Các nguồn chủ yếu gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường ở nông thôn hiện nay là việc lạm dụng không hợp lý các loại hóa chất trong sảnxuất nông nghiệp; việc chăn nuôi không tập chung c
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân,tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của rất nhiều thầy, cô giáo, người thântrong gia đình và bạn bè
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫnThS Dương Thị Huyền, người đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thựchiện khóa luận
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới UBND xã Tuân Chính đã tạo điềukiện và giúp đỡ tôi có những số liệu cần thiết để hoàn thành bài khóa luận
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả bạn bè và gia đình,những người đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốtnghiệp này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày / /2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Yêu cầu nghiên cứu 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về làng nghề: 3
1.1.1 Làng nghề, phân loại và một số tiêu chí công nhận làng nghề: 3
1.1.2 Tình hình phát triển làng nghề chế biến thực phẩm trong và ngoài nước: 8
1.1.3 Tác động của làng nghề chế biến thực phẩm đến môi trường: 11
1.2 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển làng nghề: 14
1.3 Một số kinh nghiệm bảo vệ môi trường làng nghề tại Việt Nam: 16
1.3.1 Kinh nghiệm của làng Vạn Phúc - thành phố Hà Nội 16
1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam 18
1.3.3 Mô hình tái sử dụng chất thải chăn nuôi trong BVMT làng nghề và phát triển kinh tế - xã hội: 20
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 22
2.2 Phạm vi nghiên cứu: 22
2.3 Nội dung nghiên cứu: 22
Trang 42.4 Phương pháp nghiên cứu: 22
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: 22
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: 23
2.4.3 Phương pháp lấy mẫu: 23
2.4.4 Phương pháp phân tích: 23
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu: 24
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội xã Tuân Chính: 25
3.1.1 Điều kiện tự nhiên : 25
3.1.2 Các nguồn tài nguyên: 26
3.1.3 Thực trạng môi trường: 27
3.1.4 Điều kiện kinh tế xã hội 27
3.2 Thực trạng sản xuất tại làng nghề: 28
3.2.1 Thực trạng sản xuất đậu rùa tại thôn Trung: 28
3.2.2 Quy trình sản xuất đậu rùa: 29
3.2.3 Hiện trạng phát sinh chất thải từ quá trình sản xuất đậu: 32
3.3 Đánh giá ảnh hưởng của chất thải rắn và nước thải sản xuất đậu rùa đến môi trường: 35
3.3.1 Ảnh hưởng từ nước thải: 35
3.3.2 Ảnh hưởng từ chất thải rắn, khí thải: 39
3.4 Hiệu quả kinh tế trong quá trình sản xuất đậu rùa: 41
3.5 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và thu gom và xử lý chất thải tại thôn Trung: 42
3.5.1 Công tác quản lý: 42
3.5.2 Thu gom và xử lý chất thải : 43
3.6 Đề xuất những giải pháp khắc phục nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề đậu thôn Trung: 44
3.6.1 Giải pháp về công tác quản lý: 44
Trang 53.6.2 Giải pháp về công nghệ: 45
3.6.3 Giải pháp giáo dục truyền thông môi trường 47
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
1 Kết luận: 49
2 Đề nghị: 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 53
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các loại mẫu được lấy và kí hiệu: 23
Bảng 3.1: Chất thải tương ứng với các công đoạn sản xuất: 32
Bảng 3.2: Lượng nước thải từ các công đoạn sản xuất đậu ở thôn Trung: 33
Bảng 3.3: Lượng chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất đậu rùa thôn Trung: 34
Bảng 3.4: Kết quả phân tích mẫu nước tại thôn Trung: 35
Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế sản xuất đậu rùa: 41
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Vị trí địa lý xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 25
Hình 3.2: Cơ cấu các ngành kinh tế xã Tuân Chính năm 2013 28
Hình 3.3: Quy trình sản xuất đậu rùa được sử dụng phổ biến tại thôn Trung 30
Hình 3.4 : Biểu đồ thể hiện hàm lượng TSS trong nước thải 36
Hình 3.5 : Biểu đồ thể hiện hàm lượng COD trong nước thải 37
Hình 3.6 : Biểu đồ thể hiện hàm lượng BOD5 trong nước thải 38
Hình 3.7 : Sơ đồ hệ thống biogas 46
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Diễn giải
UBND : Ủy ban nhân dân
WHO : Tổ chức Y tế Thế giới
Bộ NN & PTNT :Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm qua nhờ đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và nhàNước đã, đang tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng,vững chắc và mạnh mẽ Cùng với sự phát triển kinh tế thì kéo theo nó là các vấn
đề môi trường diễn ra càng phức tạp không chỉ ở các khu đô thị hay các thànhphố lớn mà nó cũng trở thành một trong những vấn đề nổi cộm ở các vùng nôngthôn Việt Nam hiện nay
Người dân nông thôn vốn xưa nay còn phải quan tâm nhiều hơn đến cuộcsống mưu sinh Khi đời sống chưa thực sự được đảm bảo thì vấn đề về môitrường chỉ là thứ yếu Các nguồn chủ yếu gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường
ở nông thôn hiện nay là việc lạm dụng không hợp lý các loại hóa chất trong sảnxuất nông nghiệp; việc chăn nuôi không tập chung của các hộ gia đình; việc xử
lý chất thải của các làng nghề thủ công truyền thống chưa triệt để; nhận thức, ýthức bảo vệ môi trường của người dân sinh sống ở nông thôn còn hạn chế Tiếp
đó là sự quan tâm không đúng mức của các cấp, các ngành Ô nhiễm môi trường
đã, đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng, tác động xấu đến hệ sinh thái nôngnghiệp, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Vì vậy bảo vệ môi trường nông thônđang là một trong những vấn đề cấp bách
Huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là huyện thuộc vùng đồng bằng vớiphương thức sản xuất nông nghiệp đa dạng: Trồng lúa nước, cây lương thực,nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc nên Vĩnh Tường có rất nhiều đặc sản ẩmthực do người nông dân chế biến từ những sản vật thu hái được trong lao độngsản xuất; trong đó tiêu biểu là: Rượu Vân Giang, đậu Rùa Tuân Chính, thịt rắnVĩnh Sơn, bánh ngõa Lũng Ngoại,… Trong đó, làng nghề có truyền thống lâuđời phải kể đến đậu rùa Tuân Chính Trước kia, làng nào trong xã cũng làm đậurùa nhưng đến nay chỉ tập chung ở một số thôn trong đó có thôn Trung Hoạt
Trang 10động sản xuất đậu rùa thường đi kèm với các hoạt động chăn nuôi nhỏ lẻ của các
hộ sản xuất Thôn Trung với 37 hộ gia đình làm đậu rùa cùng với các hoạt động
đi kèm có thể gây ra các ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xung quanh Vìvậy, để có thể chỉ ra các công đoạn có ảnh hưởng xấu đến môi trường để có thểđưa ra những bện pháp khắc phục trước khi vấn đề môi trường trở nên nghiêmtrọng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng chất thải và đề xuấtcác giải pháp khắc phục tại làng nghề sản xuất đậu rùa Tuân Chính - VĩnhTường - Vĩnh phúc.’’
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá thực trạng môi trường và công tác quản lý chất thải tại làng nghề sản xuất đậu rùa tuân chính – vĩnh tường vĩnh phúc
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải cho làng nghề
3 Yêu cầu nghiên cứu
Đánh giá được khối lượng, thành phần, công tác quản lý chất thải tạilàng nghề
Đề xuất các giải pháp khắc phục các vấn đề về môi trường xung quanhtại làng nghề
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về làng nghề:
1.1.1 Làng nghề, phân loại và một số tiêu chí công nhận làng nghề:
1.1.1.1 Khái niệm làng nghề:
Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn
để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đờisống như: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chếbiến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đếnnhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm Bên cạnh những ngườichuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề,hoặc làm thuê (nghề phụ) Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mangtính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giớihạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sangnghề thủ công Như vậy, làng nghề đã xuất hiện
Có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểuthủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập sovới nghề nông” (Đặng Kim Chi, 2005)
Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được tạo bởi haiyếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó baogồm nhiều hộ gia đình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề thủ công, giữa
họ có mối lên kết về kinh tế , xã hội và văn hóa
Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng thì làng nghề là:
“Làng nghề là làng ấy, tuy có trồng trọt theo lối thủ nông và chăn nuôi(gà, lợn, trâu,…) làm một số nghề phụ khác (thêu, đan lát,…) song đã nổi trộimột nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp haybán chuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ đã
Trang 12chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhấtnghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra nhữnghàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩmhàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thịtrường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nướcngoài.”
Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 2 điều kiện sau: có một sốlượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề; thu nhập do sản xuất nghềmang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của làng
Làng nghề truyền thống: là những thôn, làng làm nghề thủ công truyềnthống có từ lâu đời, qua nhiều năm, nhiều thế kỷ và các bí quyết của nghề đượcgiữ bí mật và lưu truyền từ đời này sang đời khác
Theo thông tư 116/2006/TT-BNN Hướng dẫn thực hiện một số nộidung củanghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính Phủ về pháttriển ngànhnghề nông thôn đưa ra một số khái niệm như sau:
+ Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có cáchoạtđộng ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khácnhau
+ Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hìnhthànhtừ lâu đời
1.1.1.2 Tiêu chí công nhận làng nghề:
Theo Đặng Kim Chi, 2005 có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhaukhi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề.Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau:
- Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm;hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng, hoặc:
Trang 13- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên,trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% sovới tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động.
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng
và do người trong làng tham gia
Theo thông tư 116/2006 TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn, tiêu chí để xác định làng nghề như sau:
+ Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngànhnghề nông thôn
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thờiđiểm
đề nghị công nhận
+ Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
Qua khảo sát làng nghề cho thấy tiêu chuẩn của Bộ NN&PTNT là phùhợp với tình hình chung của các làng nghề ở Việt Nam nên sử dụng tiêu chuẩnlàng nghề của Bộ NN&PTNT để tiến đến có một tiêu chuẩn làng nghề thốngnhất trên cả nước Sử dụng tiêu chuẩn làng nghề chung trên cả nước sẽ giúpcông tác quản lý làng nghề ở các địa phương thống nhất
Tiêu chuẩn làng nghề cũng cần điều chỉnh theo thời gian, được xâydựng dựa trên tiêu chí định lượng và định tính, đồng thời phản ánh được cácđặc điểm của làng nghề gồm:
Trang 14+ Sản xuất hànghóa để đáp ứng thị trường với mục đích kinh doanh
Trong các tiêu chí kể trên, tiêu chí tỷ lệ số hộ và lao động tham gia sảnxuất phi nông nghiệp có thể chuyển sang tiêu chí số lượng hộ và lao động thamgia sản xuất phi nông nghiệp đểtính toán, xác định và công nhận làng nghề đạtchuẩn thuận tiện hơn
1.1.1.3 Phân loại làng nghề:
Làng nghề với những hoạt động đa dạng và phát triển đã có nhữngtác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế, đời sống xã hội và môi trườngnước ta với những nét đặc thù rất đa dạng Vấn đề phát triển và môi trường củacác làng nghề hiện nay đang có nhiều bất cập và đang được chú ý nghiên cứu.Muốn có được những kết quả nghiên cứu xác thực, đúng đắn và có thể quản lýtốt các làng nghề thì cần có sự nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, nhiều góc độkhác nhau đối với làng nghề Bởi vậy, hệ thống phân loại các làng nghề dựa trêncác số liệu thông tin điều tra, khảo sát là cơ sở khoa học cho nghiên cứu, quản lýhoạt động sản xuất cũng như việc quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề Cáchphân loại làng nghề phổ biến nhất là phân theo loại hình sản xuất, loại hình sảnphẩm Theo cách này có thể phân thành 6 nhóm ngành sản xuất gồm:
+ Làng nghề vật liệu xây dựng và khai thác đá
+ Làng nghề thủ công mĩ nghệ
+ Làng nghề tái chế phế liệu
+ Làng nghề chế biến nông sản thực phẩm
+ Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da
+ Làng nghề khác ( đóng thuyền, quạt giấy, đan vó , lưới….)
Trang 15Thủ công mĩ nghệTái chế phế liệuChế biến nông sản thực phẩm
Dệt nhuộmCác nghề khác
Hình 1.1: Phân loại làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất
( Đặng Kim Chi, 2005)Ngoài ra còn có những cách phân loại làng nghề khác nhau như là một sốcách sau:
Phân loại theo lịch sử phát triển, các làng nghề được chia thành:
+ Làng nghề truyền thống: là các làng nghề xuất hiện từ lâu trong lịch sử
và tồn tại đến nay Nhiều làng nghề truyền thống đã tồn tại hàng trăm năm.Nhiều địa phương có làng nghề truyền thống như: gốm sứ Lái Thiêu ở BìnhDương , gốm sứ Tân Vạn ở Đồng Nai ,…
+ Làng nghề mới: là các làng nghề mới xuất hiện trong những năm gầnđây.Làng nghề mới được hình thành do sự nhân rộng các làng nghề cũ sang cácđịa phương xung quanh hay du nhập từ địa phương khác tới Một số làng nghềmới có thể được ra đời từ chủ trương của địa phương để tạo công ăn, việc làm
Trang 16cho lao động ở địa phương Ở một số địa phương đã xuất hiện làng nghề mớinhư
là : làng nghề nuôi cá sấu Thạnh Lộc hay làng nghề nuôi cá cảnh Trung An ởthành phố Hồ Chí Minh
Phân loại theo số lượng nghề, các làng nghề được chia thành:
+ Làng một nghề: là làng chuyên sản xuất một nghề phi nông nghiệp.Làng một nghề chiếm tỷ lệ đa số ở Việt Nam, như: làng nghề sơn mài TươngBình Hiệp và gốm sứ Lái Thiêu ở Bình Dương , làng bánh tráng Phú Hòa Đông
và đan lát Thái Mỹ ở thành phố Hồ Chí Minh
+ Làng nhiều nghề: là làng làm từ hai nghề trở lên Làng có nhiều nghề ítphổ biến ở Việt Nam Một số làng nghề có 2 nghề điển hình là làng nghề AnTịnh ở Tây Ninh vừa làm bánhtráng vừa đan lát giỏ tre
Phân loại theo tình hình phát triển, các làng nghề được chia thành:
+ Làng nghề phát triển tốt: là các làng nghề có tình hình kinh doanh ổnđịnh Theo cách phân loại này thì số lượng các làng nghề có tình hình phát triểntốt ở Việt Nam hiện nay không nhiều
+ Làng nghề kém phát triển: là các làng nghề kinh doanh cầm chừng hay
có nguy cơ mai một Nhiều làng nghề ở Việt Nam có tìnhhình kinh doanh khókhăn, cần có các giải pháp phát triểnbền vững
Ngoài những cách phân loại trên, làng nghề có thể được phân loại theosản phẩm của làng nghề, số lượng hộ sản xuất hay thời gian phát triển
1.1.2 Tình hình phát triển làng nghề chế biến thực phẩm trong và ngoài nước:
1.1.2.1.Tình hình phát triển làng nghề chế biến thực phẩm trong nước:
Làng nghề nước ta phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp gắn liềnvới cơ chế sản xuất mùa vụ, mang đặc trưng của chế độ làng xã, trong đó baogồm cả yếu tố dòng họ
Theo Courrier du Vietnam (17/3/2003) ở nước ta có hơn 2000 làng nghề,
Trang 17miền Bắc có 1594 làng nghề (79%), miền Trung có 312 làng nghề (15,5%) vàmiền Nam có 111 làng nghề (5,5%)
Ở miền Bắc các làng nghề lại tập trung hơn ở một số địa phương thuộcđồng bằng Bắc bộ như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, NamĐịnh, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam
Thực tế này cho thấy, làng nghề ở nước ta gắn liền với các vùng nôngnghiệp và người nông dân làm nghề thủ công để giải quyết hợp lý sức lao động
dư thừa được cơ cấu theo đặc trưng nông nghiệp là mùa vụ Mặt khác, từ sảnphẩm, chúng ta cũng nhận thấy gốc tích nông nghiệp như nguyên vật liệu, côngcụ chế tác, giá trị sử dụng và đặc biệt là nó phản ánh được tính chuyên dụng vàsinh hoạt cộng đồng của cư dân nông nghiệp trên các sản phẩm đó Nhìn vàonhững nghề thủ công nổi tiếng của nước ta như nghề gốm, nghề đan lát, nghềchạm khắc gỗ, nghề gò đúc đồng, nghề làm giấy, nghề làm tranh, nghề kim hoànhay làm nón, dệt vải chúng ta thấy mỗi nghề gắn liền với một cộng đồng cưdân được cư trú ổn định trong quy mô làng xã
Các làng nghề chế biến thực phẩm là một trong những loại hình làng nghềcổ xưa nhất, các làng nghề truyền thống này thường sản xuất theo quy mô hộ giađình, phân tán và sản xuất nhiều loại hình sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêudùng hàng ngày của người dân trong vùng.Nguyên vật liệu cho các làng nghềchủ yếu được khai thác ở các địa phương trong nước Nước ta có khí hậu nhiệtđới ẩm gió mùa, các loại nông sản và thực vật phát triển, đồng thời có nguồnkhoáng sản phong phú, đa dạng Do đó, hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấytừ trực tiếp từ tự nhiên
Theo báo cáo của Đề tài KC 08 – 09, cả nước hiện có 197 làng nghề chếbiến nông sản, thực phẩm, chiếm 13,58 % trong tổng số 1450 làng nghề trong cảnước Với sự phân bố không đồng đều trên khắp đất nước, có 134 làng nghề ởmiền Bắc, 42 làng nghề ở miền Trung và 21 làng nghề ở miền Nam
Các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm phát triển một cách tự phát,
Trang 18sản xuất mở rộng tùy tiện, không có quy hoạch, trình độ công nghiệp thấp.Thêm vào đó là tâm lý và thói quen sản xuất trên quy mô nhỏ, khép kín gây nênhạn chế trong đầu tư trang thiết bị và đổi mới công nghệ, làm cho hiệu quả sảnxuất không cao, tiêu tốn nhiều nguyên nhiên liệu, đồng thời thải ra môi trườngmột lượng lớn chất thải, đặc biệt là nước thải giàu chất hữu cơ.
1.1.2.2 Tình hình phát triển làng nghề chế biến thực phẩm trên thế giới:
Tại các nước Châu Âu và Châu Mỹ, khái niệm “làng nghề” hầu nhưkhông tồn tại, chỉ có các cơ sở thủ công sản xuất vừa và nhỏ trong khu dân cư.Các đối tượng này được quản lý theo các chính sách, pháp luật chung của địaphương và quốc gia, không theo quy định riêng biệt Mô hình “làng nghề” chỉtập trung chủ yếu tại khu vực Châu Á (phổ biến là Nhật Bản, Trung Quốc, TháiLan và Việt Nam) Tại Trung Quốc, sau thời kỳ cải cách mở cửa, việc thành lập
và duy trì Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 – 30 % đã giảiquyết được 12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn
Tại Nhật Bản, mặc dù có nhiều loại ngành thủ công truyền thống, nhưngchỉ có một số ít loại nghề được bảo tồn và phát triển Làng nghề (traditionalhandicraft village) đã trở thành niềm tự hào của tinh hoa văn hóa của người dânxứ sở phù tang, là các điểm thăm quan du lịch nổi tiếng dành cho học sinh, sinhviên, du khách trong nước và đặc biệt là khách du lịch quốc tế Ngoài mục tiêuphụ là kinh doanh các sản phẩm thủ công, tại các làng nghề là nơi diễn ra cáchoạt động đào tạo, truyền bá văn hóa Nhật Bản
Nhật Bản với sự thành lập “ Hiệp hội khôi phục và phát triển làng nghềtruyền thống” là hạt nhân cho sự nghệp khôi phục và phát triển ngành nghề cótính truyền thống dựa theo “ Luật nghề truyền thống” ( Trần Minh Yến, 2003)
Cùng với việc ban hành Luật Xúc tiến Nghề Thủ công mỹ nghệ truyềnthống (The Law for Promotion of Traditional Craft Industry) năm 1974, Hiệphội khôi phục và phát triển nghề truyền thống (The Association for thePromotion of Traditional Craft Industries) đã được thành lập vào năm 1975 và
Trang 19trở thành hạt nhân cho phát triển ngành nghề có tính truyền thống Các sản phẩm
để được coi là sản phẩm nghề truyền thống phải thỏa mãn 05 điều kiện, đó là:được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày; chủ yếu được sản xuất bằng tay (đây
là điểm mấu chốt quan trọng); được sản xuất bằng kỹ thuật truyền thống; sửdụng chủ yếu là nguyên liệu truyền thống; phải có tính chất tự nhiên theo vùng.Ngoài ra có các tiêu chí khác như: nghề thủ công truyền thống là nghề có thờigian tồn tại ít nhất là 100 năm và khu vực nghề truyền thống (làng nghề) phải cóít nhất 10 cơ sở với khoảng 30 lao động
Tại Thái Lan, Chiang Mai là trung tâm của các hoạt động tiểu thủ côngnghiệp Vốn là đất nước lấy công nghiệp du lịch làm nền tảng, hoạt động tiểuthủ công nghiệp cũng phát triển mạnh mẽ và có sự liên kết chặt chẽ với du lịchvăn hóa Thái Lan Khác với Việt Nam, từ góc độ quản lý, người ta phân chia cơ
sở sản xuất thủ công theo quy mô hoạt động (về sản phẩm và nhân lực) Và cũnggiống Nhật Bản, người ta coi các làng nghề chỉ là những nơi sản xuất bằng biệnpháp thủ công và tạo ra những sản phẩm truyền thống
Những năm đầu của thế kỉ XX,trên thế giới cũng có một số công trìnhnghiên cứu có liên quan đến làng nghề như : “Nhà máy làng xã”của Bành Tử(1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” củaN.H.Noace (1928) Năm 1964, tổ chức WCCI ( World crafts councilInternational – Hội đồng Quốc tế về thủ công thế giới) được thành lập, hoạtđộng phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyềnthống ( Ngô Trà Mai, 2008)
1.1.3 Tác động của làng nghề chế biến thực phẩm đến môi trường:
Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giớihạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lâncận Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi trường làngnghề Việt Nam", Hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm
Trang 20môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu khônggây ô nhiễm như thêu, may ) Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghềđều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơgây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóachất Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy, 46% làng nghề có môi trường bị ônhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ”
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề xẩy ra ở mấy loại phổbiến sau đây:
- Ô nhiễm nước: ở Việt Nam, các làng nghề chưa có hệ thống xử lý nướcthải công nghiệp, nước thải được đổ trực tiếp ra hệ thống kênh rạch chung hoặc
ra sông Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là quá trình xử lý công nghiệpnhư: chế biến lương thực thực phẩm, mây tre, dệt, in, nung nấu kim loại, tẩygiấy và nhuộm… Thường thì nước thải ra bị nhiễm màu nặng và gây ra hiệntượng đổi màu đối với dòng sông nhận nước thải, có mùi rất khó chịu Hơn nữa
là sự vượt quá TCCP đối với các hàm lượng BOD, COD, SS, và coliform, cáckim loại nặng… ở cả nước mặt và nước ngầm, làm chết các sinh vật thủy sinh vàchứa các mầm bệnh nguy hại cho con người
- Ô nhiễm không khí gây bụi, ồn và nóng do sử dụng than và củi chủ yếutrong sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất gốm sứ
- Ô nhiễm chất thải rắn do tái chế nguyên liệu (giấy, nhựa, kim loại…)hoặc do bã thải của các loại thực phẩm (sắn, dong), các loại rác thải thôngthường: nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khácthường được đổ ra bất kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào Làm cho nướcngầm và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe củacon người
Tại Báo Nhân dân ngày 23/6/2005, GS.TS Đặng Kim Chi đã cảnh báo
"100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt tiêuchuẩn cho phép Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực
Trang 21tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm
do sử dụng nhiên liệu than củi Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn cáclàng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đườngruột, bệnh ngoài da Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ônhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khítừ làng nghề"
Hà Nội là một trong những thành phố có nhiều làng nghề nhất cả nước.Sau khi mở rộng (2008), Hà Nội có tổng cộng 1.275 làng nghề, trong đó có 226làng nghề được UBND TP công nhận theo các tiêu chí làng nghề, với nhiều loạihình sản xuất khác nhau, từ chế biến lương thực, thực phẩm; chăn nuôi, giết mổ;dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da đến sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá; táichế phế liệu; thủ công mỹ nghệ Trong số này, làng nghề thủ công mỹ nghệchiếm 53% với 135 làng nghề, tiếp đó là làng nghề dệt nhuộm đồ da chiếm 23%với 59 làng nghề, làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm chiếm 16,9% với
43 làng nghề Hiện nay, phần lớn lượng nước thải từ các làng nghề này được xảthẳng ra sông Nhuệ, sông Đáy mà chưa qua xử lý khiến các con sông này đang
bị ô nhiễm nghiêm trọng Chưa kể đến một lượng rác thải, bã thải lớn từ cáclàng nghề không thể thu gom và xử lý kịp, nhiều làng nghề rác thải đổ bừa bãiven đường đi và các khu đất trống
Tình trạng ô nhiễm môi trường như trên đã ảnh hưởng ngày càng nghiêmtrọng đến sức khỏe của cộng đồng, nhất là những người tham gia sản xuất, sinhsống tại các làng nghề và các vùng lân cận
Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2008 cho thấy, tại nhiều làng nghề, tỷ
lệ người mắc bệnh (đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xuhướng gia tăng Tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày cànggiảm, thấp hơn 10 năm so với làng không làm nghề Ở các làng tái chế kim loại,
tỷ lệ người mắc bệnh ung thư, thần kinh rất phổ biến, nguyên nhân gây bệnh chủyếu là do sự phát thải khí độc, nhiệt cao và bụi kim loại từ các cơ sở sản xuất
Trang 22Tại các làng sản xuất kim loại, tỷ lệ người mắc các bệnh liên quan đếnthần kinh, hô hấp, ngoài da, điếc và ung thư chiếm tới 60% dân số Tại các làngnghề chế biến nông sản thực phẩm, bệnh phụ khoa chiếm chủ yếu (13 – 38%),bệnh về đường tiêu hóa (8 – 30%), bệnh viêm da (4,5 - 23%), bệnh đường hôhấp (6 - 18%), bệnh đau mắt (9 – 15%) Tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở làngnghề Dương Liễu 70%, làng bún Phú Đô là 50% [Nguyễn Thị Liên Hương,2006].
Một trong những nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm kể trên là do các cơ
sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, pháttriển tự phát, không đủ vốn và không có công nghệ xử lý chất thải Bên cạnh đó,
ý thức của chính người dân làm nghề cũng chưa tự giác trong việc thu gom, xử
lý chất thải Nếu không có các giải pháp ngăn chặn kịp thời thì tổn thất đối vớitoàn xã hội sẽ ngày càng lớn, vượt xa giá trị kinh tế mà các làng nghề đem lạinhư hiện nay
1.2 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển làng nghề:
Đối với các làng nghề chế biến thực phẩm, ở các nước châu Á như TháiLan, Malaysia, Trung Quốc…đã đặc biệt chú trọng tới các nghề chế biến tinhbột Theo tác giả Jesuitas của Thái Lan (1996), việc sử dụng phương pháp xử lýhiếu khí bằng bể Aerotank đối với nước thải chứa nhiều tinh bột thì lượng hữu
cơ theo COD có thể giảm tới 70%
Một số nước đã sử dụng bể Biogas, tận dụng bã thải trong sản xuất tinhbột để sản xuất khí sinh học, phục vụ cho các hoạt động khác như chạy động cơdiezel Theo các tác giả Thery và Dang (1979) sau này là Chen và Lee (1980),Trung Quốc đã sử dụng hơn 7 triệu bể lên men CH4, trong đó có khoảng 20.000
bể lớn tạo khí chạy động cơ diezel khí sinh học với khoảng 4.000.106m3khí/năm (Nguyễn Thị Kim Thái, 2004)
Đặc biệt, “việc sử dụng cộng đồng như những nhà quản lý môi trường
Trang 23không chính thức và tính cộng đồng là công cụ bảo vệ môi trường đã được thựchiện thành công ở một số nước trong khu vực và thế giới bằng các hình thứckhác nhau” (Đặng Đình Long, 2005) Cũng theo Đặng Đình Long, các nghiêncứu của World Bank đã chứng minh rằng, “dựa trên sức ép của cộng đồng, cộngvới việc tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý môi trường có thể cảithiện được lượng phát thải tại các cơ sở gây ô nhiễm”.
Một số quốc gia đã thực hiện thành công cách quản lý này như:Côlômbia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippin, Băng-la-đét, Malaysia, In-đô-nê-xia… với phương pháp cho điểm đơn giản để dân chúng nhận rõ cơ sở nào tuânthủ các tiêu chuẩn chống ô nhiễm của quốc gia và địa phương; cơ sở nào khôngtuân thủ Trung Quốc đã cho phép tính các loại phí ô nhiễm dựa trên sự thảoluận của cộng đồng Mức định giá phí ô nhiễm dựa trên mức độ ô nhiễm, mứcdân cư phải hứng chịu hậu quả của ô nhiễm, mức thu nhập bình quân… Cùngvới đó, chính phủ nước này cũng thường xuyên nâng cao năng lực của cộngđồng trong nhận thức và hành động giải quyết các vấn đề môi trường địaphương
Tại Hà Lan, nước thải được xử lý bằng công nghệ SBR qua 2 giai đoạn:giai đoạn hiếu khí chuyển hóa thành phần hữu cơ thành CO2, nhiệt năng vànước, amoni được nitrat hóa thành nitrit và/hoặc khí nitơ; giai đoạn kỵ khí xảy
ra quá trình đề nitrat thành khí nitơ Phốtphat được loại bỏ từ pha lỏng bằng địnhlượng vôi vào bể sục khí
Tại Tây Ban Nha, nước thải được xử lý bằng quy trình VALPUREN(được cấp bằng sáng chế Tây Ban Nha số P9900761) Đây là quy trình xử lý kếthợp phân hủy kỵ khí tạo hơi nước và làm khô bùn bằng nhiệt năng được cấp bởi
hỗ hợp khí sinh học và khí tự nhiên
Tại Thái Lan, công trình xử lý nước thải sau Biogas là UASB Đây làcông trình xử lý sinh học kỵ khí ngược dòng Nước thải được đưa vào từ dướilên, xuyên qua lớp bùn kỵ khí lơ lửng ở dạng các bông bùn mịn Quá trình
Trang 24khoáng hóa các chất hữu cơ diễn ra khi nước thải tiếp xúc với các bông bùn này.Một phần khí sinh ra trong quá trình phân hủy kỵ khí (CH4, CO2 và một số khíkhác) sẽ kết dính với các bông bùn và kéo các bông bùn lên lơ lửng trong bùn,tạo sự khuấy trộn đều giữa bùn và nước Khi lên đến đỉnh bể, các bọt khí đượcgiải phóng với khí tự do và bùn sẽ rơi xuống Để tăng tiếp xúc giữa nước thảivới các bông bùn, lượng khí tự do sau khi thoát ra khỏi bể được tuần hoàn trở lại
hệ thống
Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm các nước trên thế giớitrong việc phát triển làng nghề truyền thống, kinh nghiệm và công tác BVMT ta
có thể rút ra bài học sau:
- Phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống gắn với quá trình công nghiệp hoá nông thôn
- Cần chú trọng đào tạo các kiến thức và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở các vùng nông thôn
- Đề cao vai trò của Nhà nước trong việc giúp đỡ, hỗ trợ về tài chính cho làng nghề truyền thống ở nông thôn
- Nhà nước cần có chính sách thuế và thị trường phù hợp để thúc đẩy làngnghề truyền thống phát triển
- Khuyến khích sự kết hợp giữa đại công nghiệp với tiểu thủ công nghiệp
và trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống
- Cần áp dụng thêm các công cụ quản lý kinh tếvào trong công tác bảo vệ môi trường
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật với những chế tài xử lý mạnh, nghiêm minh trong việc xử lý các trường hợp vi phạm
1.3 Một số kinh nghiệm bảo vệ môi trường làng nghề tại Việt Nam:
1.3.1 Kinh nghiệm của làng Vạn Phúc - thành phố Hà Nội
Vạn Phúc hiện có 785 hộ dân làm nghề dệt, chiếm gần 60% trên tổng số
Trang 25hộ sinh sống tại làng nghề Hàng năm, Vạn Phúc sản xuất từ 2,5 đến 3 triệu m2vải, chiếm 63% doanh thu của toàn bộ làng nghề (khoảng 27 tỷ đồng) Hiện nay,Vạn Phúc có trên 1000 máy dệt và hàng ngày có khoảng 400 lao động thời vụ từquanh vùng đến đây làm việc Các hoạt động sản xuất của làng nghề đã thu hútđược một lượng lớn lao động tham gia, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao độngtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cửa hàng bán lụa tơ tằm mọc lênngày càng nhiều, hình thành ba dãy phố lụa với trên 100 cửa hàng nhằm đáp ứngnhu cầu ngày càng tăng của du khách.
Tuy nhiên, để có những kết quả khả quan như hiện tại, làng nghề VạnPhúc- Hà Nội đã có những bước chuyển quan trọng trong những thời kì vànhững kinh nghiệm cần phải học hỏi
Năm 2001, Hiệp hội làng nghề được thành lập Hiệp hội đã đề ra phươngchâm hoạt động đoàn kết, tụ hội, bảo tồn những tinh hoa của làng nghề nhằm tạo
ra những sản phẩm tinh tế phong phú đáp ứng nhu cầu của thị trường, đồng thờiphối hợp giúp nhau trong sản xuất kinh doanh, khích lệ cạnh tranh lành mạnh,hiệp hội thường xuyên tổ chức học hỏi trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất Đưa
ra hướng phát triển mới cho làng nghề: quảng bá thương hiệu làng nghề VạnPhúc gắn với du lịch
Hai cụm liên kết xuất khẩu Lụa tại Vạn Phúc được thành lập trong tháng10/2013, đây là một cơ hội rất lớn có thể mở rộng thị trường, quảng bá thươnghiệu và góp phần mang lại lợi ích kinh tế cho các nhà sản xuất tại làng lụa VạnPhúc nói riêng cũng như lụa Việt Nam nói chung Thành lập cụm liên kết xuấtkhẩu doanh nghiệp sẽ có cơ hội tham gia vào Hội chợ Thương mại Quốc tế Đây
là một cơ hội cho các doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm của mình với thị trườngquốc tế, kết nối trực tiếp với các đối tác thương mại tiềm năng cũng như kêu gọi
hỗ trợ từ các nhà đầu tư nước ngoài
Năm 2005, chính quyền địa phương triển khai thực hiện chính sách quyhoạch đất đai thực hiện dự án thủ công nghiệp làng nghề - đưa các hộ gia đình
Trang 26tập trung vào một nơi để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm tiếngồn và mở rộng quy mô sản xuất Sẽ có hai khu vực biệt lập là sản xuất và bánhàng Khu vực sản xuất sẽ được chia cho người dân tự xây dựng nhà xưởng, lắpđặt máy móc Đồng thời khu vực này sẽ được lắp đặt hệ thống thu gom, xử lýnước thải trước khi thải ra môi trường.
Như vậy, qua quá trình phát triển của làng lụa Vạn Phúc chúng ta cầnnhận thấy rằng trong mỗi giai đoạn phát triển của làng nghề cần có những chínhsách hợp lý (Bộ kế hoạch và đầu tư, 2013)
1.3.2.Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam có 61 làng nghề đa dạng về quy mô và loại nghề truyềnthống Sau thời gian bị mai một dần do yếu tố lịch sử, ngày nay những làng nghềtại tỉnhQuảng Nam đang được quan tâm, khôi phục và phát triển bền vững.Chính quyền tỉnh Quảng Nam chú trọng đến việc đào tạo, nâng cao tay nghề chocác nghệ nhân trẻ, đây là một trong những yếu tố quyết định việc phát triển làngnghề ổn định Bên cạnh đó, với các chính sách cho vay vốn, chính sách thuế…
hỗ trợ cùng người dân tìm hướng đi mới cho làng nghề
Một số làng nghề điển hình của địa phương đã áp dụng phương pháp gắnphát triển làng nghề với phát triển du lịch địa phương như làng gốm Thanh Hà,làng đúc đồng Phước Kiều, làng dệt Mã Châu …
Tại làng gốm Thanh Hà nằm bên bờ sông Thu Bồn thuộc xã Cẩm Hà,cách phố cổ Hội An khoảng 2km về hướng Tây, người dân nơi đây đã mở ra cácdịch vụ như hướng dẫn du khách cách làm gốm từ khâu nhào đất sét, nắn hìnhthù đến cách nung sao cho có màu bóng đẹp không bị cháy, bị chai GốmThanh Hà được sản xuất hoàn toàn bằng thủ công, sản phẩm chủ yếu là đồ dùngphục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, chum, vại, bình hoa, chậucảnh Điểm đặc biệt của sản phẩm gốm Thanh Hà là nhẹ hơn so với các sảnphẩm cùng loại của những địa phương khác
Trang 27Bên cạnh việc phát triển làng nghề, việc BVMT cũng là một nhiệm vụquan trọng Một kinh nghiệm đáng chú ý được rút ra trong công tác bảo vệ môitrường của Quảng Nam đó là việc đầu tư ngân sách cho phát triển và giải quyếtnhững vấn đề môi trường bức xúc trong các làng nghề, đồng thời xây dựng môhình làng nghề gắn với phát triển khu du lịch và dịch vụ.
Tổng vốn đầu tư hiện nay đã lên tới trên 20 tỷ đồng Nguồn vốn này được
hỗ trợ trong các làng nghề mở rộng phát triển sản xuất và áp dụng các biện phápcải thiện môi trường Nhờ đó mà nhiều cơ sở sản xuất ở các làng nghề đã chủđộng đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm
và hạn chế phát thải vào môi trường Hiện nay toàn tỉnh có 19/51 làng nghềđược công nhận đạt tiêu chuẩn về môi trường, trong đó có 3 làng nghề mộc KimBồng (Hội An), ươm tơ dệt lụa Mỹ Châu (Duy Xuyên) và đúc đồng Phước Kiều(Điện Bàn) được chọn làm thí điểm xây dựng mô hình làng nghề gắn với pháttriển du lịch và dịch vụ với tổng nguồn vốn đầu tư trên 5 tỷ đồng (Cồng thôngtin Sổ tay du lịch và khám phá Quảng Nam, 2011)
Qua việc tìm hiểu quá trình phát triển làng nghề và công tác BVMT củamột số tỉnh, ta rút ra bài học sau :
+ Bước đầu đã lập quy hoạch và giải quyết mặt bằng cho sản xuất cho cáclàng nghề như quy hoạch khu, cụm, điểm tách ra khỏi khu dân cư để có điềukiện xử lý ô nhiễm môi trường đảm bảo cho làng nghề phát triển bền vững
+ Có chính sách đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị, khuyến khích, tạo điềukiện cho các doanh nghiệp áp dụng các thành tựu khoa học
+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT, đặc biệt là việc cụ thể hóa cácvăn bản về BVMT các làng nghề Cho đến nay, trong hệ thống luật pháp củanước ta chưa có một văn bản nào quy định cụ thể về việc BVMT làng nghề, điềunày gây khó khăn cho công tác quản lý môi trường các làng nghề
+ Tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý vấn đề chống ônhiễm môi trường Tuy đã được hình thành, song các công cụ kinh tế được áp
Trang 28dụng chưa phát huy được tác dụng trong việc hạn chế và giảm thiểu ô nhiễmmôi trường Nguyên nhân là việc áp dụng chưa cứng rắn, một số công cụ cònquá chung chung, biểu thuế chưa thật sự phù hợp với đặc điểm tình hình nềnkinh tế nước ta Việc hoàn thiện và tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế làcần thiết nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả trong kiểm soát và xử lý ô nhiễm môitrường.
+ BVMT là nhiệm vụ của toàn xã hội do đó cần phải tăng cường công táctuyên truyền, giáo dục để nâng cao ý thức BVMT của người dân, có các biệnpháp cần thiếtnhằm lôi kéo sự tham gia của cộng đồng vào việc giải quyết cácvấn đề BVMT
1.3.3.Mô hình tái sử dụng chất thải chăn nuôi trong BVMT làng nghề và phát triển kinh tế - xã hội:
- Việt Nam hiện phải đối mặt với tình trạng khó khăn trong quản lý chấtthải chăn nuôi Có khoảng 55% trang trại nuôi lợn trên cả nước tập trung ở khuvực Đồng bằng sông Hồng
Cụ thể, với trên 19,3 tỷ kg chất thải từ khoảng 16,5 triệu con lợn mỗi năm,Việt Nam hiện phải đối mặt với tình trạng khó khăn trong quản lý chất thải chănnuôi Có khoảng 55% trang trại nuôi lợn trên cả nước tập trung ở khu vực Đồngbằng sông Hồng, trong đó phần lớn các chất thải chăn nuôi không được sử dụng
mà được thải ra môi trường
Đây là thông tin được đưa ra tại hội thảo “Mô hình kinh doanh và giảipháp tái sử dụng chất thải nông nghiệp tại Việt Nam” diễn ra hôm nay (22/5), tại
Hà Nội Hội thảo do Viện Quản lý nước quốc tế (IWMI) phối hợp với Trungtâm Nghiên cứu y tế cộng đồng và sinh thái (CENPHER), Trường đại học Y tếCộng đồng (HSPH) tổ chức
Tại hội thảo, thông tin về một số mô hình kinh doanh dựa trên việc tái sửdụng chất thải chăn nuôi đã được trình bày Nếu được áp dụng, những mô hình
Trang 29này sẽ đem lại lợi ích cho nhiều đơn vị ở các quy mô khác nhau.
Điển hình nhất trong chăn nuôi, các doanh nghiệp chăn nuôi có thể sửdụng chất thải của lợn để sản xuất năng lượng hoặc phân hữu cơ Hiện ngay với
mô hình chăn nuôi theo trang trại ở Việt Nam thì tỷ lệ sử dụng gas sinh học(biogas) ở cả 3 khu vực Bắc, Trung, Nam còn hết sức hạn chế (khu vực miềnBắc ở mức 58,5%, miền Trung 41,9% và miền Nam là 53,5%) Việc tự tái sửdụng sẽ giúp tiết kiệm nhiều chi phí Ngoài ra, có thể bán nguồn năng lượng này
để tăng doanh thu phụ Tái sử dụng hiệu quả chất thải nông nghiệp sẽ giúp chocác doanh nghiệp phát triển bền vững cả về môi trường và kinh tế
- Làng nghề chăn nuôi bò sữa, bò thịt Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội cóquy mô chăn nuôi khoảng 3000 con bò/năm Trung bình, mỗi con thải khoảng20-25 kg phân/ngày Trong nhiều năm qua, lượng phân thải ra là vấn đề bức xúcđặt ra với chính quyền địa phương Liên minh HTX Việt Nam phối hợp vớiHTX nông nghiệp Phù Đổng thành lập tổ hợp tác thu gom xử lý chất thải chănnuôi (phân bò) để nuôi giun Giun thành phẩm được sử dụng trong mô hình nuôi
ba ba, cá quả, lươn, gà, vịt… và bán cho các địa phương Phân giun được sửdụng để trồng cây cảnh, trồng rau sạch trong và ngoài địa bàn Hiện nay, môhình này đang được hoàn thiện và tuyên truyền nhân rộng với mục tiêu pháttriển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho các hộ xã viên, đồng thời giảm thiểu ônhiễm môi trường làng nghề (Phạm Tố Oanh, 2012)
Trang 30CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Làng nghề sản xuất đậu rùa tại xã Tuân Chính Trong đó, nghiên cứu tấptrung vào các vấn đề môi trường do chất thải rắn và nước thải sản xuất của làngnghề tác động
Làng nghề đậu rùa Tuân Chính có truyền thống từ lâu đời Trước kia, làngnào trong xã cũng làm đậu rùa nhưng đến nay chỉ tập chung ở một số thôntrong đó có thôn Trung Hoạt động sản xuất đậu rùa thường đi kèm với các hoạtđộng chăn nuôi nhỏ lẻ của các hộ sản xuất
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: thôn Trung, xã Tuân chính, huyện Vĩnh Tường,tỉnh Vĩnh Phúc
Phạm vi thời gian: 1/2016 – 5/2016
2.3 Nội dung nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội xã Tuân Chính
- Thực trạng sản xuất tại làng nghề đậu rùa
- Đặc trưng và ảnh hưởng của chất thải rắn, nước thải từ quá trình sảnxuất đậu rùa đến môi trường
- Hiện trạng công tác thu gom, quản lý chất thải tại thôn Trung
- Đề xuất các biện pháp khắc phục các vấn đề còn tồn tại
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội xã Tuân Chính.Thu thập các số liệu về hiện trạng môi trường từ Phòng Tài Nguyên và Môi