Là nước thứ 2 trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu và các nguy cơ cao do ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH như: ngập lụt, nhiễm mặn, xói mòn, rửa trôi, hạn hạn và thiên tai
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIẾM
HÀ NỘI - 2016
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIẾM
Địa điểm thực tập : XÃ XUÂN HẢI, HUYỆN NGHI XUÂN,
TỈNH HÀ TĨNH
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa hề được sử dụng cho một học vị nào
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận tốt nghiệp này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã được chỉ rõ nguồn
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Người cam đoan
Trần Nam Hải
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc Học viện, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Môi trường đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại Học viện
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đoàn Văn
Điếm đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cho nhiều ý kiến trong quá trình thực
hiện đề tài và hoàn thành khóa luận này Xin cảm ơn trạm Khí tượng Hà Tĩnh, cảm ơn các anh chị trong ban Địa chính – Nông nghiệp, các cán bộ Ủy ban nhân dân xã Xuân Hải, cán bộ và cộng đồng dân cư xã về sự hợp tác nhiệt tình đồng thời đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài tại địa phương trong thời gian qua Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên khích lệ mình trong suốt thời gian học tập, rèn luyện tại trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về mặt thời gian và giới hạn năng lực của bản thân mà đề tài của mình không tránh khỏi được những thiếu sót Vì vậy, rất mong có được những góp ý từ thầy cô giáo, bạn đọc để khóa luận này được hoàn thiện và có ý nghĩa hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 Tháng 5 Năm 2016
Sinh viên thực hiện
Trần Nam Hải
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái quát chung về biến đổi khí hậu 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu 5
1.1.3 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu 6
1.2 Tình hình biến đổi khí hậu hiện nay 7
1.2.1 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam 14
1.2.3 Kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam 20
1.3 Tác động của biến đổi khí hậu với Việt Nam 23
1.4 Thích ứng với biến đổi khí hậu 25
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 27
2.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp 28
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 34
3.2 Đánh giá biểu hiện biến đổi khí hậu tại địa phương 37
3.2.1 Xu hướng biến đổi nhiệt độ 37
3.2.2.Xu hướng biến đổi lượng mưa 38
3.2.3.Xu hướng biến đổi của bão 39
3.3 Nhận thức của người dân về những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp 40
3.3.1 Lịch sử thiên tai ở xã Xuân Hải 40
3.3.2 Nhận thức người dân về biến đổi khí hậu ở địa phương 42
3.3.3 Sơ đồ vùng bị ảnh hưởng của thiên tai trong xã Xuân Hải 48
3.3.4 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của BĐKH đến SXNN 49
3.4 Người dân thích ứng với BĐKH của địa phương 52
3.4.1 Năng lực thích ứng của địa phương 52
3.4.2 Nhận thức người dân về biện pháp thích ứng với BĐKH 55
3.4 Những thuận lợi và khó khăn mà người dân gặp phải khi thực hiện các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu 59
3.5 Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức và khả năng thích ứng của người dân đối với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 69
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
ADB : Ngân hàng phát triển Châu Á
BĐKH : Biến đổi khí hậu
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GIS : Hệ thống thông tin địa lý
IMHEN : Viện Khí tượng, Thủy văn và Môi trường
IPCC : Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
ISPONRE : Viện chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường NASA : Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ
UBND : Ủy ban nhân dân
UNDP : Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
UNFCCC : Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu
WB : Ngân hàng thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các khoảng nhiệt độ tăng dự kiến cho năm 2080 13
Bảng 1.2 Các khoảng mực nước biển dâng dự kiến cho năm 2080 14
Bảng 1.3 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở các vùng khí hậu của Việt Nam 17
Bảng 1.4 Diện tích có nguy cơ bị ngập theo mực nước biển 19
Bảng 1.5 Kịch bản mức tăng nhiệt độ TB năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 21
Bảng 1.6 Kịch bản mực nước biển dâng ở Việt Nam với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 22
Bảng 1.7 Kịch bản mức tăng lượng mưa TB năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 23
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất xã Xuân Hải 30
Bảng 3.2 lịch sử thôn xóm và thiên tai theo dòng thời gian 41
Bảng 3.3 Các vùng đất thường bị thiên tai tại xã Xuân Hải 49
Bảng 3.4 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của BĐKH đến SXNN trên địa bàn xã (% người phỏng vấn; n=60) 50
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp 51
Bảng 3.6 Nhận thức người dân về lực lượng ứng phó với BĐKH 55
Bảng 3.7 Nhận thức người dân về biện pháp thích ứng với BĐKH 57
Bảng 3.8 Những khó khăn mà người nông dân gặp phải khi thực hiện các biện pháp thích ứng (câu hỏi một lựa chọn, n=60) 60
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Nhiệt độ trung bình bề mặt Trái Đất từ 1860 - 2000 8
Hình 3.1 Vị trí địa lý xã Xuân Hải (Nguồn: Google map) 29
Hình 3.2 Nhiệt độ và lượng mưa trung bình các tháng trong năm 33
Hình 3.3 Xu hướng thay đổi nhiệt độ giai đoạn 1961-2015 37
Hình 3.4 Sự biến động tổng lượng mưa trong giai đoạn năm 1961-2015 38 Hình 3.5 Tần suất bão đổ bộ vào vùng bờ biển Nghệ An –Hà Tĩnh- Quảng Bình giai đoạn 1961-2015 40
Hình 3.6 Nhận thức người dân về sự ấm lên của khí hậu (n=60) 43
Hình 3.7 Nhận thức người dân về xu hướng thay đổi tần suất xuất hiện nhiệt độ bất thường trong năm (n=60) 43
Hình 3.8 Nhận thức người dân về xu hướng thay đổi thời gian xuất hiện nhiệt độ bất thường trong năm (n=60) 44
Hình 3.9 Nhận thức người dân về sự thay đổi mùa mưa (n=60) 45
Hình 3.10 Nhận thức người dân về sự thay đổi lượng mưa và số ngày mưa to bất thường trong năm (n=60) 45
Hình 3.11 Nhận thức người dân về sự thay đổi mưa bão (n=60) 46
Hình 3.12 Nhận thức người dân về sự thay đổi cường độ bão (n=45) 47
Hình 3.13 Sơ đồ các vùng bị thiên tai tại xã Xuân Hải 48
Hình 3.14 Thảo luận biện pháp thích ứng của người dân 56
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khí hậu thời tiết là trạng thái của khí quyển, đóng vai trò quan trọng trong đời sống của loài người, sinh vật trên khắp hành tinh Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng đến tài nguyên nước, năng lượng, nông nghiệp, an ninh lương thực, sức khỏe con người,… ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Chính vì vậy, BĐKH không còn đơn thuần là vấn đề môi trường nữa mà là vấn đề song hành với sự phát triển, và tác động toàn diện đến sự phát triển của cả thế giới trong tương lai
Việt Nam, một đất nước hay bị thiên tai và đặc biệt dễ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, hiện đang đối mặt với những thách thức mới trên chặng đường phát triển tiếp theo, là quốc gia có đường bờ biển dài trên 3200km với 75% dân số sống gần biển Là nước thứ 2 trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng
nề của biến đổi khí hậu và các nguy cơ cao do ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH như: ngập lụt, nhiễm mặn, xói mòn, rửa trôi, hạn hạn và thiên tai,… Tất cả những hiện tượng cực đoan này đều ẩn chứa những mối đe dọa to lớn đối với đời sống hộ nông dân đặc biệt là sản xuất nông nghiệp – nơi đa số nông dân nghèo và nguồn sống chính là dựa vào sản xuất nông nghiệp Do vậy, đánh giá tác động kết hợp lồng ghép và đề xuất các giải pháp triển khai nghiên cứu
về BĐKH trong Nông nghiệp đối với chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình và kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn các địa phương
là rất quan trọng nhằm hỗ trợ ngành nông nghiệp và tăng cường khả năng đối phó, thích ứng với BĐKH
Mặc dù Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo trong hai thập niên qua, song thành tựu đó đang bị đe dọa trong những năm gần đây do BĐKH và có nguy cơ bị đảo ngược nếu kịch bản xấu nhất xảy ra Theo tính toán, nếu BĐKH không giảm
Trang 11thiểu thì đến cuối thế kỷ 21 này Việt Nam sẽ mất đi ít nhất 12,2% diện tích đất, hiện đang là nơi cư trú của 23% dân số và thậm chí là mất đi một con số lớn hơn diện tích màu mỡ bao gồm một nửa khu vực châu thổ thấp trũng, cũng chính là một trong những vựa lúa quan trọng nhất của thế giới do lũ lụt
và xâm thực mặn
Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là rất nghiêm trọng và là nguy
cơ hiện hữu ảnh hưởng đến công cuộc xóa đói giảm nghèo, cản trở việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của đất nước Nước ta phần lớn dân cư sinh sống ở nông thôn, vùng miền núi, vùng ven biển và nguồn sinh kế của họ đặc biệt là hộ nghèo chủ yếu là từ nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào khí hậu và điều kiện tự nhiên Biến đổi khí hậu đặt ra cho họ những thách thức lớn hơn trong việc duy trì sinh kế bền vững Chính vì vậy nơi đây rất dễ bị tổn thương
do tác động của BĐKH Do đó, ngoài việc ngăn chặn, giảm thiểu chúng ta cần học cách chủ động thích ứng với nó và chính người dân là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp Vì vậy thích ứng của người dân đối với biến đổi khí hậu về các mảng quan trọng hơn vấn là lĩnh vực sản xuất Nông nghiệp là việc làm cần thiết nhằm giảm thiểu hậu quả mà BĐKH gây ra
Xã Xuân Hải nằm phía Đông Nam huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, với đặc thù là xã nông nghiệp miền biển, nơi đây cách trung tâm huyện khoảng 3km theo trục đường tuyến trục đường huyện, đây là miền đất có lịch sử phát triển lâu đời gắn liền với nông nghiệp lúa nước Phía Nam có dòng sông Lam, phía Đông giáp biển Đông gắn liền với dải phi lao chắn gió Xuân Hải có tổng diện tích nông nghiệp là 1210,74 ha trong đó diện tích cấy lúa là 136,12ha: diện tích trồng cây ăn quả và các cây dược liệu là 365ha và diện tích đất lâm nghiệp là 550ha Xuân Hải là một xã đặc thù không có công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chỉ phát triển nhỏ lẻ dừng lại ở mức sửa chữa nhỏ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại địa phương Về dịch vụ phát triển mạnh chủ yếu là các hàng quán buôn bán nhỏ lẻ, buôn bán các mặt hàng nhỏ lẻ phục vụ nhu
Trang 12yếu phẩm cho các hộ dân trong địa phương Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ mới chiếm khoảng 12% còn lại 78% là sản xuất nông nghiệp Những năm gần đây tỷ trọng công nghiệp có giảm do chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, tuy vậy thì nông nghiệp vẫn là ngành chủ chốt của xã Hàng năm hoạt động sản xuất nông nghiệp của xã chịu nhiều rủi ro do thời tiết thay đổi thất thường, làm thay đổi năng suất, chất lượng sản phẩm và thu nhập của người dân
Xuất phát từ thực tế trên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá
nhận thức của người dân về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và những giải pháp thích ứng trong sản xuất nông nghiệp tại xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá tác động và mức độ ảnh hưởng do biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất nông nghiệp tại xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
- Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức, năng lực thích ứng đối với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp tại xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh
Hà Tĩnh
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát chung về biến đổi khí hậu
1.1.1 Các khái niệm
Thời tiết và khí hậu
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008, tr.6 : “Thời tiết là trạng thái
tức thời của khí quyển ở một địa điểm cụ thể, được đặc trưng qua các đại lượng đo được, như nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa,… hoặc các hiện tượng quan trắc được, như sương mù, dông, mưa, nắng,…”
Khí hậu là sự tổng hợp của thời tiết, được đặc trưng bởi các giá trị trung bình thống kê và các cực trị đo được hoặc quan trắc được của các yếu tố và hiện tượng thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài, thường là hàng chục năm
Nếu như thời tiết thể hiện sự thay đổi hằng ngày về các yếu tố như nhiệt
độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa… và có tính chất thất thường thì khí hậu thể hiện sự thay đổi lâu dài về các yếu tố đó và thường có tính chất ổn định
Khí hậu cực đoan
Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (The Intergoverment Panel on Climate Change – IPCC, 2007) định nghĩa “hiện tượng thời tiết cực đoan” và
“hiện tượng khí hậu cực đoan” như sau:
Hiện tượng thời tiết cực đoan: là hiện tượng hiếm ở một nơi cụ thể khi xem xét phân bố thống kê của nó Hiếm có thể hiểu là các hiện tượng thời tiết cực đoan thông thường có tần suất xuất hiện nhỏ hơn 10% Theo định nghĩa này, những đặc trưng của thời tiết cực đoan có thế thay đổi tùy từng khu vực
mà đặc trưng cho khu vực đó, nó phụ thuộc vào các yếu tố địa lý tự nhiên, bức xạ, địa hình…
Hiện tượng khí hậu cực đoan: là trung bình của số các hiện tượng thời tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhất định Hiện tượng khí hậu cực
Trang 14đoan có thể xác định từ các yếu tố khí hậu Nói cách khác, hiện tượng khí hậu cực đoan phần lớn không được quan trắc trực tiếp mà người ta căn cứ vào số liệu quan trắc các yếu tố khí hậu để xác định hoặc quy định một hiện tượng nào đó có xuất hiện hay không
Biến đổi khí hậu
Theo Điều 1, điểm 2 của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến
đổi khí hậu (UNFCCC) năm 1992, BĐKH là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được (United Nations, 1992)
Biến đổi khí hậu: Theo IPCC(2007), biến đổi khí hậu(BĐKH) là sự biến
đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian
đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc lâu hơn
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008, tr.6) định nghĩa BĐKH “là sự
biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn”
Nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng thời vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con
người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng
và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)
1.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu
Các biểu hiện của BĐKH :
Sự nóng lên của khí quyển và Trái Đất nói chung
Trang 15 Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và sinh vật trên Trái Đất
Sự dâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan dẫn tới sự ngập úng các vùng đất thấp và các đảo nhỏ trên biển
Sự di chuyển các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái Đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống các loài sinh vật, hệ sinh thái, hoạt động sống của con người
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh - địa - hóa khác
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, địa quyển
Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng thường được coi là hai biểu hiện chính của biến đổi khí hậu
1.1.3 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu
Khí hậu bị biến đổi do hai nhóm nguyên nhân:
Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm:
sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo Trái Đất, sự thay đổi vị trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi các dòng hải lưu và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển sự thay đổi của bề mặt Trái Đất, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển, hoạt động của núi lửa, lượng mây, những thay đổi bên trong của Trái Đất và độ mặn của đại dương
Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát
từ sự thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước, sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và các khí nhà kính khác Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng
Trang 16hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái Đất Nhằm hạn chế sự BĐKH, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6
- CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cốt thép
- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than
- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC23
là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC22
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm
- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu 90% do con người gây ra, 10% do tự nhiên Chu kỳ nóng ấm của Trái Đất mang tính nội sinh và ngoại sinh tự nhiên được đẩy nhanh và trở nên nghiêm trọng hơn do những tác động của khí thải công nghiệp và hiệu ứng nhà kính làm thay đổi khả năng hấp thụ và phần năng lượng bức xạ của khí quyển
1.2 Tình hình biến đổi khí hậu hiện nay
1.2.1 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới
Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC (2007) đã phản ánh sự nóng lên của khí hậu Trái Đất hiện nay là rất rõ ràng, từ những quan trắc về
sự tăng của nhiệt độ không khí và đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy của băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn và sự dâng lên của mực nước biển toàn cầu
Trang 17Hình 1.1 Nhiệt độ trung bình bề mặt Trái Đất từ 1860 - 2000
Theo tổng hợp thông tin của Nguyễn Đức Ngữ (2010):
- Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 - 2005) là 0,74oC, lớn hơn xu thế tăng nhiệt độ 100 năm thời kỳ 1901 – 2000, trong đó riêng ở Bắc cực nhiệt độ đã tăng 1,5oC, gấp đôi tỷ lệ tăng trung bình toàn cầu
- Xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,13oC/thập kỷ, gấp gần
2 lần xu thế tăng nhiệt độ của 100 năm qua Nhiệt độ tăng tổng cộng từ 1985 – 1989 đến 2002 – 2005 là 0,76o
- Các báo cáo tại Hội nghị Quốc tế về BĐKH họp ở Brucxen (Bỉ) vừa qua cho biết, trung bình mỗi năm, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) bị giảm 7% khối lượng và 50 – 60m độ cao, uy hiếp nguồn nước của các sông lớn ở Trung Quốc Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm diện tích lớp băng trên cao nguyên Tây Tạng bị tan chảy khoảng 131km2
, chu
Trang 18vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 - 150m, có nơi tới 350m Tất cả đang làm cạn kiệt hồ nước Thanh Hải – 1 hồ lớn nhất Trung Quốc, đe dọa hồ sẽ bị biến mất trong vòng 200 năm tới Nếu nhiệt độ Trái Đất tiếp tục tăng, khối lượng băng tuyết ở khu vực cao nguyên sẽ giảm 1/3 vào năm 2050 và chỉ còn một nửa vào năm 2090, đe dọa hệ thống đường sắt trên cao nguyên
- Ở Bắc cực, khối băng có độ dày khoảng 3km đang mỏng dần và đã mỏng đi 66cm Ở Nam cực, băng cũng đang tan với tốc độ chậm hơn và những núi băng ở Tây Nam cực đổ sụp Ở Greenland, những lớp băng vĩnh cửu tan chảy Ở Alaska (Bắc Mỹ), nhiệt độ trung bình những năm gần đây đã tăng 1,50C so với trung bình nhiều năm, làm tan băng và diện tích lớp băng vĩnh cửu giảm 40%, lớp băng hàng năm thường dày 1,2m nay chỉ còn 0,3m
- Rộng rãi về mặt khoa học khi cho rằng biến đổi khí hậu là có thật và
do con người gây ra đã một lần nữa trả lời cho các hoài nghi và tranh luận về vấn đề biến đổi khí hậu trên thế giới Mặc dù vẫn còn nhiều điều chưa chắc chắn về tốc độ nóng lên, thời gian chính xác và các hình thức tác động nhưng những nguy cơ gắn liền với thực trạng các lớp băng lớn trên Trái Đất đang tan
ra ngày một nhanh, nhiệt độ các đại dương tăng lên, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới bị hủy hoại và những hậu quả khác có thể xảy ra là hoàn toàn có thật
(UNDP,2008)
- Theo IPCC (2007), sự ấm lên của khí hậu là hoàn toàn chắc chắn Hàm lượng khí CO2, loại khí nhà kính quan trọng nhất trong bầu khí quyển toàn cầu, dao động ở mức 200-300 ppm trong suốt 800.000 năm qua, nhưng
đã tăng lên ở mức khoảng 387 ppm trong 150 năm qua, chủ yếu là do đốt nhiên liệu hóa thạch và một nguyên nhân nhỏ hơn là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và thay đổi mục đích sử dụng đất Ngoài ra, trong 10 năm qua (2001-2010), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã cao hơn 0,50C so với giai đoạn 1961-1990, mức cao nhất đối với bất kỳ giai đoạn 10 năm nào kể từ khi bắt
Trang 19đầu quan trắc khí hậu bằng thiết bị đo đạc (Bộ TN&MT, 2012).Một thập kỷ
sau khi nghị định thư Kyoto (1997) quy định các giới hạn phát thải ra các khí nhà kính, khi các nước phát triển bắt đầu giai đoạn đầu tiên trong quá trình kiểm kê phát thải, các loại khí nhà kính trong khí quyển vẫn tiếp tục tăng và thậm chí là tốc độ tăng còn nhanh hơn trước
- Mới đây nhất, Theo phân tích của Cơ quan Quản lý Khí tượng và Đại dương Quốc gia của Mỹ (NOAA), trung bình nhiệt độ nước biển bề mặt trên các đại dương vào tháng 9/2014 đã đạt một kỷ lục mới Phân tích thống kê cho thấy, giá trị nhiệt độ quan trắc được đã cao hơn nhiệt độ trung bình nhiều năm của tháng 9 trong thế kỷ 20 là 0,66oC, đồng thời cao nhất so với các giá trị trung bình tháng tính từ năm 1880 và phá vỡ kỷ lục được ghi nhận trước đó vào tháng 8/2014 là 0,65oC Như vậy, đây là lần thứ 3 trong năm 2014, trung bình tháng nhiệt độ nước biển bề mặt đạt giá trị cao nhất trong vòng 135 năm qua Trong đó, khu vực biển phía đông bắc và vùng xích đạo Thái Bình Dương có nhiệt độ cao hơn cả Kết quả phân tích theo chuỗi thời gian còn cho thấy, giá trị trung bình nhiệt độ trong 9 tháng đầu năm của năm 2014 (tháng 1
- tháng 9) tương tự như diễn biến của nhiệt độ năm 1998, năm mà Elnino xuất hiện mạnh và kéo dài 15 tháng (từ 4/1997 – 6/1998) Trung bình nhiệt độ bề mặt Trái Đất (đất liền và đại dương) trong thời gian này cao hơn khoảng 0,68oC so với nhiệt độ trung bình trong thế kỷ 20 (14,1oC) Đồng thời giá trị nhiệt độ bề mặt Trái Đất trong 12 tháng (tính từ tháng 10/2013 cho đến hết tháng 9/2014) cũng đạt giá trị cao nhất từ năm 1880 đến nay, cao hơn 0,69o
C
so với trung bình ở thế kỷ 20 Điều đó cũng có nghĩa là phá vỡ kỷ lục được thiết lập vào tháng 8/1997 - 9/1998, tháng 8/2009 – 7/2010 và tháng 9/2013 đến 8/2004 với giá trị cao hơn 0,68oC Năm 2014 được coi là năm nóng nhất
từ trước tới nay
- Dựa trên các số liệu quan trắc nhiệt độ bề mặt Trái Đất, các nhà khoa học tại NOAA dự đoán rằng hiện tượng El Nino sẽ bắt đầu xuất hiện trong
Trang 20một hoặc hai tháng tới và muộn nhất vào mùa xuân năm 2015 ở Bắc bán cầu, cho dù các quan trắc riêng về El Nino ở khu vực từ vĩ độ 5oN đến 5oS và từ kinh độ 170oW đến 120oW còn chưa rõ ràng và việc kiểm chứng có thể thấy ngay tại Việt Nam, hiện tượng El Nino diễn ra mạnh mẽ tại khu vực miền Trung và Nam Trung bộ nước ta kéo theo những ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền nông nghiệp nước ta
- Trong báo cáo tổng hợp thông tin của Viện khí tượng thủy văn và môi trường (IMHEN, 2010), lượng mưa ở một số nơi trên Trái Đất đã có sự biến động như sau: Trong thời kỳ 1901 – 2005 xu thế biến đổi của lượng mưa rất khác nhau giữa các khu vực và giữa các tiểu khu vực trên từng khu vực và giữa các thời đoạn khác nhau trên từng tiểu khu vực Ở Bắc Mỹ, lượng mưa tăng lên ở nhiều nơi, nhất là ở Bắc Canađa nhưng lại giảm đi ở Tây Nam nước Mỹ, Đông Bắc Mexico và bán đảo Bafa với tốc độ giảm chừng 2% mỗi thập kỷ, gây ra hạn hán trong nhiều năm gần đây Ở Nam Mỹ, lượng mưa lại tăng lên trên lưu vực Amazon và vùng bờ biển Đông Nam nhưng lại giảm đi
ở Chile và vùng bờ biển phía Tây Ở Châu Phi, lượng mưa giảm ở Nam Phi, đặc biệt là ở Sahen trong thời đoạn 1960–1980 Ở khu vực nhiệt đới, lượng mưa giảm đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ
1901 – 2005 Khu vực có tính địa phương rõ rệt nhất trong xu thế biến đổi lượng mưa là Australia do tác động to lớn của ENSO Ở đới vĩ độ trung bình
và vĩ độ cao, lượng mưa tăng lên rõ rệt ở miền Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 300
N thời kỳ 1901–2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới,
Trang 21dâng lên (UNDP, 2008) Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho
thấy, mực nước biển trung bình toàn cầu trong thời kỳ 1961-2003 đã dâng với tốc độ 1,8±0,5 mm/năm Trong đó, đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42±0,12 mm/năm và băng tan khoảng 0,70±0,50 mm/năm Tuy nhiên, mực nước biển thay đổi không đồng đều trên toàn bộ đại dương: ở một số vùng, mực nước biển dâng gấp một vài lần so với tốc độ dâng trung bình toàn
cầu, trong khi ở một số vùng khác, mực nước biển đã hạ thấp hơn (Bộ
TN&MT, 2012)
- Bên cạnh nhiệt độ tăng và mực nước biển dâng, con người cũng đã cảm nhận ngày càng rõ rệt về sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan Hạn hán và lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn; các cơn bão trở nên mạnh hơn; nhiều đợt nắng nóng hơn; số ngày lạnh, đêm lạnh và sương giá giảm đi, trong khi các đợt nắng nóng ngày càng xảy ra thường xuyên hơn; cường độ của những cơn bão và lốc nhiệt đới đã trở nên nghiêm trọng hơn
- Các kịch bản phát thải khí nhà kính – cơ sở của việc dự báo về tình trạng biến đổi khí hậu trong tương lai – của IPCC
Trong một vài thập kỷ tới, nhiệt độ trung bình toàn cầu dự kiến sẽ tăng 0,2 - 0,30C mỗi thập kỷ (Ngân hàng thế giới, 2010) Trên đà gia tăng ấy thì
câu hỏi được đặt ra là giới hạn của sự gia tăng là ở nhiệt độ nào, nếu không sẽ gây ra biến đổi khí hậu nghiêm trọng Ngưỡng giới hạn trên hợp lý cho sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu đến cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ tiền công nghiệp đã được các nhà khoa học khí hậu đưa ra là mức 20
C Bởi nếu vượt khỏi giới hạn này thì nguy cơ biến đổi khí hậu trở thành thảm họa trong tương lai sẽ gia
tăng rất nhanh (UNDP, 2008)
- Tuy nhiên, IPCC (2007), trên cơ sở các kịch bản xác định những lộ trình phát thải có thể xảy ra, đã đưa ra các dự đoán mức thay đổi nhiệt độ có
thể xảy ra trong thế kỷ 21 (Bảng 2.2) Theo các kịch bản này, nhiệt độ trung
bình thế giới đến năm 2080 sẽ tăng từ 2,30C đến 4,50
C so với nhiệt độ thời kỳ
Trang 22tiền công nghiệp hóa IPCC dự kiến mức tăng 30C là hệ quả có khả năng xảy
ra nhất, nhưng cũng không loại trừ những giá trị vượt xa con số 4,50C, thậm chí nhiệt độ toàn cầu có thể tăng thêm 50C Như vậy không có kịch bản nào của IPCC cho thấy sự gia tăng nhiệt độ ở mức dưới 20C – là ngưỡng biến đổi khí hậu trở nên nguy hiểm Theo báo cáo phát triển thế giới năm 2010, nếu không có các nỗ lực giảm thiểu biến đổi khí hậu hiệu quả thì đến cuối thế kỷ
21, nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng 2,50C đến 70
C so với thời kỳ tiền
công nghiệp hóa (Ngân hàng thế giới, 2010)
Bảng 1.1: Các khoảng nhiệt độ tăng dự kiến cho năm 2080
So với nhiệt độ thời
kỳ tiền công nghiệp hóa ( 0 C)
cm đến 59 cm đối với kịch bản phát thải cao A1F1 và từ 18 cm đến 38 cm đối
với kịch bản phát thải thấp B1 (Bảng 1.1)
Trang 23Bảng 1.2: Các khoảng mực nước biển dâng dự kiến cho năm 2080
Các kịch bản của IPCC So với mực nước biển thời kỳ 1980
sự phát thải khí nhà kính đang tiếp tục tăng và hiện tượng nóng lên toàn cầu
sẽ làm cho mực nước biển dâng 1m đến 3m vào cuối thế kỷ 21 Ngoài ra các tảng băng ở Greenland và Bắc Cực đang tan nhanh ngoài dự kiến có thể làm cho mực nước biển dâng lên 5m
1.2.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam
C Tại Việt Nam, nhiệt độ trung bình hàng năm không gia tăng trong khoảng thời gian từ 1895 (khi bắt đầu có
sở khí tượng) đến 1970, tuy nhiên nhiệt độ trung bình hàng năm ở Việt Nam
Trang 24gia tăng đáng kể trong ba thập niên qua, gia tăng khoảng 0,320C kể từ 1970
Từ năm 1900 đến 2000, nhiệt độ trung bình năm tăng 0,10C một thập kỷ Mùa
hè nóng hơn với nhiệt độ trung bình các tháng hè tăng từ 0,10
C – 0,30C một thập kỷ Nếu so với năm 1990, nhiệt độ tăng trong khoảng từ 1,4 – 1,50C vào năm 2050 và 2,5 - 2,80C vào năm 2100, những khu vực có nhiệt độ tăng cao nhất là Tây Bắc và Việt Bắc Xu thế tăng nhiệt độ cứ qua 10 năm lại lớn lên Mùa nóng sẽ khắc nghiệt, và lượng mưa cùng với cường độ mưa sẽ tăng lên đáng kể ở phía Bắc Sự biến đổi thất thường của thời tiết còn được thể hiện qua đợt mưa lớn trái mùa tại các tỉnh miền Bắc và ở Miền Trung, Miền Nam Mưa trái mùa đã cứu hạn cho một vài nơi trồng cây công nghiệp như cà phê, nhưng lại làm tan tành các ruộng muối ven biển, làm cây hoa kiểng nở quá sớm dịp Tết Các nhà khoa học cũng đã dự tính trong tương lai, các vùng nằm sâu trong lục địa có sự biến đổi nhiệt độ lớn hơn so với các vùng ven biển Việt Nam có khuynh huớng gia tăng nhiệt độ đáng kể, các tỉnh Miền Bắc gia tăng nhiều hơn Miền Nam, đặc biệt trong những tháng mùa hè với biên độ lớn hơn Nhiệt độ cao nhất khu vực miền nam xuất hiện tại Phước Long, Đồng Xoài và Xuân Lộc Theo Viện khí tượng thủy văn và môi trường (IMHEN, 2012) Tính đến năm 2012, Việt Nam trong 50 năm qua nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,50
C trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc, tăng ở phía Nam lãnh thổ Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng VII (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nước trong 50 năm qua Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo
Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn cả là ở Tây Bắc Bộ, Đông Bắc
Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng từ 1,3 tới 1,50C/50 năm) Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có nhiệt độ tháng I tăng chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng từ 0,6 tới 0,90C/50 năm) Tính trung
Trang 25bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1,20C trong 50 năm qua Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng từ 0,3 đến 0,50C/50 năm trên tất cả các vùng khí hậu của nước ta Nhiệt độ trung bình năm tăng từ 0,5 đến 0,60C/50 năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung
Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,30C/50 năm Mức thay đổi nhiệt độ cực đại trên toàn Việt Nam nhìn chung dao động trong khoảng từ -30C đến 30
C Mức thay đổi nhiệt độ cực tiểu chủ yếu dao động trong khoảng từ -50C đến 50
C Xu thế chung của nhiệt độ cực đại và cực tiểu là tăng, tốc độ tăng của nhiệt độ cực tiểu nhanh hơn so với nhiệt độ cực đại, phù hợp với xu thế chung của BĐKH toàn cầu ( Bảng 2.3)
Lượng mưa thay đổi
Theo Nguyễn Đức Ngữ (2010), lượng mưa biến đổi không nhất quán,
có nơi tăng, nơi giảm, trong đó ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có xu thế giảm trong 2 thập kỷ gần đây, trong khi ở Đà Nẵng lại tăng Ở các tỉnh Nam Trung
Bộ, lượng mưa có xu thế giảm, tình trạng khô hạn có phần tăng lên Lượng mưa lớn nhất trong 24 giờ cũng có phần tăng lên trong những thập kỷ gần đây Nghiên cứu của IMHEN (2012) đưa ra kết luận rằng lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng ít hoặc không thay đổi đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến hơn 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng từ 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương tự như lượng mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua (Bảng 2.3) Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là trong những năm gần đây
Trang 26- Số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứng, nhiều biến động mạnh xảy ra ở khu vực miền Trung Tồn tại mối tương quan khá rõ giữa sự nóng lên toàn cầu và nhiệt độ bề mặt biển khu vực Đông xích đạo Thái Bình Dương với xu thế biến đổi của số ngày mưa lớn trên các vùng khí hậu phía Nam
- Số ngày mưa phùn giảm đi rõ rệt Ví dụ: ở Hà Nội, trung bình mỗi năm có 29,7 ngày mưa phùn trong thập kỷ 1961 - 1970, giảm xuống còn 14,5 ngày/năm trong thập kỷ 1991 - 2000
Mực nước biển trung bình quan trắc được trong khoảng 50 năm qua ở các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu cho thấy, trung bình mỗi thập kỷ tăng lên 2,5 - 3,0cm Lượng mưa ở vùng giáp vịnh Thái Lan thuộc địa phận Kiên Giang, mũi Cà Mau sẽ giảm khoảng >20% Các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre giảm từ 10 – 20%
Bảng 1.3 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lƣợng mƣa trong 50 năm
qua ở các vùng khí hậu của Việt Nam
Vùng khí hậu
Nhiệt độ ( 0 C) Lƣợng mƣa (%) Tháng
I
Tháng VII Năm Thời kỳ
Trang 27Thời điểm bắt đầu mùa mưa muộn khoảng hai tuần và lượng mưa sẽ giảm khoảng 20% Riêng vụ hè thu, lượng mưa sẽ ít hơn và hạn đầu vụ sẽ gay gắt hơn Đặc biệt, số ngày mưa với lượng mưa < 5mm sẽ nhiều hơn trong mùa mưa Ngược lại, diện tích ngập lũ vùng đầu nguồn sẽ giảm và vùng hạ lưu phía bán đảo Cà Mau sẽ gia tăng mức ngập
Băng tan – nước biển dâng
Theo nghiên cứu của Trần Thục và cs (2012): Số liệu mực nước đo đạc
từ vệ tinh từ năm 1993 đến 2010 cho thấy, xu thế tăng mực nước biển trên toàn biển Đông là 4,7mm/năm, phía Đông của biển Đông có xu thế tăng hiều hơn hơn phía Tây Chỉ tính cho dải ven bờ Việt Nam, khu vực ven biển Trung Trung Bộ và Tây Nam Bộ có xu hướng tăng mạnh hơn, trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam tăng khoảng 2,9mm/năm
Đứng thứ 5 về khả năng dễ tổn thương do tác động của BĐKH, Việt Nam đã được Liên hợp quốc chọn là quốc gia để tiến hành nghiên cứu điển hình về biến đổi khi hậu và phát triển con người Là một quốc gia có bờ biên dài hơn 3200 km , với hơn 75% dân số sống dọc theo bờ biển và có hai đồng bằng lớn là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Theo IMHEN (2011) đánh giá:
- Trong số không nhiều trạm hải văn ở Việt Nam, có thể - chọn được 3 trạm đại diện cho 3 vùng bờ biển để nghiên cứu về xu thế mực nước biển đó
là trạm Sơn Trà, Cửa Ông, Hòn Dấu
- Trong 50 năm qua, mực nước biển trung bình dâng với tốc độ 3 - 4 mm/năm hay 3 - 4 cm/thập kỷ, tương đương nước biển ở Việt Nam dâng lên khoảng 15 – 20 cm trong gần nửa thế kỷ vừa qua
- Mực nước biển cao nhất có tốc độ xu thế cao hơn, còn mực nước biển thấp nhất thì ngược lại, tăng ít hơn thậm chí có nơi thấp so với mực nước biển trung bình
Trang 28- Trong thời kỳ gần đây, mực nước biển cao hơn thời kỳ 1961 – 1990
về trị số trung bình cũng như trị số cao nhất và trị số thấp nhất
Bảng 1.4 Diện tích có nguy cơ bị ngập theo mực nước biển
(% diện tích) MMực
nước dâng
(m)
Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh
Ven biển miền Trung
Thành phố
Hồ Chí Minh
Đồng bằng sông Cửu Long
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)
Hiện tượng thời tiết cực đoan
Rét đậm, rét hại:
Rét đậm, rét hại diễn ra với cường độ mạnh Kéo dài 38 ngày, từ 14 tháng 1 đến 20 tháng 2/2008 Có tính dị thường và cực đoan Nhiệt độ thấp nhất ở Hà Nội trong đợt rét là 6,7°C (2/2/2008), Sapa 1,6°C (14/2/2008)
Nắng nóng:
Nắng nóng tăng lên ở nhiều nơi trong thập kỷ 1981-1990 và
1991-2000, chủ yếu các tỉnh phía Nam Những đợt nắng nóng hầu hết xỷ ra vào những năm có El Nino
Mưa lớn trái mùa:
Nhiều đợt mưa lớn trái mùa có tính chất dị thường và còn vượt kỉ lục
về lượng mưa
Trang 29Xu hướng biến đổi khí hậu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu dựa vào dự báo về sự phát thải khí nhà kính Sự phát thải khí nhà kính lại phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội toàn cầu, dân số, thay đổi công nghệ, tiêu dùng, sản xuất và sử dụng đất, năng lượng Do vậy, nhiều kịch bản
đã được đưa ra dựa trên sự thay đổi các biến số khác nhau
1.2.3 Kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Nằm ở khu vực nhiệt đối gió mùa Đông Nam Á, lại là quốc gia có đường bờ biển dài Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới phải chịu nhiều ảnh hưởng của các kiểu thời tiết khắc nghiệt và phải thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão biển, bão nhiệt đới và áp thấp nhiệt đới Những thiên tai này thường xuyên gây ngập lụt tại các vùng trũng (ví dụ như trận lụt ở Hà Nội tháng 11 năm 2008), gây lũ lụt tại các vùng đồng bằng (ví dụ như ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2000 và 2001) và bão lũ (khu vực miền Trung) Tại các khu vực địa hình cao, mưa lớn thường gây ra lũ quét, sạt lở đất, làm tăng lượng phù sa bồi lắng trong các con sông, từ đó gây nên tình trạng ngập lụt nặng nề hơn ở các vùng hạ lưu Ngoài việc phải hứng chịu những ảnh hưởng nặng nề của thời tiết, Việt Nam còn phải chống đỡ với các mối nguy hại kéo dài như hạn hán, xâm nhập mặn vào cửa sông gây ảnh hưởng lớn đến sinh kế nông nghiệp và thủy sản Theo những ước tính gần đây, tổng thiệt hại do thiên
tai, đặc biệt là bão, lũ lụt và lở đất chiếm 1% GDP của Việt Nam (MONRE,
DFID và UNDP, 2010)
Thay đổi về nhiệt độ
Biến đổi khí hậu ngày càng được biểu hiện rõ nét ở Việt Nam Trong khoảng 50 năm qua (1958-2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng khoảng 0,5 - 0,70C Nhiệt độ mùa đông có xu hướng tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các khu vực phía Bắc tăng nhanh hơn các khu vực phía
Nam (Bảng 1.5)
Trang 30Bảng 1.5: Kịch bản mức tăng nhiệt độ TB năm so với thời kỳ 1980-1999
theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
6 Đồng bằng sông Cửu Long 0.4 0.6 0.9
Nguồn: Kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012
Thay đổi về mực nước biển
Theo Nguyễn Đức Ngữ (2010), lượng mưa biến đổi không nhất quán,
có nơi tăng, nơi giảm, trong đó ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có xu thế giảm trong 2 thập kỷ gần đây, trong khi ở Đà Nẵng lại tăng Ở các tỉnh Nam Trung
Bộ, lượng mưa có xu thế giảm, tình trạng khô hạn có phần tăng lên Lượng mưa lớn nhất trong 24 giờ cũng có phần tăng lên trong những thập kỷ gần đây Nghiên cứu của IMHEN (2012) đưa ra kết luận rằng lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng ít hoặc không thay đổi đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến hơn 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng từ 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương tự như lượng mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở nước ta Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là trong những năm gần đây
Trang 31- Số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứng, nhiều biến động mạnh xảy ra ở khu vực miền Trung
Xu hướng thay đổi
Theo Bộ TN&MT đến năm 2020, xa hơn 2030 mực nước biển ở Việt Nam dâng cao khoảng trên 10 cm, sẽ có 1% dân số ven biển phải di dời chỗ ở; diện tích mặt nước mặn, nước lợ tăng thêm trên 1,2% so với hiện nay Tại trạm Hòn Dáu trung bình dâng khoảng 3 mm/năm, tức là khoảng 20 cm trong
vòng 50 năm qua (Bảng 1.6)
Bảng 1.6: Kịch bản mực nước biển dâng ở Việt Nam với thời kỳ
1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Đvt: Cm
1 Móng Cái-Hòn Dáu 7-8 11-12 15-17
2 Hòn Dáu-Đèo Ngang 7-8 11-13 15-18
3 Đèo Ngang-Đèo Hải Vân 8-9 12-13 17-19
4 Đèo Hải Vân-Mũi Đại Lãnh 8-9 12-13 18-19
5 Mũi Đại Lãnh-Mũi Kê Gà 8-9 12-13 17-20
6 Mũi Kê Gà-Mũi Cà Mau 8-9 12-14 17-20
7 Mũi Cà Mau-Kiên Giang 9-10 13-15 19-22
Nguồn: Kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012
Bên cạnh sự gia tăng nhiệt độ và mực nước biển, lượng mưa tính trên cả nước trong 50 năm qua đã giảm khoảng 2% mặc dù lượng mưa có xu hướng
tăng ở vùng khí hậu phía Nam và giảm ở vùng khí hậu phía Bắc (Bảng 2.7)
Các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng, đặc biệt là bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn, các đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại có xu
hướng kéo dài (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)
Trang 32Bảng 1.7: Kịch bản mức tăng lƣợng mƣa TB năm so với thời kỳ
1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
6 Đồng bằng sông Cửu Long 1.1 1.6 2.3
Nguồn: Kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012
1.3 Tác động của biến đổi khí hậu với Việt Nam
Trong những năm qua, dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng ở Việt Nam, gây ra nhiều tổn thất to lớn
về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội, và tác động xấu đến môi trường Trong giai đoạn 2001-2010, các loại thiên tai như bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã
làm thiệt hại về tài sản ước tính chiếm 1,5% GDP/năm (Chiến lược Quốc gia
về Biến đổi khí hậu, 2011)
Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là rất nghiêm trọng Những ngành/lĩnh vực được đánh giá là dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu bao gồm: nông nghiệp và an ninh lương thực, tài nguyên nước, sức khỏe và nơi cư trú Các khu vực dễ bị tổn thương bao gồm: dải ven biển (bao gồm cả vùng đồng bằng ven biển), vùng núi Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ là những khu vực dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu Các cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm nông dân, ngư dân, các dân tộc thiểu số ở miền núi, người
Trang 33già, phụ nữ, trẻ em và nhóm người nghèo ở các khu đô thị (Bộ Tài nguyên và
bị mất nhà, 12,3% diện tích đất trồng trọt sẽ bị mất, 40.000km2 diện tích đất đồng bằng và 17km2
bờ biển ở khu vực các tỉnh lưu vực sông Mêkông sẽ chịu tác động của lũ ở mức độ không thể dự đoán và Việt Nam sẽ phải đối mặt với mức thiệt hại khoảng 17 tỷ USD/năm
Bằng việc sử dụng công nghệ GIS để xác định các khu vực sẽ bị ngập ở Việt Nam, Carew-Reid (2008) dự đoán rằng nếu mực nước biển dâng 1m vào cuối thế kỷ 21 thì sẽ có 39/63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam, khoảng 4,4% diện tích đất, 7,3% dân số (khoảng 6 triệu người), 4,3% diện tích đường, 36 khu bảo tồn thiên nhiên sẽ bị ảnh hưởng Trong đó, 12 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất: 85% diện tích bị ngập lụt, 90% người nghèo bị ảnh hưởng và 90% diện tích đường bị ảnh hưởng đều thuộc khu vực này
Có thể thấy rằng, biến đổi khí hậu đang gây ảnh hưởng nặng nề đến đại
bộ phận dân nghèo ở Việt Nam, đặc biệt là những người phải sống trong những môi trường khắc nghiệt và mạng lưới an sinh xã hội không hiệu quả khiến họ rất dễ bị tổn thương trước những rủi ro của khí hậu và thiên tai thường xuyên xảy ra Trong khi biến đổi khí hậu có những rủi ro tiềm ẩn đối với người nghèo và những người dễ bị tổn thương trên cả nước thì những người nghèo ở khu vực ven biển là một trong những nhóm đối tượng nhạy cảm nhất với sự biến đổi bất thường của khí hậu vì sản xuất nông nghiệp và
Trang 34thủy sản là những nghành đặc biệt dễ bị tổn thương trước những tác động của biến đổi khí hậu
1.4 Thích ứng với biến đổi khí hậu
Quan điểm thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Trong vòng 25 năm qua, Việt Nam cùng với cộng đồng Thế giới đã có những cam kết mạnh mẽ trong cuộc chiến chống lại BĐKH toàn cầu Chính phủ Việt Nam đã ký Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH vào ngày 11/6/1992 (phê chuẩn vào ngày 16/11/1994) và ký Nghị định thư Kyoto vào ngày 13/12/1998 (phê chuẩn vào ngày 25/9/2002) Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH – chương trình đầu tiên và duy nhất đặt trọng tâm vào BĐKH ở Việt Nam – được phê duyệt năm 2008 Năm 2009, Bộ Tài nguyên
và Môi trường lần đầu tiên công bố kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam; kịch bản này đã được cập nhật và công bố vào tháng 3 năm 2012 Chiến lược quốc gia về BĐKH đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 12/2011 Cùng với nhiều hội thảo, chuyên đề và các bằng chứng khoa học về
BĐKH đã góp phần quan trọng vào việc ứng phó với BĐKH (Nguyễn Trung
Thắng, Nguyễn Lanh, Nguyễn Thị Thu Hà, Lưu Lê Hường Viện Chiến lược,
Chính sách tài nguyên và môi trường Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí Môi trường chuyên đề III năm 2015)
Quan điểm của Việt Nam về ứng phó với BĐKH được nêu trong Chiến
lược Quốc gia về BĐKH là “Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là
vấn đề có ý nghĩa sống còn Ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam phải gắn liền với phát triển bền vững, hướng tới nền kinh tế các-bon thấp, tận dụng các cơ hội để đổi mới tư duy phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh
và sức mạnh quốc gia.Tiến hành đồng thời các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, trong đó
ở thời kỳ đầu thích ứng là trọng tâm….Các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu phải có tính hệ thống, đồng bộ, liên ngành, liên vùng, trọng tâm, trọng
Trang 35điểm, phù hợp với từng giai đoạn và các quy định quốc tế; dựa trên cơ sở khoa học kết hợp với kinh nghiệm truyền thống và kiến thức bản địa; tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội và các yếu tố rủi ro, bất định của biến đổi khí hậu”(Bộ TN&MT, 2011)
Theo Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2012), các giải pháp xây dựng sinh kế hải sản thích ứng với BĐKH đó là:
Xây dựng hệ thống thông tin về nghề cá
Tăng cường quản lý tài nguyên biển dựa vào cộng đồng
Cải tiến công tác quản lý khai thác hải sản, đặc biệt là các quy định
về môi trường
Xây dựng bản đồ ngập lụt và vùng chịu thiên tai ở cấp địa phương
Đảm bảo tiếp cận các chương trình tín dụng, các dịch vụ bảo hiểm và tài chính khác cho người dân
Tăng cường các khoản trợ cấp, đặc biệt khi có thiên tai
Tập huấn kỹ năng để giúp người dân chuyển đổi nghề nghiệp
Giáo dục, nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế
Xây dựng sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững cho các cộng đồng ven biển trong bối cảnh BĐKH hiện nay và giảm thiểu tác động của nó
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Sản xuất nông nghiệp và biến đổi khí hậu
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
- Phạm vi thời gian: 4 tháng (từ 11/01/2016 – 11/5/2016)
2.3 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội và sản xuất nông nghiệp
của xã Xuân Hải
Phân tích các biểu hiện của BĐKH tại địa phương
Đánh giá nhận thức của người dân về những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã
Đánh giá các giải pháp thích ứng vớí BĐKH của người dân trong sản
xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Xuân Hải
Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức về thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan ban, ngành ở địa phương như UBND xã Xuân Hải, HTX sản xuất nông nghiệp, Phong TN&MT, UBND huyện Nghi Xuân, Trạm Khí tượng Nghi Xuân, Hà Tĩnh Số liệu thứ cấp gồm có số liệu khí tượng 50 năm qua, đề án xây dựng nông thôn mới, các báo cáo định kỳ hàng năm về sản xuất nông nghiệp của UBND xã, niên giám thống kê của Ủy ban nhân dân huyện Nghi Xuân, các bài báo đã công bố trên các phương tiện thông tin và internet có nguồn tin cậy cao
Trang 372.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp
2.4.2.1 Phương pháp thảo luận nhóm:
Phỏng vấn sâu những người có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp Mỗi nhóm họp gồm 20-25 người với đầy đủ các thành phần về giới tính, độ tuổi, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp và trách nhiệm cộng đồng khác nhau Các cuộc họp nhóm được tổ chức 2 lần vào ngày 12/03/2016 và ngày 20/03/2016 Các công cụ sử dụng như lập sơ đồ sử dụng đất thôn xóm; lập cây vấn đề trình bày nguyên nhân và kết quả sản xuất nông nghiệp, tác động của thời tiết, khí hậu đối với sản xuất; danh sách các hiện tượng thời tiết cực đoan; danh sách các giải pháp thích ứng với BĐKH Thông tin thảo luận nhóm gồm nhận thức của người dân về BĐKH, nhận thức về tác động của BĐKH tới sản xuất nông nghiệp, giải pháp thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp
2.4.2.2 Phương pháp phỏng vấn người dân bằng phiếu câu hỏi:
Điều tra số liệu bằng việc sử dụng bảng câu hỏi có cấu trúc soạn sẵn Phỏng vấn trực tiếp 60 hộ dân sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh Phương pháp chọn hộ điều tra theo khối ngẫu nhiên trong các thôn Thông tin thu thập bao gồm: tình hình sản xuất nông nghiệp của hộ, nhận thức của người dân về BĐKH, nhận thức về tác động của BĐKH tới sản xuất nông nghiệp, giải pháp thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp
2.4.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa:
Thu thập số liệu, hình ảnh trực quan về sản xuất nông nghiệp, biểu hiện ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sản xuất và các giả pháp thích ứng của người đân ở địa phương
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê mô tả trên phần mềm excel
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Xuân Hải là xã bãi ngang miền biển, cách trung tâm huyện Nghi Xuân 3 km Phía Đông giáp biển Đông,
Phía Tây giáp Sông Lam,
Phía Nam giáp 2 xã Tiên Điền và Xuân Yên,
Phía Bắc giáp xã Xuân Phổ,
Địa hình xã Xuân Hải tương đối bằng phẳng, có đường tỉnh lộ đi qua dài 2,5km; đường liên xã Phổ - Hải - Yên chiều dài 2,5 km, chạy qua trung tâm xã, cả 3 tuyến giao thông này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thông
đi lại và lưu thông hàng hóa
Hình 3.1 : Vị trí địa lý xã Xuân Hải (Nguồn: Google map)
Trang 39Nguồn: Tài liệu hiện trạng sử dụng đất xã Xuân Hải 2015
Trang 40a, Nhóm đất nông nghiệp:
Diện tích nông nghiệp 314,28 ha chiếm 56,56% đất tự nhiên chủ yếu phân
bố ở vùng (Đồng Bát Bát, Đồng Côm, Cưa Sang, Nhà Thiết, Làng Trứa, Đồng Đông, Đồng Đa, Đồng Cừa, Đồng Trưa, Nhà Cờ,….); Đất trồng 2 vụ lúa là 19,69
ha, đất trồng 1 vụ lúa – màu 97,98 ha, vụ màu chủ yếu trồng lạc, khoai lang và các rau màu khác, vụ lúa mùa; Đất lâm nghiệp 101,01 ha chiếm 18,18% (rừng sản xuất 79,51 ha, rừng phòng hộ 21,50), chủ yếu trồng phi lao chăn sóng ven biển và các mốt ít keo, bạch đàn, dãy rừng ven sông trồng bần bảo vệ đê
b, Đất phi nông nghiệp:
- Đất ở: Cùng với sự gia tăng về dân số kéo theo sự gia tăng về diện
tích đất ở Theo số liệu thống kê tính đến thời điểm hiện nay đất ở trên địa bàn
xã là 22.0 ha, phân bố rải rác ở 7 thôn trong đó tập trung ở khu vức dọc theo tuyến đường tỉnh lộ và đường 8B ra Cảng Xuân Hải và vùng giữa ven biển,
- Đất chuyên dùng: Đây là loại đất chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu đất
phi nông nghiệp là 66.67 ha là loại đất có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển kinh tế của xã
c, Đất chưa sử dụng: Có 78,89 ha là diện tích cồn cát nằm xen kẽ giữa
các vùng sản xuất và dân cư, các bãi ven biển
3.1.1.3 Điều kiện khí hậu
Khí hậu: Xuân Hải nằm trong vùng có điều kiện thời tiết đặc trưng của khu vực Bắc trung bộ nên mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa rõ rệt mùa nắng chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió Tây Nam (gió Lào)
từ tháng 4 đến tháng 8 nắng nóng, mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau thường có mưa nhiều kèm theo gió bão lớn ảnh hướng đến sản xuất và đời sống của nhân dân
Xã Xuân Hải nằm sát bờ biển Đông nên chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng biển, mang tính khí hậu nhiệt đới gió mùa và có đặc điểm chung của khí hậu miền Trung (nhiệt đới ẩm gió mùa) với tiềm năng nhiệt lượng phong phú