Tuy nhiên việc bảo tồn và phát huy những giá trị của di tích và lễ hội đang là vấn đề được quan tâm, bởi sau khi được công nhận là “di sản hóa” quần thể di tích và thắng cảnh chùa Hương
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học:
TS HOÀNG CẦM
Phản biện 1: TS ĐÀO THẾ ĐỨC
Phản biển 2: PGS.TS ĐẶNG HOÀI THU
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học Viện Khoa học Xã hội vào lúc: 8h00 ngày 22 tháng 04 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viên Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội là một đặc trưng văn hóa truyền thống của dân tộc
Việt Nam cũng như của nhiều nước trên thế giới.Nó là “tấm gương” phản chiếu một cách trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc Ngày nay, lễ hội đang được tổ chức ngày càng nhiều để đáp ứng những đòi hỏi trong đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người dân Việc tham dự các lễ hội truyền thống là nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân nhằm thỏa mãn khát vọng hướng về cội nguồn, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng động, góp phần tạo nên sự đa dạng của văn hóa Lễ hội truyền thống tồn tại đến hôm nay đều là kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa lâu dài Quá trình tiếp biến ấy khiến cho
lễ hội luôn mang dáng vẻ của thời đại mà vẫn không mất đi diện mạo ban đầu, cái cấu trúc hai mảng lễ và hội của nó
Khu di tích – thắng cảnh Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức (Hà Nội) vốn là một quần thể di tích danh làm thắng cảnh nổi tiếng bao gồm một hệ thống hang động, đền chùa xen lẫn núi rừng, hoa lá cây
cỏ phong phú Hương Sơn không chỉ là một chốn “kỳ non thủy tú”
mà còn được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhất động” Nơi đây được coi là trung tâm Phật giáo lớn nhất thời đương đại với hàng năm có hàng triệu phật tử hành hương về đất phật chính vì vậy lễ hội chùa Hương được coi là lễ hội lớn nhất và dài nhất ở nước ta hiện nay.Kéo dài suốt ba tháng
Tuy nhiên việc bảo tồn và phát huy những giá trị của di tích và
lễ hội đang là vấn đề được quan tâm, bởi sau khi được công nhận là
“di sản hóa” quần thể di tích và thắng cảnh chùa Hương đã trở thành tài sản của nhà nước, do nhà nước quản lý và các thực hành văn hóa
Trang 4của người dân nơi đây cũng dần thay đổi, chịu sự tổ chức quản lý của nhà nước của như các quy định của “di sản hóa” Người dân không còn
là chủ thể của lễ hội – đang dần mất đi những đặc quyền văn hóa do chính họ đã sáng tạo và gìn giữ Chính vì vậy đã tạo ra nhiều thách thức cho sinh hoạt văn hóa xã hội và kinh tế của người dân nơi đây
Xuất phát từ lý do đó, tôi chọn đề tài: “Vai trò của nhà nước trong lễ hội chùa Hương” cho luận văn Thạc sỹ của mình với mong muốn hiểu một cách sâu sắc nhất vai trò của nhà nước ở quần thể khu
di tích thắng cảnh Hương Sơn, Mỹ Đức, thành phố Hà Nội và những vấn đề đang được đặt ra ở đây
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong vài thập kỷ trở lại đây, lễ hội hay các vấn đề về di sản
hóa các khu di tích – thắng cảnh, di sản hóa lễ hội không còn là đề tài mới trong nghiên cứu, đã có rất nhiều các tác giả, các nhà nghiên cứu nghiên cứu về chủ đề này.Đặc biệt không chỉ có các nhà nghiên cứu trong nước mà còn cả các học giả nước ngoài
Chủ đề nghiên cứu chính là các vấn đề di sản hóa di tích, lễ hội
và các thực hành văn hóa lễ hội của người dân Việt Nam Điển hình cho các bài viết về di sản văn hóa là công trình nghiên cứu của học giả người Hà Lan Oscar Salemink với bài viết xuất bản năm 2013:
“Chiếm đoạt văn hóa: tính chính trị của di sản văn hóa phi vật thể ở
Việt Nam” Tác giả cho rằng di sản hóa văn hóa chính là một hình
thức của sự “chiếm đoạt” văn hóa và đi đôi với nó là quá trình “ngoài
lề hóa” cộng đồng chủ nhân - những người đã sáng tạo và gìn giữ di sản - ra khỏi những thực hành văn hóa của họ Và việc di sản hóa sẽ mang lại kết quả tốt nếu việc tổ chức, quản lý, bảo quản cũng như chia lợi ích diễn ra hợp lý ngược lại nó cũng có thể đẩy chính những
Trang 5người dân địa ra ngoài lề, mất độc quyền thực hành văn hóa của chính họ
Tác giả Lê Thị Ngà trong đề tài “Quá trình di sản hóa và
thưchành văn hóa xã hội ở Đường Lâm hiện nay” cũng đã chỉ ra “Di
sản hóa”là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình tạo ra di sản thông qua các hoạt động đánh giá, công nhận, tôn vinh, xếp hạng di tích lịch sử và các thực hành văn hóa thường ngày của các cộng đồng địa phương Các di tích và thực hành văn hoá sau khi được di sản hoá thường trở thành một loại tài sản do nhà nước, thông qua các cơ quan có thẩm quyền các cấp, trực tiếp hay gián tiếp quản lý và bảo vệ Quá trình di sản hoá, vì vậy, thường đi đôi với việc hạn chế hay ngoài lề hoá chính các chủ nhân ra khỏi các thực hành văn hoá, di tích được nhà
nước cộng nhận, vinh danh [Lê Thị Ngà (2015)]
Các công trình nghiên cứu của GS.TSKH Phan Đăng Nhật, GS.TS Ngô Đức Thịnh, GS.TS Nguyễn Xuân Kính, PGS.TS.Hoàng Lương…đã đưa ra khung lý thuyết chung về lễ hội, mối quan hệ giữa
lễ và hội, các giá trị và vai trò của lễ hội trong đời sống cộng đồng, lịch sử của sự hình thành lễ hội…
Nghiên cứu về lễ hội chùa Hương còn có các nghiên cứu của Nguyễn Đức Bảng (2007), Lịch sử chùa Hương Tích, nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Hà Nội là tác phẩm được viết bằng hai thứ tiếng Anh – Việt, có rất nhiều hình ảnh về chùa Hương Tác phẩm đi sâu vào giúp độc giả hiểu rõ về lịch sử chùa Hương Tích đồng thời cũng giới thiệu một cách đầy đủ về các động, đền chùa trong khu di tích thắng cảnh chùa Hương và giải thích những gốc tích liên quan đến đạo Phật nơi đây
Ngoài ra còn có một số tài liệu nghiên cứu về chùa Hương như
tập thơ: Thung mơ Hương Tích (2005) của tác giả Trần Lê Văn; Thơ
Trang 6chùa hương(2000), củacác tác giả Bùi Văn Vượng, Lê Thanh Bình
các tác phẩm thể hiện cảnh sắc thiên nhiên nơi “Kỳ non thủy tú” cũng như tinh thần yêu thiên nhiên
Với đề tài này, tác giả sẽ tiếp cận theo hướng nghiên cứu của các tác giả đã nêu ở trên để nghiên cứu vai trò của nhà nước và những tác động của nó đối với việc thực hành văn hóa của người dân địa phương nơi đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Vai trò của Nhà nước được thể hiện trong lễ hội chùa Hương
- Xem xét quá trình di sản hóa ở khu di tích và thắng cảnh chùa Hương đồng thời chỉ ra những tác động của nó đối với các thực hành văn hóa xã hội của người dân địa phương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu chính là Khu di tích
- thắng cảnh Hương Sơn và vai trò của nhà nước thể hiện ở lễ hội chùa Hương qua đó cũng cho thấy những tác động quá trình di sản hóa đối với các thực hành văn hóa xã hội tại lễ hội chùa Hương
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ không gian tự nhiên, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp: Điền
dã dân tộc học, khảo sát thực địa, kết hợp giữa quan sát tham gia, chụp ảnh, ghi chép, phỏng vấn sâu và phương pháp tổng hợp, phân tích tư liệu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn sẽ cung cấp thêm một nghiên cứu trường hợp về việc
thực hành quản lý di sản của nhà nước và những tác động của nó đối với cộng đồng dân cư địa phương cũng như khách tham quan du lịch
Trang 7- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tư liệu tham kháo cho việc xây dựng các mô hình quản lý di sản ở địa phương
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; luận văn của tôi gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về xã Hương Sơn và khu di tích chùa
Hương
Chương 2: Sự tham gia của nhà nước trong quản lý danh
thắng và lễ hội chùa Hương
Chương 3: Sự tham gia của nhà nước và những tác động của
nó đối với lễ hội chùa Hương
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN VỀ XÃ HƯƠNG SƠN
VÀ KHU DI TÍCH CHÙA HƯƠNG 1.1 Tổng quan về xã Hương Sơn
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
1.1.2 Thành phần dân cư
1.1.3 Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội
* Về kinh tế
* Về các lĩnh vực văn hóa, xã hội
1.2 Khái quát về chùa Hương
1.2 Khái quát về chùa Hương
1.2.1 Vài nét về lịch sử chùa Hương
Lịch sử chùa Hương
Chùa Hương xã Hương Sơn được biết đến không chỉ với một ngôi chùa mà là cả một quần thể di tích với hệ thống đền chùa, hang động…Dãy núi Hương Sơn ở bên sườn Đông của dãy núi đá vôi chạy
từ Phong Thổ, Lai Châu, Sơn La, Mộc Châu xuống đến Hà Tây, Hòa Bình, sông Đáy (một phụ lưu cấp 1 của sông Hồng) chạy theo hướng Bắc – Đông Giữa sông núi là một hệ khe, nối suối ngầm (Suối Tuyết, Suối Yến) dẫn nước qua lại cung cấp cho Thung Dâu, Thung Mơ…phơi trải nước của các hang động Những khe núi này là nguồn cung cấp nước cho sông Đáy thuộc miền Bắc Việt Nam Bên trong dãy núi, nước chảy xói mòn khoét thành nhiều hang động, có một ngọn núi nối liền là thắng cảnh lâu đời – Động núi Hương Tích Truyền thuyết kể rằng: Đức Nam Hải Quán Thế Âm Bồ Tát tu hành rồi trở thành Phật tại đây.Vì vậy mà hiện nay chúng ta không khó để ghé thăm khu di tích danh lam thắng cảnh này, hơn nữa xã Hương Sơn có trục đường huyện chạy qua nối với tỉnh lộ 431 ở phía Bắc Xã
Trang 9có tuyến đường liên thôn, xóm, các trục chính đã được nhựa hóa, bê tông hóa khá thuận lợi cho đi lại và giao lưu hàng hóa
Quần thể di tích chùa Hương Tích và khu vực Hương Sơn gồm đền, chùa, động chùa nằm rải rác trên địa bàn các thôn: Yến Vĩ, Đục Khê, Hội Xá, Tiên Mai và Phú Yên Đa số các di tích dựa vào sườn núi hoặc nằm ở thung lũng có địa thế đẹp để kiến tạo nên di tích Cũng như các ngôi chùa Việt, chùa Hương được cổ nhân xây dựng để thờ Phật; nhưng quần thể di tích danh thắng này có sự độc đáo, đặc biệt mang tên “Hương Tích” (tức dấu vết thơm tho), nên việc thờ Phật ở đây cũng có những đặc điểm khác của các chùa làng
Theo truyền thuyết kể lại rằng vùng núi Hương Sơn được tìm thấy cách ngày nay 2000 năm và đã được đặt tên Hương Sơn – lấy tên một ngọn núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong dãy Himalaya (Ấn Độ), nơi đức Phật đã ngồi tu khổ hạnh 6 năm ròng rã
Cho tới ngày nay ngày mồng 6 tháng giêng vẫn được chọn là ngày để khai hội Đây vốn là ngày tổ chức lễ Khai sơn (lễ mở cửa rừng) của những người làm nghề kiểm lâm thổ sản và đi săn của người dân Yến Vĩ và Phù Yên Lễ mở rừng của làng Yến Vĩ được tổ chức ở đền Ngũ Nhạc, xưa đền thờ sơn thần một tín ngưỡng linh vật Sau đó có sự hòa nhập với nhân thần để ra đời một vị thần tên là Hùng Lang con ông Hùng An một vị tướng thời Hùng Vương có công dẹp giặc Ân cứu nước Còn làng Phù Yên làm lễ mở cửa rừng ở đền hạ và cũng thờ sơn thần
Lễ khai sơn vốn là nghi lễ nông nghiệp của người Việt cổ tạ thần núi, tạ chúa sơn lâm, mong trong năm làm ăn gặp nhiều may mắn, mưa thuận gió hòa, con người an khang, tráng kiện, và không bị thú
dữ ăn thịt Nay lễ này vẫn còn ở vùng người Mường Với cư dân
Trang 10đồng bằng, lễ khai sơn biến dạng thành lễ hạ cây nêu (mồng 7 tháng giêng) chấm dứt một tuần vui Tết, để bắt tay vào mùa làm ăn mới Mâm lễ của làng Yến Vĩ dâng sơn thần phải có một mặt lợn cạo sạch để sống, còn làng Phú Yên là con chó thui, chỉ những khi không kiếm được chó thì thay bằng khúc cổ lợn Đây là những thứ sơn thần thích ăn Sau phần nghi thức cúng tế, làng Yến Vĩ cử một cụ ông (vợ chồng ăn ở thuận hòa, con cái đủ mặt gái trai), vào rừng cầm dao chặt đứt một cành cây Sau lễ khai sơn, dân chúng hai thôn mới chính thức đi rừng
Lịch sử tên gọi
Ngày 06 tháng 6 năm 2012, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch có văn bản số 1764/BVHTTDL-DSVH về việc lập hồ sơ xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt Chùa Hương Tích và Khu vực Hương Sơn Chùa Hương Tích và khu vực Hương Sơn là tên gọi chính thức của di tích Căn cứ Điều 11 Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản Văn hoá và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Di sản văn hoá; Căn cứ kết quả khảo sát, nghiên cứu thực địa thì chùa Hương Tích và khu vực Hương Sơn thuộc loại hình di tích: Danh lam thắng cảnh, Lịch sử - Kiến trúc và Khảo cổ học [Phụ lục 2, tr.3] Chùa Hương Tích và khu vực Hương Sơn đã được Bộ Văn hoá (nay là Bộ văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích Quốc gia ngày 8 tháng 4 năm 1962 tại Quyết định số 313 VH/VP Người dân
xã Hương Sơn và du khách thập phương khi trẩy hội thường gọi với cái tên dân dã là đi chùa Hương, bởi theo “Truyện Phật Bà chùa Hương” thì nơi đây là nơi tu trì và trác tích của đức Phật Quán Thế
Âm Bồ Tát đã được Việt hoá và danh xưng là Phật Bà chùa Hương, nghĩa là: Dấu vết thơm tho
Trang 11Chùa Hương là tên thường gọi, và là tên gọi tắt của chùa Hương Tích Sở dĩ được gọi là chùa Hương Tích vì chùa được xây dựng trên núi Hương Tích cũng gọi là Hương Sơn, thuộc huyện Hoài An, phủ Ứng Hòa xưa, nay thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây [6, tr 11]
Trang 12Chương 2
SỰ THAM GIA CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ DANH THẮNGVÀ LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG
2.1 Di sản hóa danh thắng và lễ hội chùa Hương
Chùa Hương Tích và khu vực Hương Sơn là một trong 62 di tích cấp Quốc gia được Nhà nước xếp hạng A, đợt I Trong Quyết định xếp hạng những di tích, danh thắng toàn miền Bắc đã khẳng định: Tất cả những di tích, danh thắng đã được xếp hạng, đều do Ty Văn hóa địa phương quản lý, tổ chức bảo vệ và có kế hoạch phục vụ quần chúng
Từ khi khu di tích – danh lam thắng cảnh chùa Hương được xếp hạng cấp Quốc gia, vào sổ danh mục kiểm kê di tích lịch sử văn hóa và khoanh vùng bảo vệ gồm 2.796 ha với 18 quần thể di tích tại khu vực Hương Sơn
Giai đoạn từ năm 1962 - 1975, từ khi khu di tích – thắng cảnh chùa Hương được xếp hạng là di tích Quốc gia, bắt đầu có sự quản
lý, bảo vệ của Nhà nước Chùa Hương Tích và khu vực Hương Sơn
đã được UBND tỉnh Hà Tây (cũ) ra Quyết định số 426/QĐ-UB ngày
25 tháng 12 năm 1997 về việc thành lập Ban Quản lý khu di tích thắng cảnh Hương Sơn, quy định nhiệm vụ chức năng cụ thể về việc khai thác, bảo vệ và phát huy giá trị của quần thể di tích này Ban Quản lý khu di tích thắng cảnh Hương Sơn đã lập ba đội quản lý trực tiếp trên ba tuyến điểm:
Tuyến Hương - Thiên, tại bến Thiên Trù phụ trách các di tích: Đền Trình Ngũ Nhạc, chùa Thiên Trù, động Đại Binh, chùa Tuyết Sơn, chùa Giải Oan, động Tuyết Kình, Am Từ Vân, đền Trấn Song, động Hương Tích và chùa Hinh Bồng;
Tuyến Long Vân, Thanh Sơn gồm: chùa, hang Thanh Sơn, chùa, động Hương Đài, động Long Vân, chùa Cây Khế, động Người Xưa;
Trang 13Tuyến Tuyết Sơn gồm các di tích: Chùa Bảo Đài , chùa Ngư Trì, chùa Tuyết Sơn và Am Phật Tích Các tuyến điểm này đều có các bộ phận phụ trách hàng ngày
Để bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, Ban Quản lý di tích danh thắng Hương Sơn đã phối hợp với cơ quan chức năng và UBND huyện Mỹ Đức, UBND xã Hương Sơn, Ban xây dựng tôn tạo và phục chế chùa Hương tăng cường công tác quản lý về việc bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị của quần thể di tích Căn cứ bản đồ hiện trạng khoanh vùng bảo vệ di tích , Diện tích nêu trên đã được địa phương thống nhất nên cần tiến hành thủ tục cắm mốc giới cho di tích Chùa Hương Tích và khu vực Hương Sơn đã được quy hoạch tổng thể theo Quyết định số 1454/QĐ-UB ngày 30 tháng 12 năm 1998 của UBND tỉnh Hà Tây (cũ) về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể khu di tích thắng cảnh Hương Sơn
2.2 Vai trò của nhà nước trong quản lý danh thắng và lễ hội chùa Hương
Như đã trình bày ở trên, sau khi được công nhận là di sản văn hoá cấp quốc gia, nhiều hoạt động văn hoá- xã hội của khu di tích phải tuân thủ theo luật Di sản văn hoá của nhà nước Bởi bản chất của di sản hóa là sự tham gia quản lý tổ chức của Nhà nước đến di sản trên tất cả các lĩnh vực: tổ chức, xây dựng nội dung lễ hội, trong việc trùng tu tôn tạo hay việc phân chia lợi ích Các quy định của luật di sản vừa làm tăng vai trò của Nhà nước nhưng đồng thời đi kèm với nó, đã làm hạn chế hay ở một mức độ nào đó tước đi nhiều quyền cơ bản của chính những chủ nhân của "di sản' văn hoá này
2.2.1 Vai trò trong tổ chức lễ hội
Trong những năm gần đây, công tác quản lý các danh thắng
và lễ hội ở nước ta đã và đang được quan tâm nhiều hơn Vai trò, vị