thảm họa diệt chủng Ngay từ rất sớm Pol Pot đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan Không riêng gì Pol Pot, chính chủ nghĩa dân tộc
đã đưa nhiều thanh niên người Khmer như Pol Pot đến với cách mạng Campuchia, đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp nhằm giành độc lập cho Campuchia những năm 1940 Phong trào đấu tranh cho độc lập dân tộc trong thế kỷ 20 đã trở thành một động lực chính chi phối tư tưởng cũng như chính sách của Pol Pot cho đến cuối cuộc đời Tuy nhiên, Pol Pot đã bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở hai khía cạnh Một là, Pol Pot rất tự cao tự đại về tinh thần sức mạnh dân tộc và sức mạnh của đế chế Angkor, muốn phục dựng lại đế chế Angkor cổ truyền Hai là, do sinh ra ở một đất nước vốn
có một lịch sử rất huy hoàng nhưng hiện tại luôn bị chia rẽ và phải đối mặt với một số nước láng giềng hùng mạnh hơn nên Pol Pot luôn có hiềm khích
và tìm mọi cách xuyên tạc về quan hệ Việt Nam - Campuchia, cho rằng “ở đâu có cây thốt nốt là thuộc về đất của Campuchia” và Pol Pot chủ trương
dùng vũ lực để lấy lại [7, tr.32, 35, 36 - 48]
Trang 25Kể từ năm 1963, khi trở thành lãnh đạo cao nhất của đảng, Pol Pot đã bắt đầu triển khai các ý đồ thâu tóm quyền lực của mình, tìm cách gạt những người cộng sản chân chính, những người Campuchia yêu nước, xuất thân từ trong nước ra khỏi lực lượng cách mạng và xây dựng vây cánh riêng Theo một hồ sơ để lại, bè phái của Pol Pot thủ tiêu bốn ủy viên thường vụ trung ương; 79 bí thư và ủy viên đảng ủy miền; 67 bí thư và ủy viên đảng ủy vùng;
88 bí thư và ủy viên các ban, ngành, bộ cùng hàng chục vạn cán bộ, đảng viên
ở cơ sở [20, tr.65]
Trong một báo cáo của Khmer Đỏ (được thu giữ sau này) có ghi:
“Chúng ta đã giành được thắng lợi lớn đó, nhờ bởi chúng ta quyết định lựa chọn và truy quét thanh trừng sạch sẽ kẻ thù theo hệ thống, đào tận gốc rễ to lớn của chúng từ cơ sở” Càng về sau, những cuộc thanh trừng nội bộ của Pol Pot càng gay gắt đẫm máu hơn, quy mô rộng lớn hơn Trong một danh sách ghi tên 242 cán bộ cao cấp bị giết hại từ năm 1976 đến ngày 9/4/1978, có 24
bí thư và ủy viên vùng, 4 bộ trưởng, 5 thứ trưởng, 9 ủy viên các bộ, 8 chính
ủy và phó chính ủy sư đoàn và một số đại sứ được gọi về nước
Bản thân Pol Pot đã đóng một vai trò lớn trong các sự kiện này Với tư cách là Tổng Bí thư, Pol Pot đã đi khắp đất nước, đích thân điều tra lòng trung thành và khả năng của nhiều cán bộ địa phương và ra lệnh thanh lọc Những việc này đã được những trợ lý đắc lực như Son Sen và Nuon Chea thực hiện
Họ thành lập các “trường huấn luyện” dưới sự bảo trợ của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Campuchia, bí mật dùng các trường này huấn
luyện các đội thanh lọc
Ngày 2/3/1976, Khmer Đỏ đã bắt nhân dân Campuchia đi bỏ phiếu bầu
ra Quốc hội do Nuon Chea làm chủ tịch với 250 đại biểu công nhân, 50 đại biểu quân đội Nhưng thực ra Quốc hội đó không có thực quyền Vào tháng 4 năm 1976 sau khi triệu tập trong ba ngày để “thông qua” danh sách thành viên
Trang 26chính phủ thì quốc hội thực tế đã bị giải thể Còn cái gọi là chính phủ Campuchia Dân chủ thành lập ngày 14/4/1976 cũng chỉ là hình thức Mọi quyền hành thực sự tập trung vào tay hai cặp vợ chồng Pol Pot - Khieu Ponnary và Ieng Sary- Khieu Thirit [16, tr.331] Pol Pot ở cương vị Bí thư
“Angka” (tổ chức đảng) và Thủ tướng chính phủ có trách nhiệm cao nhất lãnh đạo toàn bộ guồng máy quốc gia, đề ra các chủ trương và đường lối đối nội, đối ngoại và chỉ đạo bộ máy thực hiện
1.2.2 Nhân tố bên ngoài
1.2.2.1 Tác động của hiệp định Genève
Do áp lực của các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc và Liên
Xô, Việt Nam phải chấp nhận ký hiệp định Genève năm 1954 với một số điều khoản bất lợi cho cách mạng Campuchia như vùng giải phóng nông thôn rộng lớn trước kia do lực lượng cách mạng Campuchia kiểm soát phải bàn giao lại cho chính quyền Norodom Sihanouk Không những thế, lực lượng này thậm chí còn phải giải giáp tại chỗ, không có khu vực tập kết như quân đội Việt
Nam và Pathet Lào
Sau đó, quá trình thực hiện Hiệp định Genève đã dẫn tới những thay đổi to lớn về so sánh lực lượng ở Campuchia Chính sách đàn áp và khủng bố đối với các lãnh đạo và phong trào Khmer Issarak của Norodom Sihanouk là nguyên nhân quan trọng làm cho lực lượng cách mạng Campuchia bị tổn hại nghiêm trọng và không giữ được thành quả đạt được trong 9 năm kháng chiến chống Pháp Sự tan rã của phong trào cách mạng ở Campuchia sau 1954 đã tạo ra khoảng trống quyền lực, tạo cơ hội cho nhóm sinh viên từ Pháp về nước vươn lên kiểm soát quyền lực, dần làm biến chất phong trào cách mạng
Campuchia
Từ năm 1954 đến năm 1960, phong trào cách mạng của Đảng Nhân dân