Hơn nữa hội nhập kinh tế quốc tế HNKTQT, một trong những điều kiện được đặt ra một cách khá gay gắt cho nông sản Việt Nam nói chung và nông sản Lâm Đồng nói riêng đó là vấn đề nâng cao c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MINH NGHIỆM
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN RAU CỦA TỈNH LÂM ĐỒNG TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM S
Phản biện 1: Tiến sĩ Nguyễn Bá Ân
Phản biện 2: Tiến sĩ Vũ Đình Ánh
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 09 giờ 00’ ngày18 tháng 4 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện khoa học xã hội
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận như Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương, Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng có nhiều lợi thế về khí hậu, đất đai thuận lợi cho việc phát triển quanh năm các loại rau, hoa Năm 2015, diện tích trồng rau của toàn tỉnh Lâm Đồng vào khoảng 57.481 ha, với tổng sản lượng đạt trên 1,910 triệu tấn, với sản lượng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng luôn được cải thiện Tuy nhiên trong quá trình phát triển ngành rau còn thiếu đồng bộ; hệ thống bảo quản, cơ
sở chế biến còn hạn chế nên làm giảm giá trị của rau sau khi thu hoạch Rau sau thu hoạch không được xử lý, bảo quản đúng cách nên tỷ lệ hư hỏng hàng năm chiếm 15-25%
Phát triển công nghiệp chế biến rau (CNCBR) là một định hướng chiến lược được ưu tiên hàng đầu trong chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp (CN); nâng cao hơn nữa chất lượng hàng rau, một trong những điều kiện khá căn bản mang tính quyết định đó là khâu chế biến, Hơn nữa hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT), một trong những điều kiện được đặt ra một cách khá gay gắt cho nông sản Việt Nam nói chung và nông sản Lâm Đồng nói riêng đó là vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm rau chế biến, chất lượng đủ khả năng để cạnh tranh với chất lượng rau cùng loại của các quốc gia khác không chỉ trên thị trường xuất khẩu (XK) mà ngay
cả thị trường trong nước với bối cảnh hàng ngoại nhập tràn vào Việt Nam Từ thực
tế này, vấn đề nâng cao năng lực chế biến rau đối với tỉnh Lâm Đồng càng trở nên cấp thiết Nhưng cũng từ thách thức đó lại là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành hàng rau đổi mới công nghệ, tích cực tìm kiếm và phát triển được một số thị trường mới như Nhật bản, Hàn Quốc, EU, Mỹ,
Một câu hỏi lớn được đặt ra là tỉnh Lâm Đồng có thế mạnh và lợi thế cạnh tranh về vùng nguyên liệu rau của vùng nhiệt đới, nguồn nhân lực khá dồi dào, thị trường đầu ra của sản phẩm rau chế biến vẫn còn rộng mở, nhưng ngành CNCBR của tỉnh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế cạnh tranh so với một
số nước trong khu vực và trên thế giới có cùng điều kiện
Trong điều kiện cạnh tranh mới của bối cảnh Việt Nam HNKTQT sâu rộng CNCBR phải có những thay đổi mang tính cách mạng về các mặt như đổi mới công nghệ chế biến phù hợp, bảo đảm nguyên liệu rau cho chế biến cũng như thực hiện
có hiệu quả, khâu tiêu thụ sản phẩm cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài đều phải được quan tâm đúng mức Nhằm giải quyết những vấn đề thực tế
nêu trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Phát triển công nghiệp chế biến rau của tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, ở Việt Nam nói chung và tại tỉnh Lâm Đồng nói riêng đã có một
số nghiên cứu liên quan chế biến rau là các công trình đã nghiên cứu và được công
bố, thuộc những đề tài cụ thể khác nhau ở khía cạnh này hay khía cạnh khác của
Trang 4loại chủ đề phát triển ngành CNCBR của nước ta và thế giới Mặt khác, các hội thảo, tọa đàm liên quan đến vấn đề vấn đề chế biến rau mới chỉ dừng lại ở việc phân tích thực trạng tình hình chế biến cụ thể mà đơn vị tổ chức đang quản lý Tuy nhiên việc nghiên cứu phát triển CNCBR trong những bối cảnh mới của nền kinh tế
mở, mức độ cạnh tranh ngày càng quyết liệt, hội nhập kinh tế thế giới và khu vực phát triển thì chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều Hơn nữa việc phát triển CNCBR theo yêu cầu về chất lượng, bền vững cũng chưa được đề cập nhiều Những tư duy về chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng còn chưa được nghiên cứu nhiều
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận đó nhằm phân tích và đánh giá đúng thực trạng phát triển CNCBR ở Lâm Đồng Qua đó tìm ra những yếu kém cũng như những nguyên nhân cả khách quan và chủ quan dẫn đến những mặt còn hạn chế Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra những biện pháp nhằm phát triển ngành CNCBR của tỉnh Lâm Đồng trên cơ sở nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm rau chế biến trong bối cảnh Việt Nam HNKTQT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu ngành CNCBR trong đó tập trung nghiên cứu các nội dung phát triển CNCBR từ bảo đảm nguyên liệu chế biến, đầu tư cơ sở vật chất, tình hình c h ế b i ế n r a u , phát triển thị trường tiêu thụ cũng như những vấn đề liên kết kinh tế nhằm phát triển CNCBR
Phạm vi nghiên cứu trong phát triển CNCBR ở các khía cạnh kinh tế, tổ chức sản suất và kế hoạch phát triển rau trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Thời gian nghiên cứu được nghiên cứu và khảo sát chủ yếu trong giai đoạn 2010-2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Thu thập tài liệu thứ cấp: Đề tài thu thập, phân tích và khai thác thông tin
từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo tài liệu thống kê của ban, ngành, đoàn thể, tổ chức cá nhân hoặc gián tiếp liên quan đến CNCBR ở nước ta nói chung và ở Lâm Đồng nói riêng Đồng thời, đề tài thu thập các tài liệu của các tổ chức và các học giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài trong thời gian qua
Đề tài kết hợp cùng các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn, phương pháp phân tích định tính, đối chiếu kinh nghiệm thực tiễn, các bài học về phát triển ngành CNCBR của các nước có một số điều tương đồng và so sánh với thực trạng của tỉnh, từ đó phân tích, và đề xuất các nhóm giải pháp áp dụng cho Lâm Đồng
Để thu thập số liệu mới luận văn tiến hành điều tra thực địa, trong đợt điều tra thực địa, luận văn sử dụng phương pháp chính là phương pháp phỏng vấn sâu
Trang 53
Giám đốc, nhà quản trị một số doanh nghiệp, các đơn vị quản lý nhà nước thuộc
Sở NN&PTNT, Sở Công Thương, Đây thực chất là phương pháp chuyên gia đã được vận dụng khi nghiên cứu luận văn
Luận văn cũng đã nghiên cứu và vận dụng một số mô hình trong kinh tế,
cụ thể là vận dụng mô hình dự báo cầu thị trường với chỉ tiêu giá trị xuất khẩu (GTXK) rau Phương pháp dự báo theo mô hình phân tích định lượng được lựa chọn, phần mềm Stata được sử dụng nhằm đưa ra những kết quả nhanh chóng và
có hiệu quả Ngoài ra các mô hình chuỗi giá trị cũng được vận dụng nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
-Hệ thống hoá những lý luận chung về phát triển CNCBR trong điều kiện hội nhập quốc tế, trong đó sử dụng mô hình kim cương của M Porter được vận dụng để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển CNCBR đưa ra những
cơ sở khoa học có tính thuyết phục cao;
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng phát triển CNCBR của tỉnh Lâm Đồng và các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển CNCBR, đặc biệt là những điểm yếu và thách thức, chỉ ra những nguyên nhân làm cơ sở thực tiễn cho các biện pháp phát triển ngành CN này nhanh và bền vững trước những yêu cầu hội nhập quốc tế
- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển CNCBR trong bối cảnh hội nhập sâu rộng Chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị đã được vận dụng nghiên cứu như những công cụ để xác lập những căn cứ cho các biện pháp phát triển CNCBR, đặc biệt là biện pháp liên kết sản xuất ở trong nước và với nước ngoài trong ngành hàng rau
7 Cơ cấu của luận văn:
Ngoài các phẩn mở đầu, kết luận, phụ lục,… luận văn bao gồm 3 chương chính như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về CNCBR
Chương 2 Thực trạng phát triển CNCBR của tỉnh Lâm Đồng trong những
năm qua Chương 3 Quan điểm và giải pháp phát triển CNCBR của tỉnh Lâm Đồng
trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN RAU 1.1 Cơ sở lý luận về công nghiệp chế biến rau
1.1.1 Các khái niệm
Chế biến thực phẩm (food processing) là sự chuyển đổi các nguyên liệu tươi sống bằng các phương pháp lý tính hoặc hóa tính thành thực phẩm hoặc hình thức thực phẩm khác Chế biến thực phẩm thường kết hợp các thành phần nguyên liệu tươi sống để sản xuất sản phẩm thực phẩm mang tính thị trường, có thể dễ dàng cung cấp và phục vụ người tiêu dùng Theo tổ chức Nông lương thế giới (FAO), chế biến thực phẩm thường bao gồm các hoạt động như: Đóng hộp (canning); sấy khô/tách nước (drying/dehydration); đông lạnh (freezing); ngâm (pickling), ép nước (syruping), tinh thể hóa (crystallizing – đối với các nguyên liệu như mía đường), và bảo quản bằng hóa chất (chemical preservation);
Mục đích của các hoạt động trên là: Tăng thời gian lưu trữ thực phẩm; phát triển các chế độ ăn mới đối với thực phẩm như: mùi, vị, màu sắc, hình dáng, kết cấu (hướng đến chất lượng khi ăn vào (eating quality), cảm giác khi ăn vào (sensory characteristics) và cảm quan khi ăn vào (organoleptic quality), thậm chí là thay đổi dạng của thực phẩm để có thể sử dụng với mục đích khác (ví dụ: xay hạt gạo thành bột gạo); cung cấp dưỡng chất (nutrients) cần thiết cho sức khỏe; giúp doanh nghiệp có thể bán sản phẩm với giá thành cao hơn
Công nghiệp chế biến rau (CNCBR) là một nhánh trong công nghiệp chế biến thực phẩm – food processing, và do đó cũng mang đầy đủ các đặc điểm trên Tuy nhiên, đặc điểm tự nhiên của cây rau là mau hỏng (perishable), do đó, công nghiệp chế biến rau thường tập trung vào các mục đích là tăng thời gian lưu trữ thực phẩm và cung cấp dưỡng chất (nutrients) cần thiết cho sức khỏe
Khái niệm CNCBR: là ngành công nghiệp sử dụng các thiết bị máy móc,
người lao động ở quy mô công nghiệp để bảo quản rau tươi và chế biến rau (bao gồm cả quá trình chuẩn bị nguyên liệu nhưng không bao gồm quá trình trồng rau) thành các dạng đông lạnh, sấy khô, tạo sản phẩm đóng gói/hộp/bao bì nhằm làm tăng hạn sử dụng và duy trì giá trị dinh dưỡng của rau
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của ngành công nghiệp chế biến rau
CNCBR là một trong những phân ngành hẹp của ngành công nghiệp (CN) chế biến nông sản Theo cách phân loại của Tổng cục Thống kê trên cơ sở phân theo danh mục hệ thống ngành kinh tế Việt Nam tại Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007, Chế biến và bảo quản rau sản bao gồm 02 phân ngành: Phân ngành Chế biến và đóng hộp rau; phân ngành Chế biến và bảo quản rau khác
Như vậy cách phân loại chủ yếu đang được sử dụng trong quản lý và thống
kê kinh tế trên, đối tượng “CNCBR” được sử dụng chính thống trong luận văn này
Trang 75
So với ngành CN chế biến nói chung và CN chế biến nông sản nói riêng, CNCBR
có một số đặc điểm sau:
- Nguyên liệu chế biến
- Công nghệ và quy trình công nghệ chế biến
mỳ ăn liền, Sản phẩm rau chế biến là nhóm mặt hàng rất đa dạng và phong phú,
có thể phân thành một số loại chủ yếu sau: sản phẩm sơ chế, đông lạnh, đóng hộp, sấy khô, muối, Sản phẩm rau chế biến thuộc nhóm mặt hàng thực phẩm nên thời gian bảo quản và sử dụng có thời hạn nhất định Những sản phẩm rau chế biến góp phần thoả mãn nhu cầu vật chất Tuy nhiên có thể xếp những mặt hàng này vào nhóm sản phẩm tiêu dùng thiết yếu như một số lương thực, thực phẩm khác, chẳng hạn như gạo, thịt, cá tươi ăn hàng ngày Đầu tư vào sản xuất sản phẩm rau chế biến có tính rủi ro cao, lợi nhuận thấp Đặc điểm này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô cần tính đến trong sự khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực CNCBR
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến rau
Phát triển công nghiệp chế biến rau chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau Mức độ ảnh hưởng của chúng có thể trực tiếp và cũng có thể gián tiếp Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển công nghiệp chế biến rau, chúng
ta vận dụng mô hình kim cương của M Porter Theo M Porter các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển, khả năng cạnh tranh bao gồm: Các nhân tố đầu vào; nhân
tố về cầu; nhân tố về các ngành liên quan và các ngành hỗ trợ; chiến lược, cấu trúc và đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp; sự thay đổi tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ; vai trò của Nhà nước đi sâu phân tích một số nội dung chủ yếu của từng nhân
tố ảnh hưởng tới sự phát triển công nghiệp chế biến rau tạo lợi thế cạnh tranh như sau:
- Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh
- Nhân tố về các yếu tố đầu vào
- Nhân tố về cầu
- Các ngành liên quan và hỗ trợ
- Yếu tố sự thay đổi
- Nhân tố thuộc về vai trò của Nhà nước
Trang 81.2 Kinh nghiệm thực tiễn, các bài học về phát triển ngành công nghiệp chế biến rau
Trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á, nhiều nước cũng có những điều kiện tự nhiên tương tự như Lâm Đồng (Đà Lạt và các vùng phụ cận), điển hình như cao nguyên Cameron ở Malaysia, Thái lan Nhìn ra phạm vi thế giới trong lĩnh vực này chúng ta cũng thấy nhiều quốc gia và khu vực đã có những thành công lớn trong sự phát triển ngành công nghiệp chế biến rau, đó là khu vực các nước phát triển ở Châu Âu và ở Châu Mỹ đặc biệt là Mỹ Cũng cần phải nhấn mạnh rằng Mỹ vừa là nước xuất khẩu và cũng vừa là nước nhập khẩu một khối lượng lớn các sản phẩm rau chế biến Bài học kinh nghiệm về sự thành công của một số nước nêu trên trong phát triển công nghiệp chế biến rau và các ngành có liên quan được tổng kết lại như sau:
Kinh nghiệm của Malaysia, chiến lược “xác định rõ thị trường tập trung và
sản phẩm chủ lực” là yếu tố quyết định thành công điển hình như cao nguyên Cameron ở Malaysia
Kinh nghiệm của Thái Lan, bài học từ Thái Lan là nắm bắt cơ hôi kịp thời,
thu hẹp trọng tâm thị trường và sản phẩm và tận dụng liên doanh hợp lập
Kinh nghiệm khuyến khích phát triển CNCBR để XK: kinh nghiệm khuyến
khích phát triển công nghiệp chế biến rau để xuất khẩu của Canada, Hàn Quốc, Trung Quốc
Kinh nghiệm của Trung Quốc, tổ chức và phát triển liên kết liên doanh
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN RAU CỦA TỈNH LÂM ĐỒNG TRONG NHỮNG NĂM QUA 2.1 Các chính sách tác động đến phát triển công nghiệp chế biến rau của Lâm Đồng
Một loạt chính sách đã được Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Những chính sách này đã tác động trực tiếp đến phát triển CNCBR theo hướng hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, Cụ thể, tác động đến quy hoạch; tác động đến chất lượng nguồn nhân lực; tác động đến tiếp cận tín dụng; tác động đến doanh nghiệp quan tâm đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ mới để nâng cao hiệu quả hoạt động; tác động đến thu hút nguồn vốn trong dân, của các DN, các thành phần kinh tế, của nước ngoài đầu tư vào ngành CNCBR; từ đó khuyến khích các doanh nghiêp tăng quy mô vốn kinh doanh và tăng hiệu quả đầu tư Theo các chính sách này, các dự
án CNCBR đầu tư tại tỉnh Lâm Đồng nếu đáp ứng các tiêu chí cụ thể sẽ được Nhà nước hỗ trợ vốn, đầu tư cơ sở hạ tầng, tín dụng, đất đai, khoa học công nghệ, phát triển thương hiệu và thị trường,…
Trang 97
2.1.1 Cấp Trung ương ban hành
Quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 phê duyệt tại Quyết định số 1012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 03 tháng 7 năm 2015;
Quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định 575/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 05 tháng 5 năm 2015, Lâm Đồng được quy hoạch cả khu và vùng nông nghiệp công nghệ cao;
Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp đến 2020 và tầm nhìn đến
2030 phê duyệt tại Quyết định số 880/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 09 tháng 6 năm 2014;
Đề án phát triển các thị trường khu vực giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn 2030 tại Quyết định số 1467/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24 tháng
8 năm 2015;
Nghị định 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu
tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Quyết định số 1895/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020; Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg
về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn;
Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về khuyến nông; Thông tư liên tịch số: 183/2010/TTLT-BTC-BNN ngày 15/11/2010 của Liên bộ; Bộ Tài chính - Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cấp đối với hoạt động khuyến nông;
Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ về khuyến công; Thông tư số 46/2012/TT-BCT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Công Thương Quy định chi tiết một số nội dung thực hiện Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ về khuyến công; Thông
tư Liên tịch số 26/2014/TTLT-BTC-BCT ngày 18/02/2014 của Bộ Tài chính-Bộ Công Thương hướng dẫn trình tự lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công quốc gia và kinh phí khuyến công địa phương;
2.1.2 Tỉnh Lâm Đồng ban hành
Quy hoạch phát triển ngành CN chế biến nông sản tỉnh Lâm Đồng đến năm
2020 phê duyệt tại Quyết định số 774/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng ngày
30 tháng 3 năm 2015;
Quy hoạch phát triển NN, nông thôn tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020 phê duyệt tại Quyết định số 2897/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng ngày 31 tháng
12 năm 2014
Trang 10Quy chế quản lý hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tại Quyết định số 52/2013/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng ngày 30 tháng 10 năm 2013; Quy định mức hỗ trợ cho các hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tại Quyết định số 53/2016/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng ngày
10 tháng 10 năm 2016;
Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tại Quyết định số 2777/QĐ-UBND ngày 24 tháng 12 năm 2015;
Kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững và hiện đại giai đoạn 2016-2020 và định hướng 2025 tại Quyết định số 756/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng ngày 19 tháng 4 năm 2017;
Kế hoạch hỗ trợ phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực và có lợi thế cạnh tranh của tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020 tại Quyết định số 1120/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng ngày 11 tháng 6 năm 2013
2.2 Thực trạng sản xuất và chế biến rau ở Lâm Đồng
2.2.1 Thực trạng về sản xuất rau nguyên liệu
Diện tích cây rau
Sản lượng rau: Sản lượng rau; chủng loại rau; mùa vụ.
Đặc điểm của một số loại rau trồng chủ yếu tại tỉnh Lâm Đồng
2.2.2 Thực trạng khai thác nhãn hiệu chứng nhận rau Đà Lạt ở Lâm Đồng
Ngày 31/7/2008 UBND thành phố Đà Lạt phối hợp với Sở Khoa học công nghệ Lâm Đồng đã hoàn chỉnh quy chế và tham mưu cho UBND tỉnh Lâm Đồng
ký ban hành quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Rau Đà Lạt và nộp đơn đăng ký Nhãn hiệu chứng nhận Rau Đà Lạt tại cục sở hữu trí tuệ Vào ngày 23/9/2008 Cục sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 135739, cấp theo Quyết định số 22320/QĐ-SHTT cho sản phẩm rau Đà Lạt và vùng phụ cận
Qua hơn 5 năm tiến hành việc chứng nhận đối với sản phẩm rau trên địa bàn thành phố Đà Lạt và các vùng phụ cận (bao gồm huyện Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương), đến nay thành phố Đà Lạt đã cấp quyền sử dụng cho 37 đơn vị, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh rau mang thương hiệu Đà Lạt Tuy nhiên, số lượng trên vẫn còn khá khiêm tốn so với diện tích, quy mô, sản lượng, rau tại các
cơ sở sản xuất, kinh doanh rau trên địa bàn được chứng nhận
Việc tạo dựng và phát triển thương hiệu rau Đà Lạt góp phần nâng cao giá trị thương phẩm của sản phẩm, nâng cao uy tín của người sản xuất, tạo ra hiệu quả kinh tế và tác động đáng kể đến các doanh nhiệp sử dụng nhãn hiệu chứng nhận, cụ thể như sau: Sản lượng bình quân của các doanh nghiệp sử dụng nhãn hiệu chứng nhận rau Đà Lạt tăng khoảng 25 – 30% so với khi chưa sử dụng nhãn hiệu chứng nhận; sản lượng sản phẩm bình quân của các doanh nghiệp đã được cấp quyền sử
Trang 119
dụng nhãn hiệu chứng nhận như: HTX Xuân Hương, HTX Anh Đào, Công ty ORGANIK, Công ty Nông sản Lâm Đồng, Công ty DALATGAP… thâm nhập vào các siêu thị, nhà hàng, khu công nghiệp đạt khoảng 100tấn/ngày, tăng 30% so với khi chưa sử dụng nhãn hiệu chứng nhận; giá trị thương phẩm tăng 15% so với khi chưa sử dụng nhãn hiệu chứng nhận
2.2.3 Thực trạng CNCBR ở Lâm Đồng
Tỉnh Lâm Đồng có điều kiện tự nhiên thích hợp, cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và kinh nghiệm canh tác của nông dân đạt trình độ cao so với mặt bằng cả nước Để có thể phát triển thị trường thì việc áp dụng các công nghệ xử lý, bảo quản và chế biến các loại rau là rất cần thiết nhằm kéo dài thời gian bảo quản có thể phân phối đi thị trường xa Đồng thời tận dụng các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu tươi
để đưa vào chế biến nhằm tạo ra các sản phẩm chế biến giúp cho người dân ổn định đầu ra Tổng năng lực cấp đông tăng dần trong thời gian qua; năm 2004 khoảng 21.000 tấn/năm, năm 2010 đạt khoảng 40.000 tấn/năm tuy có tăng lên nhưng không bắt kịp với việc mở rộng diện tích canh tác rau trong tỉnh
Trong những năm gần đây tỉnh Lâm Đồng đã chú trọng để phát triển ngành công nghệ sơ chế, xử lý, đóng gói và bảo quản rau tươi nhằm đáp ứng được nhu cầu thực tế Rất nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra các mô hình, công nghệ sản xuất…đã được áp dụng vào thực tế bước đầu đưa lại kết quả khả quan Các công nghệ đã được áp dụng vào thực tế đều có mục đích là nhằm giảm sự hao hụt sau thu hoạch của rau, kéo dài thời gian bảo quản Khi rau được đưa đến tay người tiêu dùng là những sản phẩm có chất lượng tốt nhất Tuy nhiên, những mô hình, công nghệ này đều là các thiết bị thủ công hoặc bán thủ công đưa ra áp dụng tràn lan chưa mang lại được hiệu quả như mong muốn
Qua khảo sát tại các vùng sản xuất rau tập trung tại thành phố Đà Lạt, huyện Đơn Dương và huyện Đức Trọng thì rau sau khi thu hoạch được đóng lên các sọt rồi đưa lên xe tải phân phối tới các thị trường tiêu thụ Sản phẩm sau khi thu hoạch không được xử lý, đóng gói hay chế biến thì có tỷ lệ hư hỏng rất cao khoảng từ 15-25% Hiện nay xử lý, bảo quản và chế biến rau ở tỉnh Lâm Đồng còn rất sơ sài, thủ công manh mún và tự phát, mỗi nhà vườn, mỗi cơ sở thu mua có cách làm riêng không thống nhất, do đó chất lượng rau không đồng đều, thời gian bảo quản ngắn, sản phẩm chế biến chưa nhiều, mẫu mã thì xấu, do vậy việc phân phối các sản phẩm rau đi xa còn khó khăn Bởi vì người dân chưa được phổ biến hay tiếp cận các công nghệ xử lý, bảo quản và chế biến các sản phẩm từ rau
Toàn tỉnh hiện có 24 doanh nghiệp chế biến rau công nghiệp và các cơ sở sơ chế, bảo quản lạnh, tổng công suất chế biến trên 300 nghìn tấn nguyên liệu, mới chỉ
đáp ứng được 18% sản lượng rau của tỉnh Cơ sở chế biến rau, củ, quả được cấp
giấy chứng nhận ISO:22000:2005, HACCP với sản lượng là 13.200 tấn/năm, chỉ chiếm 4,4% sản lượng được chế biến Trong đó, có 06 nhà máy sản xuất rau công nghiệp (04 công ty chế biến rau củ cấp đông xuất khẩu, 02 công ty chế biến rau
Trang 12xuất khẩu), 01 công ty xuất khẩu chanh dây đã qua chế biến, 12 công ty xuất khẩu rau tươi không qua chế biến và một số doanh nghiệp công suất nhỏ, chủ yếu là sơ chế và bảo quản lạnh để cung ứng cho xuất khẩu với sản phẩm chính là cải thảo, cải bắp, bó xôi Các công ty sản xuất rau có trụ sở tập trung chủ yếu tại thành phố Đà Lạt và đặt nhà máy tại Đà Lạt và khu vực lân cận (như: Công ty Nông sản Thực phẩm Lâm Đồng, Công ty TNHH Đồng Vàng, Công ty TNHH Kim Bằng, Công ty TNHH Bio-Organics, Công ty Rau Nhà Xanh, ) và một số doanh nghiệp tư nhân hoạt động trên lĩnh vực xuất khẩu rau cải Đà Lạt sang Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc như DNTN Khánh Cát, Công ty TNHH Mai Nguyên, Những đơn vị này đã
có chú trọng đầu tư đổi mới các thiết bị chế biến rau nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới
Tổng công suất chế biến đạt khoảng 162 ngàn tấn nguyên liệu, tổng sản lượng rau nguyên liệu đã đưa vào chế biến khoảng 120 ngàn tấn, chiếm khoảng hơn 30% tổng sản lượng rau nguyên liệu, chiếm khoảng 75% công suất thiết kế Sản lượng rau đã chế biến được khoảng 30,5 ngàn tấn thành phẩm, trong đó rau sấy khô chỉ chiếm gần 500 tấn, chủ yếu sản xuất ở các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, còn lại 30 ngàn tấn rau cấp đông phục vụ cả xuất khẩu và tiêu thụ trong và ngoại tỉnh
Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, sản phẩm rau tỉnh Lâm Đồng chủ yếu là bán tươi sau khi sơ chế sơ bộ (loại bỏ phần thừa không sử dụng được) và tiêu thụ dưới dạng rau tươi Đây là đặc trưng truyền thống của sản phẩm rau Đà Lạt nói riêng và tỉnh Lâm Đồng nói chung trên thị trường nội địa Sản phẩm sau thu hoạch được làm sạch tạp chất, bụi bẩn, vận chuyển đến các kho tập kết trung chuyển, chợ đầu mối, sau đó được phân phối đến các siêu thị, chợ bán lẻ, thôn quê,… Các loại rau ăn củ và một vài loại rau ăn quả có thời gian lưu trữ trong một vài tuần (tùy thuộc đặc tính của từng loại củ, quả), hầu hết các loại rau ăn lá chỉ lưu trữ trong thời gian ngắn, sản phẩm nhanh chóng bị giảm chất lượng hoặc hư hỏng do không được bảo quản đúng yêu cầu Thị trường không ổn định cả về giá cả lẫn khối lượng
do sự cạnh tranh của các loại rau địa phương, vì lý do đó hiện tượng rau Đà Lạt được mùa thì mất giá và có khi được giá thì không có sản phẩm để bán
Để phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ ở các địa bàn xa như thành phố HCM và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sản phẩm rau Lâm Đồng được chế biến dưới các hình thức sau:
- Rau cấp đông: bao gồm nhiều sản phẩm khác nhau được chế biến ở các doanh nghiệp có đủ thiết bị, dây chuyền công nghệ như Công ty Cung ứng nông nghiệp, Công ty rau nhà xanh, Công ty Cổ phần Nông sản thực phẩm Lâm Đồng Các loại sản phẩm cấp đông khá phong phú đa dạnh như: bó xôi, đậu nành lông, khoai các loại, cà rốt, khoai tây, suplơ, bí đỏ,… sản phẩm chủ yếu xuất khẩu
Trang 1311
- Rau đông lạnh: chủ yếu là bắp cải, xà lách, cải thảo Sản phẩm chủ yếu được xuất khẩu đến các nước trong khu vực như Nhật Bản, một lượng rất nhỏ được chuyển đến một số nước thuộc Châu Âu
Theo thống kê cho thấy các doanh nghiệp, cơ sở chế biến rau trong những năm gần đây đã được thành lập, đi vào hoạt động, tham gia chế biến nhiều sản phẩm khác nhau Tuy nhiên tỷ lệ các loại rau được chế biến thấp Kết quả tổng hợp sản lượng chế biến được của các doanh nghiệp, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng như sau:
Tỷ lệ chế biến rau tại TP Đà Lạt và các huyện phụ cận (so sánh với sản lượng rau tươi thu hoạch)
- Pó xôi 72% - Đậu nành lông: 91%
- Rau gia vị: 67% - Cải cái loại: 36%
- Củ các loại: 08% - Trái dâu tằm: 84%
- Loại khác: 12,5%
Thông thường, chế biến rau cấp đông, rau sấy khô đòi hỏi cao về kỹ thuật công nghệ và vệ sinh an toàn thực phẩm Hiện, một số doanh nghiệp đã đầu tư và phát triển công nghệ BLOC (sản phẩm dạng đóng gói) và công nghệ IQF (sản phẩm dạng rời) Trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 8 nhà máy chế biến rau công nghiệp
và một số đơn vị chế biến nhỏ, sơ chế và bảo quản lạnh
2.2.4 Công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Công tác kiểm tra an toàn thực phẩm của tỉnh Lâm Đồng giao cho sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Bảo vệ thực vật cấp huyện phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ Tại các xã chưa có cán bộ chuyên trách về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm
Công tác quản lý chất lượng thuốc bảo vệ thực vật, giống rau, phân bón được ngành nông nghiệp thường xuyên thực hiện
Sở Nông nghiệp & PTNT Lâm Đồng đã thực hiện một số nội dung nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực sản xuất rau để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao đáp ứng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Tuy nhiên trong thực tế công tác quản lý về sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau
an toàn trên địa tỉnh Lâm Đồng còn gặp nhiều khó khăn: Lực lượng cán bộ quản lý còn mỏng, địa bàn rộng, trang thiết bị kiểm tra, kiểm nghiệm còn nhiều bất cập, chế tài xử phạt chưa đủ mạnh đối với các trường hợp vi phạm, thanh tra chi cục chưa
đủ điều kiện để ngăn chặn hàng nhập lậu thuốc bảo vệ thực vật, phân bón vào địa bàn tỉnh
2.2.5 Tình hình tiêu thụ rau sơ chế và rau chế biến của tỉnh Lâm Đồng Tiêu thụ thị trường nội địa
Sản lượng rau của Lâm Đồng chủ yếu tiêu thụ ở thị trường nội địa như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, các tỉnh phía Nam và Duyên hải Miền Trung Trong các năm gần đây thị trường được mở rộng, một số sản phẩm rau cao cấp đã