1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát huy giá trị đạo đức gia đình truyền thống việt nam trong xây dựng gia đình hiện đại ở tỉnh lâm đồng hiện nay

81 320 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 901,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm bảo vệ và phát huy những giá trị đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam hướng tới mục tiêu hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, mỗi tế bào của xã hội phải thực sự có lố

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Phát huy giá trị đạo đức gia đình truyền

thống Việt Nam trong xây dựng gia đình hiện đại ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay”

là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả điều tra là trung thực và chưa từng công bố ở công trình nào khác Các trích dẫn, nguồn tải liệu trong luận văn đều ghi rõ ràng để bảo đảm tính khách quan và quyền tác giả

Học viên

Nguyễn Thị Thanh Hà

Trang 3

Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành tới cô TS.Nguyễn Thị

Phương Mai là giáo viên đã trực tiếp hướng dẫn tôi Cô đã nhiệt tình, chỉ bảo

tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến ba mẹ đã là điểm tựa cũng như động viên, hỗ trợ cho tôi về mặt tinh thần để tôi có thời gian học tập và thực hiện thành công đề tài này

Tôi xin trân trọng gửi lời tri ân đến tất cả!

Học viên

Nguyễn Thị Thanh Hà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬNVÀ NHỮNG NỘIDUNGCƠ BẢN CỦAĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNGVIỆT NAM 9

1.1 Một số quan niệm về “gia đình”, “đạo đức gia đình” 9 1.2 Những điều kiện hình thành đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam 22 1.3 Một số chuần mực cơ bản của đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam từ góc độ các mối quan hệ trong gia đình 26

Chương 2 : PHÁT HUY ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH HIỆN ĐẠI Ở TỈNH LÂM ĐỒNG- THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP 36

2.1 Thực trạng việc xây dựng, phát triển gia đình ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay 36 2.2 Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá trị đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình hiện đại ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay 53

KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, nhưng xã hội không đơn thuần được tạo

thành từ tổng số các cá nhân, mà phản ánh tổng thể các mối quan hệ của các

cá nhân đó với nhau Do đó gia đình là xã hội thu nhỏ với những con người có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một tiểu hệ thống hết sức phức tạp bởi ở

đó không chỉ có các mối quan hệ huyết thống Đó cũng là nền tảng văn hóa của xã hội mà con người có những trải nghiệm đầu tiên khi ứng xử với người khác

Sự ủng hộ của gia đình có tầm quan trọng rất lớn không chỉ đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, mà còn có tác động nhất định đến việc hoạch định chính sách của xã hội, bởi gia đình có thể được xem như là nguồn vốn nhân lực của xã hội Sự ổn định và phát triển của gia đình là cơ sở để đảm bảo sự

ổn định, công bằng và phát triển của xã hội Không những vậy, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:

“Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [11, tr 106] Để làm được điều này, đạo đức gia đình phải được củng cố và duy trì là nền tảng vững chắc trong quá trình xây dựng đạo đức cá nhân

Nhằm bảo vệ và phát huy những giá trị đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam hướng tới mục tiêu hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, mỗi tế bào của xã hội phải thực sự có lối sống lành mạnh, ở đó mọi người quan tâm đến nhau, người già được kính trọng và trẻ em được đùm bọc yêu thương Những giá trị này được coi là chuẩn mực và đạo lý xử thế trong

Trang 6

đạo làm người của người Việt Nam Đạo đức gia đình truyền thống là yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc, thể hiện cốt cách văn hóa dân tộc Việt Nam

Tuy nhiên, khi những điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, những giá trị đạo đức gia đình truyền thống cũng có thể thay đổi theo Các giá trị đó có thể

bị phủ định từng phần, hoặc bị thay thế bởi những giá trị mớido nhu cầu của thời đại haydo bản thân các giá trị đó Chính vì vậy, để phát huy các giá trị truyền thống thì trước hết các giá trị đó phải được thẩm định lại, được kế thừa một cách biện chứng

Hiện nay, những giá trị đạo đức truyền thống trong gia đình Việt Nam nói chung, trong các gia đình ở tỉnh Lâm Đồng nói riêng cũng có những thay đổi nhất định Do sự biến đổi của tồn tại xã hội, trước hết là sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một số yếu tố của đạo đức gia đình truyền thống đang trở nên bất cập Ngoài ra cũng do những điều kiện khách quan chi phối đời sống hiện thực của gia đình như sự thâm nhập của các loại hình văn hóa, tôn giáo, sự tác động của cơ chế, chính sách xã hội về giáo dục, các hình thức hoạt động đoàn thể, v.v., cũng làm cho đạo đức gia đình Việt Nam nói chung,

ở tỉnh Lâm Đồng nói riêng có sự thay đổi rất nhiều

Theo triết lý “đến hiện đại từ truyền thống”, trên cơ sở kế thừa biện chứng và phát huy các giá trị đạo đức gia đình truyền thống trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước ta hiện nay, đồng thời, xuất phát từ thực tế nêu

trên, đề tài “Phát huy giá trị đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam trong

việc xây dựng gia đình hiện đại ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay” được lựa chọn

nghiên cứu

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Gia đình truyền thống, gia đình hiện đại và đạo đức gia đình truyền thống được quan tâm và được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Trong

phạm vi của đề tài, tình hình nghiên cứu có thể khái quát theo các vấn đề sau:

Thứ nhất, những công trình đề cập đến quan niệm và những yếu tố ảnh

hưởng đến gia đình truyền thống, gia đình hiện đại của Việt Nam nói chung

Trước năm 1991, những công trình nghiên cứu về gia đình truyền thống

Việt Nam đã xuất hiện Đến năm 1991, Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam [53] được Viện Xã hội học cho xuất bản Đây là công trình tập

hợp bài viết của nhiều học giả về chủ đề gia đình Trong số đó, đáng chú ý là

các bài viết của Trần Đình Hượu (Về gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng Nho giáo), Nguyễn Từ Chi (Nhận xét bước đầu về gia đình của người Việt), Đỗ Thái Đồng (Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam Bộ Việt Nam),… Đến năm 1996,Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam[24]tập 2 được xuất bản Trong đó, những bài viết có nội dung mang tính

chất lý luận về gia đình có thể kể đến là: Tương Lai với “Đi tìm định nghĩa về khái niệm gia đình”, Hoàng Thiệu Khang với “Gia đình là tế bào xã hội?” hay

Vũ Tuấn Huy với “Những khía cạnh của sự biến đổi gia đình”, v.v

Nhiều nhà khoa học khẳng định, truyền thống Nho giáo ảnh hưởng đến gia đình ở mọi khía cạnh Điều này được các tác giả Vũ Khiêu, Đặng Nhứ và

Lê Thị Quý làm sáng tỏ trong công trình Nho giáo và gia đình [21] Trong

công trình này, các tác giả đã nghiên cứu những quan điểm của Nho giáo về gia đình, trên cơ sở này, những ảnh hưởng từ Nho giáo đến vấn đề gia đình được chỉ ra Trong số đó, những nhận định cho rằng: Gia đình là cơ sở của xã hội; Quan hệ gia đình bắt đầu từ quan hệ cha mẹ - con cái, và là trung tâm của mọi quan hệ xã hội; Sự giáo dục trong gia đình là trường học đầu tiên để giáo dục con người đi vào xã hội; HIẾU là phẩm hạnh đứng đầu trong hệ thống đạo đức

Trang 8

Nho giáo;… Những vấn đề này còn được thể hiện qua những câu nói của các nhà tư tưởng cận - hiện đại Việt Nam như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng,

Hồ Chí Minh

Trong Văn hóa gia đình Việt Nam [20], tác giả Vũ Ngọc Khánh công

bố nhiều tư liệu quý về gia đình Việt Nam truyền thống và khẳng định, đó là

di sản văn hóa của người Việt Từ góc độ triết học, tác giả nghiên cứu văn hóa gia đình Việt Nam và đề cập đến những ảnh hưởng từ các khuynh hướng tôn

giáo triết học Cũng đồng quan điểm với các tác giả của Nho giáo và gia đình,với lập trường tư tưởng Nho giáo, Vũ Ngọc Khánh giúp người đọc có cái

nhìn thấu đáo hơn về vấn đề giáo dục trong gia đình Việt Nam xưa nhưng ý nghĩa và giá trị vẫn nguyên vẹn cho đến ngày nay

Là công trình khoa học công phu, nghiên cứu có tính chất hệ thống,

được biên soạn dưới hình thức một giáo trình giảng dạy và nghiên cứu, Gia đình học [19] của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý đã tổng kết các vấn đề cơ

bản của gia đình Việt Nam dưới góc độ văn hoá học, xã hội học, sử học,… Trong đó, phần “Gia đình học với tính cách là một khoa học” trình bày các khái niệm liên quan như “gia đình”, “gia đình học”, vị trí, vai trò và chức năng của gia đình, những đặc trưng của gia đình truyền thống Việt Nam

Những nội dung liên quan đến mối quan hệ của gia đình - dòng họ - làng xã, mức độ ảnh hưởng tác động của nền kinh tế thị trường đến các giá trị

truyền thống được trình bày trong Con người Việt Nam truyền thống - Những giá trị đối với sự phát triển [26] Điểm đáng chú ý của công trình này là phạm

vi nghiên cứu gồm cả tộc người thiểu số, khi đề cập đến tín ngưỡng phồn thực trong sinh hoạt văn hóa truyền thống Dựa trên những tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, lịch sử và văn hóa của con người Việt Nam truyền thống, tác giả làm rõ những nội dung trên, đồng thời, đề xuất một số giải pháp để xây dựng và hoàn

Trang 9

thiện những chủ trương, chính sách nhằm kế thừa và phát huy các giá trị

truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Trong thời gian gần đây,vấn đề liên quan đến vai trò của gia đình

truyền thống nói chung cũng nhận được nhiều sự quan tâm Với đề tài Phát huy vai trò gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay [2], Hà Thị Bắc đã chỉ ra một số giá trị đạo đức gia đình

truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Trên cơ sở

đó, tác giả có nêu ra phương hướng và đưa ra một số giải pháp để phát huy giá trị đạo đức gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình Việt Nam hiện đại

Thứ hai, những công trình đề cập đến đạo đức gia đình truyền thống

Trong số những công trình nghiên về đạo đức gia đình truyền thống,

Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị trường [22] của Nguyễn Thị Khoa đề cập trực tiếp đến khái niệm đạo đức gia đình là gì Theo đó, “Đạo đức gia

đình là toàn bộ những quan niệm về giá trị và quy phạm về hành vi của con người trong vấn đề hôn nhân và gia đình Mọi cử chỉ, hành vi, thái độ của mỗi người về hôn nhân và gia đình vừa thể hiện bản chất đạo đức cá nhân, vừa cho biết bản chất đạo đức của mối quan hệ trong gia đình Sự hình thành đạo đức gia đình không chỉ dựa trên những quy định của pháp luật, của phong tục tập quán và truyền thống dân tộc, mà còn dựa trên niềm tin và dư luận xã hội” [22, tr 20]

Trong Từ đạo hiếu truyền thống, nghĩ về đạo hiếu ngày nay [42], tác giả Nguyễn Thị Thọ khẳng định đạo hiếu là yếu tố cơ bản trong đạo đức gia

đình truyền thống Việt Nam Từ đó, tác giả đề cập ảnh hưởng của Nho giáo đến việc hình thành chuẩn mực đạo đức cũng như việc kế thừa “hiếu” trong tư

tưởng Hồ Chí Minh Đến cuốn sách Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay[43], tác giả Nguyễn Thị Thọ khai thác yếu tố đạo đức gia đình

Trang 10

truyền thống dưới sự tác động tích cực và tiêu cực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp định hướng đối với việc xây dựng nền đạo đức gia đình mới ở nước ta hiện nay với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đạo đức xã hội

Bài Sự biến đổi của gia đình truyền thống Việt Nam [44] của tác giả

Phạm Hồng Toàn đề cập đến sự thay đổi trong quan niệm của con người về giá trị gia đình Sự biến đổi trong mối quan hệ gia đình dưới sự tác động của

xã hội và của nền kinh tế thị trường, sự thay đổi về mô hình gia đìnhtruyền thống đến mô hình gia đình hiện đại cùng với sự xuống cấp đạo đức gia đình trong bối cảnh xã hội hiện đại được trình bày

Luận vănNhững biến đổi của đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay [55] của

tác giả Hà Thị Yến chỉ ra và làm rõ những biến đổi của đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Ngoài ra, tác giả cũng đã đưa ra những hạn chế và giải pháp để bảo tồn đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam

Thứ ba, những công trình đề cập đến đạo đức gia đình ở tỉnh Lâm Đồng

Trong bối cảnh xã hội có những thay đổi, hình thức của gia đình cũng

có những thay đổi theo, trong đó, đạo đức gia đình cũng là yếu tố cần được

xem xét Tuy nhiên, vấn đề về đạo đức gia đình ở tỉnh Lâm Đồngchưa được

nghiên cứu và thể hiện trong công trình nghiên cứu khoa học nào Đây là một khoảng trống cần được bổ sung

Như vậy, dưới những góc độ khác nhau, các công trình kể trên đã tập trung đề cập đến đặc điểm, chức năng của đạo đức gia đình Việt Nam, vai trò của giáo dục gia đình Đồng thời, các đề tài cũng chỉ ra được những phương

Trang 11

hướng, giải pháp thiết thực góp phần xây dựng đạo đức gia đình, phát huy vai trò to lớn của gia đình Việt Nam nói chung đối với xã hội Tuy nhiên, những phương hướng và giải pháp đó còn mang tính chất chung chung, khó có thể vận dụng vào điều kiện riêng của từng tỉnh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn: Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận,

thực tiễn về giá trị đạo đức gia đình truyền thống ở tỉnh Lâm Đồng Qua đó đề xuất một số giải pháp phát huy giá trị đạo đức gia đình truyền thống của tỉnh Lâm Đồng trong gia đoạn hiện nay

Nhiệm vụ của luận văn

Thứ nhất, trình bày và phân tích một số giá trị cơ bản của đạo đức gia đình truyền thống

Thứ hai, thực trạng phát huy giá trị đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam ở tỉnh Lâm Đồng

Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy giá trị đạo đức gia đình truyền thống ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn : nghiên cứu các giá trị đạo đức gia

đình truyền thống ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: nghiên cứu các giá trị đạo đức gia đình truyền thống ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay ( từ 2010 cho đến nay)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cở sở lý luận của luận văn: Luận văn dựa trêncác nguyên lý cơ bản của

chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính

sách của Đảng và Nhà nước về gia đình và xây dựng gia đình Việt Nam

Trang 12

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn dịch, quy nạp, điều tra, thống kê,…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Luận văn làm sáng tỏ vấn đề phát huy giá trị đạo đức

gia đình truyền thống trong việc xây dựng gia đình hiện đại

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn là nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu đạo

đức gia đình truyền thống trong việc xây dựng gia đình hiện đại ở tỉnh Lâm Đồng nói riêng và xây dựng gia đình hiện đại ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Chương 1: Cơ sở lý luận và những nội dung cơ bản của đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam

Chương 2: Phát huy đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình hiện đại ở tỉnh Lâm Đồng – Thực trạng, phương hướng, giải pháp

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬNVÀ NHỮNG NỘIDUNGCƠ BẢN CỦAĐẠO ĐỨC

GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNGVIỆT NAM 1.1 Một số quan niệm về “gia đình”, “đạo đức gia đình”

1.1.1 Một số quan niệm về“gia đình”, “gia đình truyền thống”,

“gia đình hiện đại”

Khái niệm “gia đình” có từ lâu và có những thay đổi cùng với sự biến đổi và vận động không ngừng của lịch sử Mỗi giai đoạn lịch sử có những quan niệm khác nhau về gia đình Theo từ nguyên Hán-Việt, “gia đình” là

“nhà” và “sân”, là “đơn vị xã hội thành lập theo dòng máu thường gồm có cha

mẹ và con cái” [4, tr.168] Đi cùng với “gia đình”, nhiều thuật ngữ khác mang

ý nghĩa, nội hàm có liên quan như “gia cảnh” (tình cảnh trong nhà); “gia bảo” (của quý trong nhà); “gia nghiệp” (nghề nghiệp của ông cha để lại); “gia phả” (sách ghi chép lai lịch, thân thế và sự nghiệp của từng người trong gia tộc theo thứ tự các đời); “gia phong” (thói nhà, tập quán và nề nếp riêng của một nhà); “gia thế” (thanh thế, ảnh hưởng của một gia đình); “gia trưởng” (người đàn ông đứng đầu, nắm quyền trong một gia đình), v.v

Đồng thời, “gia đình” được định nghĩa từ nhiều góc độ nghiên cứu, nhiều chuyên ngành khác nhau Ở đây, luận văn đề cập đến khái niệm “gia đình” theo quan điểm của Nho giáo, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Thứ nhất, theo quan điểm của Nho giáo

Nho giáo ảnh hưởng khá sâu sắc tới văn hóa và đời sống người Việt

Dù khó tìm thấy khái niệm “gia đình” trong các kinh điển của Nho giáo, song theo quan điểm của truyền thống này,“gia đình” là yếu tố nền tảng của xã hội, ảnh hưởng đặc biệt đến đời sống, đạo đức và sự ổn định của xã hội Đồng thời,

Trang 14

đây cũng là nơi tu dưỡng và rèn luyện bản thân của mỗi người trước khi tham gia vào các hoạt động xã hội với những mối liên hệ và quan hệ rộng hơn

Theo quan điểm của Khổng Tử, các mối quan hệ giữa con người với con người như cha mẹ - con cái, chồng - vợ, anh - em là mối quan hệ cơ bản

và tự nhiên của con người Đây là những mối quan hệ cơ bản của gia đình,và

mở rộng ra, đó chính là mối quan hệ của con người trong xã hội Đồng thời,

trong nội dung đạo đức của con người, Khổng Tử đề cao nội dung hiếu với cha mẹ, trung với vua Điều này có thể hiểu, ông đề cập đến gia đình như là

điểm xuất phát đầu tiên, là gốc của xã hội Gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành và tu dưỡng đạo đức của con người ở Nho giáo

Gốc có vững thì cây mới khỏe, do đó, trong sách Đại học, Khổng Tử đề

cập đến vai trò của việc tu thân Bởi có tu thân mới tề được gia, tức là làm cho gia đình được êm ấm; có tề được gia mới trị được quốc, tức là quản lý được đất nước và cuối cùng là bình thiên hạ, tức là làm cho thiên hạ được thái bình Tất cả các nấc thang đó của cá nhân con người theo chủ trương của Nho giáo

được gọi là “bát điều mục”: cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

Quá trình xây dựng đạo đức của cá nhân được thể hiện từng bước từ cách vật, trí tri, thành ý và chính tâm Theo đó, “sự vật được nghiên cứu kỹ thì sau sự hiểu biết mới tới Hiểu biết thấu đáo thì sau ý nghĩ mới thành thật

Ý nghĩ thành thật thì sau tâm mới ngay thẳng Tâm ngay thẳng thì sau bản thân mới tu sửa” (Đại học, 1) [18, tr.17] Bốn điều mục này là tiền đề cho quá trình tu thân của con người, từ đó, con người có cơ sở để thực hiện trách nhiệm của bản thân đối với gia đình, với xã hội, hướng tới thực hiện tu thân,

tề gia, thực hiện trách nhiệm của người quân tử trong việc thiết lập và duy trì trật tự trong gia đình Không những vậy, Nho giáo còn nhấn mạnh, “Tề gia ở chỗ tu thân” có nghĩa: người ta thường vì chỗ thân yêu mà thiên lệch, vì chỗ

Trang 15

khinh ghét mà thiên lệch, vì chỗ kính sợ mà thiên lệch, vì chỗ thương xót mà thiên lệch, vì chỗ khinh nhờn mà thiên lệch Vì thế, với người ưa thích mà vẫn nhìn ra (biết được) tật xấu (của người đó),với người ghét bỏ mà vẫn nhìn ra chỗ tốt, người như thế là hiếm có trong thiên hạ vậy” (Đại học, 9) [18, tr.41] Chính vì vậy, “từ thiên tử tới thường dân, ai cũng lấy việc tu thân làm gốc” (Đại học, 1) [18, tr 18]

Nho giáo cũng cho rằng, trong mối quan hệ của con người có “tam cương” và “ngũ thường”.Trong “tam cương”, mối quan hệ gia đình được thể hiện trong hai cươnglà quan hệ cha con - chồng vợ Còn trong “ngũ thường”, mối quan hệ của con người trong gia đình gồm cha -con, chồng-vợ và anh -

em Như vậy, “gia đình” chính là xã hội thu nhỏ, điều đó dẫn đến quan điểm cho rằng, “một nhà nhân hậu, cả nước phát huy lòng nhân Một nhà từ nhượng, cả nước phát huy lòng từ nhượng Một người tham lam ngang ngược,

cả nước làm loạn” (Đại học, 10) [18, tr 44].Điều này cũng được Mạnh Tử khẳng định thêm: “Gốc của thiên hạ là đất nước, gốc của đất nước là gia đình,

gốc của gia đình là bản thân” (Mạnh Tử, chương VII: Ly lâu, chương cú

thượng, 5) [18, tr 1024]

Việc quy nạp như vậy có nguyên nhân từ tôn chỉ mục đích của học thuyết này, khi Nho giáo cho rằng dùng đạo đức có thể cảm hóa được con người, làm cho xã hội được yên ổn Đạo đức xã hội được bắt nguồn từ hạt nhân của xã hội là cá nhân, với việc thực hiện đầy đủ các chuẩn mực đạo đức, còn cá nhân được tôi luyện đạo đức từ trong gia đình

Như vậy, học thuyết của Nho giáo nhấn mạnh và đề cao vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cá nhân, cũng như giáo dục đạo đức trong xã hội nói chung Không có môi trường nào tốt hơn để rèn luyện đạo đức con người bằng môi trường gia đình Trong gia đình, mỗi thành viên đều có nhiệm

Trang 16

vụ và vai trò nhất định trong quá trình hình thành và rèn dũa đạo đức của

cá nhân

Thứ hai, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

Cùng với quan điểm của Nho giáo, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin có ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng Việt Nam nói chung Đồng thời, quan điểm này được đánh giá là khách quan, toàn diện hơn và phản ánh chân thực về gia đình và vai trò của gia đình trong sự vận động của xã hội

Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845 - 1846), “gia đình”được khẳng định là kết quả của các mối quan hệ của con người trong quá trình phát triển lịch sử của nhân loại Ngoài các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người trong quá trình sản xuất, mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đình “tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển của lịch sử: hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái” [29, tr 41]

Đến tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (1844), Ph.Ănghen chỉ rõ vai trò tế bào xã hội của gia đình, mối quan

hệ không thể tách rời giữa gia đình và xã hội Ông cho rằng, gia đình là sản phẩm của sự phát triển lâu dài, đầy những mâu thuẫn gắn liền với chế độ tư hữu và nhà nước Không những vậy, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau ảnh hưởng đến kết cấu và tổ chức của gia đình Đồng thời, gia đình và trình độ phát triển của gia đình cũng tác động không nhỏ đến sự tồn tại và sự phát triển của xã hội Chính gia đình cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì nòi giống và tái sản xuất sức lao động: “nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm,

Trang 17

quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống” [32, tr 44]

Như vậy, C.Mác và Ph.Ănghen không những đề cập đến chức năng tái sản xuất con người mà còn đề cập đến vai trò kinh tế trong gia đình, đòn bẩy thúc đẩy xã hội phát triển Nói cách khác, gia đình là nhóm xã hội nhỏ xét về mặt lịch sử có tính tổ chức nhất định, các thành viên của nó liên quan với nhau bằng hôn nhân hoặc các quan hệ thân tộc, có đặc điểm chung về sinh hoạt và cùng chịu trách nhiệm đạo đức, cũng như trách nhiệm xã hội mà nhu cầu xã hội đặt ra về tái sản xuất thể chất và tinh thần của nhân dân

Với tư cách là một nhóm xã hội, một cộng đồng xã hội, gia đình luôn chịu ảnh hưởng và cũng mang tính quyết định đến đời sống sản xuất vật chất

xã hội.Với tư cách là một đơn vị cộng đồng xã hội, điều quan trọng nhất trong gia đình là nhân tố nhận thức chủ quan liên kết các thành viên của nó với nhau Tình yêu thương, quan tâm đến nhau, sự hiểu biết lẫn nhau cũng như về các mục tiêu cuộc sống chung, trách nhiệm với xã hội, v.v luôn được thể hiện một cách mạnh mẽ trong gia đình

Theo Ph.Ăngghen, hôn nhân và cuộc sống gia đình muốn bền vững phải dựa trên nền tảng của tình thương yêu Nói như vậy không có nghĩa là các quan hệ kinh tế, điều kiện sinh sống bị xem là thứ yếu Ôngcho rằng:

“trong lý thuyết đạo đức cũng như trong thơ ca, không một quan niệm nào được xác lập bất di bất dịch và vững chắc bằng quan niệm cho rằng bất cứ cuộc hôn nhân nào không dựa trên tình thương yêu lẫn nhau và trên sự thoả thuận thật sự tự do giữa hai vợ chồng, đều là vô đạo đức cả” [32, tr 126] Để nhấn mạnh vai trò của tình yêu, ông viết: “Nếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ

sở tình yêu mới là hợp đạo đức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong đó tình yêu được duy trì, mới là hợp đạo đức mà thôi” [32, tr 128]

Trang 18

Như vậy, khái niệm “gia đình” được thể hiện ở hai nội dung cơ bản

Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự phát triển của xã hội loài người, cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân con người Thứ hai, quan

hệ gia đình gồm hai mối quan hệ chính là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống Hay nói một cách khác đó chính là mối quan hệ giữa chồng và vợ, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với nhau

Thứ ba, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như sự vận động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, gia đình Việt Nam có những sự biến đổi mạnh mẽ Đặc biệt

từ giai đoạn đổi mới đất nước, từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến nay, vấn đề gia đình luôn được quan tâm và đề cập đến trong các văn bản chính thức

Văn kiện Đại hội VI của Đảng khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã

hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh

tế mới, con người mới Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề

ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình Nâng cao trình độ tự giác xây dựng những quan hệ tình cảm, đạo đức trong từng gia đình, bảo đảm sinh đẻ có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức tốt cuộc sống vật chất, văn hóa của gia đình” [8, tr 95-96] Như vậy, không thể xây dựng và phát triển đất nước nếu không quan tâm, không chú ý đến môi trường gia đình, đồng thời, không có môi trường nào tốt hơn để phát triển con người mới ngoài môi trường gia đình

Điều này tiếp tục được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991): “Gia đình là tế bào của xã

hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Các chính sách của Nhà nước

Trang 19

phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ Nâng cao ý thức

về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người” [5, tr 15] Sau 20 năm thực hiện

Cương lĩnh đó, tinh thần này được tiếp tục khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bổ sung năm

2011: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” [12, tr 77]

Thống nhất quan điểm này, Nhà nước đã ban hành Luật hôn nhân và gia đình với 133 điều Trong đó, điều 3 khẳng định: “Gia đình là tập hợp những

người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau” [27, tr 8]

Như vậy, từ góc độ tư tưởng đến các văn bản chính thức của Đảng và

Nhà nước, gia đình là nguồn cội, là môi trường tốt nhất để giáo dục và phát triển con người Đồng thời, gia đình cũng là cơ sở, là viên gạch để xây nền

móng và phát triển đất nước trong mọi hoàn cảnh

Ngoài ba cách tiếp cận trên đây, các công trình nghiên cứu khoa học và các tác phẩm về gia đình còn được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, tâm lý học, giáo dục học, sử học,…đã có sự kế thừa và có điểm

mới khi đề cập đến khái niệm gia đình

Từ góc độ triết học, giáo sư Lê Thi trong tác phẩm Vai trò gia đình trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam cho rằng: “Gia đình là một

khái niệm dùng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nảy sinh quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống Đồng thời gia đình có thể bao gồm một số người được nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống Các thành viên trong gia đình gắn bó nhau về trách nhiệm và quyền lợi” [40, tr 42]

Trang 20

Ở góc độ tâm lý học,trong tác phẩmTâm lý gia đình, giáo sư Nguyễn

Khắc Viện đưa ra định nghĩa:“Gia đình đó là sự chung sống giữa hai nhóm người, cha mẹ, con cái, nó cùng một mối quan hệ là những người sinh ra và những người nối dõi” [54, tr 20]

Cùng với sự thăng trầm và biến đổi của lịch sử, quan niệm gia đình

cũng có sự thay đổi mà chúng ta có thể phân biệt một cách ước lệ giữa gia đình hạt nhân, gia đình truyền thống và gia đình hiện đại Tuy nhiên, sự

thay đổi này chỉ trên bình diện quy mô và cấu trúc của gia đình Theo đó,

gia đình hạt nhân là loại hình gia đình có cơ cấu nền tảng, bao gồm vợ chồng và con cái chung sống với nhau Gia đình truyền thống là kiểu mẫu

gia đình theo hình thức tam, tứ hay ngũ đại đồng đường, là sản phẩm kết tinh từ nhiều yếu tố và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và tạo nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc

Gia đình truyền thống có một số đặc trưng như:

Thứ nhất, lễ giáo và đạo đức được coi trọng Nó xuất phát từ lối sống,

cách ứng xử hàng ngày của các thành viên và trở thành dấu ấn đậm nét trong cuộc sống gia đình

Thứ hai, các thành viên trong gia đình không chỉ liên kết về mặt vật

chất mà còn về mặt tinh thần Khi nói đến sự liên kết của gia đình truyền thống là nói đến mối quan hệ tình cảm huyết thống giữa ông bà, cha mẹ và con cái, phong tục thờ cúng tổ tiên, nề nếp kính trên nhường dưới, thủy chung,…Điều này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Nho giáo Đồng thời có thể nói rằng, ngoài sự liên kết của các thế hệ còn là sự liên kết, ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm đối với dòng họ, là khởi nguồn cho những truyền thống đạo đức gia đình mang đậm nét người Việt Nam

Trang 21

Thứ ba, gia đình truyền thống Việt Nam là kiểu mẫu gia đình phụ

quyền Trong gia đình, người cha là trụ cột, là nóc nhà, quyết định mọi hoạt động của gia đình

Cùng với sự thay đổi mô hình kinh tế, xã hội Việt Nam có một sự thay

đổi lớn chưa từng có Từ mô hình gia đình truyền thống chuyển dần sang mô hình gia đình hiện đại

Gia đình hiện đại là kiểu gia đình gồm có cha mẹ và con cái (hay còn

gọi là gia đình hạt nhân), là mô hình thu nhỏ Mối liên kết của các thành viên trong gia đình không còn chặt chẽ như gia đình truyền thống, đồng thời khả năng kế thừa văn hóa dân tộc có phần bị hạn chế Từ đó, nó làm giảm sự gắn

bó và giúp đỡ lẫn nhau của các thành viên trong gia đình Mối liên kết tình cảm gia đình cũng dần bị nới lỏng Bên cạnh đó, chức năng kinh tế của gia đình cũng có sự biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc Trước đây, người cha, người chồng là trụ cột về kinh tế nhưng giờ đây bản thân các thành viên trong gia đình đã độc lập về kinh tế và sử dụng kinh tế riêng cho cuộc sống của mình Chính vì vậy, quy mô và kết cấu cũng như chất lượng gia đình biến đổi mạnh

mẽ Quan niệm hôn nhân gia đình cũng chịu tác động không nhỏ

Như vậy, “gia đình” là kết quả hoạt động của tình cảm con người theo mối liên hệ huyết thống, dòng tộc Nhưng cùng với sự vận động và phát triển của xã hội, “gia đình”đang vừa mở rộng mà lại vừa thu hẹp trong điều kiện hiện nay Sự mở rộng được thể hiện trong các mối quan hệ tình cảm, có thể là con nuôi và những mối quan hệ gia đình khác được thừa nhận về mặt giấy tờ nhà nước mà không cùng huyết thống Sự thu hẹp được thể hiện ở góc độ kết nối giữa các thế hệ trong gia đình Không những vậy, sự biến đổi của gia đình không thể tách rời với sự biến đổi ngày càng mạnh mẽ của xã hội Đó là điều tất yếu, song làm cách nào để không cản trở sự biến đổi hợp quy luật mà vẫn

Trang 22

giữ và phát huy được những điểm tích cực của đạo đức gia đình truyền thống Đây là điều cần được giải đáp

1.1.2.Quan niệm về “đạo đức gia đình”

Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với con người, với xã hội và với tự nhiên Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống và sức mạnh dư luận của xã hội Nó cũng vận động và biến đổi cùng với sự thay đổi dòng chảy của lịch sử và thời đại Cùng chung mục đích điều chỉnh hành vi con người, song đạo đức nói chung, đạo đức gia đình nói riêng được thực hiện thông qua dư luận xã hội, tức là kênh thông tin khuyến cáo nên hay không nên, được phép hay không được phép thực hiện những hành

vi nào đó do chuẩn mực đạo đức quy định Còn luật pháp lại mang tính áp đặt,

ép buộc con người phải thực thi theo các điều khoản của các bộ luật hiện hành quy định

Đạo đức gia đình là một trong những nền tảng cơ bản của con người Việt Nam Do đó, đạo đức gia đình Việt Nam thường được định hình trong phong tục, tập quán, là cái được đúc kết từ hàng thế kỷ và có sức trường tồn lâu bền Ở đây, trong phạm vi hạn hẹp luận văn chỉ tìm hiểu khái niệm “đạo đức gia đình” theo quan điểm của Nho giáo, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Thứ nhất, theo quan điểm của Nho giáo

Một trong những nội dung quan trọng của học thuyết Nho giáo là “đạo đức gia đình” Nó tác động to lớn trong việc duy trì, giữ gìn nề nếp và tôn ti

trong gia đình, dòng họ đồng thời tạo nên sự ổn định của xã hội trong suốt chiều dài lịch sử kể từ khi nó bắt đầu xuất hiện

Ngoài những vấn đề nhận thức về quan hệ xã hội, lễ nghi, vai trò cá nhân Khổng Tử đặc biệt đề cao vai trò của gia đình, đồng thời ông hướng đến

Trang 23

việc điều chỉnh gia đình bằng “đạo đức” Chính vì vậy, trong sách Đại học đã

đề cập đến tác động của gia đình đối xã hội “hiếu với cha mẹ là để thờ vua, kính anh là để đối xử với người trên, từ ái với các con là để sai khiến dân chúng vậy” (Đại học, 10) [18, tr 42] Đồng thời, Nho giáo coi trọng thứ tự, lễ nghi trong gia đình và điều này ảnh hưởng rất nhiều đến xã hội Việt Nam tận ngày nay

Điều này thể hiện Nho giáo coi trọng nguồn gốc con người, coi gia đình gắn chặt với họ hàng, coi tuyệt tự, quên mất tổ tiên là có tội Quan điểm của Khổng Tử cho rằng con người phải tu dưỡng đạo đức tốt vì “thân chẳng

tu sửa, không lấy gì để tề gia” (Đại học, 9) [18, tr 41]

Trong hôn nhân, Nho giáo đề cao tình nghĩa vợ chồng, người vợ phải thực hiện “Tam tòng, tứ đức” Để có được gia đình hạnh phúc, bản thân các thành viên phải thực hiện các chuẩn mực “đạo đức gia đình” Làm con phải hiếu kính với cha mẹ, có tôn ti trật tự trước sau Với người phụ nữ không được quan hệ trước hôn nhân, chồng chết thủ tiết thì được sắc phong “tiết hạnh”

Có thể nói, Nho giáo đề cao “đạo đức gia đình” Quan hệ gia đình theo Nho giáo là quan hệ đặc biệt chặt chẽ và mở rộng theo trách nhiệm nghĩa vụ

và giữ gìn trật tự kỷ cương Chúng ta thường nghe nói “Nước có quốc pháp, nhà có gia phong” là câu nói răn dạy con người sống có phép tắc, đồng thời còn là biểu tượng tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc

Thứ hai, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin

Trong Lời tựa viết cho Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị

(1858), C.Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [30, tr 15] Điều này có thể hiểu rằng, đạo đức là hình

Trang 24

thái ý thức xã hội và chịu sự chi phối bởi tồn tại xã hội Cùng với đạo đức các quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực, tình cảm cũng như lý tưởng, niềm tin mà gọi chung toàn bộ ý thức đạo đức đều biểu hiện sự phát triển của đời sống vật chất xã hội

Ph.Ănghen cũng cho rằng: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [31, tr 137] Như vậy, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Các hình thái ý thức xã hội khác nhau sẽ phản ánh tồn tại xã hội cũng như tác động riêng biệt khác nhau Đạo đức là một hình thái ý thức và cũng như các quan điểm khác đều thay đổi cùng với sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng Sự hình thành và phát triển của đạo đức suy đến cùng là do sự phát triển của phương thức sản xuất

Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ không ngừng của xã hội, những quy tắc và các chuẩn mực, phạm trù đạo đức cũng thay đổi Nó đã trở thành phương thức điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, điều chỉnh hành vi của con người phù hợp với yêu cầu của xã hội Các yêu cầu về chuẩn mực đạo đức thể hiện những mức độ khác nhau và tùy thuộc vào từng xã hội và mối quan hệ Ph.Ăngghen viết: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau” [31, tr 135]

Trong hôn nhân và cuộc sống gia đình, theo Ph.Ăngghen, muốn bền vững phải dựa trên nền tảng của tình thương yêu Nói như vậy không có nghĩa

là các quan hệ kinh tế, điều kiện sinh sống bị xem là thứ yếu Ông cho rằng:

“Trong lý thuyết đạo đức cũng như trong thơ ca, không một quan niệm nào được xác lập bất di bất dịch và vững chắc bằng quan niệm cho rằng bất cứ cuộc hôn nhân nào không dựa trên tình thương yêu lẫn nhau và trên sự thoả thuận thật sự tự do giữa hai vợ chồng, đều là vô đạo đức cả” [32, tr 126] Để

Trang 25

nhấn mạnh vai trò của tình yêu trong gia đình, ông viết: “Nếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu mới là hợp đạo đức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong đó tình yêu được duy trì, mới là hợp đạo đức mà thôi” [32, tr 128]

Theo Ph.Ăngghen, tình yêu cần phải được duy trì, nuôi dưỡng và phát triển đầy đủ trong một cuộc sống gia đình bền vững và sau nữa, sự bền vững của tình yêu lại tuỳ thuộc vào chính tình yêu của con người Trong trường hợp tình yêu không còn thì cách tốt nhất đối với họ và cho cả xã hội, là ly hôn Ph.Ăngghen viết rằng: “Sự thôi thúc của tình yêu cá thể giữa nam và nữ thì lại tuỳ từng người mà lâu dài rất khác nhau, nhất là đối với đàn ông; và nếu tình yêu đã hoàn toàn phai nhạt hoặc bị một tình yêu say đắm mới át đi, thì ly hôn

sẽ là điều hay cho cả đôi bên cũng như cho xã hội Chỉ cần tránh cho người ta khỏi sa chân vô ích vào vũng bùn kiện tụng để ly hôn mà thôi” [32, tr 128]

Thứ ba, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Đảng ta coi gia đình không chỉ là nơi sản sinh ra con người, mà còn là môi trường và có trách nhiệm trực tiếp giáo dục con người về đạo đức, lối sống, nếp sống Gia đình cũng là nơi lưu trữ, sàng lọc và lưu truyền các giá trị truyền thống cho việc sản sinh, xây dựng, giáo dục, rèn luyện và phát triển con người Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [11,

tr 103] Đảng cũng nhấn mạnh phải phát huy tính tự giác, trách nhiệm cá nhân của mỗi thành viên trong gia đình để xây dựng gia đình, xây dựng lối sống, nếp sống, đạo đức mới trong sáng, lành mạnh Từ đó tạo cơ sở để chống lại sự tha hóa do tác động của những yếu tố ngoại lai, những yếu tố đã và đang làm băng hoại những giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam

Như vậy, “gia đình” là một nhóm nhỏ xã hội với thiết chế xã hội đặc thù Do vậy, nó cũng cần có những quy tắc, chuẩn mực riêng để điều chỉnh

Trang 26

các quan hệ và các hành vi trong gia đình Đồng thời, những quy tắc, chuẩn mực này phải phù hợp với xã hội mà bản thân những yếu tố này được nảy sinh Những biến chuyển xã hội đã và đang tác động mạnh mẽ vào gia đình trên mọi phương diện và đưa đến những hệ quả đa chiều Thiết chế có tính bền vững này cũng đang vận động, đổi mới và thích ứng với nhu cầu của thời đại

Chúng ta có thể hiểu: Đạo đức gia đình là tổng thể những nguyên tắc,

những chuẩn mực đạo đức nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của gia đình phù hợp với yêu cầu của xã hội, là nơi tạo dựng nên hành trang đạo đức

để con người khi tham gia vào đời sống xã hội có thể đủ năng lực thực hiện các mối quan hệ xã hội

Điều đó có nghĩa là, những giá trị đạo đức truyền thống nói chung, đạo đức gia đình nói riêng cũng nằm trong trạng thái động, chịu sự chi phối của yếu tố thời đại, khi tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức với tư cách là một hình

thái ý thức xã hội cũng phải được thay đổi theo

1.2.Những điều kiện hình thành đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam

1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam, các giá trị đạo đức luôn được đặt lên hàng đầu Trong đó, đạo đức gia đình truyền thống bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nhau

Thứ nhất, nền sản xuất nông nghiệp theo đặc trưng của nền văn minh lúa nước Nền sản xuất đó về cơ bản phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, đòi hỏi

nhiều sức lao động Bên cạnh đó, do điều kiện tự nhiên của Việt Nam hết sức khắc nghiệt, hạn hạn và lũ lụt thường xuyên xảy ra, vấn đề thủy lợi giữ vị trí quan trọng và quyết định đến kết quả lao độngmà điều này không thể chỉ do một người thực hiện được Những yếu tố đó đòi hỏi sự liên kết, gắn bó chặt chẽ mọi người với nhau Chính các yếu tố này ảnh hưởng đến con người Việt Nam, làm cho con người Việt Nam trở nên cần cù trong lao động, yêu thương,

Trang 27

gắn bó và đoàn kết với nhau, tình làng nghĩa xóm trở nên sâu sắc hơn, sống thủy chung có trước có sau Từ tình yêu đất nước, dân tộc của con người đã trở thành cội nguồn của đạo đức gia đình truyền thống

Thứ hai, xuất phát từ việc phát triển nền nông nghiệp lúa nước, mối quan hệ giữa nước - làng - nhà là bền chặt Nước có thể bị xâm lược, nhưng

làng và nhà là đơn vị không thể bị mất, đồng thời, làng - nhà trở thành cơ sở

để bảo vệ và xây dựng nước Chính mối quan hệ này trở thành cơ sở để tạo dựng và duy trì sự gắn kết con người từ phạm vi nhỏ nhất là gia đình Để có được điều này, việc kính trên - nhường dưới, tôn trọng, chung thủy, v.v trở thành những giá trị đạo đức gia đình

Thứ ba, trong lịch sử, xã hội Việt Nam có phân hóa một cách sâu sắc

Trong lịch sử nước ta cũng như trên thế giới, cơ sở hình thành gia đình dựa trên hôn nhân giữa đàn ông và đàn bà Chế độ phong kiến Việt Nam là một chế độ quân chủ chuyên chế trong đó vua là người nắm quyền lực tối cao Điều đó tạo đà cho vai trò gia chủ của người đàn ông trong việc quản lý gia đình với tư cách là tế bào của xã hội Sự phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc thì đòi hỏi tính độc lập tự chủ của gia đình càng cao, trách nhiệm của người chủ gia đình đối với các thành viên gia đình cũng như giữa các thành viên với nhau càng trở nên thiết thực hơn nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của gia đình Nói cách khác, tình thương và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình ngày một cao hơn để đối phó với sự phân hóa giàu nghèo, sang hèn trong xã hội

1.2.2 Điều kiện lịch sử, văn hóa tư tưởng

Khi nhìn vào giá trị đạo đức của một đất nước, một dân tộc, người ta sẽ nhìn vào lịch sử cũng như văn hóa tư tưởng để đánh giá nó

Thứ nhất, xét về mặt lịch sử, Việt Nam là một đất nước có bề dày lịch

sử lâu đời với truyền thống chống giặc ngoại xâm Chính tinh thần yêu nước

Trang 28

đã giúp cho dân tộc ta vượt qua những khó khăn, thử thách khốc liệt và đi đến thắng lợi Tinh thần yêu nước đó bắt nguồn từ những tình cảm đơn sơ và bình

dị của mỗi con người.Từ sự quan tâm những người trong gia đình đến tình làng nghĩa xóm

Tinh thần yêu nước của nhân dân ta thể hiện ở sự biết ơn các thế hệ đi trước hy sinh để bảo vệ cương vực, đất đai của Tổ quốc Mặc dù dưới chế độ

phong kiến, theo xác quyết của Kinh Thi rằng, “Khắp cõi dưới trời, chẳng có

chỗ nào là không phải lãnh thổ của vua, noi theo những vùng đất ven bờ, dân

chúng khắp nơi, chẳng ai không phải là bề tôi của vua”(Kinh Thi, bài Bắc Sơn

1, câu 7-10) [47, tr 404], song vua hay quan cũng chỉ là nhất thời, còn cái thiêng liêng, vĩnh cửu mà người Việt Nam quan niệm là mồ mả của cha ông

Do vậy, người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ xâm lược và chiến đấu không chỉ vì độc lập tự do, mà vì chính những giá trị thiêng liêng đó

Thứ hai, xét về mặt tư tưởng, văn hóa, ngoài nền văn hóa bản địa, Việt

Nam còn tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, nhiều nhất là văn hóa phương Đông với Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo

Nho giáo lấy đạo đức làm nền tảng và trở thành công cụ quản lý xã hội

của giai cấp thống trị Trung Quốc Sau nhiều thời gian thăng trầm, được sự giúp sức của hệ thống cầm quyền, Nho giáo từng bước được giai cấp thống trị Việt Nam đề cao và tiếp nhận Đồng thời, nó cũng ăn sâu vào tâm lý và đời sống người Việt Bên cạnh những yếu tố tiêu cực như trọng nam khinh nữ, gia trưởng, bảo thủ, trọng nghĩa khinh tài,học thuyết này vẫn có những yếu tố nhân bản tích cực như lòng thương người, quý trọng người già, đề cao triết lý nhân sinh, tu tâm dưỡng tính, đề cao văn hóa lễ nghĩa, khuyến khích việc học hành,…

Trang 29

Đạo giáo cũng là học thuyết chính trị - xã hội do Lão Tử sáng lập Đây

là học thuyết đề cao tình yêu thiên nhiên, kêu gọi con người tuân thủ các quy luật tự nhiên và không làm tổn hại đến tự nhiên để tránh các hậu quả tác động tiêu cực tới đời sống xã hội Ngoài những mặt hạn chế như bùa chú ma thuật, trong học thuyết này cũng có những mặt tích cực phản ánh khát vọng trường sinh bất lão của con người

Phật giáo vào Việt Nam rất sớm và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống

tinh thần của người dân Với tư tưởng từ, bi, hỷ, xả, thương người như thể thương thân, yêu lao động, cuộc sống gắn bó với thiên nhiên, các giáo lý Phật giáo ăn sâu vào trong tâm hồn người Việt Nam Phật giáo hướng con người tới nhận thức thuyết nhân quả, rằng ở hiền thì gặp lành; nhân nào quả nấy, v.v., từ đó, con người tự ý thức, tự điều chỉnh hành vi của mình Chính yếu tố này giúp nâng cao đời sống của đạo đức của người dân về mặt tinh thần, củng

cố hơn nữa cách sống nhân nghĩa, chân tình, thủy chung của con người Việt Nam Phật giáo hướng con người tới việc hành thiện, làm phúc cứu giúp những thân phận khổ đau theo phương châm:

“Dù xây chín bậc phù đồ

Không bằng làm phúc giúp cho một người”

Nói tóm lại, các yếu tố lịch sử, điều kiện tự nhiên, văn hóa tư tưởng đã kết thành một chỉnh thể với những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Đặc biệt, các yếu tố bản địa đã tiếp biến với những nội dung thiết thực, có ý nghĩa trong các học thuyết triết học, chính trị - xã hội và đạo đức để tạo nên những giá trị riêng có của dân tộc, trong đó có truyền thống đạo đức gia đình

Trang 30

1.3.Một số chuẩn mực của đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam

từ góc độ các mối quan hệ trong gia đình

Giá trị đạo đức gia đình truyền thống là sản phẩm tinh thần vô giá được hình thành từ hàng thế kỷ trong lịch sử dân tộc.Sản phẩm ấy là kết quả của sự tiếp biến văn hóa giữa tam giáo với cái bản địa của dân tộc, được truyền tải từ thế hệ này sang thế hệ khác, và đến lượt mình, bản thân nó cũng có những biến đổi theo thời gian và nhu cầu của thời đại Trong các yếu tố tích cực từ các học thuyết bên ngoài vào, phải kể đến những phạm trù đạo đức hết sức căn bản mà nhờ đó, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được định hình, góp phần làm lành mạnh hóa đời sống tinh thần của xã hội Đó là đạo hiếu với

tư cách là yếu tố nhân bản sâu sắc, được kế thừa từ học thuyết chính trị đạo đức của Nho gia, từ thuyết Tứ ân của Phật giáo

1.3.1.Chuẩn mực trong mối quan hệ ông bà, cha mẹ, con cái

Từ thủa hồng hoang dựng nước cho đến ngày nay, người Việt luôn thể hiện sự biết ơn của mình đối với tổ tiên,ông bà và cha mẹ Đó là cội nguồn

sinh thành và nuôi dưỡng con người Việt Nam Đạo hiếu được xem là một

tình cảm thiêng liêng và cao đẹp nhất trong đời sống của con người Việt Nam

Nó là chất liệu của cuộc sống và là hành trang vô giá, không thể thiếu vắng ở mỗi con người Đồng thời, nó phản ánh đời sống văn hóa và đạo đức của một

xã hội Những người con không thể sống nếu thiếu sự quan tâm chăm sóc của ông bà, cha mẹ, ngược lại, khi cha mẹ tuổi già, sức yếu thì người ta nghĩ đến

sự đền đáp của con cháu Vì vậy, dân gian có câu: “Trẻ cậy cha, già cậy con”

Ngoài yếu tố xuất phát từ nền tảng đời sống bản địa, đạo hiếu trong đời

sống đạo đức gia đình Việt Nam còn chứa đựng yếu tố của Nho giáo Với hơn

1000 năm Bắc thuộc, nhiều điều kiện xã hội và tư tưởng đã tác động mạnh mẽ

đến việc tiếp nhận đạo hiếu của Nho giáo vào đời sống đạo đức của người

Việt

Trang 31

Trong “Luận ngữ”, Khổng Tử khẳng định “Hiếu đễ là gốc của nhân”

(Luận ngữ, Học nhi, 2) [18, tr 197] Trong phạm vi đạo đức gia đình, hiếu đễ được coi là gốc Hiếulà thái độ ứng xử của con người đối với ông bà, cha mẹ mình; đễ là sự kính nhường trong quan hệ anh em Vì vậy, khi Mạnh Ý Tử

hỏi về hiếu đạo, Khổng Tử đáp rằng: “Chớ làm trái ngược” và “khi cha mẹ còn sống, lấy lễ mà thờ kính; lúc cha mẹ qua đời, lấy lễ mà chôn cất, lấy lễ mà

tế tự” (Luận ngữ, Vi chính, 5) [18, tr 218]

Đạo làm con, theo Khổng Tử phải làm thế nào cho cha mẹ yên lòng, vui vẻ Khi Mạnh Vũ Bá hỏi về hiếu, Khổng Tử khuyên “chớ để cha mẹ buồn

phiền” (Luận ngữ, Vi chính, 5) [18, tr 218] Sở dĩ Khổng Tử nói vậy là vì

Mạnh Vũ Bá là hạng công tử chỉ biết ăn chơi,do đó Khổng Tử có ý khuyên Mạnh Vũ Bá rằng, người con có hiếu đừng để cha mẹ phải phiền lòng, phải biết rõ một điều là cha mẹ nào cũng yêu thương, lo lắng khi con mình bị đau

Đối với con cái, theo Khổng Tử thì “Tuổi của cha mẹ không thể

không biết tới, vừa để vui mừng, vừa để lo sợ”(Luận ngữ, Lý nhân, 21) [18,

tr 220] Đó là hai mặt của một tấm huy chương mà Khổng Tử nhận ra, đồng thời là sự cảnh tỉnh cao độ cho đạo làm con phải thường xuyên quan tâm đến cha mẹ mình

Có thể thấy rằng, Nho giáo luôn giáo dục con người hướng đến tình cảm gia đình Ngoài việc nuôi dưỡng cha mẹ bằng tấm lòng thành kính của mình, người con có hiếu còn làm cho cha mẹ thường xuyên vui vẻ Theo Khổng Tử, người con bất hiếu khi ra ngoài xã hội không thể đối xử tốt với

Trang 32

người khác được, bởi lẽ theo ông, “làm người có lòng hiếu đễ mà lại ưa phạm tới bề trên, là chuyện hiếm có vậy Người quân tử chuyên chú vào chỗ gốc, vì gốc đã gây dựng, đạo tự nẩy sinh Nết hiếu và nết đễ có phải là

gốc của việc thi hành đạo nhân đó chăng?” (Luận ngữ, Học nhi, 2) [18, tr

197] Do đó ông căn dặn các học trò của mình rằng, “khi vào phải hiếu với cha mẹ, khi ra phải kính nhường người lớn tuổi, làm việc phải cẩn thận và giữ chữ tín, thương yêu mọi người và thân với người nhân Làm những việc

đó có dư sức mới dành cho việc học văn chương” (Luận ngữ, Học nhi, 6)

[18, tr 201] Lời dặn dò của Khổng Tử cũng là những điều kiện thiết yếu để con người “khi ra” ngoài xã hội giao tiếp theo đúng những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, góp phần làm ổn định xã hội

Đối với gia đình Việt Nam truyền thống,cái hồn trong văn hóa đạo đức

chính là đạo Hiếu Hiếu luôn được đề cao và tôn trọng và mang bản sắc dân

tộc Trong thời phong kiến, các gia đình danh gia, vọng tộc quyền quý ngoài

tri thức hiểu biết thì lễ nghĩa luôn được đề cao đặc biệt là chữ Hiếu Đạo hiếu

trở thành nguồn cội, là cơ sở cho nền tảng vững chắc của gia đình Đó chính

là giá trị văn hóa đạo đức đức rất căn bản mà trong xã hội hiện đại cần kế thừa

Ca dao tục ngữ của người Việt xưa đã lưu truyền muôn đời về chữ hiếu,

về ơn nghĩa sinh thành của ông bà, cha mẹ đối với con cháu Con cháu phải

Trang 33

có nghĩa vụ, trách nhiệm phụng dưỡng ông bà cha mẹ khi tuổi già và thờ cúng khi họ mất Nó được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành phong tục, tập quá, lối sống và đạo lý của mỗi con người Việt Nam

“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ, kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Ngoài ra, ca dao còn nói đến luật nhân quả Nhân hiếu thì sẽ gặt được quả hiếu, nếu bất hiếu với cha mẹ thì cũng sẽ nhận quả bất hiếu Đây chính là một bài học có giá trị và sâu sắc về chữ hiếu mà người Việt Nam đã thể hiện

và lưu truyền bao đời

“Nếu mình hiếu với mẹ cha Thì con cũng hiếu với ta khác gì Nếu mình ăn ở vô nghì Đừng mong con hiếu làm gì hoài công”

Trong gia đình truyền thống, đạo Hiếu được xếp thành ba bậc Hiếu còn gọi là Hiếu đại tam

Thứ nhất, tiểu hiếu là nuôi cha mẹ lúc tuổi già Khi cha mẹ già yếu

người con có nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ chu đáo Tùy điều kiện, hoàn cảnh

mà sẽ có những cách quan tâm, chăm sóc báo hiếu khác nhau

Thứ hai, trung hiếu là không làm gì khiến bố mẹ phải phiền lòng, lo

lắng, xấu hổ Nghĩa là phụng dưỡng cha mẹ nhưng không làm cho cha mẹ buồn phiền, lo lắng Không được xúc phạm, cãi lại, chửi mắng, ngược đãi làm cha mẹ suy nghĩ, buồn khổ

Thứ ba, đại hiếu là mang lại niềm vui, niềm tự hào, vinh danh cho cha

mẹ Làm cho cha mẹ luôn đẹp lòng, hãnh diện với hàng xóm Tạo lập được sự nghiệp mang lợi ích cho xã hội, làm cha mẹ được vẻ vang

Trang 34

Nhờ một nền tảng giáo dục đạo đức đặt trên cơ sở hiếu như vậy, xã hội Việt Nam có thể được xem là xã hội chuẩn mực về đạo đức hiếu thảo:

“Làm người hiếu nghĩa đi đầu Hiếu cha hiếu mẹ việc gì không xong”

Trong xã hội hiện đại ngày nay, người Việt Nam dù sống ở bất kỳ đâu không bao giờ quên được nơi sinh ra và chính là tình yêu thương của cha mẹ nuôi dưỡng bản thân mình thành người Khi đời sống xã hội ngày càng thay đổi, nhiều yếu tố đạo đức cũng có sự thay đổi theo Song, dù cho thế nào đi

chăng nữa thì đạo hiếu vẫn luôn là nền tảng, truyền thống, tình cảm, đạo lý

làm người của người Việt Nam

1.3.2.Chuẩn mực trong quan hệ vợ chồng

Từ trước cho đến nay, bất kỳ xã hội nào cũng lấy gia đình làm nền tảng

và coi đó là sự phát triển của một dân tộc, một quốc gia Trong các mối quan

hệ gia đình, mối quan hệ vợ chồng quyết định đến sự bền vững, hạnh phúc của gia đình

Quan hệ vợ chồng theo quan điểm Nho giáo

Nho giáo cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến sự phát triển văn hóa gia đình ở Việt Nam

Theo quan điểm của Nho giáo, người phụ nữ trong gia đình không được coi trọng Quan hệ vợ chồng chỉ có một chiều, người vợ hoàn toàn phụ thuộc vào người chồng Đến thời Tống, vị trí của người phụ nữ còn bị hạ thấp hơn và phải thực hiện tam tòng, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” và tứ đức “công, dung, ngôn, hạnh” Nghĩa vụ phải chịu nhẫn nhịn,

hy sinh vì chồng và gia đình

Quan hệ vợ chồng theo quan điểm Phật giáo

Khác với quan điểm của Nho giáo, Phật giáo hướng đến mối quan hệ

vợ chồng một cách tích cực hơn Theo quan niệm của đạo Phật, quan hệ

Trang 35

gắnkết vợ chồng là do nghiệp Đồng thời, quan hệ này là mối quan hệ dựa trên sự tôn trọng và bình đẳng Đối với người chồng thì lấy lễ đối đãi với vợ, chuẩn mực nhưng không hà khắc và cùng làm việc nhà với vợ Ngược lại, người vợ phải siêng năng và biết nể chồng, lo toan mọi việc trong ngoài

Có thể thấy rằng, mặc dù Phật giáo không thể hiện rõ quan điểm đa thê như Nho giáo nhưng lại khuyến khích sự chung thủy trong hôn nhân Trong kinh Đảnh Lễ Sáu Phương (còn gọi là Kinh Giáo Thọ thi ca La việt, Trường

Bộ Kinh) có ghi: “Nếu một người đàn ông có vợ mà đến với người phụ nữ khác ngoài hôn thú thì điều này có thể là nguyên nhân về sự sa sút của anh ta

và chắc chắn anh ta phải đối mặt với nhiều vấn đề khác cùng với những phiền toái” [48] Như vậy, mặc dù quan niệm của Phật giáo có cách đây mấy ngàn năm nhưng giá trị thực tiễn vẫn ảnh hưởng cho đến tận ngày nay

Quan hệ vợ chồng trong gia đình truyền thống Việt Nam

Đối với gia đình truyền thống Việt Nam, quan hệ vợ chồng dựa trên nhiều yếu tố như tình nghĩa, thủy chung, hòa thuận, Đây là những giá trị đạo đức căn bản để duy trì, gắn bó và làm cho cuộc hôn nhân giữa hai vợ chồng ngày càng trở nên bền vững

Thứ nhất, tình nghĩa là chuẩn mực vô cùng quan trọng trong quan hệ vợ

chồng Hai yếu tố này bổ sung cho nhau và thể hiện trong cách ứng xử hàng ngày trong gia đình và ngoài xã hội.Trước kia, các cặp vợ chồng trước khi lấy nhau có thể không biết mặt nhau Những cuộc hôn nhân do cha mẹ sắp đặt không có tình yêu, nhưng do tình nghĩa mà họ gắn kết và ràng buộc với nhau suốt cả cuộc đời Đạo nghĩa vợ chồng “tương kính như tân” làm cho họ tôn trọng và sống hết lòng vì nhau Tình nghĩa nảy sinh từ cuộc sống chung và cùng chung vai gánh vác việc gia đình Đồng thời, nó thể hiện sự quan tâm và tôn trọng đối với vợ hoặc chồng Là sự gánh vác, chia sẻ và hy sinh lẫn nhau

Trang 36

không chỉ trong cuộc sống mà còn là giáo dục con cái Làm cho mối quan hệ

vợ chồng gắn kết và không bị ảnh hưởng từ các tác động bên ngoài

Thứ hai, thủy chung là một trong những yếu tố không thể thiếu trong

gia đình truyền thống Việt Nam.Có thể hiểu thủy chung là tình cảm trước sau như một, không thay đổi.Vợ chồng là phải chung tình, gắn bó yêu thương suốt đời Điều này được thể hiện trong những điều luật về gia đình của các

triều đại Lê, Nguyễn và trong Luật hôn nhân và gia đình ở nước ta hiện

nay.Đối với gia đình truyền thống, chung thủy chủ yếu đặt ra cho người vợ trong gia đình Người chồng có quyền có nhiều vợ, nhưng người vợ chỉ được

có duy nhất một chồng Có thể nói rằng, trinh tiết và đức hạnh là những chuẩn mực của người phụ nữ trong gia đình truyền thống

Thứ ba, sự hòa thuận giữa hai vợ chồng trong gia đình là yếu tố nền

tảng để duy trì gia đình bền vững Ca dao, tục ngữ đề cập nhiều đến việc hòa thuận giữa hai vợ chồng, như “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn” hay là “Chồng nóng thì vợ bớt lời Cơm sôi nhỏ lửa suốt đời không khê”, v.v

Vợ chồng hòa thuận thì mọi việc trôi chảy, thuận lợi và tránh được sự đổ vỡ Thường những phụ nữ trong gia đình truyền thống rất nhường nhịn để giữ yên

ấm nhà cửa

Có thể khẳng định rằng, gia đình truyền thống Việt Nam là một kiểu mẫu gia đình về sự chung thủy, tình nghĩa và hòa thuận Tuy nhiên, nó có nhược điểm là người phụ nữ bị thiệt thòi và chịu nhiều sự bất công khi phải

hy sinh quá nhiều cho gia đình

1.3.3.Chuẩn mực trong mối quan hệ anh chị em

Trong các mối quan hệ cơ bản của gia đình truyền thống, mối quan hệ giữa anh chị em là mối quan hệ xuất phát từ huyết thống trong gia đình Vì vậy, anh chị em có sự gắn kết và có trách nhiệm, chia sẽ và giúp đỡ lẫn nhau

Trang 37

Đồng thời, hòa thuận là yếu tố căn bản để duy trì tình cảm anh chị em bền vững Đó cũng là mong muốn và là nhu cầu của cha mẹ đối với con cái

“Khôn ngoan đá đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

Nguyễn Trãi trong “Gia huấn ca” cũng đã đề cập và nói đến đạo đối xử giữa anh chị em trong một gia đình

“Lại phải tường trong đạo chị em

Đạo em thì ở trông lên

Đạo chị trông xuống cho êm đẹp chiều

Miếng bùi ngọt chia đều như một

Khi nắng mưa ấm sốt đỡ tay

Với nhau như bát nước đầy

Lá lành đùm bọc bóng cây rườm rà” [46]

Gia đình truyền thống Việt Nam ảnh hưởng bởi các quan điểm gia đình

và đạo đức của Nho giáo Trong mối quan hệ anh chị em trong gia đình, Nho

giáo xác lập phạm trù đễ Đễ là yêu cầu và chuẩn mực đạo đức điều chỉnh

mối quan hệ anh chị em

Đối với người anh, người chị có đễ là người biết thương yêu và có trách nhiệm đối với các em Khi cha mẹ mất sớm trách nhiệm ấy càng trở nên nặng nề hơn vì các em chưa trưởng thành Lúc này người anh, người chị có vai trò và trách nhiệm thay cha mẹ nuôi dưỡng và giáo dục các em trưởng thành.Người em

có đễ là người biết kính trọng, yêu thương và biết lời anh, chị bảo ban, dạy dỗ

Như vậy, trong những điều kiện lịch sử cụ thể đễ cũng có tác dụng lớn trong việc góp phần xây dựng, củng cố đạo đức gia đình Vì thế, đễ là một hình thức biểu thị chuẩn mực đạo đức giữa anh chị em trong gia đình Việt Nam truyền thống

Trang 38

Tóm lại, các chuẩn mực của gia đình truyền thống Việt có những giá trị tích cực và hạn chế nhất định khi nhìn nhận trong điều kiện xã hội hiện nay

Về mặt tích cực, gia đình truyền thống Việt Nam có những ưu điểm sau:

Thứ nhất, gia đình truyền thống có sự liên kết và gắn bó giữa các thành

viên trong gia đình chặt chẽ hơn

Thứ hai, gia đình truyền thống tạo ra một kiểu gia đình nền nếp, chuẩn

mực, có trước có sau, tình nghĩa thủy chung

Tuy nhiên, những điểm cần thay đổi trong bối cảnh hiện nay của gia đình Việt Nam là: tránh đề cao vai trò của người đàn ông và hạ thấp vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Gia đình truyền thống Việt Nam là gia đình được hình thành và phát triển trong lịch sử Việt Nam Trong gia đình truyền thống, các giá trị đạo đức gia đình được đề cao, điều đó tạo thành nền nếp, gia phong, gia giáo giúp cho gia đình tồn tại bền vững và có điểm nhấn trong dòng chảy phát triển của lịch sử dân tộc

Dù có nhiều quan niệm, cách giải thích khác nhau về gia đình, song, đều thống nhất ở điểm cho rằng: Gia đình là nguồn cội, là cơ sở, là viên gạch

để xây nền móng và phát triển xã hội Trong đó, các mối quan hệ giữa chồng -

vợ, cha mẹ - con cái, anh chị em là những mối quan hệ cơ bản Gia đình có

trở thành môi trường tốt nhất để đào tạo, giáo dưỡng con người hay không dựa trên những mối quan hệ này có tốt hay không Để xác định được điều đó, những yếu tố của văn hóa truyền thống cùng với những yếu tố của các trào lưu tư tưởng khác, đặc biệt là Nho giáo, trở thành tiêu chuẩn để đánh giá Theo đó, một số những tiêu chuẩn có thể kể đến là hiếu, đễ, thủy chung, sự tôn trọng,

Trang 39

Có thể nói rằng, những giá trị đạo đức gia đình truyền thống vẫn còn những giá trị trong quá trình xây dựng gia đình hiện đại ngày nay Điều này sẽ giúp phát huy ưu thế các mối quan hệ trong gia đình và làm cho nền tảng gia đình ngày càng vững chắc Gia đình bền vững sẽ là động lực để phát triển xã hội ngày càng giàu đẹp

Vì nếu các giá trị đạo đức gia đình suy thoái, nền tảng xây dựng các mối quan hệ dần mất đi, cơ sở để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước không còn Việc phát huy các giá trị đạo đức gia đình truyền thống sẽ góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, tạo “rễ sâu, gốc bền” cho xã hội phát triển

Tóm lại, các chuẩn mực của gia đình truyền thống Việt có những giá trị tích cực và hạn chế nhất định khi nhìn nhận trong điều kiện xã hội hiện nay

Về mặt tích cực, gia đình truyền thống Việt Nam có những ưu điểm sau:

Thứ nhất, gia đình truyền thống có sự liên kết và gắn bó giữa các thành

viên trong gia đình chặt chẽ hơn

Thứ hai, gia đình truyền thống tạo ra một kiểu gia đình nền nếp, chuẩn

mực, có trước có sau, tình nghĩa thủy chung

Tuy nhiên, những điểm cần thay đổi trong bối cảnh hiện nay của gia đình Việt Nam là: tránh đề cao vai trò của người đàn ông và hạ thấp vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình

Trang 40

Chương 2 PHÁT HUY ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG VIỆTNAM TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH HIỆN ĐẠI Ở TỈNH LÂM

Vị trí địa lý tỉnh Lâm Đồng

Trước ngày 30/4/1975, Lâm Đồng có đất đai chủ yếu thuộc Ninh Thuận, Bình Thuận Sau năm 1975, bốn tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Bình Thuận và Ninh Thuận hợp thành tỉnh mới là tỉnh Thuận Lâm Đến tháng 2/1976, tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tuyên Đức và thành phố Đà Lạt tách khỏi Thuận Lâm và kết hợp thành tỉnh Lâm Đồng Cho đến nay, tỉnh Lâm Đồng

có 2 thành phố và 10 huyện

Lâm Đồng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 18-25°C Diện tích của tỉnh Lâm Đồng là 9.773.54km², phía Bắc là dãy núi Yang Bong, phía Nam có đỉnh Đan Sê Na, Lang Bian, Hòn Giao, phía Đông

có cao nguyên Di Linh Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bố khá rõ ràng từ Bắc xuống Nam Hệ thống sông, suối trên địa bàn tỉnh khá đồng đều, có lưu vực nhỏ và nhiều ghềnh, thác ở thượng nguồn

Ngày đăng: 11/05/2017, 11:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban thường vụ Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Lâm Đồng (2016), Báo cáo triển khai thực hiện nhiệm vụ “Vận động hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững” 6 tháng đầu năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vận động hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững
Tác giả: Ban thường vụ Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Lâm Đồng
Năm: 2016
2. Hà Thị Bắc (2010), Phát huy vai trò gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay, Luận văn thạc sỹ triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay
Tác giả: Hà Thị Bắc
Năm: 2010
3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch(2014), Quyết định số 1460/QĐ-BVHTTDLvề “Tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1460/QĐ-BVHTTDLvề "“"Tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2014
4. Phan Văn Các (2003), Từ điển từ Hán Việt, Nxb TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ Hán Việt
Tác giả: Phan Văn Các
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
Năm: 2003
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội.\ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986- 2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986- 2016)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Thông báo số 26-TB/TW ngày 9-5-2011 của Ban Bí thưvề “Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 26-TB/TW ngày 9-5-2011 của Ban Bí thưvề “Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
14. Lê Quý Đức, Vũ Thị Huệ (2003), Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị
Tác giả: Lê Quý Đức, Vũ Thị Huệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
15. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
17. Nguyễn Thị Lan Hương (2004), Quan niệm của Mác – Ăngghen về gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc nghiên cứu gia đình trong xã hội thông tin, Tạp chí Triết học, (số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của Mác – Ăngghen về gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc nghiên cứu gia đình trong xã hội thông tin
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương
Năm: 2004
18. Chu Hy (1998, dịch và chú giải: Nguyễn Đức Lân), Tứ thư tập chú, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thư tập chú
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
19. Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý (2007), Gia đình học, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
20. Vũ Ngọc Khánh (1998), Văn hoá gia đình Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội (Công trình này được in lại trong Văn hoá cổ truyền Việt Nam (2007), phần II, Nxb Giáo dục, Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá gia đình Việt Nam", Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội (Công trình này được in lại trong "Văn hoá cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh (1998), Văn hoá gia đình Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội (Công trình này được in lại trong Văn hoá cổ truyền Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2007
21. Vũ Khiêu, Đặng Nhứ, Lê Thị Quý (1995), Nho giáo và gia đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và gia đình
Tác giả: Vũ Khiêu, Đặng Nhứ, Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w