--- VĂN CHÍ HIỂN TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN... CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH
Trang 1-
VĂN CHÍ HIỂN
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
Trang 2CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong luận văn là số liệu trung thực
TPHCM, tháng 09 năm 2015
VĂN CHÍ HIỂN Học viên cao học khóa 22 Chuyên ngành: Tài chính - ngân hàng Trường Đại học kinh tế TP.HCM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 1
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu: 2
1.5 Đối tượng nghiên cứu 2
1.6 Phương pháp nghiên cứu 2
1.7 Bố cục 3
1.8 Ý nghĩa, và ứng dụng của đề tài nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 5
2.1 Cơ sở lý luận về thanh khoản và tỷ suất sinh lời ngân hàng: 5
2.1.1 Thanh khoản ngân hàng: 5
2.1.1.1 Khái niệm thanh khoản ngân hàng: 5
2.1.1.2 Cung và cầu thanh khoản: 6
2.1.1.3 Các phương pháp đo lường trạng thái thanh khoản của ngân hàng: 7
2.1.1.4 Vai trò của thanh khoản: 9
2.1.1.5 Rủi ro thanh khoản 10
Trang 42.1.3 Tác động của các tài sản thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các ngân
hàng thương mại cổ phần: 18
2.2 Các nghiên cứu trước đây về tác động của tài sản thanh khoản đến tỷ suất sinh lời: 19
Kết luận chương 2:………25
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THANH KHOẢN, TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2014 26
3.1 Thực trạng thanh khoản các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014 26
3.2 Thực trạng tỷ suất sinh lời ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014: 28
3.2.1 Thực trạng về lợi nhuận 28
3.2.2 Thực trạng về tỷ suất sinh lời 31
Kết luận chương 3: 34
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 35
4.1 Dữ liệu: 35
4.2 Các biến trong mô hình: 35
4.2.1 Biến phụ thuộc : 35
4.2.2 Biến độc lập: 35
4.3 Mô hình hồi quy: 38
4.3.1 Thống kê mô tả : 39
4.3.2 Phân tích tương quan: 42
4.3.3 Kết quả hồi quy: 43
Trang 5KHOẢN VÀ NÂNG CAO TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 50
5.1 Định hướng phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam 50
5.2 Một số kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản và nâng cao tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 51
5.2.1 Đối với ngân hàng Nhà nước 51
5.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại 54
5.3 Kết luận: 62
Kết luận chương 5:………63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Hình 3.1: Tỷ lệ tài sản thanh khoản trong các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2007-2014 28 Hình 3.2: Lợi nhuận sau thuế các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2007-2014 31 Hình 3.3: Tỷ lệ ROA các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014 33 Hình 3.4: Tỷ lệ ROE các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014 33
Trang 7Bảng 3.1: Thống kê mô tả các biến 40
Bảng 3.2: Ma trận tương quan giữa các biến 42
Bảng 3.3: Kết quả VIF theo hồi quy phụ 42
Bảng 3.4: Kết quả hồi quy trong phương trình có biến phụ thuộc ROA 43
Bảng 3.5: Kết quả hồi quy trong phương trình có biến phụ thuộc ROE 44
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Kinh tế thế giới đã hồi phục, bước ra khỏi cuộc khủng hoảng bùng phát từ tháng 8 năm 2007.Chúng ta đã rút ra được không ít những bài học từ cuộc khủng hoảng này, một trong số đó là việc rủi ro thanh khoản đã bị đánh giá thấp.Chúng ta
đã tranh luận nhiều về rủi ro vỡ nợ, khả năng thanh toán và các Hiệp định Basel trong những năm qua mà giảm sự chú ý vào rủi ro thanh khoản.Giờ nhìn lại, rủi ro này cần được quan tâm hơn nữa.Rủi ro thanh khoản thật sự là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với lĩnh vực tài chính Trong thế giới ngày nay, nhiều ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng căng thẳng thanh khoản, khi mà sự cạnh tranh khốc liệt về thu hút tiền gửi buộc các ngân hàng phải tìm kiếm các nguồn tài trợ khác Khả năng thanh khoản không hợp lý là dấu hiệu đầu tiên của tình trạng bất ổn về tài chính.Việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản sẽ giúp cho các ngân hàng thương mại vững vàng trước những cú sốc thanh khoản từ nền kinh tế.Tuy nhiên, việc sở hữu quá nhiều tài sản có tính thanh khoản sẽ làm ngân hàng mất đi các cơ hội kinh doanh, dẫn đến nguy cơ giảm lợi nhuận.Với những mong muốn của bản thân trong việc tìm hiểu về thanh khoản ngân hàng, vận dụng những mô hình trên thế giới vào việc kiểm định tác động của việc sỡ hữu các tài sản thanh khoản lên tỷ suất sinh lời của ngân hàng, điều đó đã thúc đẩy tôi quyết tâm nghiên cứu, tìm hiểu sâu và hoàn thành đề tài “Tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” Đề tài được thực hiện không ngoài mục đích trên và tác giả hy vọng sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp để vấn đề nghiên cứu được hoàn thiện hơn
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Bài nghiên cứu nhằm kiểm định tác động của tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, từ đó giúp cơ quan quản lý
có những chính sách điều hành phù hợp, đồng thời giúp nhà quản trị của các ngân
Trang 9hàng có thể cân đối tỷ lệ nắm giữ tài sản có tính thanh khoản hợp lý để đạt đươc lợi nhuận mong muốn, đồng thời vẫn đảm bảo được an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản có tác động đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam?
- Nếu có tồn tại tác động này thì chiều hướng tác động của việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam như thế nào?
- Cơ quan quản lý nhà nước và bản thân các ngân hàng cần có giải pháp gì trong việc cân đối tỷ lệ nắm giữ tài sản có tính thanh khoản hợp lý để đạt được tỷ suất sinh lợi mong muốn mà vẫn đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng?
1.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
-Về không gian: Nghiên cứu 30 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
-Về thời gian: Dữ liệu dùng để thực hiện luận văn được thu thập trong khoảng thời gian chủ yếu từ năm 2007-2014, trong đó gồm dữ liệu có sẵn từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các ngân hàng, số liệu từ các chuyên đề phân tích của Tổng cục thống kê
1.5 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tài sản có tính thanh khoản và tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 10- Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng dựa trên mô hình hồi quy dữ liệu dạng bảng Phương pháp nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình GMM để phân tích mối quan hệ giữa các biến trong mô hình Dữ liệu được thu thập từ 30 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam từ năm 2007 đến 2014 Dữ liệu về các biến nghiên cứu được thu thập thứ cấp từ các báo cáo tài chính kiểm toán của các ngân hàng, được tính toán trước khi đưa vào mô hình Dữ liệu về tỷ lệ lạm phát hàng năm của Việt Nam, tỷ lệ thất nghiệp hàng năm của Việt Nam và tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm của Việt Nam được lấy từ website của Tổng cục thống kê
Dữ liệu sau khi được thu thập được xử lý với phần mềm Eview để đưa ra kết luận
về mối quan hệ cũng như ý nghĩa thống kê của các biến
1.7 Bố cục
Gồm 5 chương
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Chương 3: Thực trạng thanh khoản, tỷ suất sinh lời cuả các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014
Chương 4: Mô hình nghiên cứu thực nghiệm
Chương 5: Một số kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản và nâng cao tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
1.8 Ý nghĩa, và ứng dụng của đề tài nghiên cứu
Việc thực hiện nghiên cứu này có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn.Về mặt khoa học, nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa thanh khoản và tỷ suất sinh lời của ngân hàng Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa thanh khoản và tỷ suất sinh lời ngân hàng chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam Do đó, luận văn
mở hướng cho những nghiên cứu sau này, chuyên sâu, khắc phục những nhược điểm mà nghiên cứu này chưa làm được
Trang 11Về mặt thực tiễn, nghiên cứu sẽ đưa ra những kết luận hiện trạng về thanh khoản và tác động của thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua nghiên cứu 30 ngân hàng tiêu biểu Từ đó giúp cơ quan quản lý có những chính sách điều hành phù hợp.Đồng thời, giúp các nhà quản trị ngân hàng thấy được tầm quan trọng của việc nắm giữ các tài sản thanh khoản đối với lợi nhuận của ngân hàng, để đưa ra những chính sách thích hợp tối
đa hóa lợi nhuận
Trang 12CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
2.1 Cơ sở lý luận về thanh khoản và tỷ suất sinh lời ngân hàng:
2.1.1 Thanh khoản ngân hàng:
2.1.1.1 Khái niệm thanh khoản ngân hàng:
Với một ngân hàng, tính thanh khoản được xét trên ba góc độ tính thanh khoản của tài sản, tính thanh khoản của nguồn và tính thanh khoản của ngân hàng, trong
đó tính thanh khoản của ngân hàng được tạo lập với tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn
Tính thanh khoản của tài sản:
Tài sản được xem là có tính thanh khoản phải có các đặc điểm sau: -Phổ biến trên thị trường nên có thể chuyển hoá ra tiền một cách nhanh chóng
-Giá cả ổn định để không ảnh hưởng đến tốc độ và doanh thu bán tài sản -Người bán có thể mua lại dễ dàng với giá không cao hơn nhiều so với giá
cả đã bán ra để khôi phục khoản đầu tư ban đầu
Những tài sản có tính thanh khoản phổ biến bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, trái phiếu kho bạc, các khoản vay ngân hàng trung ương, trái phiếu đô thị, chứng khoán của các cơ quan chính phủ, chấp
phiếu của ngân hàng khác
Tính thanh khoản của nguồn
Tính thanh khoản của nguồn là khả năng huy động, mở rộng nguồn vốn của ngân hàng, được đo bằng thời gian và chi phí mở rộng nguồn khi cần thiết Thời gian và chi phí càng thấp thì tính thanh khoản của nguồn càng cao và ngược lại Ví
dụ, một ngân hàng có khả năng huy động vốn với khoảng thời gian và mức lãi suất hợp lý thì với ngân hàng đó tính thanh khoản của nguồn là cao
Trang 13Tính thanh khoản của ngân hàng
Tính thanh khoản trong ngân hàng được hiểu đơn giản có nghĩa là khả năng của ngân hàng có thể đáp ứng được các yêu cầu rút tiền bất cứ khi nào của người gửi hoặc là khả năng cung ứng được tất cả các khoản vay tín dụng hay vay tiền mặt cho người đi vay Như vậy, một ngân hàng đươc coi là thanh khoản tốt nếu có khả năng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thanh toán chi trả phát sinh với một chi phí hợp lý đúng vào thời điểm khách hàng hoặc đối tác có nhu cầu Tính thanh khoản của một ngân hàng được tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản mà ngân hàng đó nắm giữ
và tính thanh khoản của nguồn, tức là tài sản hiện có (dự trữ) và nguồn vốn có thể huy động mới Một ngân hàng có tính thanh khoản khi có nhiều tài sản thanh khoản hoặc có khả năng mở rộng nguồn vốn nhanh với chi phí thấp hoặc cả hai đều trên
Tính thanh khoản mang ý nghĩa thời điểm rất lớn, theo nghĩa, một số yêu cầu thanh khoản là tức thời hoặc gần như tức thời Chẳng hạn, một khoản tiền gửi lớn đến hạn và khách hàng không có ý định tiếp tục duy trì số vốn này tại ngân hàng; khi đó, ngân hàng buộc phải tìm kiếm các nguồn vốn có thể sử dụng ngay như vay từ ngân hàng khác Ngoài ra, yếu tố thời vụ, chu kỳ cũng rất đáng quan trọng trong việc dự kiến cầu thanh khoản dài hạn Ví dụ, cầu về thanh khoản thường rất lớn vào mùa hè, cuối hè gắn với ngày tựu trường, ngày nghỉ và các kế hoạch du lịch của khách hàng Việc kế hoạch được những yêu cầu thanh khoản này, sẽ giúp ngân hàng hoạch định được nhiều nguồn đáp ứng cầu thanh khoản dài hạn hơn là trong trường hợp đối với cầu thanh khoản ngắn hạn
2.1.1.2 Cung và cầu thanh khoản:
Cung về thanh khoản:
+Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm:
- Các khoản tiền gửi sẽ nhận được
- Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ
- Các khoản tín dụng sẽ thu về
Trang 14- Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng
- Vay mượn từ thị trường tiền tệ
+ Nhân tố tác động đến nguồn cung thanh khoản:
- Quy định và chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước
- Các điều kiện kinh tế vĩ mô
- Sự phát triển và tính dễ dàng tiếp cận của thị trường tiền tệ
-Hoạt động của các thị trường khác như thị trường chứng khoán phái
sinh
Cầu về thanh khoản
+ Trong lĩnh vực ngân hàng, những hoạt động sau đây tạo ra nhu cầu về
thanh khoản:
- Khách hàng rút các khoản tiền gửi
- Đề nghị vay vốn của khách hàng
- Thanh toán các khoản phải trả khác
- Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng
- Thanh toán cổ tức cho cổ đông
+ Nhân tố tác động đến cầu thanh khoản:
- Các điều kiện kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát
- Lãi suất huy động và lãi suất cho vay
- Sự khác biệt đáng kể về lợi tức giữa các khoản tiền gửi và các cơ hội đầu tư khác
2.1.1.3 Các phương pháp đo lường trạng thái thanh khoản của ngân hàng:
Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn:
Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là: khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, ngân hàng phải đối mặt với khe hở tài trợ (financing gap) Khe hở này được
Trang 15đo bằng độ chênh lệch giữa tổng nguồn vốn huy động trung bình và tổng dư nợ trung bình
Khe hở tài trợ = Tổng dư nợ trung bình - Tổng nguồn vốn huy động trung bình
Nếu khe hở này là dương thì ngân hàng buộc phải bù đắp bằng các khoản tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản hoặc vay nợ trên thị trường tiền tệ
Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn:
Với phương pháp này, bước đầu tiên là tiền gửi và các nguồn vốn khác nhau của ngân hàng được chia thành nhiều nhóm dựa trên khả năng vốn bị rút ra khỏi ngân hàng, ví dụ như:
Sau đó nhà quản trị ngân hàng dự tính con số vốn vay tối đa tiềm năng và cần
có lượng dự trữ thanh khoản hay năng lực vay vốn hợp lý, tương đương với 100% phần chênh lệch giữa tổng dư nợ thực tế và tổng cho vay tối đa tiềm năng Do đó: Tổng yêu cầu thanh khoản của ngân hàng = Σ Tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x (nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc) + 100 x (quy
mô cho vay tối đa tiềm năng – tổng dư nợ hiện tại)
Phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản:
Nhu cầu thanh khoản được ước tính dựa trên chỉ số thanh khoản và các chỉ báo khác của trạng thái thanh khoản, cụ thể như sau:
- Chỉ số thanh khoản: đo lường tổn thất mà một ngân hàng gánh chịu khi phải bán tháo (bán ngay lập tức) tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản so với mức giá
Trang 16của tài sản đó trên thị trường (ở điều kiện bình thường) Công thức đo lường chỉ số thanh khoản được xác định như sau:
I = Σ[wi×(Pi/P*i)]
Trong đó: wi: tỷ trọng của tài sản thứ i trong danh mục tài sản
Pi: Giá bán tháo tài sản của tài sản thứ i
P*i: Giá thị trường của tài sản thứ i
Các chỉ báo trạng thái thanh khoản khác:
- Chỉ số dự trữ thanh toán/tổng tài sản Có
- Tổng dư nợ/tổng tiền gửi
- Tỷ lệ khả năng chi trả
- Tiền đi vay/ tổng tài sản
- Chỉ tiêu cơ cấu tiền gửi
- Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản
- Cam kết tín dụng/tổng tài sản
- Chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn
- Chỉ tiêu tiền gửi thường xuyên
2.1.1.4 Vai trò của thanh khoản:
Có hai nguyên nhân giải thích tại sao thanh khoản lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu cho vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và
có trật tự Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên ngân hàng về
cơ bản luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn Ngoài ra, thanh khoản còn ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền và người cho vay.Thanh khoản kém, chứ không phải
là chất lượng tài sản kém, mới là nguyên nhân trực tiếp của hầu hết các trường hợp
đổ vỡ ngân hàng
Trang 172.1.1.5 Rủi ro thanh khoản
- Khái niệm:
Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán
-Nguyên nhân:
Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua
- Thứ nhất: tăng trưởng tín dụng quá nóng và sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài
sản có và tài sản nợ do ngân hàng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn Sự tăng trưởng tín dụng quá nóng của các ngân hàng thương mại đi kèm với cơ cấu đầu tư không hợp lý, tập trung lớn vào đầu tư bất động sản chạy theo lợi nhuận
sẽ phát sinh rủi ro cao khi thị trường đóng băng, tạo sự mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động, thường gặp nhất là dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi
ra để chi trả tiền gửi đến hạn Do đó, dòng tiền vào bên tài sản có thường không trùng khít để trang trải dòng tiền ra bên tài sản nợ Vậy nên, ngân hàng luôn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản Chính điều này đã tạo
ra sự rủi ro thanh khoản cao đối với ngân hàng thương mại
- Thứ hai: công tác dự báo và phân tích thị trường của các ngân hàng thương
mại Việt Nam còn nhiều hạn chế Các ngân hàng thương mại còn có tư tưởng ỷ lại
quá nhiều vào cơ chế nhà nước, trong khi các ngân hàng nước ngoài, ngoài việc chấp hành nghiêm túc các tỷ lệ an toàn còn thường xuyên nghiên cứu, dự báo sát các diễn biến của thị trường nên đã dự phòng vốn thanh khoản và điều chỉnh kịp thời, không bị động trước những tác động thị trường
- Thứ ba: tính liên kết hệ thống giữa các ngân hàng thương mại để đảm bảo an toàn thanh toán còn yếu, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao tạo
Trang 18khe hở cho khách hàng gửi tiền “làm giá, tăng lãi suất” hoặc rút tiền chuyển sang các ngân hàng thương mại khác dẫn đến làm suy yếu khả năng chống đỡ thiếu hụt thanh khoản của hệ thống
- Thứ tư: vấn đề quản trị thanh khoản tại các ngân hàng thương mại chưa tốt
Do sự yếu kém từ quản trị tài sản nợ, có của các ngân hàng thương mại và sự thiếu hụt của các công cụ quản lý hữu hiệu…Ngân hàng Nhà nước cũng khó nắm bắt chắc chắn tình hình thanh khoản cũng như sự thay đổi lớn trong tài sản của mỗi ngân hàng thương mại để điều chỉnh quy định của mình
- Thứ năm: sự nhạy cảm của tài sản tài chính với những thay đổi của lãi suất Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi tiền có mức lãi suất cao hơn Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất thấp hơn lãi suất thỏa thuận Như vậy thay đổi lãi suất sẽ ảnh hưởng đến luồng tiền vào ra của ngân hàng cà cuối cùng là đến thanh khoản ngân hàng
-Thứ sáu, rủi ro thanh khoản còn đi kèm với nhiều rủi ro khác Nếu một đối tác vay tiền của ngân hàng có nguy cơ vỡ nợ thì ngân hàng sẽ phải huy động tiền từ những nguồn khác để thanh toán khoản đi vay của ngân hàng, bù đắp vào chi trả này Nếu ngân hàng không có khả năng huy động tiền từ các nguồn khác để thanh toán khoản nợ thì chính ngân hàng này cũng phải đối mặt với rủi ro vỡ nợ Như vậy, rủi ro thanh khoản gắn liền với rủi ro tín dụng
Ngoài những nguyên nhân trên, còn có nhiều nguyên nhân như: do các giao dịch bằng ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu tập trung vào một loại ngoại tệ là USD; những tác động trực tiếp từ các loại rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới rủi ro thanh khoản…
-Tác động của rủi ro thanh khoản đến hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần
+ Tác động của rủi ro thanh khoản đến mỗi ngân hàng riêng lẻ:
-Làm tăng chi phí do ngân hàng phải huy động với lãi suất cao hơn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản (mua thanh khoản trên thị trường); giảm thu nhập do ngân
Trang 19hàng phải bán các chứng khoán hoặc các tài sản khác với giá thấp Hậu quả dẫn đến giảm giá trị thị trường vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại
-Nếu thiếu vốn khả dụng kéo dài, chậm được khắc phục có thể làm mất uy tín của ngân hàng trên thị trường, gây sức ép và trở ngại cho quá trình huy động vốn và cho vay, giảm thấp khả năng sinh lời Mức độ nghiêm trọng hơn là xảy ra hiệu ứng dây chuyền bằng hiện tượng rút tiền ồ ạt của người gửi tiền, có thể đẩy ngân hàng thương mại đến bờ vực phá sản hoặc bị sát nhập
+ Tác động của rủi ro thanh khoản đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế:
- Việc phá sản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảng loạn của người gửi tiền, kéo theo sự rút tiền hàng loạt ở các ngân hàng khác và lúc này kéo theo sự sụp
đổ của toàn hệ thống chứ không chỉ của một ngân hàng riêng lẻ
- Tăng trưởng của nền kinh tế bị giảm sút
-Quản trị rủi ro thanh khoản
Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của ngân hàng thương mại là đảm bảo khả năng thanh khoản đầy đủ Một ngân hàng thương mại được xem là có khả năng thanh khoản nếu nó tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn khả dụng ở chi phí hợp lý và đúng lúc cần thiết Điều này có nghĩa là ngân hàng có sẵn lượng ngân quỹ dự trữ trong tay hoặc có thể tăng thêm bằng cách vay mượn hoặc bán bớt tài sản mà ngân hàng đang có Thực tế ta thấy hiện tượng thiếu hụt thanh khoản thường là dấu hiệu ngân hàng gặp khó khăn về tài chính Nhiều ngân hàng thực sự cho rằng có thể vay mượn các nguồn thanh khoản không giới hạn bất cứ lúc nào cần đến Do đó, không phải dự trữ thanh khoản dưới các hình thức tài sản có giá trị và dễ bán Tuy nhiên, những năm gần đây, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính, sự thiếu hụt thanh khoản ở mức độ lớn đã khiến các ngân hàng phải quan tâm đến công tác quản trị rủi
ro thanh khoản
Quản trị rủi ro thanh khoản là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh khoản (tính lỏng) của tài sản và quản lý tốt cấu trúc danh mục của nguồn vốn Quản trị rủi ro bao gồm năm bước: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa và tài trợ rủi ro
Trang 20-Nhận diện rủi ro
Nhà quản trị thanh khoản phải thường xuyên theo dõi, bám sát hoạt động của các bộ phận huy động vốn và sử dụng vốn để điều phối hoạt động của các bộ phận này sao cho ăn khớp với nhau Chẳng hạn, khi một khoản tiền gửi lớn đến hạn trong vài ngày tới, thông tin này cần được chuyển ngay đến nhà quản trị thanh khoản, để có quyết sách thích hợp chuẩn bị nguồn vốn đáp ứng nhu cầu này Việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động của ngân hàng giúp nhà quản tri thống kê được tất cả các loại rủi ro, kể cả dự báo những loại rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai, để từ đó có các biện pháp kiểm soát, tài trợ cho từng loại rủi ro phù hợp
-Phân tích rủi ro:
Khi nhận diện được rủi ro, nhà quản trị sẽ tiến hành phân tích nhằm đề ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro Trên cơ sở tìm ra các nguyên nhân, tác động đến các nguyên nhân làm thay đổi chúng, qua đó sẽ phòng ngừa rủi ro một cách hiệu quả hơn
-Đo lường rủi ro:
Muốn đo lường rủi ro thanh khoản, nhà quản trị phải thu thập số liệu, lập ma trận đo lường và phân tích, đánh giá Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng, người ta sử dụng hai tiêu chí: tần suất xuất hiện của rủi ro và biên độ của rủi ro, tức là mức độ nghiêm trọng của tổn thất, đây là tiêu chí có vai trò quyết định Trong những năm gần đây, một số phương pháp đo lường rủi thanh khoản đã được phát triển như phương pháp nguồn và sử dụng thanh khoản, phương pháp cung cầu thanh khoản, phương pháp chỉ số thanh khoản và một số phương pháp khác Mỗi phương pháp trên dựa trên một số giả định là ngân hàng có thể ước lượng gần đúng mức cầu thanh khoản thực tế tại một thời điểm nhất định Do đó, khi nhận được thông tin mới, nhà quản trị phải điều chỉnh mức dự tính về yêu cầu thanh khoản
Trang 21-Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro:
Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro Đó là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xãy ra đối với ngân hàng Các biện pháp kiểm soát có thể là: phòng tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, chuyển giao rủi ro, đa dạng rủi ro, quản trị thông tin,
-Tài trợ rủi ro:
Mặc dù, đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy
ra Khi đó, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lý Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ phù hợp Nhìn chung, các biện pháp này được chia làm hai nhóm: tự khắc phục và chuyển giao rủi ro
-Các chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản
Quản trị rủi ro thanh khoản tài sản - chiến lược dự trữ:
Trong chiến lược này, ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản, chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán dễ bán Khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện, ngân hàng sẽ sử dụng phần dự trữ tiền mặt vượt quá và tiến hành bán một số tài sản cho tới khi toàn bộ nhu cầu được đáp ứng
Để quản trị rủi ro thanh khoản theo chiến lược này, ngân hàng có thể lựa chọn những tài sản:
+ Các khoản dự trữ ngân quỹ, bao gồm:
- Dự trữ bắt buộc
- Dự trữ thanh toán (dự trữ sơ cấp)
+ Dự trữ ngoài ngân quỹ (dự trữ thứ cấp): các khoản dự trữ này chủ yếu tập trung vào việc đầu tư chứng khoán có tính thanh khoản, dễ chuyển đổi thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi cần thiết như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, thương phiếu chấp nhận thanh toán, giấy nợ ngắn hạn,…
Trang 22Quản trị rủi ro thanh khoản nợ - chiến lược huy động:
Trong phương pháp này, đại bộ phận các thiếu hụt thanh khoản của ngân hàng được đáp ứng bằng cách đi vay mượn dưới các hình thức Do đó, chiến lược này còn được gọi là chiến lược “vay thanh khoản” Một số hình thức được sử dụng trong chiến lược này là:
+ Tạo thanh khoản từ việc đi vay: các khoản vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng và/hoặc vay từ cửa sổ chiết khấu của ngân hàng Nhà nước
+ Tạo thanh khoản qua tiền gửi: đó là việc ngân hàng nhận tiền gửi của các cá nhân nhân và tổ chức kinh tế dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn
và các loại tiền gửi khác
+ Tạo thanh khoản qua thị trường tiền tệ/thị trường vốn: các ngân hàng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước
Quản trị rủi ro thanh khoản kết hợp:
Theo chiến lược quản lý thanh khoản phối hợp, một phần nhu cầu thanh khoản
dự tính sẽ được đáp ứng bằng việc dự trữ tài sản thanh khoản trong khi phần còn lại của nhu cầu thanh khoản sẽ được giải quyết bằng việc vay thanh khoản
Các nhu cầu thanh khoản của ngân hàng thương mại được chia thành ba bộ phận: nhu cầu thanh khoản thường xuyên, nhu cầu thanh khoản thời vụ và nhu cầu thanh khoản đột xuất
+ Các nhu cầu thanh khoản thường xuyên phát sinh khá thường xuyên, đều đặn hàng ngày, tương đối ổn định nên ngân hàng có thể dự đoán và kế hoạch hóa được, các nhu cầu này được đáp ứng bằng các tài sản có dự trữ dưới dạng tiền mặt, tiền gửi, các giấy tờ có giá có tính thanh khoản
+ Các nhu cầu thanh khoản thời vụ tuy không phát sinh thường xuyên nhưng ngân hàng thương mại có thể dự đoán và kế hoạch hóa được, do đó ngân hàng thương mại thường chủ động kí các cam kết, các hợp đồng vay vốn trước với các tổ chức tín dụng khác, xác định trước khối lượng, thời hạn, lãi suất phải trả Do chủ
Trang 23động kí kết hợp đồng vay mượn trước nên phương án này khắc phục được nhược điểm của hai phương án trên
+ Các nhu cầu thanh khoản phát sinh đột xuất, bất ngờ không thể dự đoán trước được, buộc ngân hàng phải vay mượn trên thị trường tiền tệ để đáp ứng
2.1.2 Cơ sở lý luận về tỷ suất sinh lời ngân hàng:
Tỷ suất sinh lời của ngân hàng là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động của một ngân hàng, qua đó đánh giá chất lượng, sự phát triển của ngân hàng
và là căn cứ để các nhà quản trị, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định phù hợp với thực tiễn
ROA là tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (Return on total assets)
ROA là hệ số tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư ROA cho biết cứ một đồng tài sản thì ngân hàng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận và ROA đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản của ngân hàng Theo Hassan và Bashir (2013),chỉ số ROA rất quan trọng vì nó phản ánh tính hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn tài chính và đầu tư ngân hàng để tạo ra lợi nhuận Nghiên cứu của Riverd và Thomas (1997) cũng đề nghị rằng khả năng sinh lời của ngân hàng nên được đo lường tốt nhất bằng ROA vì ROA không bị bóp méo bởi số nhân vốn chủ sở hữu cao và ROA chứng tỏ là một công cụ đo lường tốt hơn khả năng thu lợi của một ngân hàng trên danh mục tài sản
Công thức:
ROE là tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (Return on common equyty)
Trang 24ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net interest Margin_NIM):
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên(Non interest Margin_MN)
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, từ các hoạt động ngoài cho vay với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu
Tỷ lệ sinh lời hoạt động (NPM)
Trang 25
Tỷ lệ sinh lời hoạt động phản ánh hiệu quả của việc quản lý chi phí và các chính sách định giá dịch vụ
2.1.3 Tác động của các tài sản thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần:
Đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố quyết định tỷ suất sinh lời của ngân hàng và gần như tất cả đều nhận thấy tài sản thanh khoản là một trong những yếu tố quyết định tỷ suất sinh lời ngân hàng Các nghiên cứu có thể kể đến của Bourke, (1989), Bashir, (2000), Karasulu, (2001), Guru, Staunton và Balashanmugam (2002), Staikouras, và Wood (2003) và Naceur, (2003) Trong khi đó, đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về mối quan hệ giữa tài sản thanh khoản và tỷ suất sinh lời ngân hàng Một số kết quả nghiên cứu cho rằng các ngân hàng nắm giữ tài sản thanh khoản được hưởng lợi từ việc nhận được sự đánh giá tốt trong thị trường vốn, làm giảm chi phí tài chính và gia tăng khả năng sinh lời Chẳng hạn như nghiên cứu của Bourke (1989) tìm thấy một số bằng chứng về một mối quan hệ tích cực giữa tài sản thanh khoản và tỷ suất sinh lời của 90 ngân hàng ở châu Âu, Bắc Mỹ và Úc giai đoạn 1972-1981 Mặt khác, các nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, nắm giữ tài sản thanh khoản sẽ áp đặt một chi phí cơ hội vào các ngân hàng cho việc nắm giữ tài sản sinh lời thấp, do đó có tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lời Ví dụ như nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992), Goddard và cộng sự (2004) tìm thấy bằng chứng của một mối quan hệ tiêu cực giữa tài sản thanh khoản và tỷ suất sinh lời cho các ngân hàng châu Âu trong giai đoạn cuối năm 1980 và giữa năm 1990 Theo nghiên cứu của Eichengreen và Gibson (2001), càng ít tài sản thanh khoản, các ngân hàng có thể mong đợi mức sinh lời cao hơn Một nghiên cứu nữa của Hempel và cộng sự (1994) cho thấy một tỷ lệ thanh khoản cao cho biết một ngân hàng ít rủi ro và cũng ít lợi nhuận hơn Myers và Rajan (1998) cũng nhấn mạnh các tác dụng phụ của tăng tài sản thanh khoản cho các ngân hàng, nghiên cứu này cho thấy rằng mặc dù tài sản thanh khoản cao hơn làm tăng khả năng huy động tiền mặt trong ngắn hạn, nhưng nó cũng làm giảm khả năng cam kết cho một chiến lược an toàn cho các nhà đầu tư Tài sản thanh khoản và tỷ suất sinh lợi là hai đại lượng có
Trang 26mục tiêu khác nhau, tỷ lệ nghịch về lợi ích của nhau, và mối quan hệ này đã được thử nghiệm và xác nhận bởi nhiều nhà nghiên cứu trên thể giới Nắm giữ càng nhiều tài sản thanh khoản thì sẽ giảm rủi ro thanh khoản của ngân hàng nhưng theo đó thì khả năng sinh lời cũng thấp đi, nguyên nhân là do chi phí cơ hội của việc sở hữu những tài sản có tỷ suất sinh lợi thấp Vì vậy, bất cứ sự thay đổi nào của tài sản thanh khoản cũng mang lại những tác động đối lập với khả năng sinh lời của ngân hàng Do đó, mỗi ngân hàng phải lựa chọn một lượng tài sản thanh khoản phù hợp hơn với khả năng tiếp nhận rủi ro và khả năng sinh lời của mình
2.2 Các nghiên cứu trước đây về tác động của tài sản thanh khoản đến tỷ suất sinh lời:
-Nghiên cứu “The Impact of Liquidity Asset on Iranian Bank Profitability” của Mahshid Shahchera Nghiên cứu phân tích tác động của tài sản thanh khoản đến lợi nhuận ngân hàng cho một mẫu gồm 17 ngân hàng thương mại ở Iran trong giai đoạn 2002-2009 Bài nghiên cứu bao gồm các biến: lợi nhuận ngân hàng IIi,t (biến này được đại diện bằng biến tỷ suất sinh lời trên tài sản ROA và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE), tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản (lai,t), chu
kỳ kinh doanh (Bcc), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (Loan), tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (Deposit), biến thể hiện sự tương tác giữa chu kỳ kinh doanh và mức độ quản lý nhà nước đối với các ngân hàng (Bcc*Regulation) Kết quả nghiên cứu: Bài nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ phi tuyến giữa lợi nhuận và việc nắm giữ tài sản thanh khoản của ngân hàng Lợi nhuận được cải thiện nếu ngân hàng nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản, tuy nhiên có một điểm mà tại đó nếu ngân hàng nắm giữ thêm tài sản thanh khoản sẽ làm giảm lợi nhuận Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và chu kỳ kinh doanh có tác động tích cực đến lợi nhuân ngân hàng Trong khi đó, hệ số đo lường mức độ quản lý của nhà nước lại có tác động tiêu cực đến lợi nhuận Nếu cơ quan quản lý giảm những hạn chế đối với ngân hàng, các ngân hàng sẽ đạt được lợi nhuận cao hơn
Trang 27-Nghiên cứu“Bank Specific and Macroeconomic Determinants of Commercial Bank Profitability: Empirical Evidence from Turkey” của các tác giả Deger Alper
và Adem Anbar Dữ liệu nghiên cứu lấy từ dữ liệu của 10 ngân hàng thương mại tại Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2002-2010 Biến phụ thuộc của nghiên cứu bao gồm tỷ suất sinh lời trên tài sản ROA và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE Biến độc lập bao gồm các biến sau: biến kích cỡ tài sản được đo lường bằng log của tổng tài sản, biến cân đối vốn (tỷ số vốn chủ sỡ hữu trên tổng tài sản), biến chất lượng tài sản (tỷ số của các khoản cho vay trên tổng tài sản và tỷ số các khoản cho vay dưới chuẩn trên các tổng các khoản cho vay), biến thanh khoản (tỷ số tài sản thanh khoản trên tổng tài sản ), biến tiền gửi(tỷ số tiền gửi trên tổng tài sản), biến cấu trúc thu nhập (biến này gồm tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ lệ thu nhập phi lãi suất), tăng trưởng GDP thực hàng năm, tỷ lệ lạm phát hàng năm và lãi suất thực Kết quả nghiên cứu: bài nghiên cứu cho thấy biến kích cỡ tài sản có tác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng Điều này cho thấy ngân hàng càng lớn càng thu được tỷ suất sinh lời cao Biến tỷ số khoản cho vay trên tổng tài sản và tỷ số của khoản cho vay dưới chuẩn trên các khoản cho vay được nhận thấy có tác động tiêu cực đến ROA Trong khi đó, tỷ lệ thu nhập phi lãi suất và biến lãi suất thực lại có tác động tích cực đến ROA Những biến còn lại (tỷ số vốn chủ sỡ hữu trên tổng tài sản, tỷ số tài sản thanh khoản trên tổng tài sản, tỷ số tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tăng trưởng GDP thực hàng năm, tỷ lệ lạm phát hàng năm) không có ảnh hưởng quan trọng lên lợi nhuận ngân hàng
-Nghiên cứu “Effects of banking sectoral factors on the profitability of commercial banks in Kenya” của Tobias Olweny (2011) cũng cho thấy rằng hiệu ứng thanh khoản có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận, tuy nhiên ảnh hưởng này lại yếu Điều này chỉ ra rằng đầu tư vảo những chứng khoán ít rủi ro như trái phiếu chính phủ sẽ gia tăng được lợi nhuân Các số liệu phân tích mô tả này cũng cho thấy các ngân hàng vừa và nhỏ tại Kenya có tính thanh khoản cao hơn các ngân hàng lớn Số liệu này được thu thập từ 38 ngân hàng thương mại tại Kenya (bao gồm 13 ngân hàng lớn, 25 ngân hàng vừa và nhỏ) trong giai đoạn 2002-2008
Trang 28-Năm 2013, nghiên cứu “The relationship between liquidity anh profitability
of listed banks in Ghana” của Victor Curtis Lartey, Samuel Antwi, và Eric Kofi Boadi được thực hiện trên dữ liệu thu thập được từ bảy ngân hàng đươc niệm yết trên sàn chứng khoán của Ghana: CAL Bank Limited, Ecobank Ghana Limited, Ghana Commercial Bank Ltd, HFC Bank Ltd, SG-SSB Ltd., Standard Chartered Bank Ltd and UT Bank Limited trong giai đoạn từ 2005-2010 Mô hình nghiên cứu:
y = abx + ba, trong đó: y là lợi nhuận (biến phụ thuộc), x là thanh khoản (biến độc lập) Kết quả cho thấy trong giai đoạn 2005-2010, những ngân hàng được niêm yết
ở Ghana gia tăng cả về tài sản thanh khoản và tài sản không thanh khoản Mặc dù vậy, thanh khoản của các ngân hàng này lại giảm trong giai đoạn 2005-2010 Các ngân hàng có thanh khoản thấp nhất vào năm 2007 Lợi nhuận của các ngân hàng nay cũng giảm trong những năm 2005-2010 Nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa thanh khoản và lợi nhuận của các ngân hàng Ghana Phương trình hồi quy làY=0.025X + 2.545, trong đó Y là lợi nhuận trên tài sản (ROA), X là tỉ số đầu tư tạm thời (TIR) Hệ số tương quan là (R) 0.237, hệ số xác định (R2) là 0.056 Điều này có nghĩa là chỉ có 5.6% sự tăng lên của lợi nhuận được gây ra bởi sự tăng lên của thanh khoản
-Năm 2011, Qasim Saleem và Ramiz Ur Rezhman đã thực hiện đề tài nghiên cứu “ Impacts of liquidity ratios on profitability” Nghiên cứu được tiến hành từ năm 2004 đến năm 2009, bằng các thu thập dữ liệu từ 26 doanh nghiệp trong ngành dầu và ga ở Pakistan Mô hình nghiên cứu:
Trang 29Nợ ngắn hạn Kết quả cho thấy có mối liên hệ giữa những tỷ số thanh khoản và lợi nhuận của các công ty trong lĩnh vực dầu và ga ở Pakistan Lợi nhuận được cải thiện đối với những công ty nắm giữ tài sản thanh khoản, tuy nhiên nắm giữ quá nhiều tài sản thanh khoản sẽ bắt đầu làm giảm lợi nhuận Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính chỉ ra rằng ROA chỉ bị tác động bởi tỷ số về khả năng hoán chuyển (LR), ROE thì không bị tác động bởi các tỷ số về khả năng hoán chuyển (LR), tỷ số khả năng thanh tốn nhanh (QR) và tỷ số thanh toán hiện thời (CR) trong khi đó ROI thì
bị tác động bởi cả ba chỉ sô đó Bài nghiên cứu là một trong những nỗ lực đầu tiên giúp cho những nghiên cứu sau này về mối quan hệ giữa thanh khoản và lợi nhuận -Nghiên cứu “The impact on liquidity on bank profitability” của Etienne Bordeleau và Christopher Graham (2010) sử dụng dữ liệu từ 55 ngân hàng của Mỹ
và 10 ngân hàng của Canada trong giai đoạn 1997-2009 Nghiên cứu này sử dụng những biến độc lập như: tỷ lệ tài sản thanh khoản, tỷ lệ đòn bẩy tài chính, thu nhập
từ những hoạt động liên quan đến đầu tư và kinh doanh, tỷ lệ chứng khoán phái sinh, tỷ lệ vốn cấp 1 và những biến kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp Biến phụ thuộc lợi nhuận được đại diện bằng hai tỷ suất sinh lời là tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA) và tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) Bài nghiên cứu chỉ ra bằng chứng về mối quan hệ phi tuyến giữa lợi nhuận và việc nắm giữ tài sản thanh khoản Lợi nhuận được cải thiện nếu ngân hàng nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản, tuy nhiên, có một điểm giới hạn nếu ngân hàng nắm giữ thêm tài sản sẽ làm giảm lợi nhuận Điều này phù hợp với ý kiến về việc thị trường vốn sẽ thưởng cho ngân hàng cho việc nắm giữ thêm tài sản thanh khoản, nhưng có một điểm mà lợi nhuận sẽ thấp hơn chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản có tỷ suất sinh lời thấp Tại thời điểm khi nền kinh tế xấu đi, khả năng thanh khoản của thị trường sẽ kém đi, mức độ tối đa hóa lợi nhuận của tài sản thanh khoản tăng lên, điều này cũng phù hợp với ý tưởng rút ra từ nghiên cứu của Jeanne và Ranciere (2009) Tương tự, khi ngân hàng tăng sự phụ thuộc của nó vào những lợi nhuận liên quan đến thị trường thì mức độ tối đa hóa lợi nhuận của tài sản thanh khoản cũng tăng lên, cũng như nghiên cứu của Morris và Shin (2010) Tóm
Trang 30lại, với mục đích gia tăng lợi nhuận ngân hàng nên nắm giữ thêm tài sản thanh khoản trong thời điểm suy yếu của nền kinh tế cũng như trong trường hợp ngân hàng duy trì mô hình kinh doanh ít truyền thống Tốc độ tăng trưởng của GDP được ước lượng có ý nghĩa thống kê và có tác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng Trong khi đó, mức độ thất nghiệp gây xác suất cao cho việc vỡ nợ của các khoản cho vay, nên chỉ số này sẽ gây tác động tiêu cực Tỷ lệ lạm phát cũng gây tác động tiêu cực đến lợi nhuận Kết quả này khác với nghiên cứu thực nghiệm của Beckmann (2007), Demirguc-Kunt và Huizinga (1998), nghiên cứu cho tháy kết quả tác dộng tích cực của của lạm phát.Tuy nhiên, bởi vì vai trò truyền thống chuyển đổi kỳ hạn, cho vay dài và vay ngắn, của ngân hàng, do đó lạm phát cao sẽ làm giảm lợi nhuận Lạm phát có thể trừng phạt ngân hàng bởi vì việc nắm giữ tài sản thanh khoản lợi suất thấp có thời hạn dài của ngân hàng Nói chung, những kết quả nghiên cứu này phù hợp với những lý thuyết có liên quan
-Nghiên cứu “Determinants of profitability of domestic UK commercial
banks: panel evidence from the period 1995-2002” của Kyriaki Kosmidou, Sailesh
Tanna và Fotios Pasiouras điều tra tác động của các đặc điểm cụ thể của ngân hàng, điều kiện kinh tế vĩ mô và cơ cấu thị trường tài chính lên lợi nhuận các ngân hàng thương mại tại Anh trong giai đoạn từ 1995-2002.Đại diện cho biến lợi nhuận ngân hàng, nghiên cứu sử dung hai chỉ số ROAA và NIM Trong đó, ROAA là lợi nhuận ròng sau thuế trên tổng tài sản bình quân, NIM là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Biến độc lập của mô hình bao gồm tỷ số chi phí trên thu nhập (COST) là một chỉ số thể hiện hiệu quả trong quản lý chi phí; tỷ lệ tài sản thanh khoản trên nguồn vốn ngắn hạn (LIQUID) để đại diện cho tính thanh khoản; tỉ lệ các khoản dự phòng rủi ro tín dụng trên các khoản tín dụng gộp (LOSRES) là một chỉ số về chất lượng tài sản của ngân hàng; tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EQAS) đại diện cho sức mạnh vốn; và tổng tài sản của ngân hàng đại diện cho quy mô ngân hàng (SIZE), tốc độ tăng trưởng GDP(GDPGR), tỷ lệ lạm phát (INF), mức độ tập trung của ngành ngân hàng (CONC) và thị trường chứng khoán vốn (MACPASS) Dữ liệu được lấy từ 32 ngân hàng của Anh trong các năm 1995-2002 Kết quả nghiên cứu
Trang 31cho thấy tỷ lệ chi phí trên thu nhập và quy mô của ngân hàng đều có tác động tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng Tác động của thanh khoản lên lợi nhuân ngân hàng không rõ ràng, nó thay đổi tùy theo biến đai diện cho lợi nhuận Cụ thể, tính thanh khoản được xem là có tác động tiêu cực đến NIM nhưng lại có tác động tích cực đến chỉ số ROAA.Tác động của dự phòng rủi ro cũng là không rõ ràng, tích cực và đáng kể đến chỉ số NIM (gợi ý rằng rủi ro cao hơn dẫn đến tỷ suất lợi nhuận cao hơn) nhưng tiêu cực đến ROAA Các biến kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, mức độ tập trung của ngành và sự phát triển của thị trường chứng khoán có tác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng
- Năm 2010, Antonina Davydenko đã thực hiện nghiên cứu “Determinants of Bank Profitability in Ukraine” về các ngân hàng tại Ukraine trong giai đoạn 2005-
2009 Biến đại diện cho lợi nhuận ngân hàng là ROA và ROE Để thể hiện tác động của các yếu tố về đặc điểm ngân hàng, tác giả sử dụng những biến độc lập như tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ của nợ xấu trên tổng các khoản cho vay, tổng tài sản, chi phí quản lý trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền mặt và các khoản tương đương trên tổng tài sản, tỷ lệ các khoản cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản Về tác động của đặc trưng ngành, tác giả sử dụng biến tỷ lệ của tổng tài sản 10 ngân hàng lớn nhất nước trên tổng tài sản của cả hệ thống Về tác động của các yếu
tố vĩ mô, các biến log của GDP, chỉ số giá tiêu dùng, tỷ giá hối đoái giữa đồng hryvna của Ukraine và đô la Mỹ được sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy biến đại diện cho tính thanh khoản (tỷ lệ tiền mặt và các khoản tương đương trên tổng tài sản) có tác động tiêu cực đến lợi nhuận Điều này trái ngược với với những phát hiện của Baum và cộng sự (2008) cho thấy mối quan hệ tích cực đối giữa tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và thanh khoản Tuy nhiên, khi cho tương tác với biến giả sở hữu nước ngoài, biến thanh khoản này lại thể hiện mối quan hệ tích cực với lợi nhuận Điều này cho thấy các ngân hàng nước ngoài quản lý thanh khoản tốt hơn các ngân hàng trong nước Nguyên nhân là do thị trường tài chính trong nước kém phát triển không đáp ứng được các sản phẩm tài chính đa dạng cho các ngân hàng nội địa,
Trang 32trong khi đó các ngân hàng nước ngoài lại có nhiều cơ hội để đầu tư vào tài sản thanh khoản ngắn hạn
Kết luận chương 2:
Thanh khoản và rủi ro thanh khoản là một trong những yếu tố quyết đinh đến
tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại Việc nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản có thể dẫn đến khả năng suy giảm lợi nhuận do việc sở hữu nhiều tài sản có suất sinh lời thấp Tuy nhiên, việc thiếu hụt thanh khoản lại gây mất an toàn trong
hệ thống dẫn đến nguy cơ phá sản hay sát nhập của các ngân hàng.Điều này thể hiện quan hệ đánh đổi giưã rủi ro và lợi nhuận trong kinh doanh ngân hàng Các nhà quản trị ngân hàng cần có những chiến lược phù hợp để cân đối giữa hai khoản mục này Các mô hình của các nhà nghiên cứu trước đây cũng phần nào đã cung cấp được bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa thanh khoản và tỷ suất sinh lời.Từ những kiến thức nền tảng đã nêu ra ở chương 2, chương 3 sẽ phân tích thực trạng thanh khoản và tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản và gia tăng tỷ suất sinh lời trong chương 5 của luận văn này
Trang 33CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THANH KHOẢN, TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2014
3.1 Thực trạng thanh khoản các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014
Trong các năm 2007,2008, các ngân hàng lâm vào tình cảnh thiếu hụt thanh khoản do hàng loạt những chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát của ngân hàng Nhà nước như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt buộc của ngân hàng Nhà nước, điều chỉnh các lãi suất tái cấp vốn và chiết khấu Mặc dù tiền mặt trong dân vẫn nhiều, nhưng việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc khiến các ngân hàng thiếu tiền mặt nên phải ngừng cấp tín dụng trong ngắn hạn khiến cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn Thanh khoản trong các năm 2009, 2010 cũng không mấy cải thiện cho dù ngân hàng nhà nước đã nới lỏng chính sách tiền tệ Để kiềm chế lạm phát và kiểm soát nợ xấu, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo cho các ngân hàng thương mại không tăng trưởng tín dụng quá 25% và ban hành quy đinh vốn điều lệ tối thiểu của các ngân hàng thượng mại phải đạt 3,000 tỷ đồng Chính điều này lại càng gây áp lực lên thanh khoản của các ngân hàng vốn đã thiếu hụt từ những năm trước Tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại trong những năm này cũng gây ra rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng Với tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng trung bình 32 % khá cao so với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ở mức 5.3% vào năm 2009 và 6.8 % năm 2010 Điều này có thể gây ra bong bóng tín dụng, tổn hại đến nền kinh tế
Từ sau năm 2011, thanh khoản đã trở thành mối quan tâm của các ngân hàng Chính sách trần lãi suất huy động 14% của ngân hàng nhà nước khiến cho các ngân hàng khó khăn trong công tác huy động tiền gửi từ dân cư Điều này lại tiếp tục gây
áp lực lên tình trạng thiếu hụt thanh khoản của các ngân hàng Do đó, một cuộc chay đua lãi suất giữa các ngân hàng đã hình thành trong khoảng thời gian này Các
Trang 34ngân hàng tìm mọi cách để lách luật huy động vốn ở mức lãi suất cao để thu hút tiền gửi khách hàng
Năm 2012, tình hình thanh khoản đã có nhiều thay đổi sau khi 5 tổ chức tín dụng được tái cơ cấu trọn vẹn, diễn ra êm thấm Kết quả là tiền gửi hệ thống ngân hàng tăng khoảng 16%, thanh khoản ngân hàng dồi dào, giải quyết được vấn đề bấy lâu nay của hệ thống ngân hàng
Tình hình thanh khoản được cải thiện tiếp tục kéo dài đến cuối năm 2013 Các ngân hàng trong giai đoạn không còn nhiều mặn mà trong việc tung ra các chương trình khuyến mại tặng quà hay vượt trần lãi suất khi khách hàng gửi tiết kiệm Tuy vậy, một số ngân hàng vẫn tăng lãi suất tiền gửi để duy trì những khách hàng có số
dư tiền gửi lớn Nguyên nhân của tình trạng này là do các doanh nghiệp không đẩy mạnh hoạt động của mình như các năm trước mà chỉ tiếp duy trì mức sản xuất cũ, nhu cầu về tín dụng giảm sút, các ngân hàng lại rơi vào tình trạng thừa thanh khoản trong thời gian này
Năm 2014 với sự phục hồi của các ngành công nghệ cao, các dự án đầu tư công cộng với việc lãi suất cho vay giảm thấp, các doanh nghiệp bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động đầu tư vào máy móc, thiết bị thay cho nhu cầu về vốn lưu động như những năm trước Nhu cầu về tín dụng trung dài hạn tăng cao trong nền kinh tế Mặc dù cho vay trung, dài hạn rủi ro cao hơn, nhưng lãi suất cho vay cũng cao hơn, trong khi các ngân hàng đang lại đang dư giả thanh khoản Tuy vậy, nguồn vốn các ngân hàng đang nắm giữ chủ yếu là vốn ngắn hạn (chiếm tới gần 80%), việc dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn dễ dẫn đến những vấn đề thanh khoản vốn dài hạn trong tương lai của các ngân hàng Để khắc phục tình trạng này, một số ngân hàng đã tung trái phiếu bán ra thị trường để thu hút lượng vốn trung dài hạn phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế Cụ thể như ngân hàng Bắc Á đã chào bán 2000 tỷ trái phiếu với kỳ hạn từ 3 đến 5 năm để thu hút vốn Trong năm 2015, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ qua công cụ thị trường mở hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng Nhờ vậy trong 6 tháng đầu năm 2015, các ngân
Trang 35hàng đã ổn định được tình hình thanh khoản của mình và thậm chí dư thừa thanh khoản
(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam)
3.2 Thực trạng tỷ suất sinh lời ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014:
3.2.1 Thực trạng về lợi nhuận
Trong năm 2007, các ngân hàng đều có sự tăng trưởng ấn tương về mặt lợi nhuận Chẳng hạn như ngân hàng Á Châu, lợi nhuận ròng sau thuế năm 2007 đạt mức trên 1,700 tỷ đồng gấp ba lần so với lợi nhận ròng sau thuế năm 2006 Các ngân hàng khác cũng đạt được và vượt những chỉ tiêu kế hoạch đề ra Bước vào năm 2008, khi ngân hàng Nhà nước thực thi hàng loạt những chính sách thắt chặt tiền tệ như như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt buộc của ngân
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Đơn vị tính: %
Hình 3.1: Tỷ lệ tài sản thanh khoản trong các ngân hàng thương
mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2007-2014
Tỷ lệ tài sản thanh khoản
Trang 36hàng Nhà nước, điều chỉnh các lãi suất tái cấp vốn và chiết khấu làm cho các ngân hàng thương mại cổ phần lâm vào cảnh thiếu hụt thanh khoản Các ngân hàng phải vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao để bù đắp cho sự thiếu hụt thanh khoản này Một số ít ngân hàng có quy mô lớn thì thu lợi được trong thời gian này như ngân hàng Á Châu, Eximbank … Các ngân hàng khác do phải vay với lãi suất cao trên thị trường liên ngân hàng đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi nhuận kinh doanh Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp, đầu tư tài chính khó khăn, càng làm các ngân hàng suy giảm lợi nhuận
Năm 2009 đánh dấu bước đầu phục hồi của nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính Các ngân hàng đều có sự tăng trưởng đáng kể về lợi nhuận Ngân hàng Vietcombank đạt mức lợi nhuận trước thuế trên 5,000 tỷ đồng, vượt mức chỉ tiêu ban đầu Ngân hàng Sacombank cũng đạt mức lợi nhuận trước thuế trên 2,000 tỷ đồng vượt kế hoạch 1,600 tỷ đồng đề ra đầu năm Ngành ngân hàng tiếp tục sự tăng trưởng lợi nhuận ổn định này trong năm tiếp theo 2010 Bước sang năm 2011, lợi nhuận sau thuế của toàn ngành ngân hàng tăng 15.1% so với năm 2010, thấp hơn tốc độ tăng lợi nhuận của các năm trước, trong đó có gần 50% các ngân hàng có lợi nhuận giảm so với năm 2010 Lợi nhuận của các ngân hàng trong năm 2011 có sự chênh lệch khá lớn giữa các ngân hàng Lợi nhuận của hệ thống tăng chủ yếu do sự tăng trưởng của một số ngân hàng có quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu lớn, có năng lực điều hành và quản trị rủi ro tốt, hoạt động an toàn, hiệu quả Trong khi nhiều ngân hàng thuộc nhóm có quy mô nhỏ, quản trị điều hành yếu kém, thiếu sức cạnh tranh trên thị trường nên thường phải huy động với lãi suất cao cộng với nợ xấu gia tăng mạnh nên đã có kết quả kinh doanh rất thấp, thậm chí lỗ lớn trong năm
2011 Năm 2012, khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng sụt giảm nghiệm trọng Tình hình nợ xấu của toàn ngành ngân hàng ở mức cao, các ngân hàng găp nhiều khó khăn trong công tác thu hồi nợ Tăng trưởng tín dụng chậm lại do tâm lý e ngại
nơ xấu của các ngân hàng càng làm lợi nhuận toàn ngành suy giảm Sang năm
2013, nhờ kết quả bước đầu của quá trình tái cơ cấu với những biện pháp cứng rắn làm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng cùng những thương vụ mua bán, sáp nhập
Trang 37xử lý những ngân hàng yếu kém, lợi nhuận của ngành ngân hàng đã có những chuyển biến Tuy nhiên, lợi nhuận của các ngân hàng vẫn có xu hướng giảm Nguyên nhân đầu tiên của sự sụt giảm lợi nhuận đồng loạt ở ngành này chính
là bắt nguồn từ việc lãi suất bị cắt giảm mạnh Trong khi thu nhập từ lãi vẫn là nguồn thu chính của các ngân hàng thì năm vừa qua, lãi suất cho vay đã giảm 2.3%, giảm nhanh hơn so với lãi suất huy động (giảm 1.8%), khiến cho thu nhập từ lãi vay giảm 12% so với năm 2012 Trong năm 2014,lợi nhuận của các ngân hàng phần lớn đều tăng trưởng so với năm trước nhờ vào tăng trưởng từ thu nhập lãi thuần Chẳng hạn như lợi nhuận trước thuế của ngân hàng Quốc tế VIB cao gấp 8 lần năm trước, đạt 648 tỷ đồng Ngân hàng Nam Á cũng có lợi nhuận trước thuế tăng 32% lên 243
tỷ đồng Lợi nhuận cao nhất thuộc về ngân hàng Vietinbank với lợi nhuận trước thuế trên 7,000 tỷ đồng Hàng loạt những ngân hàng ngân hàng thương mại lớn như BIDV, Vietcombank cũng có lợi nhuận trước thuế khá cao trên 5,000 tỷ đồng Bên cạnh đó, vẫn có những ngân hàng chưa đạt được mục tiêu lợi nhuận đề ra như ngân hàng Đông Á, ngân hàng Phương Đông… Tình hình kinh doanh của ngành ngân hàng đã cải thiện đáng kể trong quý I và II năm 2015, tuy nhiên lợi nhuận của các ngân hàng khó có động lực tăng mạnh trong những quý tới Nguyên nhân là do chi phí trích lập dự phòng được dự báo vẫn cao trong khi chi phí hoạt động các ngân hàng có thể sẽ tăng lại
Trang 38(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phầnViệt Nam)
3.2.2 Thực trạng về tỷ suất sinh lời
Trong các năm 2007-2011, tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản ROA của các ngân hàng thương mại cổ phần có xu hướng khá ổn định, quanh mức 1.2 % Cụ thể, năm 2007, ROA của các ngân hàng thương mại cổ phần bình quân đạt khoảng 1.3265 %, năm 2008 là 1.0318 %, năm 2009 là 1.2905% và năm 2010 là 1.2794 %, năm 2011 là 1.2622 % Nhìn chung, tốc độ tăng tổng tài sản và lợi nhuận của các ngân hàng khá tương đồng nhau trong giai đoạn này Hầu hết những ngân hàng có ROA cao là những ngân hàng có quy mô vừa và nhỏ trong khi các ngân hàng có sự chi phối nhà nước có hệ số ROA khá thấp so với bình quân ngành Cụ thể như ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á , ROA đạt mức 1.4% năm 2009 và 1.2% năm
2010 Trong khi đó, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Agribank chỉ đạt mức 0.4% năm 2009 và 0.2% năm 2010 So với các ngân hàng trong khu vực thì ROA vẫn còn thấp so với một số nước châu Á mới nổi (Indonesia trung bình
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Đơn vị tính: ngàn đồng
Hình 3.2: Lợi nhuận sau thuế các ngân hàng thương mại cổ
phần Việt Nam giai đoạn 2007-2014
Lợi nhuận sau thuế
Trang 39khoảng 2%; Malaysia trung bình khoảng 1.5%; Philippines khoảng 1.5% và Singapore khoảng 1.4%) Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản ROA của các ngân hàng Việt Nam trong ba năm gần đây đang ở mức khá thấp so với các ngân hàng của các
độ tăng trưởng tổng tài sản có xu hướng chậm hơn so với tăng trưởng lợi nhuận sau thuế, tuy nhiên hoạt động của các ngân hàng chủ yếu phụ thuộc vào tín dụng, do đó khó tạo được sự đột phá về lợi nhuận trong điều kiện lãi vay đang hạ thấp như hiện nay Bên cạnh đó, cơ chế, chính sách về xử lý tài sản đảm bảo, các quy định của pháp luật về đất đai, bất động sản, xây dựng…còn nhiều bất cập, dẫn đến việc xử lý tài sản đảm bảo để xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn, các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng rủi ro và làm ảnh hưởng tới lợi nhuận.Ngoài ra, các ngân hàng còn phải chịu áp lực do vừa phải tự củng cố, xử lý những tồn tại theo yêu cầu tái cơ cấu của ngân hàng Nhà nước, vừa phải bố trí nguồn lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng
Trang 40(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam)
(Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam)
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Đơn vị tính: %
Hình 3.4: Tỷ lệ ROE các ngân hàng thương mại cổ phần Việt
Nam trong giai đoạn 2007-2014
ROE