Tại Hội nghị Trung ương 5 khoá IX, Đảng ta đã ra nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở cấp xã, phường, thị trấn”, Nghị quyết khẳng định vai trò quan
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu có điều gì sai sót,
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Thế
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2 Vị trí, nhiệm vụ và vai trò của chính quyền xã trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở 18
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp
cơ sở 26
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ Ở TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY 31
2.1 Khái quát về các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở
Thanh Hóa 31
2.2 Thực trạng về tổ chức và hoạt động của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp
cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay 37
2.3 Thực trạng về hoạt động của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay……… ………45
2.4 Đánh giá thực trạng và kết quả đạt được trong tổ chức và hoạt động của chính quyền
xã 55
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ TRONG HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY 65
3.1 Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
trong hệ thống chính trị cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay……… …65
3 2.Giải pháp cơ bản nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
trong hệ thống chính trị cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay 66
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
HTCT : Hệ thống chính trị
BCHTW : Ban chấp hành trung ương
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1:Bảng số liệu đại biểu HĐND 39
Bảng 2.2: bảng số liệu độ tuổi đại biểu HĐND xã 39
Bảng 2.3: Trình độ học vấn đại biểu HĐND xã 40
Bảng 2.4: bảng trình độ chuyên môn đại biểu HĐND xã 41
Bảng 2.5: Bảng trình độ lý luận chính trị đại biểu HĐND xã 41
Bảng 2.6: Bảng trình độ quản lý nhà nước đại biểu HĐND xã 42
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền cơ sở là nơi gần dân nhất, trực tiếp giải quyết các công việc cụ thể của dân, là nơi gắn bó giữa chính quyền với người dân Chính quyền địa phương gồm có ba cấp: chính quyền cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp
xã Chính quyền cấp xã gồm có ba loại: xã, phường, thị trấn Chính quyền xã gồm có: Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã HĐND xã là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở xã, do nhân dân cấp bầu
ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân xã và cơ quan nhà nước cấp trên UBND xã do HĐND xã bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND xã và cơ quan nhà nước cấp trên Thực tiễn cho thấy ở đâu chính quyền xã hoạt động có hiệu quả thì ở đó mọi chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, ở đâu chính quyền cấp xã kém thì ở đó đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá của nhân dân gặp nhiều khó khăn, trật tự an ninh không được đảm bảo, quyền làm chủ của nhân dân không được phát huy
Cấp xã vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo cấp độ của HTCT, nhưng
nó là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất, là nền tảng xây dựng chế độ dân chủ của toàn
bộ HTCT của nước ta Vì cấp xã là nơi diễn ra mọi hoạt động và cuộc sống của nhân dân, nơi chính quyền gần dân nhất Nơi tổ chức và triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Mọi đường lối, chủ trương có được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của HTCT cơ sở,
mà nhất là phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ đảng viên trong các tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở
cơ sở Chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTCT ở cơ sở có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm, thái độ, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước Những phản ứng bất bình của người dân, tình trạng khiếu kiện kéo dài, đông nguời vượt cấp trong thời gian gần đây ở một số địa phương gây nên
Trang 8những điểm nóng chính trị phức tạp và các điểm nóng này nếu không xử lý sẽ có sức lan tỏa làm mất ổn định chính trị và có thể dẫn đến mất chế độ
Với tư cách là trung tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở, trong suốt quá trình phát triển chính quyền cơ sở luôn được xây dựng, đổi mới và đã từng bước trưởng thành, hoàn thiện đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong tổ chức bộ máy nhà nước, góp phần đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân Tuy nhiên trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở hiện nay do nhiều nguyên nhân vẫn còn những tồn tại nhất định, thực chất chưa tương xứng với vị trí, vai trò của nó trong
hệ thống quyền lực nhà nước cũng như với nhiệm vụ mà nhân dân giao phó Nhiều nơi hoạt động của HĐND chỉ mang tính hình thức, tính đại diện và khả năng thay mặt nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương thấp, dẫn đến việc vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, cản trở quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội
Vì vậy việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND hiện nay đang được đặt ra hết sức găy gắt
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định phải:
“Phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương,
kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; tổ chức hợp lý HĐND; kiện toàn các cơ quan chuyên môn của UBND và bộ máy chính quyền cấp xã, phường, thị trấn” [17, tr.133]
Tại Hội nghị Trung ương 5 khoá IX, Đảng ta đã ra nghị quyết về “Đổi mới và
nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở cấp xã, phường, thị trấn”, Nghị quyết
khẳng định vai trò quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Nghị quyết cũng xác định những điểm căn bản, cần thiết nhất về quan điểm, phương hướng và giải pháp để đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở
Trong Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng khoá IX trình Đại hội X của Đảng
cũng nhấn mạnh: “nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND trong việc
Trang 9dựng và kiện toàn nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo nguyên tắc tất
cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân
Trên tinh thần đó chính quyền địa phương xã tỉnh Thanh Hóa nhìn chung
đã thực hiện tốt đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong những năm gần đây, bộ máy chính quyền cấp cơ sở ở Thanh Hóa liên tục được đổi mới, tổ chức lại nhiều lần cho phù hợp với sự thay đổi của Hiến pháp, Luật
tổ chức HĐND và UBND và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước, đội ngũ cán bộ chính quyền địa phương ở cơ sở đã có những chuyển biến kịp thời, bước đầu đáp ứng được yêu cầu của quá trình đổi mới; trong thực thi nhiệm vụ đã năng động sáng tạo hơn; tư tưởng bao cấp, tác phong thụ động từng bước được khắc phục, từ
đó tạo ra sức làm việc mới, đóng vai trò tích cực trong cải cách hành chính của tỉnh nói chung Trong đó đáng kể là những tiến bộ về tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, các thủ tục hành chính, đặc biệt thực thi nhiệm vụ đã dần dần dựa trên cơ sở pháp luật Tình trạng chủ quan tuỳ tiện cửa quyền đã giảm Đội ngũ cán bộ xã ở tỉnh Thanh Hóa đã được nâng cao một bước rõ rệt về nhận thức, trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và năng lực quản lý Cán bộ chính quyền xã điều hành công việc nhanh nhạy, có hiệu quả hơn trước; làm việc nhiệt tình, tận tụy, có ý thức trách nhiệm với công việc được giao Tuy được nâng cao một bước rõ rệt về nhận thức và trình độ, nhưng năng lực và nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chính quyền xã còn có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế mới, yêu cầu của cải cách hành chính, yêu cầu của sự phát triển toàn tỉnh và đất nước Do đó còn nhiều lúng túng và sơ hở trong quản lý, nhất là quản lý nhà nước Trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội vẫn còn không ít cán bộ chính quyền xử lý giải quyết công việc theo ý muốn chủ quan, còn tâm lý nể nang Cũng còn có những cán bộ mắc sai phạm trong công tác quản lý phải chịu kỷ luật
Từ những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Chính quyền địa
phương trong hệ thống chính trị cơ sở từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm
luận văn tốt nghiệp Cao học ngành chính trị học
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính quyền địa phương trong HTCT cơ sở là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhiều môn khoa học xã hội như Luật học, Lý luận và lịch sử của nhà nước và pháp luật, Hành chính học, Chính trị học…Ở Việt Nam hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, cụ thể:
Thứ nhất, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ:
Đề tài “Tiếp tục xây dựng chính quyền cấp xã ở Đồng bằng Sông Hồng nước
ta hiện nay” của tác giả Quách Sĩ Hùng làm chủ nhiệm, được công bố năm 2004
Tác giả đã trình bày vị trí, vai trò của các cơ quan nhà nước ở địa phương và vị trí, vai trò của chính quyền cơ sở; khái niệm, đặc điểm của chính quyền địa phương và đặc điểm của chính quyền cấp xã ở Đồng bằng Sông Hồng Mối quan hệ giữa HĐND và UBND; đổi mới tổ chức và hoạt động của Thường trực HĐND và nâng cao vai trò quản lý của UBND đối với các lĩnh vực trên địa bàn xã
Đề tài “Cơ sở khoa học áp dụng mô hình tự quản ở chính quyền xã” của tác
giả Trần Thị Minh Châu làm chủ nhiệm, công bố năm 2016 Đề tài nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức chính quyền tự quản; phân tích quy định của Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật về chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền cấp xã qua các thời kỳ lịch sử; phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về chính quyền cấp xã, có những đánh giá cụ thể Mặt khác, tác giả cũng hệ thống hóa kinh nghiệm tổ chức chính quyền tự quản ở một số quốc gia trên thế giới, từ kết quả nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã đề xuất mô hình tự quản của chính quyền xã ở nước ta hiện nay
Thứ hai, sách chuyên khảo:
Giáo sư Hoàng Chí Bảo (Chủ biên), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Ở đây các tác giả đã đề
cập đến việc thay đổi cơ cấu HĐND, UBND
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Hoàng Công, Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu
hướng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Trong cuốn sách tác giả
Trang 11HĐND, UBND cấp xã cho phù hợp với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và việc thi hành quyền làm chủ của nhân dân
Thạc sĩ Dương Bạch Long (2011), “Chính quyền cấp xã và việc tổ chức điều
hành hoạt động của UBND cấp xã”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tác giả trình
bày khái niệm chính quyền cấp xã, đặc điểm của chính quyền cấp xã, cách thức tổ chức và điều hành của UBND cấp xã đối với cách lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn xã theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
Thứ ba, luận án, luận văn:
Luận án “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp
xã ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đàm Bích Hiên được công bố năm 2008
Trong luận văn, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã trong giai đoạn hiện nay
Luận án “Đổi mới nhằm nâng cao chất lượng chính quyền cơ sở ở nước ta
hiện nay” của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh được công bố năm 2013 Trong luận
văn, tác giả đã tiến hành nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm cùng những giải pháp thực hiện đổi mới nhằm nâng cao chất lượng của chính quyền cơ sở
Thứ tư, bài báo khoa học:
Th.s Nguyễn Hoàng Anh (2003), “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp cấp
xã trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5/2003 Tác giả đã
khái quát thực trạng hoạt động của HĐND cấp cấp xã thời gian qua, nguyên nhân
và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã Bùi Xuân Đức (2003), “Bàn về tổ chức của HĐND trong điều kiện cải cách bộ
máy nhà nước hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2003 Tác giả đã
phân tích những ưu và mặt hạn chế về tổ chức của HĐND và đưa ra những quan điểm về thay đổi tổ chức trong điều kiện cải cách bộ máy để phù hợp hơn với chức năng, nhiệm vụ của HĐND, Thường trực HĐND và từng Ban của HĐND
Trang 12Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồi (2004), “HĐND và UBND ở nước ta hiện nay”, Tạp
chí Luật học, số 1/2004 Tác giả nêu khái quát về cách thức tổ chức, những vấn đề
tồn tại trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND và những nhóm giải pháp để nâng cao vai trò quản lý của HĐND và UBND
Thạc sỹ Nguyễn Quốc Tuấn (2004), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động của HĐND và UBND các cấp”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 4/2004 Tác giả
phân tích những kết quả đạt được và hạn chế của HĐND và UBND các cấp, đề xuất các nhóm giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND các cấp
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu và tổ chức, hoạt động của HĐND và UBND các cấp và đặc biệt là ở cấp cơ sở và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý của HĐND và UBND Tuy nhiên, dưới góc độ tiếp cận về tổ chức
và hoạt động của chính quyền địa phương trong hệ thống chính trị cơ sở, nhất là nghiên cứu ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay thì chưa có công trình nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn khảo sát thực trạng hoạt động của chính quyền xã ở tỉnh Thanh Hóa, luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới tổ chức
và hoạt động của chính quyền xã ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Để thực hiện mục đính nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, hệ thống và phân tích cơ sở lý luận về chính quyền địa phương,
chính quyền xã trong hệ thống chính trị cơ sở;
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương trong hệ thống chính trị cơ sở hiện nay, từ thực tế khảo sát ở tỉnh Thanh Hóa;
Thứ ba, luận chứng những giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của
chính quyền địa phương trong hệ thống chính trị cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, đặt nó trong mối quan hệ với hệ thống chính trị cơ sở
ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm những giới hạn cụ thể sau:
Thứ nhất, Do điều kiện về thời gian và đối tượng nghiên cứu quá rộng và phức
tạp, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp
cơ sở của các huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa
Thứ hai, thời gian nghiên cứu luận văn trong một nhiệm kỳ 2011 – 2016.
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực nhà nước và quyền làm chủ của Nhân dân; các tư tưởng, quan điểm mang tính nguyên tắc của Đảng Nhà nước về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Phương pháp nghiên cứu của luận văn:
Thứ nhất, phương pháp luận:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin;
Thứ hai, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ đạo gồm có: Logic -
lịch sử, phân tích - tổng hợp và quy nạp - diễn dịch; Ngoài ra, sử dụng phương pháp thống kê, so sánh
Thứ ba, phương pháp thu thập và xử lý thông tin: luận văn sử dụng phương
pháp nghiên cứu tài liệu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND xã (từ thực tế tỉnh Thanh Hóa) tác giả đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND xã, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay
Trang 14- Luận văn sẽ góp phần nhận thức sâu hơn về chính quyền địa phương cơ sở, đặc biệt là chính quyền xã
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo việc nghiên cứu, giảng dạy về bộ môn chính trị học hoặc về nhà nước, pháp luật, về quyền lực nhà nước và các cơ quan quyền lực nhà nước, về hệ thống chính trị cơ sở ở các trường đào tạo cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết
Chương 2: Tổ chức và hoạt động của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính quyền địa phương trong hệ thống chính trị
cơ sở
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm hệ thống chính trị và hệ thống chính trị ở cấp cơ sở
Khái niệm hệ thống chính trị
Chính trị là một trong những hiện tượng lịch sử, nó có quá trình ra đời, tồn tại
và mất đi, chính trị chỉ tồn tại khi xã hội có giai cấp và nhà nước, nhưng không phải khi chính trị xuất hiện hệ thống chính trị cũng xuất hiện Khái niệm hệ thống chính trị ra đời sau khái niệm chính trị; lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông và phương Tây trước C.Mác - Lênin vẫn chưa sử dụng khái niệm hệ thống chính trị Tuy nhiên, nội dung sự hiểu biết về hệ thống chính trị đã được C.Mác - Lênin diễn đạt bằng một phạm trù liên quan như: hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị,
tương ứng… Sau C.Mác, sớm hơn là ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa (đầu những năm 50 của thế kỷ XX) và ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ (Liên Xô muộn hơn vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX) mới xuất hiện khái niệm hệ thống chính trị Ở Việt Nam, bắt đầu từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3 năm 1989), lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng thuật ngữ hệ thống chính trị thay cho thuật ngữ chuyên chính vô sản Trong những Văn kiện, sách báo, tạp chí, công trí, công trình nghiên cứu chính trị ở nước ta gần đây ngày càng sử dụng rộng rãi khái niệm hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Khái niệm hệ thống chính trị ra đời ở thời kỳ hiện đại, nó là sự phản ánh chính trị hiện đại
Ở các nước xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây, quan niệm phổ biến xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ chức chính trị - xã hội mang bản chất giai cấp cầm quyền nhằm phục vụ cho quyền lực chính trị của gia cấp đó Quan điểm này đồng nhất phạm trù “hệ thống chính trị” với phạm trù “hệ thống chuyên chính của
Trang 16thống chuyên chính tư sản, còn hệ thống chính trị chủ nghĩa xã hội là hệ thống chuyên chính vô sản Ở Việt Nam trước đây và một số năm đầu đổi mới, chúng ta chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị mà vẫn dùng một cách phổ biến khái niệm
hệ thống chuyên chính vô sản để chỉ hệ thống và cơ cấu các cơ quan quyền lực lãnh đạo và quản lý xã hội
Nhận thức là một quá trình Trước đây như trên đã nêu về sự đồng nhất hai phạm trù: hệ thống chính trị và hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền điều
đó thể hiện sự nhận thức ấy vừa là kết quả của quan điểm quá nhấn mạnh tính giai cấp trong chính trị mà chưa thấy hết diện mạo của các dân tộc, tính nhân loại trong chi phối chính trị Sau này xuất hiện quan niệm về hệ thống chính trị toàn diện hơn, rộng hơn phải phản ánh rõ hơn bản chất của chính trị Bao hàm trong hệ thống chính trị, ngoài hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền - bộ phận cơ bản nhất, quan trọng nhất, quy định bản chất của toàn bộ hệ thống chính trị trong xã hội tương ứng, còn có các tổ chức, các thiết chế chính trị hợp pháp khác Tuy nhiên quan niệm như vậy cũng mới chỉ nhấn mạnh được về hệ thống tổ chức tức là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị mà chưa chỉ ra được hệ thống các mối quan hệ trong hoạt động chính trị theo chức năng, nhiệm vụ, đồng thời còn là hệ thống các cấp độ nhằm điều chỉnh lẫn nhau và điều chỉnh mọi mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội giữa các dân tộc trong cộng đồng xã hội, giữa các yếu tố xã hội, tập thể và cá nhân, về vấn đề quyền lực, về định hướng, đường lối, chủ trương chính sách quy định mục tiêu, phương hướng nội dung phát triển xã hội
Căn cứ việc đáp ứng hai yêu cầu: một là, phục vụ mục đích nhận thức về hệ
thống các tổ chức, thiết chế có vai trò thực tế và được thừa nhận trong việc thực hiện quyền lực chính trị hoặc tham gia quyền lực chính trị một cách thường xuyên
Hai là, phải đủ tính khái quát để không chỉ phản ánh hiện thực chính trị ở một hay
một nhóm nước nào đó mà còn phản ánh được hiện thực chính trị ở nhiều quốc gia
khác nhau có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, TS Vũ Hoàng Công xác định: “hệ
thống chính trị là một bộ phận của cấu trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ
Trang 17chức, các thiết chế hợp pháp, có quan hệ về mục đích, chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị” [6, tr.19]
Tập thể tác giả của Khoa Chính trị học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
đưa ra định nghĩa: “Hệ thống tổ chức quyền lực là hệ thống các tổ chức chính trị -
xã hội, các đảng chính trị hợp pháp và nhà nước cùng các quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố đó nhằm tham gia vào quá trình hình thành các chính sách nhà nước, thực thi các quyền lực chính trị đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội và bảo đảm quyền thống trị hoặc quyền làm chủ của nhân dân lao động (trong các nước xã hội chủ nghĩa” [20, tr.124]
Tập thể tác giả của Viện Khoa học Chính trị - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh đã đưa ra định nghĩa: “Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc
thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đưa ra các quyết định chính trị” [34, tr.289]
Kế thừa nhiều giá trị ở các quan niệm trên, dưới góc nhìn của chính trị học
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể hiểu: Hệ thống chính trị là một
phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ một chỉnh thể hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong
và giữa các cấp độ tổ chức và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hợp thành cơ thể chính trị của một chế độ xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị
Từ khái niệm vừa đưa ra trên, ta có thể xem xét đến sự tồn tại, vận động, biến đổi của hệ thống chính trị diễn ra trên thực tế rất đa dạng Và tính đa dạng của hệ thống chính trị tùy thuộc vào các nhân tố khách quan và chủ quan tác động tới:
Nhóm nhân tố khách quan: các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chính trị quốc
gia là địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử Chính những điều kiện khác nhau này hình thành nên các quyền và các chuẩn mực xã hội xã hội khác nhau Các quyền và các chuẩn mực xã hội đó phân biệt các hệ thống chính trị khác nhau của
Trang 18các nước, các thời đại khác nhau Trình độ phát triển kinh tế; tương quan giữa các lực lượng chính trị đang hiện diện; yếu tố lịch sử truyền thống văn hóa
Hệ thống chính trị tồn tại trong những điều kiện nhất định trong xã hội có giai cấp và hình thành nhà nước Kết cấu hệ thống chính trị không phải theo ý muốn chủ quan của một giai cấp nào, mà do điều kiện kinh tế - xã hội quyết định Trình độ phát triển kinh tế quốc gia quy định kết cấu xã hội – giai cấp, quy định thành phần tham gia hệ thống chính trị theo dòng chảy chủ đạo của nền kinh tế quốc gia, vì chính trị là sự biểu hiện tập trong của kinh tế Hơn nữa, sự tồn tại của các giai cấp với sức mạnh kinh tế của chúng sẽ tạo nên nền tảng xã hội của các lực lượng chính trị tương ứng
Sự hiện diện của các lực lượng chính trị và mối quan hệ tương quan lực lượng giữa chúng Là yếu tố quyết định trực tiếp đến việc thiết lập hệ thống chính trị theo
mô hình đa đảng hay một đảng trên thực tế Song mối tương quan lực lượng đó có thể bị quy định bởi nhiều khía cạnh: các yếu tố bên trong hoặc bên ngoài đất nước, đặc biệt càng rõ hơn trong xu thế toàn cầu hóa ngày nay; sức mạnh kinh tế, sức mạnh quan sự, mức độ ủng hộ của các tầng lớp dân chúng…
Cùng với sự trưởng thành của ý thức công dân thì truyền thống, thói quen, lịch
sử văn hóa chính trị của dân tộc quốc gia là yếu tố khách quan tạo nên diện mạo bản sắc về hệ thống chính trị của mỗi quốc gia
Nhóm nhân tố chủ quan:
Sự trưởng thành, năng lực và đạo đức, bản chất và bản lĩnh chính trị của đảng chính trị cùng với đội ngũ đảng viên của nó Đây là yếu tố rất quan trọng liên quan đến sinh mệnh đảng chính trị, nó được xem là thước đo tổng hợp đánh giá mức độ
uy tín đích thực của đảng chính trị trước dân chúng như thế nào
Sự tương đồng về tư tưởng của các đảng chính trị: nếu việc tìm kiếm và tạo dựng sự tương đồng về tư tưởng, quan điểm của các đảng chính trị càng lớn thì dễ dàng chấp nhận nhau, cùng chia sẻ quyền lực chính trị Ngược lại, nếu các đảng chính trị đối chọi nhau về hệ tư tưởng chính trị, về lập trường giai cấp thì dễ dẫn
Trang 19chính trị như thế trong tình huống có lợi cho mình, thường sẵn sàng độc chiếm nhà nước mà không chấp nhận chia sẻ quyền lực và đặt các quyền lực đối lập ngoài vòng pháp luật
Có thể nói rằng các nhân tố khách quan và chủ quan thường xuyên tác động đến quá trình hình thành và biến đổi của hệ thống chính trị trong mỗi thời kỳ, cũng như quyết định hình thái tồn tại hệ thống chính trị
gồm Đảng cộng sản, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, ở các cấp
độ và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó theo chức năng nhiệm vụ nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân lao động Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình trong xã hội
Hệ thống chính trị nước ta hiện nay bao gồm Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội của quần chúng nhân dân tham gia vào mặt trận với tư cách là những thành viên
Khái niệm hệ thống chính trị ở cấp cơ sở
Hệ thống chính trị ở nước ta định hình thành theo bốn cấp hành chính: Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Dựa vào những nét khái quát chung nhất về hệ
thống chính trị như đã nêu trên có thể hiểu Hệ thống chính trị ở cấp cơ sở là toàn
bộ các thể chế chính trị cấp xã, phường, thị trấn (tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân của cấp cấp xã và mối quan hệ giữa chúng) được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc xác định, gắn bó hữu cơ, thống nhất với nhau về mục đích, chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân cấp cơ sở
Hệ thống chính trị ở cấp cơ sở là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam, nên vừa mang đặc đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cấp cơ sở có những đặc trưng riêng:
Thứ nhất, hệ thống chính trị ở cấp cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính
Trang 20pháp lý của chỉnh thể hệ thống chính trị thống nhất ở nước ta hiện nay Song không
thi đường lối chính sách của Đảng và nhà nước thì đây lại là cấp quan trọng nhất bởi vì đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cuối cùng có thực hiện được hay không lại là ở cơ sở
Thứ hai, hệ thống chính trị cấp ở cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất Theo các quy định hiện hành thì hệ
thống chính trị cấp cơ sở được biên chế và hưởng sinh hoạt phí không quá 25 người Các mối quan hệ ở đây không phải là không phức tạp, tính phức tạp ở đây được quy
định bởi các yếu tố gia tộc, dòng họ, tôn giáo, văn hóa, truyền thống
Thứ ba, hệ thống chính trị ở cấp cơ sở là cấp có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít chuyên nghiệp nhất, trình độ học vấn và văn hóa, trình độ lý luận và chuyên môn thấp nhất Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cấp cơ sở biến động nhất là
vì do cơ chế họ không được biên chế cố định mà chủ yếu lệ thuộc vào lá phiếu bầu chọn trong các cuộc bầu cử nên thời gian này làm cán bộ thời gian sau làm dân thường phần lớn những người được đào tạo cơ bản cả về lý luận và chuyên môn nghiệp vụ thì họ tìm cách thoát ly khỏi cơ sở
Thứ tư, hệ thống chính trị ở cấp cơ sở là cấp trực tiếp nhất chịu sự chi phối của Nhân dân Mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước quán triệt, triển
khai đến dân đều qua cơ sở Vì vậy nó là cấp gần dân nhất và thể hiện tính nhân dân một cách rõ ràng, trực tiếp nhất Song đây là cấp đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc của dân chúng với những mâu thuẫn, thậm chí cả những xung đột nảy sinh trng đời sống dân cư Vì vậy tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp
cơ sở mang tính tự quản cao
Thứ năm, hệ thống chính trị ở cấp cơ sở là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hóa làng cấp xã, quan hệ dân tộc, tôn giáo tác động mạnh nhất Hệ thống chính trị cấp
cơ sở là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hóa làng cấp xã có thể tác động mạnh nhất có ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ nội bộ trong tổ chức và hiệu quả hoạt động của hệ
Trang 21phối, ràng buộc rất lớn bởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng cấp xã Do đó, phải hết sức chú ý khắc phục tư tưởng dòng họ, bè phái, lợi dụng chức quyền theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ” hoặc “chi bộ ta”
1.1.2 Khái niệm chính quyền địa phương
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay, nhiều văn bản pháp luật, sách báo dùng thuật ngữ chính quyền địa phương nhưng chưa có văn bản nào giải thích đầy đủ về nội hàm khái niệm chính quyền địa phương Trong cuốn từ điển tiếng việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên của Viện ngôn ngữ học thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, xuất bản năm 1995 có 38, 410 mục từ, nhưng cũng không có mục từ “chính quyền địa phương” mà chỉ nhắc tới chính quyền Trong cuốn sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng của nhà xuất bản Giáo dục, xuất bản năm 1996 do Nguyễn Duy Lãm chủ biên
và trong quyển từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội do Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc chủ biên xuất bản năm 1999 cũng không
có thuật ngữ “chính quyền địa phương”
Dưới góc độ pháp luật, chính quyền địa phương được quy định như sau: tại Điều 111, Hiến Pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 quy định
“Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng Hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thi, hải đảo, đơn vị hình hính - kinh tế đặc biệt do luật định”
Chính quyền địa phương hiện nay có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chính quyền địa phương là một bộ phận hợp thành, gắn bó hữu cơ
của chính quyền nhà nước thống nhất, là hình thức pháp lý thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở địa phương
Tính quyền lực Nhà nước của chính quyền địa phương không chỉ xác định vị trí, tính chất pháp lý và vai trò của chính quyền địa phương trong cơ chế thực hiện
Trang 22nhiệm của chính quyền địa phương trong việc quyết định các biện pháp nhằm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nói chung, trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương nói riêng Đặc biệt là các giá trị pháp lý của các văn bản do chính quyền địa phương trong việc kiểm tra, giám sát việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật đối với tất cả cá cơ quan khác, các tổ chức khác, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế và công dân trên địa bàn địa phương
Thứ hai, không phải mọi cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động ở địa
phương, giải quyết các vấn đề ở địa phương đều nằm trong cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương Điều này không có nghĩa chỉ trừ cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương mà còn bao gồm các cơ quan của các bộ các ngành trung ương đóng trên
địa bàn địa phương
Thứ ba, các cơ quan chính quyền địa phương về nguyên tắc phải do nhân dân
địa phương bầu ra hoặc được thành lập trên cơ sở của các cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật
Thứ tư, các cơ quan chính quyền địa phương ở nước ta tổ chức và hoạt động
theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện chức năng, thẩm quyền theo quy định của pháp luật, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương trên cơ sở nhằm thi hành Hiến pháp và pháp luật, các văn bản của Nhà nước cấp trên và có sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân dân địa phương và lợi ích chung của cả nước
Căn cứ vào Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 có thể hiểu khái niệm chính quyền địa phương như sau:
Chính quyền địa phương ở nước ta là một bộ phận hợp thành chính quyền nhà nước thống nhất của Nhân dân, bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
do Nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra là Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp bầu ra là Uỷ ban dân nhân, nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội của địa phương, trên
cơ kết hợp hài hòa lợi ích của Nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước
Trang 23Như vậy ta có thể hiểu chính quyền địa phương đó là: Chính quyền địa phương gồm có ba cấp: chính quyền cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp xã
1.1.3 Chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
Thứ nhất, cấp cơ sở hay còn gọi là cấp xã là cấp hành chính cuối cùng trong
hệ thống bốn cấp hành chính của Việt Nam hiện nay Chính quyền cấp xã là bộ máy quản lý nhà nước ở cấp cơ sở, gắn nhiều với tính chất tự quản
Thứ hai, hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm tổ chức của Đảng Cộng sản
Việt Nam, cơ quan nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Hội nông dân Việt Nam được tổ chức ở cấp cơ sở
Thứ ba, chính quyền cấp cơ sở bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước và cơ
quan hành chính nhà nước là HĐND cấp xã và UBND cấp xã được tổ chức ở cấp
cơ sở, cụ thể:
HĐND cấp xã gồm các đại biểu HDND do cử tri ở cấp xã bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp xã, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân cấp xã và cơ quan nhà nước cấp trên
UBND cấp xã do HĐND cấp xã bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND cấp
xã, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp xã, chịu trách nhiệm trước Nhân dân, HĐND cấp xã và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên
Từ những phân tích trên, có thể quan niệm chính quyền cấp xã trong hệ
thống chính trị cấp cơ sở bao gồm HĐND và UBND cấp xã, là bộ phận cấu thành
hệ thống chính trị cấp cơ sở, là trung tâm của hệ thống chính trị cấp cơ sở, chịu
sự lãnh đạo của Đảng bộ xã và có mối quan hệ tương hỗ với Mặt trận Tổ quốc xã
và các tổ chức thành viên trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ
Cấp xã : bao gồm Xã, phường, thị trấn Là cấp hành chính nhỏ nhất Sở dĩ gọi chung là cấp xã như vậy là vì số lượng xã ở Việt Nam chiếm đa số và để cho vắn tắt về
Trang 24cách gọi nhưng mục đích là chỉ để phân biệt về cấp hành chính Cấp xã gồm có xã, phường, thị trấn, ba tên gọi này khác nhau như sau:
Xã (ở nông thôn) và phường (ở đô thị) là cấp hành chính nhỏ nhất, gọi là cấp cơ sở Thị trấn cũng là một cấp tương đương phường, xã, nhưng đó là đơn vị hành chính của nông thôn có xu hướng đô thị hóa mạnh, thường là thủ phủ của một huyện Như vậy, chính quyền cấp xã bao gồm có chính quyền xã, phường, thị trấn tương ứng với các vùng
đô thị và nông thôn trên địa bàn cấp xã
1.2 Vị trí, nhiệm vụ và vai trò của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
1.2.1 Vị trí của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
Chính quyền trong hệ thống chính trị cấp cơ sở gồm HĐND và UBND xã, vị trí được thể hiện cụ thể như sau:
HĐND và UBND xã là bộ phận cấu thành và là trung tâm của hệ thống chính trị cấp cơ sở, có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác của hệ thống chính trị cấp cơ
sở trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các quy định khác của pháp luật
Khoản 1, Điều 6, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương quy định: “Hội đồng
Nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”
Khoản 1, Điều 8, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương quy định: “Ủy
ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”.[32]
Chính quyền xã là cấp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng cơ sở, là cấu
Trang 25nối trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hằng ngày của nhân dân trên địa bàn xã
Tổ chức chính quyền cơ sở khác với chính quyền cấp hành chính khác Tổ chức bộ máy chính quyền xã chỉ bảo gồm cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND và
cơ quan quan chấp hành của HĐND là UBND, không có các cơ quan tư pháp như: Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân
UBND xã không tổ chức các cơ quan chuyên môn trực thuộc, mà tổ chức 07 chức danh công chức chuyên môn, giúp việc cho UBND, cụ thể: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch và Công chức Văn hóa - xã hội
Các đoàn thể nhân dân ở xã chủ yếu có năm tổ chức là Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh (do ở nông thôn Việt Nam, rất ít nơi có tổ chức công đoàn)
Đoàn thể nhân dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị ở xã
Cụ thể các đoàn thể nhân dân có vai trò đoàn kết nhân dân, chăm lo lợi ích của thành viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ của công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Đoàn thể nhân dân là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong trào vận động quần chúng tham gia bảo vệ trật tự trị an, xây dựng nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở
1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền xã trong hệ thống chính trị
cơ sở
Thứ nhất, HĐND xã có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho
ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
Trang 26Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương
Theo luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 tại điều 33 đã thể hiện rất
rõ nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng nhân dân xã như sau:
- Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã
- Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan,
tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn xã
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân xã; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Ủy viên Ủy ban nhân dân xã
- Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh dự toán ngân sách xã trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách xã Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của xã trong phạm vi được phân quyền
- Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và phát luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình;
Trang 27- Bãi nhiệm đại biểu HĐND xã và chấp nhận đại biểu HĐND xã xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND xã
Thứ hai, nhiệm vụ, quyền hạn của Thường Trực HĐND xã:
Trong điều 52 luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định ,Thường trực Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên thường trực Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân
Thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên của Uỷ ban nhân dân cùng cấp
Kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực Hội đồng nhân dân phải được Thường trực Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được
Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn
Cuốn giáo trình luật hiến pháp Việt Nam do Giáo Sư tiến sĩ Nguyễn Đăng Dung và tiến sĩ Đặc Minh Tuấn đồng chủ biên,đã đưa ra những nhiệm vụ và quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân đó là
- Triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc chuẩn bị Kỳ họp của Hội đồng nhân dân;
- Đôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân cùng cấp và các cơ quan Nhà nước khác
ở địa phương thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân;
- Giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương;
- Điều hòa, phối hợp hoạt động của các ban của Hội đồng nhân dân; xem xét kết quả giám sát cảu các ban của Hội đồng nhân dân khi cần thiết và báo cáo hội đồng nhân dân tại kỳ họp gần nhất; giữ mối liên hệ với các đại biểu Hội đồng nhân dân để báo cáo Hội đồng nhân dân;
Trang 28- Tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại
Kỳ họp của Hội đồng nhân dân;
- Phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch,phó chủ tịch, Ủy viên thường trực hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp;
- Trình hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân dân bầu theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân;
- Phối hợp với ủy ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân theo đề nghị của ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
- Báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cùng cấp lên Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp mình
Thường trực Hội đồng nhân dân làm việc theo nguyên tắc tập thể Mỗi tháng, Thường trực Hội đồng nhân dân họp ít nhất một lần để kiểm điểm việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân và các quyết định của mình, đề ra nhiệm vụ công tác tháng sau Thường trực Hội đồng nhân dân có thể họp bất thường theo đề nghị của từng thành viên thường trực hội đồng nhân dân
Thứ hai, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã gồm:
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là đại biểu Hội đồng nhân dân Các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân không nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân
Kết quả bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn
Trong nhiệm kỳ nếu khuyết Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thì Chủ tịch Hội đồng
Trang 29nhân dân bầu Người được bầu giữ chức vụ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trong nhiệm
kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân và số lượng thành viên trong Ủy Ban nhân dân xã có từ ba đến năm thành viên
Theo điều 76 pháp lệnh nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân ở mỗi cấp, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã như sau:
- Tổ chức và thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật;
- Lập hồ sơ về việc phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương đưa ra Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua để trình cấp trên xét xét, quyết định;
- Quản lý hồ sơ, mốc và bản đồ địa giới hành chính của địa phương
Thứ ba, mối quan hệ của chính quyền xã với các thành tố khác trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
Mối quan hệ với cấp ủy cơ sở: Trên cơ sở nghị quyết của cấp ủy cơ sở, HĐND
và UBND đã cụ thể hóa thành nghị quyết của HĐND và các các quyết định của UBND xã Theo định kỳ, HĐND và Chủ tịch UBND báo cáo, trao đổi công tác với cấp ủy, để kịp thời nắm bắt diễn biến của địa phương, thực hiện chức năng kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của Đảng, đề từ đó có phương hướng lãnh đạo đúng đắn, phù hợp, sát với thực tế
Quan hệ giữa chính quyền xã với các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn xã:
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, UBND xã tiếp thu các ý kiến của các tổ chức chính trị - xã hội, cụ thể như trong các cuộc họp của UBND luôn có đại diện của tổ chức chính trị - xã hội và có sự đóng góp ý kiến với UBND Thông qua Mặt trận Tổ quốc xã, UBND xã thu nhận được những kiến nghi, khiếu nại, thắc mắc của Nhân dân trong quá trình điều hành quản lý, trên cơ sở đó UBND
có sự giải đáp, điều chỉnh, tuyên truyền và rút kinh nghiệm cho hoạt động quản lý, nhất là trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình, trong các cuộc họp UBND luôn có đại diện của các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn xã như Mặt
Trang 30dự, chính nhờ sự hỗ trợ giúp đỡ của các tổ chức trên mà UBND thực hiện tốt những nhiệm vụ tuyển quân, xây dựng ấp văn hóa, phổ cập giáo dục, xoá đói giảm nghèo, trợ cấp khó khăn cho những gia đình neo đơn; động viên các hộ nông dân mạnh dạn đầu tư vào những ngành nghề lĩnh vực mang lại nguồn thu nhập cao Thông qua Mặt trận Tổ quốc, UBND xã thu nhận được những kiến nghị, khiếu nại, thắc mắc của nhân dân trong quá trình điều hành quản lý của mình, trên cơ sở đó UBND có
sự giải đáp, tuyên truyền, điều chỉnh, rút kinh nghiệm cho hoạt động của mình Quan hệ giữa chính quyền cấp xã với chính quyền cấp Huyện: Đó là Uỷ ban nhân dân xã có mối quan hệ trực tiếp với Uỷ ban nhân dân cấp huyện Đây là mối quan hệ trực tiếp trên dưới, quan hệ phục tùng và mệnh lệnh Là cấp dưới, Uỷ ban nhân dân xã phải chấp hành các chỉ thị, quyết định và các văn bản khác của Uỷ ban nhân dân cấp trên và của Chính phủ trong quá trình điều hành hoạt động của mình, truyền đạt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước tới nhân dân trong xã, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ với Uỷ ban nhân dân cấp huyện, xin ý kiến Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong những vấn đề quan trọng đột xuất Là cấp trên, Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm phê chuẩn nhân sự của Uỷ ban nhân dân xã, thực hiện sự chỉ đạo toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt động của Uỷ ban nhân dân xã Mối quan hệ về công tác chuyên môn nghiệp vụ là mối quan hệ dựa trên nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước Các bộ phận chuyên môn của UBND xã chịu sự chỉ đạo trực tiếp của các phòng ban chuyên môn của UBND cấp huyện
1.2.3 Vai trò của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
Chính quyền xã là cấp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng cơ sở, là cấu nối trực tiếp giữa nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hằng ngày của nhân dân trên địa bàn xã
Chính quyền xã là chính quyền được tổ chức ra nhằm bảo đảm, bảo vệ và phục
vụ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, nhân dân là đối tượng cơ bản để chính
Trang 31quyền phục vụ Dưới góc độ vai trò của nhà nước, nhân dân chính là chủ thể của quyền lực nhà nước
Xã với tư cách là cấp cơ sở nhìn từ dưới lên thì nó là nền tảng của nhà nước và
xã hội Đây chính là nơi diễn ra hoạt động sống của cư dân, trước hết là của nông dân, những người chuyên sản xuất lương thực, thực phẩm để nuôi sống toàn xã hội
Sự ổn định của xã hội được bắt đầu từ cơ sở, đó là tiền đề của sự phát triển; thường thì sự không bình yên của thể chế đều bắt đầu từ chỗ lòng dân không yên, quy luật quản lý muôn đời là có dân thì có tất cả, mất dân thì mất tất cả Thuận lòng dân được nhìn một cách rõ nhất, trực tiếp nhất là từ những người dân cơ sở, những người được xem là cội nguồn quốc tuý Việt Nam, phải xuất phát từ gốc gác này thì mọi hoạt động quản lý của các cấp mới triển khai có hiệu quả
Cấp cơ sở còn là nơi chứng thực đường lối, chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống và được triển khai cụ thể ra sao, bởi chính sách dù khoa học, đúng đắn đến đâu thì cũng chỉ là những khả năng của khoa học, là chủ quan từ những nghiên cứu, lý thuyết chưa đủ để khẳng định hiệu quả nếu không đưa vào thực tiễn cơ sở, phải được hiện thực hoá ở đời sống của người dân, phải được thể chế hoá chặt chẽ qua hoạt động ở cơ sở Chính quyền xã vì vậy có thể nói là cấp hành động, cấp hoạt động, tổ chức thực hiện đường lối chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước Ở cơ sở cán bộ ở cơ sở phải là người có năng lực giỏi, cọ xát và sáng tạo để tập hợp được dân, tạo nên phong trào hoạt động tự quản của toàn dân, hướng vào phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, họ phải thực sự là những người tận tâm, tận lực, gương mẫu, “thật thà nhúng tay vào việc”, “nói đi đôi với làm”, “biết vận động dân cho đúng và cho khéo”, “không để sót một người nào”,
“phải thực sự óc nghĩ, mắt nhìn, tai nghe, miệng nói, chân đi, tay làm” để cho “dân tin tưởng, dân yêu mến, dân giúp đỡ, dân ủng hộ, dân bảo vệ” Cơ sở quan trọng là vậy và từ đây mới thể hiện được “chính quyền ở trong lòng dân” nhằm phát huy những gì là nội lực nội sinh của người dân cơ sở, bởi thực chất “chủ quyền thuộc về nhân dân cùng nhau giao các chức năng và quyền quản lý cho chính quyền, chứ
Trang 32chính quyền không tự thân có các chức năng và các quyền” Vậy nên thế trận lòng dân là ở chính quyền trong việc nuôi dưỡng và phát huy sức dân ở cơ sở
Chính quyền xã là trung tâm của hệ thống chính trị cấp cơ sở, có vai trò quan trọng thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
Một là, hệ thống chính quyền xã là hệ thống quyền lực có địa bàn rộng lớn
nhất, có quan hệ trực tiếp nhất với nhân dân
Hai là, tất cả các quy định, chỉ thị, hướng dẫn của cơ quan Nhà nước cấp trên
có được triển khai thực hiện ở nông thôn hay không, hiệu quả đến dân đều phải thông qua chính quyền xã
Ba là, nhân dân gắn bó, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước như thế nào cũng thông
qua hoạt động quản lý của chính quyền và quyền lực của cán bộ chính quyền cấp cơ
sở với dân trong việc giải quyết những nhu cầu dân sinh, dân chủ, dân quyền
Bốn là, sức mạnh hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền xã là ở nơi dân,
là việc quy tụ được lòng dân, phát huy tình đoàn kết, truyền thống làng xã, tinh thần làm chủ của nhân dân
Năm là, hệ thống chính trị cấp cơ sở có phát huy được vai trò lãnh đạo, tổ chức
đoàn kết toàn dân thực hiện được những mục tiêu xây dựng địa phương có kinh tế -
xã hội - văn hoá phát triển hay không, điều đó tuỳ thuộc rất nhiều vào trình độ, phẩm chất, năng lực, quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp cơ sở
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
1.3.1 Các yếu tố khách quan
Thứ nhất, các yếu tố về điều kiện địa lý, tự nhiên
Hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước đều chịu ảnh hưởng của điều kiện vị trí đia lý, tự nhiên, nhiều địa phương những yếu tố đó tác động trực tiếp, nhiều khi mang tính chi phối quan trọng tới hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương Quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền trong hệ thống chính trị cấp cơ sở cũng không nằm ngoài sự tác động của yếu tố địa lý, tự nhiên
Trang 33tích cực và tác động cản trở, tiêu cực Địa phương nào có vị trí địa lý thuận lợi, giao thông thuận tiện thì hiệu quả trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền sẽ cao hơn so với chính quyền cấp xã ở vùng núi, hải đảo có đặc điểm địa hình bị chia cắt, trải rộng, giao thông đi lại khó khăn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của khí hậu khắc nghiệt, thiên tai
Thứ hai, trình độ phát triển kinh tế - xã hội; văn hóa, phong tục, tập quán của
địa phương
Địa phương cấp cơ sở có trình độ phát triển kinh tế cao, văn hóa, phong tục tập quán của cộng động dân cư tiến bộ, thì hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương cơ sở sẽ được nâng lên và ngược lại Trên thực tế, yếu tố này ảnh hưởng rất rõ, các xã ở những nơi kinh tế phát triển như đồng bằng, ven đô thị, những xã có các cộng đồng dân cư không có những phong tục, tập quán lạc hậu thì sẽ là những yếu tố thuận lợi cho việc quản lý của các cơ quan chính quyền địa phương cấp cơ sở Mặt khác, các xã vùng núi, các xã có văn hóa truyền thống lạc hậu tồn tại lâu đời trong các cộng đồng dân cư, tôn giáo với các giáo lý không phù hợp với pháp luật thì hoạt động của chính quyền địa phương cơ sở sẽ khó khăn, phức tạp hơn
Thứ ba, trình độ dân trí, văn hóa tôn trọng pháp luật, trách nhiệm công dân
Trình độ dân trí, văn hóa tôn trọng pháp luật và ý thức trách nhiệm của công dân tác động trực tiếp tới hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền trong hệ thống chính trị cấp cơ sở Nhân dân là khách thể, là đối tượng của hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính quyền cấp cơ sở Sự tác động ngược trở lại của Nhân dân trong chu trình quản lý là yếu tố quan trọng để thúc đẩy, nâng cao tính trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của chính quyền Nhân dân có trình độ dân trí cao, hiểu rõ được vai trò, trách nhiệm của mình thì các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật sẽ được Nhân dân ủng hộ và thực hiện nghiêm túc, có tinh thần thượng tôn pháp luật thì hoạt động của chính quyền trong hệ thống chính trị cơ sở
sẽ thuận lợi
Trang 34Điều kiện lao động bao gồm điều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ cho quản lý ảnh hưởng đến khả năng làm việc và sức khỏe của cán bộ, công chức trong quá trình làm việc Khi điều kiện lao động được đảm bảo, sức khỏe và chất lượng công việc của cán bộ, công chức sẽ được tăng lên, giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Do vậy, điều kiện làm việc có ý nghĩa quan trọng để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước Một số yếu tố về điều kiện vật chất có thể ảnh hưởng tới chất lượng công việc của cán bộ công chức là:
- Bố trí, sắp xếp phòng làm việc hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ công chức, giảm được thời gian thực thi công vụ, nâng cao năng suất lao động cho cán bộ, công chức Khi sắp xếp, bố trí phòng làm việc phải lưu ý tới yêu cầu chuyên môn, tính chất công việc của cán bộ để bố trí phòng cho thích hợp, đủ diện tích và trang thiết bị làm việc
- Đảm bảo thông tin liên lạc: hiện nay các cơ nhà nước đã được trang bị khá tốt cho việc bảo đảm thông tin liên lạc Tuy nhiên cần phải quá triệt quan điểm trang thiết bị hiện đại phải phù hợp với trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức để tránh lãng phí và phát huy tối đa hiệu quả kinh tế của chúng Đồng thời cũng phải tôn trọng nguyên tắc bình đẳng, công bằng trong công vụ, trang thiết bị thông tin liên lạc để phục vụ công việc
1.3.2 Nhân tố chủ quan
Thứ nhất, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ chính quyền xã
Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền xã Khi cán bộ, công chức không đáp ứng được những yêu cầu về mặt chuyên môn, nghiệp vụ đối với vị trí đang công tác thì không thể hoạt động có hiệu quả cao Một số cán bộ do thiếu năng lực nên giải quyết công việc chủ yếu dựa theo kinh nghiệm mà thiếu những căn cứ khoa học; thiếu trình độ, kỹ năng nghề nghiệp dẫn đến giải quyết công việc còn chậm; hiểu biết về pháp luật còn yếu nên không ít trường hợp cán bộ hiểu sai tinh
Trang 35thần của văn bản pháp luật dẫn đến việc thực thi sai và không thống nhất các văn bản pháp luật
Phẩm chất, đạo đức Phẩm chất, đạo đức của cán bộ, công chức đang là 1 vấn
đề được nhiều quốc gia quan tâm Muốn các hoạt động quản lý hành chính đạt được chất lượng tốt thì công chức nhà nước phải có các tiêu chuẩn như biết lắng nghe; có kiến thức và kỹ năng giải quyết công việc; thân thiện; kịp thời, linh hoạt…
Để đáp ứng được các yêu cầu trên chính quyền địa phương trong hệ thống chính trị cơ sở cần phải quan tâm đến công tác cán bộ, phải có chiến lược đào tạo,
sử dụng và phát triển cán bộ, công chức
Thứ hai, sự phù hợp của chủ trương của Đảng bộ, cấp ủy, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và của chính quyền xã
Sự phù hợp của chủ trương của Đảng bộ, cấp ủy xã: cấp ủy xã có vai trò lãnh đạo đối với chính quyền xã Trên cơ sở nghị quyết Đảng bộ, cấp ủy xã, HĐND và UBND xã cụ thể hóa thành nghị quyết và quyết định, chỉ thị Điều đó có nghĩa là nghị quyết của Đảng bộ, cấp ủy xã có vai trò quan trọng trong việc định hướng hoạt động của chính quyền xã Nghị quyết đúng đắn, phù hợp với thực tế của địa phương, định hướng giải quyết được những nút thắt trong phát triển của địa phương cấp cơ sở sẽ là điều kiện tiền đề, đảm bảo cho sự phát triển của địa phương trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Sự phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và của chính quyền xã: Cùng với trình độ, năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán
bộ chính quyền xã thì đây là nhân tố có vai trò quyết định hiệu quả hoạt động của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp cơ sở Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước cấp trên và cấp trên trực tiếp nếu đúng đắn, phù hợp sẽ có vai trò điều hành và định hướng hoạt động quản lý của chính quyền xã Nghị quyết của HĐND xã và quyết định của UBND đúng đắn, phù hợp, giải quyết được các vấn đề tồn tại của địa phương, là yếu tố đảm bảo cho những kết quả hoạt động của địa phương
Trang 36Yếu tố tổ chức - pháp lý: Đây là nhóm yếu tố quan trọng hàng đầu có ảnh
hưởng đến chất lượng họat động của chính quyền địa phương, bởi vì cơ cấu tổ chức, các quy định pháp luật có chặt chẽ, hợp lý, rõ ràng hay không… đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động của các cơ quan của xã
Kết luận chương 1
Từ những vấn đề ở trên ta có thể hiểu rõ hơn về các khái niệm hệ thống chính trị, hệ thống chính trị ở cấp cơ sở và khái niệm chính quyền địa phương Trong chương một này tác giả cũng đã phân tích và làm rõ vị trí, nhiệm vụ và vai trò của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp cơ sở, bên cạnh đó cũng đã nêu được các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của chính quyền xã trong hệ thống chính trị cấp
cơ sở Từ đó ta có thể hiểuChính quyền địa phương gồm có ba cấp: chính quyền cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp xã Chính quyền cấp xã gồm có ba loại: xã, phường, thị trấn Chính quyền xã gồm có: Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã HĐND xã là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở xã, do nhân dân cấp bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân xã
và cơ quan nhà nước cấp trên UBND xã do HĐND xã bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND xã và cơ quan nhà nước cấp trên
Trang 37Chương 2
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN XÃ TRONG
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ Ở TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
2.1 Khái quát về các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của chính quyền xã ở Thanh Hóa
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thanh Hoá là tỉnh nằm ở cực Bắc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, cách Thủ đô
Hà Nội 153km về phía Bắc, về phía Nam cách Thành phố Vinh tỉnh Nghệ An 138
- Phía Bắc giáp 3 tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La
- Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An
- Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn - CHDCND Lào
- Phía Đông giáp biển Đông
Thanh hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung Bộ, ở vị trí cửa ngő nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: Đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217, cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho lưu thông Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và đi quốc tế Thanh Hoá có sân bay Sao Vàng và quy hoạch mở thêm sân bay Thanh Hóa thuộc địa bàn 3 xã Hải Ninh, Hải An, Hải Châu huyện Tĩnh Gia phục vụ cho kinh tế Nghi Sơn và toàn tỉnh
Thanh Hoá có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều và nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam: Phía Tây Bắc có những đồi núi cao trên 1.000 m đến 1.500
m, thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía Đông Nam; đồi núi chiếm trên 3/4 diện tích tự nhiên của cả tỉnh Địa hình Thanh Hoá có thể chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi và trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển với những đặc trưng như sau:
Trang 38Gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn phía Nam, bao gồm 11 huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, có tổng diện
ở phía hữu ngạn sông Chu, Bù Ginh (1.291 m) ở phía tả ngạn sông Chu Vùng trung
du có độ cao trung bình từ 150-200 m, độ dốc từ 150 - 200 chủ yếu là các đồi thấp, đỉnh bằng, sườn thoải Đây là vùng có tiềm năng, thế mạnh phát triển lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, cao sau, mía đường của tỉnh Thanh Hóa
- Vùng đồng bằng
tích toàn tỉnh bao gồm các huyện: Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hoá, Đông Sơn, Triệu Sơn, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Hà Trung, TP Thanh Hoá và thị xã Bỉm Sơn Đây là vùng được bồi tụ bởi 4 hệ thống sông chính là: Hệ thống sông Mã, sông Bạng, sông Yên, sông Hoạt Vùng này có độ dốc không lớn, bằng phẳng, độ cao trung bình dao động từ 5 - 15 m so với mực nước biển Tuy nhiên, một số nơi trũng như Hà Trung có độ cao chỉ khoảng 0 -1 m Đặc điểm địa hình vùng này là sự xen
kẽ giữa vùng đất bằng với các đồi thấp và núi đá vôi độc lập Đây là vùng có tiềm năng, thế mạnh phát triển nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa
- Vùng ven biển
Vùng ven biển gồm 06 huyện, thị xã chạy dọc ven bờ biển với chiều dài 102 km
từ huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia Diện
tương đối bằng phẳng; Chạy dọc theo bờ biển là các cửa sông Vùng đất cát ven biển
có địa hình lượn sóng chạy dọc bờ biển, độ cao trung bình 3 - 6 m Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, nuôi trồng thủy sản), đặc biệt vùng này có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát khác như Hải Tiến (Hoằng Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) có những vùng đất đai rộng lớn
Trang 39thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp (Nghi Sơn), dịch vụ kinh tế biển
Thanh Hoá nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: Mùa hạ nóng, ẩm mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô, nóng Mùa đông lạnh và ít mưa Thanh Hoá có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng
rõ nét giữa các tiểu vùng
Thanh Hóa là tỉnh có mạng lưới sông khá dầy, từ Bắc vào Nam có 4 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng, với tổng chiều
phát triển thủy điện, tuy nhiên có sự biến động lớn giữa các năm và các mùa trong năm
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Theo Niên giám Thống kê Thanh Hóa năm 2015, tỉnh Thanh Hoá có 3.566.600 người, là tỉnh có số dân đông thứ ba trong cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội) và là tỉnh đông dân nhất so với sáu tỉnh Bắc Trung Bộ Dân cư phân
bố không đồng đều theo các đơn vị hành chính và phân bố không đều giữa đồng bằng, ven biển và miền đồi núi Dân cư chủ yếu tập trung đông ở thành phố, thị xã, thị trấn ven biển, ven sông và thưa thớt ở các vùng núi Theo Niên giám Thống kê năm 2015 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa có mật độ dân số là 314 người/km2 Riêng thành phố Thanh Hoá có mật độ là 2.384 người/km2, các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương có mật độ trên 1.100 người/km2 Những nguyên nhân chính của
sự phân bố dân cư chênh lệch trên đây phải kể đến sự phân bố không đều của tài
Trang 40vụ đời sống và cả lịch sử cư trú Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2015 ước tính 0,53% Là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc, trong đó người Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất (84,4%), người Mường (8,7%), người Thái (6%) Các dân tộc thiểu số khác như Mông, Dao, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Thổ chiếm tỷ lệ không đáng kể (gần 1%) Tính đa dạng về thành phần dân tộc là lợi thế cho sự phát triển văn hóa,
du lịch song cũng là những khó khăn cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền trong tỉnh
Về mức thu nhập, năm 1995, GDP bình quân đầu người chỉ 212 USD, năm
2000 chỉ 293 USD và năm 2001 là 319 USD, đến năm 2005 đạt 430 USD (so với bình quân cả nước là 543 USD), tốc độ tăng đạt 8,5% (cả nước là 7,6%) Sự phân
bố giàu nghèo cũng rất không đồng đều giữa các vùng, trong đó, các huyện vùng ven biển như Nga Sơn, Hậu Lộc và đặc biệt là các huyện vùng núi phía Tây thì tỷ lệ
hộ nghèo còn chiếm rất cao (Ngọc Lặc: 21,8%, Mường Lát: 25,8%), đây là vấn đề bức xúc và khó khăn cần giải quyết trong kế hoạch phát triển kinh tế của tỉnh Tính đến năm 2005, tổng sản phẩm theo giá so sánh trên địa bàn của tỉnh đạt 11.910 tỷ đồng, tăng bình quân năm thời kỳ 2001 - 2005 là 9,1% Cơ cấu GDP của Thanh Hóa là: nông lâm nghiệp, thủy sản 31,6%, công nghiệp và xây dựng 35,1%, các ngành dịch vụ 33,3% (tỷ lệ này so với cả nước là: 21,8%, 40,1% và 38,1%) Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người năm 2005 mới đạt 28,6 USD (cả nước là 323 USD)
Tỷ lệ này cho thấy tốc độ công nghiệp hóa và các ngành dịch vụ, xuất khẩu còn phát triển ở mức thấp
Sau nhiều đổi mới, cải cách trong thủ tục hành chính cũng như kêu gọi đầu tư; đến năm 2015, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có bước tăng trưởng khá Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GDP) năm 2015 theo giá so sánh năm 1994 tăng 12,3%
so với năm 2014 (năm 2014 tăng 11,6%); trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,8%; khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 13,5%; khu vực dịch vụ tăng 12,0% Trong 11,6% tăng trưởng của năm 2014; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,8%; ngành công nghiệp, xây dựng 6,8%; các ngành dịch vụ