HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAMKHOA MÔI TRƯỜNG ------ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPTÊN ĐỀ TÀI: “PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LƯỢNG PHÁT SINH VÀ THÀNH PHẦN RÁC THẢI SINH HOẠT QUY M
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPTÊN ĐỀ TÀI:
“PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LƯỢNG PHÁT SINH VÀ THÀNH PHẦN RÁC THẢI SINH HOẠT QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN,THÀNH PHỐ HÀ NỘI”
Người thực hiện : NGUYỄN HOÀNG LONG
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPTÊN ĐỀ TÀI:
“PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LƯỢNG PHÁT SINH VÀ THÀNH PHẦN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI”
Người thực hiện : NGUYỄN HOÀNG LONG
Chuyên ngành : MÔI TRƯỜNG Giáo viên hướng dẫn : TS ĐỖ THỦY NGUYÊN Địa điểm thực tập : QUẬN LONG BIÊN – TP HÀ NỘI
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình và sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè.
Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy TS
Đỗ Thủy Nguyên, giảng viên bộ môn Công nghệ Môi trường – Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận cũng như tận tình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể các quý thầy, cô giáo bộ môn Công nghệ Môi trường – Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại bộ môn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới anh Trần Minh Hoàng, bạn Đinh Phương Thảo, bạn Hoàng Tú Anh và các làm việc trên phòng thí nghiệm bộ môn Công Nghệ Môi Trường
đã nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ, gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Người thực hiện
Trang 4MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng và sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch kéo theo mức sống của người dân càng cao đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, nan giải trong công tác bảo vệ môi trường và sức khỏe của cộng đồng dân cư Lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của con người ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính chất
Rác thải sinh hoạt là một vấn đề nhức nhối đối với toàn xã hội, nhất là trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay Ở các đô thị lớn của Việt Nam, rác thải đã và đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng Xử lý rác thải sinh hoạt luôn là vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý môi trường, làm thế nào để xử lý rác thải đạt hiệu quả cao nhất, không gây nên những hậu quả xấu về môi trường trong tương lai và lại ít tốn kém chi phí nhất
Để có thể đạt hiệu quả cao nhất trong công tác xử lý rác thải sinh hoạt, các nhà quản lý môi trường cần có đầy đủ thông tin về thành phần và khối lượng rác thải sinh hoạt
Từ đó có thể tối ưu hóa được các hoạt động thu gom rác thải và thiết kế được các công trình chôn lấp, xử lý rác một cách hợp lý Đưa ra được các chiến lược và chính sách bảo vệ môi trường đối với rác thải sinh hoạt Ngoài ra, cần có các dự báo về thông tin rác thải từ các phạm vi khác nhau để có những mô hình dự báo thành phần và khối lượng rác thải quy
mô hộ gia đình trên mối quan hệ các đặc điểm hộ gia đình
Quận Long Biên nằm ở cửa ngõ phía Đông – Bắc của Thủ đô, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, văn hóa, xã hội của Thành phố Hà Nội Quận Long Biên là khu vực có đông dân cư với mật độ dân số cao, theo thống kê hàng ngày lượng rác thải thu gom
và vận chuyển trên địa bàn quận Long Biên khoảng 200 tấn/ngàyvà ngày càng có xu hướng tăng lên theo thời gian Vì thế, chúng ta cần có những nghiên cứu khoa học hiệu quả
để hỗ trợ cho công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại đây
Xuất phát từ cơ sở lý luận thực tiễn trên, tôi tiến hành chọn đề tài “Phân tích các yếu
tố ảnh hưởng tới lượng phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt quy mô hộ gia đình trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội” nhằm nghiên cứu rõ lượng rác
thải sinh hoạt phát sinh và nâng cao công tác quản lý tại khu vực
Trang 92 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
• Mục đích nghiên cứu
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới khối lượng và thành phần rác thải sinh hoạt tại các hộ gia đình
• Yêu cầu của đề tài
Thu thập các tài liệu, sử dụng phiếu điều tra số lượng, thành phần, tỷ lệ rác thải sinh hoạt phát sinh của quận và các yếu tố quy mô hộ gia đình ảnh hưởng đến rác thải sinh hoạt
So sáng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh theo từng nhóm hộ, từng khu vực nghiên cứu
Số lượng trung thực, khách quan, có độ tin cậy cao
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Tổng quan về rác thải sinh hoạt
1.1.1.Nguồn gốc, tính chất,thành phần, phân loại rác thải sinh hoạt
a Nguồn gốc rác thải sinh hoạt (RTSH)
Đối với khu vực thành phố, thị xã, thị trấn và khu công nghiệp, nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt bao gồm: khu nhà tập thể, hộ gia đình, trường học, văn phòng cơ quan, chợ, nhà văn hóa, khu vui chơi giải trí, công viên, nhà hàng, khách sạn, nhà ga, bến tàu, bệnh viện, trạm xá, nhà máy, xí nghiệp, cơ quan sản xuất thủ công nghiệp, phòng thí nghiệm
Còn đối khu vực nông thôn, nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt bao gồm: các hộ gia đình, chuồng trại, vườn, đồng ruộng, chăn thả gia súc
Theo Nguyễn Trung Việt và Trần Thị Mỹ Diệu(2009): “Chất thải rắn sinh hoạt có nguồn gốc chủ yếu từ các nguồn sau: khu dân cư, trung tâm thương mại, viện nghiên cứu,
cơ quan, trường học, các công trình công cộng, dịch vụ đô thị, khu công nghiệp, trạm xử lý nước thải và từ các ống thoát nước của thành phố”
b Tính chất RTSH
Rác thải sinh hoạt nói chung có thành phần không ổn định Ở các đô thị lớn như Hà Nội thành phần hữu cơ chiếm 40-50%, chủ yếu là các thành phần dư thừa của rau, hoa quả Chất dẻo dưới dạng túi nilon bao bì ngày một nhiều trở thành nguy cơ ô nhiễm trong những năm gần đây Gạch ngói, đá sỏi, vôi sữa khô chiếm tỷ lệ rất lớn Các thành phần này phụ thuộc vào tốc độ xây dựng, cải tạo nhà cửa của từng thành phố (Hoàng Kim Cơ, 2001)
Trang 11Việc xác định các nguyên tố cơ bản trong rác thải sinh hoạt để xác định công thức hóa học của thành phần hữu cơ có trong rác thải sinh hoạt cũng như xác định tỷ lệ C/N thích hợp cho quá trình làm phân compost Trong các cấu tử hữu cơ của RTSH, thành phần hóa học chủ yếu của chúng là C,H,O,N,S và các chất tro.
- Tính chất sinh học của CTR: tính chất sinh học của CTR bị chi phối về thành phần chất thải: chất hữu cơ phân hủy nhanh và chất hữu cơ phân hủy chậm
Phần hữu cơ (không kể nhựa, cao su, da) của hầu hết CTR có thể được phân loại
về phương diện sinh học như sau:
• Các phần tử có thể hòa tan trong nước như: đường, tinh bột, amino axit, và nhiều axit hữu
cơ khác
• Bán xenlulo: các sản phần ngưng tụ của hai đường 5 và 6 cacbon
• Xenlulo: các sản phẩn ngưng tụ của đường glocose 6 cacbon
• Dầu mỡ và sáp: là những este của alcohols và axit béo mạch dài
• Lignin: một polyme chứa các vòng thơm với nhóm metoxyl (-OCH3)
• Lignoxenlulo: là sự kết hợp của lignin và xenlulo
• Protein: chất tạo thành từ sự kết hợp chuỗi các amino axit (Nguyễn Văn Phước, 2010)
c Thành phần RTSH
Thành phần rác thải rất khác nhau tùy thuộc và từng địa phương, tính chất tiêu dùng, điều kiện kinh tế và có rất nhiều yếu tố khác Thông thường thành phần của rác thải bao gồm các hợp phần sau:
• Các chất dễ phân hủy sinh học: Các thực phẩn thừa, cuộng, lá rau, lá cây, xác động vật chết, vỏ hoa quả,
• Các chất khó bị phân hủy sinh học: gỗ, cành cây, cao su, túi nlon
• Các chất hoàn toàn không bị phân hủy sinh học: kim loại, thủy tinh, mảnh sành sứ, gạch ngói, vôi vữa khô, sỏi cát, vỏ ốc hến
Bảng 1.1: Định nghĩa thành phần của rác thải sinh hoạt
1.Các chất cháy được
a.Giấy Các vật liệu làm từ giấy bột và giấy Các túi giấy, mảnh bìa, giấy vệ
sinhb.Hàng dệt Các nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nilon
c.Thực phẩm Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm Cọng rau, vỏ quả, thân cây, lõi
ngô
d.Cỏ, gỗ, củi,
rơm rạ
Các sản phẩm và vật liệu được chế tạo từ tre, gỗ, rơm
Đồ dùng bằng gỗ như bàn, ghế,
đồ chơi, vỏ dừa
e.Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm được chế
tạo từ chất dẻo
Phim cuộn, túi chất dẻo, chai,
lọ Chất dẻo, đầu vòi, dây điện
Trang 12f.Da và cao su Các vật liệu và sản phẩm được chế
tạo từ da và cao su
Bóng, giày, ví, băng cao su
2.Các chất không cháy
a.Các kim loại
sắt Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ sắt mà dễ bị nam châm hút Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, dao, nắp lọ b.Các kim loại
c.Thủy tinh Các vật liệu và sản phẩm được chế
tạo từ thủy tinh
Chai lọ, đồ đựng bằng thủy tinh, bóng đèn
d.Đá và sành sứ Bất cứ các vật liệu không cháy
ngoài kim loại và thủy tinh
Vỏ chai, ốc, xương, gạch, đá, gốm
3.Các chất hỗn
hợp
Tất cả các vật liệu khác không phân loại trong bảng này Loại này có thể chưa thành hai phần: kích thước lớn hơn 5 mm và loại nhỏ hơn 5 mm
Đá cuội, cát, đất, tóc
Nguồn: Nguyễn Xuân Thành(2010)
Bảng 1.2: Thành phần rác thải sinh hoạt của một số tỉnh, thành phố
Trang 13- Phân loại RTSH theo mức độ nguy hại
Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thải phóng xạ, các rác thải nhiễm khuẩn, lây lan có thể gây nguy hiểm cho con người, động vật và môi trường
Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
- Phân loại RTSH theo tính chất được thể hiện trong Bảng 1.4:
Bảng 1.4: Phân loại RTSH theo tính chất Phân loại
Rác hữu cơ
Rác hữu cơ là loại rác
dễ phân hủy và có thể đưa và tái chế để sử dụng cho việc chăm bón và làm thức ăn cho động vật
- Phần bỏ đi của thực phẩm sau khi lấy đi phần chế biến được thức ăn cho con người
- Phần thực phẩm thừa hoặc hư hỏng không thể
sử dụng cho con người
- Các loại hoa, lá cây, cỏ không được con người sử dụng sẽ trở thành rác thải trong môi trường
- Các loại rau, củ, quả đã bị hư, thối
- Cơm, canh, thức
ăn còn thừa hoặc bi thiu, các loại bã chè, bã cà phê
- Cỏ cây bị xén, chặt
bỏ, hoa rụng,
Rác vô cơ Rác vô cơ là những
loại rác không thể sử dụng được nữa mà cũng không thể tái chế được mà chỉ có thể xử lý bằng cách mang ra các khu chôn
- Các loại vật liệu xây dựng không thế sử dụng hoặc đã qua sử dụng và được bỏ đi
- Các loại bao bì bọc bên ngoài hộp, chai thực phẩm
- Gạch, đá, đồ sành,
đồ sứ bị vỡ hoặc không còn giá trị sử dụng
- Ly, cốc, bình thủy tinh vỡ,
Trang 14Phân loại
lấp rác thải - Các loại túi nilong được
bỏ đi sau khi con người dùng đựng thực phẩm
- Một số loại vật dụng, thiết bị trong đời sông hàng ngày của con người
- Đồ da, đồ cao su, đồng hồ hỏng, băng đĩa, radio, không thể sử dụng
Rác tái chế
Rác vô cơ là loại rác khó phân hủy nhưng có thể đưa và tái chế nhằm mục đích phục vụ nhu cầu của con người
Kim loại, nhựa, vỏ hộp chai lọ, bỏ đi
1.1.2 Các phương thức xử lý rác thải sinh hoạt
Trên thế giới có 3 phương pháp xử lý rác thải chủ yếu là: đốt, ủ sinh học và chôn lấp
- Chôn lấp: đối với các loại rác thải không thế chế biến được nữa
- Ủ sinh học: đối với các loại rác thải chứa các chất hữu cơ
- Đốt: đối với một số loại rác thải độc hại
1.1.3 Quy định của Nhà nước về rác thải sinh hoạt
Theo Điều 53 Chương VI Luật Bảo vệ tài nguyên môi trường thì hộ gia đình cần có
trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường sau đây:
- Thu gom và chuyển rác thải sinh hoạt đến đúng nơi do tổ chức giữ gìn vệ sinh môi trường tại địa bàn quy định
- Nộp đủ và đúng thời hạn các loại phí bảo hiểm môi trường theo quy định của pháp luật
- Tham gia hoạt động vệ sinh môi trường khu phố, đường làng ngõ xóm, nơi công cộng và hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường và cộng đồng dân cư
Theo Điều 54 Chương VI Luật bảo vệ môi trường: Nhà nước khuyến khích cộng
đồng dân cư thành lập các tổ chứ bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống nhằm thực hiện các nhiệm vụ sau:
• Tổ chức thu gom tập kết và xử lý rác thải, chất thải
• Giữ vệ sinh đường làm, ngõ xóm, khu phố nơi công cộng
• Tổ chứ tự quản về bảo vệ môi trường được thành lập và hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng trách nhiệm, tuân theo quy định của pháp luật v.v
Theo Chỉ thị 199/TTG của Thủ tướng chính phủ:
- Về việc quản lý việc phát sinh, thu gom, vận chuyển chất thải:
Trang 15Nghiêm cấm các sơ sở sản xuất, kinh doanh,dịch vụ, bệnh viện cũng như các hộ gia đình đổ các loại chất thải ra sông, hồ, đường phố làm mất mỹ quan và gây ô nhiễm môi trường Tổ chức, cá nhân nào vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật bảo vệ môi trường và các pháp luật liên quan khác của Việt Nam Tổ chức thu gom kịp thời và triệt để chất thải, tiến hành phân loại chất thải ngay từ nguồn thải để thuận tiện cho việc tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy Khuyến khích việc áp dụng các công nghiệ mới trong thu gom, vận chuyển và xử
- Về quản lý việc xử lý, tiêu hủy chất thải:
Tổ chức và tiến hành việc quy hoạch các bãi chôn lấp chất thải, xây dựng các bãi chôn lấp chất thải đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường và đáp ứng được yêu cầu chôn lấp chất thải của địa phương mình tối thiểu là 25 năm
Có các công nghệ phù hợp để xử lý hoặc tiêu hủy chất thải đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường, đặc biết đối với chất thải công nghiệp nguy hại cần phải được xử lý triệt để
Có các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường do các bãi chôn lấp chất thải cũ gây ra v.v
Các quy định, văn bản pháp luật của Nhà nước về vấn đề rác thải sinh hoạt nhìn chung phù hợp với hiện trạng nước ta Tuy nhiên việc thực hiện chưa tốt nên trên thực tế vẫn chưa hiệu quả Đội ngũ những người đảm bảo việc thực hiện các quy định này còn thiếu và yếu
1.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
1.2.1 Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt trên thế giới
Với lượng rác gom góp được trên toàn thế giới từ 2,5 đến 4 tỉ tấn mỗi năm, thế giới hiện nay có lượng rác ngang bằng với sản lượng ngũ cốc (đạt 2 tấn) và sắt thép (1 tỉ tấn), khẳng định của Viện nguyên vật liệu Cyclope và Veolia & Propreté – công ty quản lý rác lớn thứ hai thế giới
Theo các chuyên viên nghiên cứu của Ngân hàng thế giới World Bank (WB) và Viện nguyên vật liệu Cyclope &Veolia & Propreté, trong tổng số rác trên thế giới, có 1,2 tỉ
Trang 16tấn rác tập trung ở vùng đô thị, từ 1,1 đến 1,8 tỉ tấn rác công nghiệp không nguy hạivà 150 triệu tấn rác nguy hiểm (mức tính toán thực hiện tại 30 quốc gia).
Nhìn chung, lượng RTSH ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của người dân nước đó Tỷ lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu người Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu người ở một số thành phố trên thế giới: Băng Cốc (Thái Lan): 1,6kg/người/ngày, Singapore: 2kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2kg/người/ngày; NewYork (Mỹ) là 2,65kg/người/ngày
Hình 1.1: Ô nhiễm chất thải rắn sinh hoạt tại Châu Phi
Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trong dòng CTR đô thị rất khác nhau giữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc (Gao et al.2002); chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philippin và 37% ở Nhật Bản, chiếm 80% ở nước ta Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới WB, nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25 - 35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng CTR đô thị(Minh Cường, 2015)
Tại Anh: Số liệu thống kê tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy hàng năm Liên hiệp
Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó ước tính 46,6 triệu tấn chất thải sinh học và chất thải dạng tương tự phát sinh ở Anh, trong đó 60% chôn lấp, 34% được tái chế và 6% được
Trang 17thiêu đốt Chỉ tính riêng rác thải thực phẩm, theo dự án khảo sát được thực hiện từ tháng 10/2006-3/2008, chất thải thực phẩm từ hộ gia đình nhiều hơn tới hàng tấn so với chất thải bao bì chiếm 19% chất thải đô thị Hàng năm hộ gia đình ở Anh phát sinh 6,7 triệu tấn chất thải thực phẩm, ở England là 5,5 triệu tấn, trong đó 4,1 triệu tấn là thực phẩm có thể sử dụng được Trung bình mỗi hộ gia đình thải ra 276 kg chất thải thực phẩm/năm hay 5,3 kg/tuần, trong đó 3,2 kg vẫn có thể sử dụng được (Trần Quang Ninh, 2009)
Tại Nhật Bản: Theo thống kê, trung bình mỗi năm một người Nhật thải ra khoảng
365kg rác Như vậy, tổng số rác thải mỗi năm của cả nước Nhật là 45.360.000 tấn, đứng thứ 8 trên thế giới Trong tổng số rác thải trên, có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế Số còn lại được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Với rác thải sinh hoạt của các gia đình, khoảng 70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón (Nguyễn Văn Sang, 2015)
Tại Singapore : mỗi ngày thải ra khoảng 16.000 tấn rác Rác ở
Singapore được phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp ) Nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái chế Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thành tro Mỗi ngày chừng 1.500 tấn tro rác cùng với 500 tấn rác không thể đốt được sẽ lên sà lan trực chỉ Semakau Landfill Như vậy khối lượng từ 16.000 tấn rác mỗi ngày, sau khi đốt rác Singapore chỉ cần bãi đổ rác cho hơn 10% lượng rác đó, xấp xỉ 2.000 tấn Chưa hết, nhiệt năng sinh ra trong khi đốt rác được dùng để chạy máy phát điện đủ cung cấp 3% tổng nhu cầu điện của Singapore (Trần Nhật Nguyên, 2010)
Trong Báo cáo "Đánh giá toàn cầu về quản lý rác thải rắn" WB nhận định khối lượng rác thải ngày càng lớn của cư dân đô thị đang là một thách thức lớn không kém gì tình trạng biến đổi khí hậu, và chi phí xử lý rác thải sẽ là gánh nặng đối với các quốc gia nghèo khó, đặc biệt là ở Châu Phi
Các chuyên gia WB ước tính đến năm 2025, tổng khối lượng rác cư dân thành thị thải ra sẽ là 2,2 tỷ tấn/năm - tăng 70% so với mức 1,3 tỷ tấn hiện nay, trong khi chi phí xử
lý rác thải rắn dự kiến lên tới 375 tỷ USD/năm, so với mức 205 tỷ USD ở thời điểm hiện tại (Minh Cường, 2015)
Trang 181.2.2 Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
Lượng CTRSH tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các
đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%)… Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%)
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV
là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được
xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị
Bảng 1.5: Khối lượng phát sinh CTRSH theo vùng địa lý
Khu vực Khối lượng rác thải phát sinh (tấn/năm) Tỷ lệ phần trăm (%)
Nguồn: Công ty TNHH Xây dựng & Môi trường sạch (2015)
Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP.Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn – 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP.Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP.Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 – 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày
Trang 19Tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73kg/người/ngày.
Trang 20Nguồn: Công ty TNHH Xây dựng & Môi trường sạch (2015)
Bảng 1.7: CTR đô thị phát sinh các năm 2009 – 2010 và dự báo đến
năm 2025
Dân số đô thị (triệu người) 25,5 26,22 35 44 52
% dân số đô thị so với cả nước 29,74 30,2 38 45 50Chỉ số phát sinh CTR đô thị
Tổng lượng CTR đô thị phát sinh
Nguồn: Công ty TNHH Xây dựng & Môi trường sạch (2015)
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả các đô thị Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm) Dự báo tổng đến năm
2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTRSH gây ra(Công ty TNHH Xây dựng & Môi trường sạch, 2015)
1.3 Tổng hợp các mô hình phỏng đoán mức độ phát sinh rác thải
Trang 211.3.1 Các đặc điểm của hộ gia đình ảnh hưởng đến mức độ phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt
Việc đưa ra được các hình thức quản lý rác thải sinh hoạt tối ưu cho từng khu vực dân cư đặc thù trong hiện tại và cho quy hoạch vùng tương lai là công việc rất quan trọng của các nhà quản lý môi trường nhằm đảm bảo công tác bảo vệ môi trường trong định hướng phát triển bền vững của vùng Để có được những biện pháp quản lý phù hợp thì những dữ liệu liên quan tới mức độ phát sinh rác thải là những thông tin hết sức quan trọng và không thể thiếu Tuy vậy, mức độ phát sinh rác thải đến từng cá nhân trong ngày là một con số khó có thể đo đạc trực tiếp và khó có thể được cập nhập liên tục, thường được thu thập bằng phương pháp ước lượng dựa trên các con số của các chương trình điều tra khảo sát Do đó, sẽ rất khó khăn để thu thập được thông tin nếu thiếu đi các chương trình điều tra mất nhiều thời gian và tốn kém, trong khi các thông tin này chỉ mang tính chất hiện trạng, ít tính liên hệ với những đặc thù phát triển kinh tế xã hội trong tương lai
Tuy nhiên, mức độ phát sinh rác thải có liên quan chặt chẽ đặc điểm của cộng đồng dân cư, và từ mối liên hệ gắn kết giữa những đặc thù này, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra những nhận định về mức độ rác thải được phát sinh trên các quy mô từng hộ gia đình nói riêng cho đến quy mô khái quát của cả vùng Các đặc điểm của cộng đồng dân cư trên quy
mô từng hộ gia đình quyết định rất nhiều tới hành vi tiêu dùng và mức độ xả rác cũng như các thành phần rác thải Tổng hợp các nghiên cứu của các tác giả Abu Qdais và cộng sự (1997),Lebersorger(1998) và Dennison (1996), có thể liệt kê một số yếu tố đặc điểm hộ gia đình có thể giải thích và tiên lượng cho lượng rác thải phát sinh bao gồm các giả thuyết liên quan tới thu nhập bình quân đầu người, tuổi trung bình và trình độ học vấn Xét trên quy mô rộng, đặc thù phát sinh rác thải phụ thuộc vào đặc điểm nhân khẩu, định hướng phát triển kinh tế và xã hội của khu vực sinh sống của cộng đồng dân cư
Với thành phần rác thải, để có thể xác định được mối liên hệ giữa đặc thù nhân khẩu và thành phần phát sinh, đối tượng rác thải sinh hoạt có thể được phân chia theo ba dạngkhác nhau:
- Dạng 1: Phân chia theo đặc tính tự nhiên của rác thải như: rác thải hữu cơ, giấy, thủy tinh, nhựa, kim loại, các dạng khác
- Dạng 2: Phân chia theo phương thức thu thập rác thải bao gồm rác thải tái chế được, rác thải không tái chế được
Trang 221.3.2 Các phương pháp xác định mối quan hệ giữa các đặc điểm của hộ gia đình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt.
Để xác định mối quan hệ giữa đặc điểm nhân khẩu với đặc thù lượng rác phát sinh, phương pháp chủ hiện tại vẫn là phân tích đầu vào-đầu ra và sử dụng mô hình hồi quy để xác định mối tương quan Các mô hình hồi quy với các mức độ đơn giản và phức tạp khác nhau đã và đang được sử dụng để liên hệ giữa các yếu tố đặc điểm của hộ gia đình có thể giải thích cho các đặc thù về rác thải phát sinh
Mức độ phức tạp trong các mô hình hồi quy khác nhau cơ bản ở số lượng các biến độc lập tham gia vào giải thích cho sự thay đổi của biến tiên lượng Các phương pháp phổ biến đơn giản được sử dụng để đánh giá thường xem xét lần lượt từng yếu tố độc lập với các yếu tố phụ thuộc bằng các phương pháp thống kê đơn biến Các phương pháp phức tạp hơn sử dụng đồng thời nhiều thông tin từ đặc thù của các đặc điểm của từng hộ gia đình để giải thích cho mức độ và thành phần rác thải phát sinh
Bảng 1.8: Các dạng mô hình rác thải
Nguồn Thông số phụ thuộc Số lượng mẫu
Số lượng thông số
độc lập
Giá trị
R 2
Bach et al (2003) Thủy tinhKim loại 507156 77 0.5380.53
Trang 23Chương II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng và thành phần rác thải sinh hoạt
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Quận Long Biên –Thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 1 đến tháng 6/2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của quận Long Biên – Hà Nội
a Điều kiện tự nhiên.
b Điều kiện kinh tế xã hội.
c Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội.
2.3.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
2.3.3 Phân tích các yếu tố ảnh huởng đến mức độ phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Tài liệu khoa học liên quan tới các mô hình rác thải từ các nguồn có sẵn: sách, báo, tạp chí khoa học, mạng internet
- Các số liệu phát sinh rác thải trên địa bàn quận Long Biên – Hà Nội
- Thu thập các tài liệu, số liệu từ các luận văn, đề tài nghiên cứu có liên quan tới khu vực, vấn đề nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và điều tra phỏng vấn
- Điều tra phỏng vấn 30 hộ theo phương pháp phân nhóm dựa trên mức độ phát triển kinh tế của khu vực Ba khu vực được lựa chọn bao gồm:
Trang 24- Tiến hành phân nhóm yếu tố ảnh hưởng:
o Yếu tố khu vực: phân thành 4 phường dựa theo mức phát triển của từng khu vực như đã nói ở trên
Nhóm hộ gia đình giàu
Nhóm hộ gia đình trung bình
Nhóm hộ gia đình nghèo
o Yếu tố độ tuổi: Cách xác định yếu tố nhóm tuổi của hộ gia đình dựa trên
cơ sở phân loại của Lebersorger, 2003 Trong nghiên cứu này, tôi lấy độ tuổi trung bình của các thanh viên trong gia đình rồi phân thành ba nhóm tuổi chính để nghiên cứu:
Nhóm trẻ tuổi: ≤ 32 tuổi
Nhóm trung niên: 33 – 49 tuổi
Nhóm cao tuổi: ≥ 50 tuổi
o Yếu tố học vấn: Cách xác định yếu tố học vấn của hộ gia đình dựa trên
cơ sở nghiên cứu của Lebersorger, 2003 Trong nghiên cứu này, phân nhóm trình độ học vấn của hộ gia đình dựa trên trình độ học vấn của người quyết định mua các sản phẩm sinh hoạt hàng ngày của hộ để xác định ảnh hưởng tới lượng và thành phần phát sinh rác thải sinh hoạt
Nhóm hộ có trình độ học vấn Trung học cơ sở
Nhóm hộ có trình độ học vấn Trung học phổ thôngNhóm hộ có trình độ học vấn Đại học
2.4.3 Phương pháp xác định khối lượng và thành phần
- Xác định khối lượng rác và khối lượng và thành phần rác bằng phương pháp cân trực tiếp Tiến hành phát túi cho các hộ gia đình vào thứ 2, thứ 5 và thứ 7 sau đó quay lại lấy túi rác vào tối Chủ nhật, thứ 3 và thứ 6
- Sau khi lấy túi rác, tiến hành phân loại và cân các thành phần trong rác thải sinh hoạt
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả
- Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả
- Phương pháp kiểm định ANOVA để xác định sự khác biệt giữa các nhóm
Trang 252.4.5 Phương pháp sử dụng mô hình tuyến tính
Mô hình tuyến tính đa biến:
• Biến phụ thuộc: lượng phát sinh (kg/hộ/ngày), thành phần rác thải (hữu cơ, tái chế, nguy hại…) (%)
• Biến tiên lượng: Tuổi, số lượng thành viên, học thức, thu nhập,
Trang 26Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của phường quận Long Biên – Hà Nội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Long Biên là một quận mới thành lập năm 2004 được tách từ một số xã và thị trấn của huyện Gia Lâm, là một trong 9 quận nội thành của Thành phố Hà Nội, trong khoảng từ 20º04' đến 20º59' vĩ độ Bắc, 105º50' đến 105º55' kinh độ Đông và có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp với huyện Đông Anh
- Phía Đông giáp với huyện Gia Lâm
- Phía Nam giáp quận Hoàng Mai
- Phía Tây giáp quận Hoàn Kiếm
b Địa hình, địa mạo
Quận Long Biên nằm giữa hai con sông là sông Hồng và sông Đuống với địa hình trũng mỏng cao ven theo hai bờ sông Địa hình quận tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng chung của địa hình và hướng dòng sông chảy
c Khí hậu
Nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, quận Long Biên mang sắc thái đặc trưng của khí hậu vùng nhiệt đới ẩm gió mùa Chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô:
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10
+ Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nền nhiệt độ trong khu vực đồng đều và cũng khá cao, tương đương với nhiệt độ chung của toàn thành phố
+ Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 23 – 24oC
+ Biên độ nhiệt độ trong năm khoảng 12 – 13oC Biên độ dao động nhiệt giữa ngày