1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thươngviệt nam chi nhánh hải dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

84 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cần phải tái cấu trúc một cách mạnh mẽ để trở thành hệ thống ngân hàng đa dạng về

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRANG ANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

KINH TẾ QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế học

Mã số: 60.31.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Tô Thị Ánh Dương

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Trang Anh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1.Khái niệm 7

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại 23

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại 30

1.4 Năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quôc tế 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA 33

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG 33

2.1 Các hoạt động nghiệp vụ của Vietcombank Hải Dương 33

2.2 Thực trạng năng lực hoạt động của Vietcombank Hải Dương .43

2.3 Năng lực hoạt động của Vietcombank Hải Dương trong điều kiện hội nhập 58

2.4 Đánh giá chung về năng lực hoạt động của Vietcombank Hải Dương 58

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG 64 3.1 Định hướng hoạt động kinh doanh của Vietcombank Hải Dương .64

3.2 Giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của Vietcombank Hải Dương 66

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ARGB Hải Dương Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

chi nhánh Hải Dương

NHTM CP Ngân hàng thương mại cổ phần

Vietcombank (VCB) Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam VCB Hải Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi

nhánh Hải Dương VTB Hải Dương Vietinbank- Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương

Việt Nam chi nhánh Hải Dương

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động của VCB Hải Dương,

Bảng 2.8 Hệ số an toàn vốn (CAR) giai đoạn 2011-2015 của một số

Bảng 2.9 Một số chỉ tiêu đánh giá quy mô, chất lượng tài sản của

Bảng 2.10 ROA và ROE của VCB Việt Nam vàVCB

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Vietcombank Hải Dương 34

Biểu đồ 2.1 Tiền gửi khách hàng của VCB Hải Dương,

Biểu đồ 2.2 Tăng trưởng tín dụng của VCB Hải Dương,

Biểu đồ 2.3 Thị phần dư nợ của một số NHTM trên địa bàn tỉnh

Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ nợ quá hạn của VCB Hải Dương, 2011-2015 46 Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ nợ xấu của VCB Hải Dương, 2011-2015 47

Biểu đồ 2.6 Dư nợ tín dụng so với tổng tiền gửi của

Biểu đồ 2.7 Cơ cấu nguồn vốn huy động giai đoạn, 2011-2015 của

Biểu đồ 2.8 Thị phần huy động nguồn tiền gửi của một số NHTM

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một xu hướng tất yếu, khách quan với mọi quốc gia Việt Nam đã chủ động tham gia vào qúa trình hội nhập kinh tế quốc

tế như gia nhập khối ASEAN; tham gia vào khu vực tự do ASEAN (AFTA), ký kết hiệp định song phương Việt Nam - Hoa kỳ, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế quốc tế Ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh mẽ nhất sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất của hệ thống ngân hàng thương mại là đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt, mạnh mẽ hơn Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cần phải tái cấu trúc một cách mạnh mẽ để trở thành hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có khả năng cạnh tranh cao, hoạt động an toàn và hiệu quả, huy động tốt các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước

Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) là một trong bốn ngân hàng thương mại (NHTM) quốc doanh lớn nhất Việt Nam, thực hiện toàn

bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan theo Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam trên phạm vi toàn quốc VCB chiếm thị phần đáng kể đối với nhiều sản phẩm chủ chốt nhưng cũng phải cạnh tranh gay gắt và đứng trước nguy cơ sụt giảm thị phần Chính vì vậy, nâng cao năng lực hoạt động là yêu cầu cấp bách đặt ra đối với VCB nói chung, các chi nhánh VCB nói riêng Trong giai đoạn hiện nay, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam không chỉ cạnh tranh với các NHTM trong nước mà còn với các ngân hàng nước ngoài; không chỉ cạnh tranh với hệ thống ngân hàng trên toàn quốc mà còn trên từng địa bàn và ở các chi nhánh cụ thể Các chi nhánh ở các địa phương, trong đó có chi nhánh VCB Hải Dương vừa thực hiện chiến lược hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam vừa phải tự nâng cao năng lực hoạt động để chiến thắng trong cạnh tranh trên địa bàn qua đó góp phần nâng cao năng lực hoạt động của cả

Trang 8

2

hệ thống

Xuất phát từ lý do trên tác giả lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực hoạt

động của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thươngViệt Nam chi nhánh Hải Dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài nghiên cứu luận văn

thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

- Đặng Văn Dân (2012), “Hội nhập quốc tế của ngân hàng thương mại Việt

Nam đến năm 2020”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng thành phố

Hồ Chí Minh, tác giả đã hệ thống những lý luận cơ bản liên quan đến hội nhập quốc

tế trong ngân hàng Đánh giá thực trạng của tiến trình hội nhập quốc tế của hệ thống ngân hàng thương mại trong thời gian qua và đề xuất những giải pháp cho quá trình hội nhập quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam

- Nguyễn Quỳnh Hoa (2014), “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại

Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí

Minh, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tái cấu trúc hệ thống NHTM là chương trình mang tầm cỡ quốc gia Phân tích và đánh giá thực trạng tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2012, qua đó tổng hợp những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam;

- Phạm Thị Bích Lương (2007), “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

của các Ngân hàng Thương mại Nhà nước Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sỹ

kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tác giả đã nghiên cứu hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt nam trong giai đoạn 2000-2005, tập trung nghiên cứu bốn ngân hàng Thương mại quốc doanh, qua đó tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho các NHTM này

- Nguyễn Việt Hùng (2008), “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả

hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế,

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam dựa trên phương pháp phân tích định tính và định

Trang 9

3

lượng để chỉ ra được những khiếm khuyết trong điều hành, quản lý và quản trị ngân hàng thương mại ở Việt Nam, qua đó cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM ở Việt Nam mang tính khả thi cao

2.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

- Xiaoqing (Maggie) Fu, Shelagh Heffernan (2007), “The effects of reform

on China‟s bank structure and performance - Tác động của cải cách tới cơ cấu và

hoạt động ngân hàng ở Trung Quốc”, Journal of Banking & Finance 31 Nghiên

cứu về chất lượng quản lý của các tổ chức tín dụng Trung Quốc giai đoạn

1992-2002, kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng quản lý của ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngân hàng, chất lượng quản lý thông qua chính sách,

kế hoạch, chiến lược phát triển ngân hàng.;

- Asli Demirguc và Harr Huizinga (1999), “Determinants of commercial

bank interest margins and profitability: some international evidence- Các yếu tố tác động tới lợi suất và lợi nhuận ngân hàng: một số bằng chứng quốc tế”, The World

http://www.jstor.org/stable/3990103 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, tác giả sử dụng dữ liệu của 80 quốc gia trong giai đoạn 1988-1995, nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh doanh của ngân hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như: đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, điều kiện kinh tế vĩ

mô, quy mô tài sản của ngân hàng, đặc biệt quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn sẽ cho thấy sức mạnh của ngân hàng, đồng thời đa dạng hóa được hoạt động của các ngân hàng và có điều kiện để làm tăng lợi nhuận cho các ngân hàng

Tóm lại, vấn đề năng lực hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập dưới các góc

độ cụ thể khác nhau Những công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu bàn về xu hướng phát triển và vấn đề tái cấu trúc của hệ thống NHTM Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Các công trình nghiên cứu nước ngoài chủ yếu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Đây sẽ là những tư liệu quý để tác giả học hỏi và kế thừa có chọn lọc

Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập sâu và có hệ thống

Trang 10

4

về lý luận và thực tiễn về việc nâng cao năng lực hoạt độngcủa VCB nói chung, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Hải Dương (VCB Hải Dương) nói riêng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.Nội dung, phạm vi và thời gian, không gian nghiên cứu triển khai luận văn của tác giả có sự khác biệt so với các công trình nghiên cứu trước Cụ thể, Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn năng lực hoạt động của VCB Hải Dương từ năm 2011 đến năm 2015 và đưa ra các

giải pháp đến năm 2020 cho VCB Hải Dương trong bối cảnh hội nhập sâu rộng

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Nâng cao năng lực hoạt động của Ngân

hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Hải Dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” sẽ có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát:

Luận văn đánh giá thực trạng năng lực hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Hải Dương từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của VCB Hải Dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạt động của VCB Hải Dương trong điều kiện HNKTQT

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: thực trạng năng lực hoạt động của VCB Hải Dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài nghiên cứu về năng lực hoạt động của VCB Hải Dương

Trang 11

5

trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Về không gian: Đề tài nghiên cứu VCB Hải Dương

Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng năng lực hoạt động của VCB Hải

Dương giai đoạn 2011-2015, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của VCB Hải Dương giai đoạn 2016-2020

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích nghiên cứu định tính, phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh, tổng hợp để tiến hành đánh giá thực trạng năng lực hoạt động của VCB Hải Dương Chẳng hạn, luận văn so sánh hệ số an toàn vốn (CAR) của VCB Hải Dương với CAR của cả hệ thống VCB Việt Nam, cũng như CAR của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Hải Dương, CAR của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (AGRIBANK) chi nhánh Hải Dương, qua đó đưa ra kết luận là CAR của VCB Hải Dương vượt xa

so với quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, điều này thể hiện sức mạnh tài chính của VCB Hải Dương

- Phương pháp thu thập số liệu: dữ liệu thứ cấp về thực trạng năng lực hoạt

động của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Hải Dương được thu thập trong giai đoạn 2011-2015 Nguồn gốc của các tài liệu này đều được chú

thích rõ ràng sau mỗi bảng số liệu

- Phương pháp xử lý số liệu: thông tin và các dữ liệu sau khi thu thập được

sẽ được tác giả cập nhật và tính toán tùy theo mục đích và nội dung nghiên cứu,

phân tích của đề tài trên chương trình Excel 2007 của Microsoft

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận:

Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về hội nhập KTQT trong lĩnh vực ngân hàng và khái quát các chức năng hoạt động của ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập quốc tế Chỉ rõ những cơ hội và thách thức trong lĩnh vực ngân hàng tại các nước đang phát triển trong bối cảnh HNQT Đề tài cũng làm rõ những nhân

tố ảnh hưởng đến năng lực hoạt động của NHTM Đặc biệt, để đánh giá năng lực

Trang 12

6

hoạt động của NHTM, đề tài đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu năng lực tài chính, mức

độ đa dạng về sản phẩm, dịch vụ cung cấp và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cơ cấu

tổ chức, trình độ quản lý và hệ thống chi nhánh phân phối sản phẩm dịch vụ, nguồn nhân lực, công nghệ ngân hàng, thị phần

- Về mặt thực tiễn:

Vận dụng lý luận đã tổng kết, luận văn đánh giá thực trạng năng lực hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Hải Dương qua nhiều góc độ theo các tiêu chí đánh giá năng lực hoạt động NHTM đã được xây dựng ở phần lý luận Trên cơ sở phân tích các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế về năng lực hoạt động của VCB Hải Dương, luận văn đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao năng lực hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Hải Dương

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được cơ cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân

hàng vàhoạt động của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng năng lực hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ

phần Ngoại thương chi nhánh Hải Dương

Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của Ngân hàng thương

mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Hải Dương trong điều kiện Hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 13

a Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

 Hội nhập kinh tế quốc tế

Thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước ngoài (tiếng Anh là “ international economic integration ”) Trên thực tế cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm “ hội nhập

quốc tế ” Nhìn chung, hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu là quá trình gắn kết các

nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự

do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phươngđến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh

tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ

Ở Việt Nam, thuật ngữ „hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác Trước khi thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” được đưa vào sử dụng, trong tiếng Việt đã xuất hiện các cụm từ “liên kết kinh tế quốc tế” và “nhất thể hóa kinh tế quốc tế” Cả ba thuật ngữ này thực ra được sử dụng để chỉ cùng một khái niệm mà tiếng Anh gọi là “international economic integration” Trong thực tiễn sử dụng ở Việt Nam hiện nay, các thuật ngữ “liên kết quốc tế” và “hội nhập quốc tế” có thể thay thế nhau và hầu như không có sự khác biệt về ý nghĩa [22]

Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau [22]:

Thứ nhất, Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành

cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế

về phạm vi và mức độ cắt giảm, như: Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp

định Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994)

Thứ hai, Khu vực mậu dịch tự do (FTA): trong thương mại hàng hóa nội

Trang 14

8

khối Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan

và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan), nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối, như: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)

Thứ ba,Liên minh Thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và

loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách

thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối

Thứ tư, Thị trường chung : Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi

quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của

cả khối, như: Liên minh Châu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng Thị trường chung

châu Âu trước khi trở thành một liên minh kinh tế

Thứ năm,Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn

cao nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung cộng thêm việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của

khối) như: Liên minh Châu Âu (EU) hiện nay

Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản, mỗi nước phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong

những điều kiện đặc thù nhất định

Tóm lại: Hội nhập kinh tế là quá trình thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở

cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương chủ động gắn kết nền kinh tế thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới Hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là tham gia vào cuộc cạnh tranh kinh tế ở cả trong và ngoài nước vì quá trình hội nhập làm cho nền kinh tế mỗi nước ngày càng liên kết chặt chẽ với các nền kinh tế thành viên khác, từ đó làm cho nền kinh tế thế giới phát triển theo hướng tạo ra một thị trường chung thống nhất trong đó những cản trở đối với sự giao lưu và hợp tác quốc tế dần dần giảm và mất đi, tuy nhiên sự cạnh tranh trở nên gay gắt hơn

Trang 15

9

Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Hội nhập kinh tế quốc tế về tài chính - tiền tệ là việc thực hiện quá trình tự

do hóa tài chính (xóa bỏ các định hướng, các hạn chế, hay ràng buộc trong việc phân bổ nguồn lực tài chính) Tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa tỷ giá hối đoái, tự do hóa lãi suất, xóa bỏ bao cấp vốn thông qua chỉ định tín dụng, giảm thiểu

tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tự do hóa các hoạt động của các tổ chức tài chính trong nước

và quốc tế trên nền tảng của tự do hóa các tài khoản vãng lai và tài khoản vốn Tự

do hóa tài chính cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh của các định chế tài chính, cùng với việc chấm dứt phân biệt đối xử về pháp lý giữa các loại hoạt động khác nhau [23, tr13]

Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là quá trình chủ động gắn kết hoạt động ngân hàng của mỗi nước với hoạt động của hệ thống ngân hàng trong khu vực và thế giới, thông qua những nỗ lực mở cửa và tự do hóa hoạt động ngân hàng trong nước với điều kiện các hoạt động đó phải phù hợp với thông lệ, với luật pháp quốc tế Hoạt động ngân hàng phải tuân thủ theo quy luật thị trường và các nguyên tắc kinh doanh quốc tế, hoạt động ngân hàng được thực hiện theo tín hiệuthị trường, do thị trường quyết định mà không bị ngăn chặn bởi các biện pháp quản lý hành chính, lãi suất, tỷ giá, hoạt động tín dụng [23, tr13]

Mức độ hội nhập về ngân hàng được đo bằng mức độ mở cửa cho hoạt động ngân hàng của nước ngoài trên thị trường nội địa, cụ thể hơn là mức độ dỡ bỏ các giới hạn, rào cản ngăn cách hoạt động của các ngân hàng trong nước với hoạt động của ngân hàng trong khu vực và thế giới, mức độ xâm nhập hoạt động ngân hàng của quốc gia đó trên thị trường nước ngoài Thực hiện hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đòi hỏi Chính phủ và NHTƯ phải xóa bỏ những ưu đãi, tiến tới cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng trong và ngoài nước Do đó, mức độ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với mức độ tự do hóa tài chính-tiền tệ Việc thực hiện tự do hóa tài chính-tiền tệ càng sâu rộng có hiệu quả thì việc hội nhập ngân hàng càng thuận lợi và nhanh chóng

Hội nhập kinh tế quốc tế về ngân hàng giúp các NHTM trong nước thông qua môi trường cạnh tranh ngày càng tự do hơn và phù hợp với thông lệ quốc tế Đồng thời giúp ngânhàng trong nước nhận thức được tình hình mới để tự nâng cao,

Trang 16

10

hoàn thiện nhằm đương đầu với cạnh tranh và duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm các nội dung sau:

+)Tự do hoá lãi suất

Tự do hoá lãi suất là cơ chế lãi suất trong đó có rất ít hoặc không có sự can thiệp của các cơ quan chức năng vào việc hình thành lãi suất mà lãi suất được hình thành trên cơ sở thị trường, vận động theo qui luật cung cầu [2, tr36]

Tự do hóa lãi suất được hiểu là lãi suất hoàn toàn được điều chỉnh theo yêu cầu của thị trường Sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) đối với lãi suất thị trường được điều hành thông qua các công cụ gián tiếp như lãi suất tái chiết khấu hay tái cấp vốn để tác động lên cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ nhằm xác lập mức lãi suất cân bằng Như vậy tự do hoá lãi suất có thể được hiểu là việc tháo bỏ hoàn toàn các ràng buộc về lãi suất trong nền kinh tế, cho phép lãi suất trong nền kinh tế đạt tới điểm cân bằng của nó

Để tự do hóa lãi suất, cần có những điều kiện sau: Một là, hành lang pháp

lý cho hoạt động kinh tế tài chính đã tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh Hai là, thị trường tài chính gồm thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán đã ra đời và vận hành hiệu quả Ba là, các tổ chức kinh tế đều đảm bảo khả năng sử dụng vốn triệt

để và có hiệu quả Bốn là, môi trường kinh tế vĩ mô đã ổn định và tương đối chắc chắn Năm là, hệ thống ngân hàng ổn định và hoạt động hữu hiệu Sáu là, các ngưồn lực trong nước như vốn, tài nguyên, lao động…đã được phân phối và sử dụng tương đối hợp lý

+) Tự do hoá cơ chế tín dụng

Tự do hoá cơ chế tín dụng là tôn trọng các điều kiện khách quan trong hoạt động tín dụng Tự do hóa tín dụng đòi hỏi phải xóa bỏ các hạn chế, định hướng hay ràng buộc về số lượng trong quá trình cung cấp cũng như phân phối tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng cho mọi thành phần kinh tế [2, tr38]

Nội dung tự do hóa hoạt động tín dụng không có nghĩa là hoàn toàn hạ thấp vai trò của Chính phủ Ở các nước đang phát triển, để duy trì tỉ lệ cần thiết quan trọng trong tín dụng cho nền kinh tế theo sự chỉ định của Chính phủ, Chính phủ có

Trang 17

11

thể can thiệp vào cơ cấu đầu tư cũng như bảo đảm sự lành mạnh của các trung gian tài chính Tuy nhiên tự do hóa tín dụng, thừa nhận vai trò chính, song không đồng nhất với sự can thiệp quá sâu của Chính phủ vì hậu quả của nó có thể dẫn đến thị trường tài chính bị bóp méo, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính không cao, thậm chí lãng phí

Nội dung của tự do hoá cơ chế tín dụng bao gồm: Một là, bãi bỏ hoàn toàn việc ấn định hạn mức tín dụng và các tỷ lệ có liên quan Hai là, xoá bỏ bao cấp trong hoạt động tín dụng Ba là, mở rộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế để tận dụng các nguồn lực đang có và tiềm ẩn trong nền kinh tế Bốn là, xoá bỏ những ràng buộc của hệ thống ngân hàng trong hoạt động tín dụng, nâng cao tính tự chịu trách nhiệm và tính tự chủ, tạo môi trường thông thoáng cho việc cung ứng vốn cho nền kinh tế

+) Tự do hoá tỷ giá hối đoái

Tự do hoá tỷ giá hối đoái là để cho diễn biến tỷ giá hối đoái trên thị trường biến động dưới tác động của quan hệ cung cầu là chủ yếu, cơ quan quản lý Nhà nước tránh sự can thiệp trực tiếp và thái quá Xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra rất nhanh chóng Việc giao lưu, thông thương hàng hoá giữa các nước ngày một gia tăng Tỷ giá hối đoái là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến hoạt động đó Vì vậy, yêu cầu các quốc gia dần phải từ bỏ cách kiểm soát quá chặt chẽ tỷ giá, đưa đồng bản tệ có khả năng chuyển đổi cao Khi Chính phủ và NHTƯ từ bỏ việc can thiệp của mình và để cho tỷ giá được tự do xác định trên thị trường thì nước đó đang theo đuổi chính sách tỷ giá tự do Vì vậy, tự do hoá tỷ giá

là một quá trình tiến tới cho phép tỷ giá được tự xác định trên thị trường [2, tr39-40]

Tự do hoá tỷ giá hối đoái bao gồm những nội dung chính sau: Thứ nhất, bãi

bỏ tỷ giá cố định với việc công bố tỷ giá chính thức Thứ hai, nới lỏng biên độ giao dịch và tiến tới xoá bỏ biên độ giao dịch tỷ giá trong hoạt động kinh doanh của NHTM Thứ ba, để cho tỷ giá biến động theo tương quan cung cầu trên thị trường

và chỉ can thiệp có giới hạn khi xét thấy cần thiết

Để thực hiện tự do hoá tỷ giá hối đoái phải có một số điều kiện nhất định: Một là, thị trường hối đoái phải được hình thành trước và hoạt động trôi chảy Hai

là, lưu thông tiền tệ trong nước tương đối ổn định và được kiểm soát tốt Ba là, hoạt

Trang 18

12

động kinh tế tài chính đối ngoại phải tương đối ổn định Bốn là, dự trữ ngoại hối phải đủ lớn, cán cân vãng lai thặng dư và tương đối ổn định Năm là, hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế hoạt động hiệu quả và ổn định

+) Tự do hóa các luồng vốn quốc tế

Tự do hóa các luồng vốn quốc tế là làm cho các nguồn vốn nước ngoài và trong nước tự do luân chuyển, tạo sự hấp thụ có hiệu quả các nguồn vốn từ bên ngoài để phát triển kinh tế, bên cạnh đó mở rộng giao lưu kinh tế thương mại với các nước trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng [2, tr41]

Với vị trí quan trọng của các nguồn lực tài chính, lĩnh vực ngân hàng giữ vai trò huyết mạch của nền kinh tế, thông qua các chính sách và công cụ để điều hành nền kinh tế Để hội nhập thành công, chúng ta cần tạo ra hành lang pháp lý trên cơ

sở tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan của thị trường, tạo điều kiện cho các chủ thể trên thị trường có thể tự do quyết định việc hình thành và sử dụng các nguồn lực tài chính theo tín hiệu thị trường

Cơ hội và thách thức trong lĩnh vực ngân hàng tại các nước đang phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế

+) Những cơ hội

Một là, việc mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng ngoài việc các

NHTM trong và ngoài nước hoạt động kinh doanh, cạnh tranh trong một sân chơi công bằng và bình đẳng và tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM trong nước thâm nhập thị trường quốc tế và mở rộng hoạt động kinh doanh Hội nhập còn đem lại cho hệ thống NHTM các nước đang phát triển những cơ hội trao đổi, hợp tác quốc

tế trong lĩnh vực hoạch định chính sách tài chính, tiền tệ, quản lý ngoại hối, thanh tra, giám sát phòng ngừa rủi ro và thanh toán, từ đó nâng cao vị thế và uy tín của các NHTM của các nước đang phát triển trong các giao dịch tài chính ngân hàng

quốc tế, vốn là hạn chế của hệ thống NHTM các nước đang phát triển hiện nay

Hai là, sự tham gia thị trường của các NHTM nước ngoài không chỉ làm tăng

mức độ cạnh tranh mà còn gia tăng sự lành mạnh và an toàn của toàn bộ hệ thống NHTM Mặt khác, thông qua hội nhập, các NHTM các nước đang phát triển có cơ hội tiếp cận với vốn, công nghệ, kinh nghiệm và trình độ quản lý của các NHTM

Trang 19

13

phát triển trên thế giới Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh

và theo kịp yêu cầu phát triển của thị trường trong và ngoài nước, các NHTM trong nước phải chủ động thực hiện cơ cấu lại tổ chức theo hướng hợp lý và chuyên nghiệp hơn, tăng năng lực tài chính, thực hiện chuyên môn hóa sâu hơn các nghiệp

vụ ngân hàng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ

Đó là những điều kiện quan trọng để các NHTM các nước đang phát triển hoạt động kinh doanh hiệu quả và đứng vững trong cạnh tranh

Ba là, hội nhập sẽ tạo ra động lực thúc đẩy đổi mới và nâng cao tính minh

bạch, tính tự chịu trách nhiệm của hệ thống NHTM trong nước để đáp ứng yêu cầu của hội nhập và thực hiện các cam kết, qua đó nâng cao hiệu quả điều hành trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng

Bốn là, hội nhập sẽ thúc đẩy sự phát triển và trao đổi các dịch vụ tài chính,

ngân hàng giữa các nước Các nước đang phát triển, nơi mà các ngân hàng trong nước thường có chi phí hoạt động cao và lợi nhận thấp hơn các đối thủ cạnh tranh nước ngoài thì sự xuất hiện của ngân hàng nước ngoài trên thị trường nội địa sẽ có ảnh hưởng tích cực Do sức ép cạnh tranh tăng lên đã thúc đẩy các NHTM nội địa hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao chất lượngdịch vụ để giữ vững và phát triển thị phần, quản lý chặt chẽ chi phí để có lợi nhuận

Năm là, việc hình thành các tập đoàn ngân hàng lớn cùng với quá trình mở

rộng hoạt động của chúng trên thế giới sẽ tạo cho ngân hàng này có nhiều lợi thế trong cạnh tranh cũng như khả năng đối phó với những biến động thị trường Sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài có tên tuổi trên thị trường nội địa sẽ có ảnh hưởng tích cực trong việc cải thiện các quy định giám sát và phòng ngừa rủi ro, tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về kế toán, công bố công khai Mặt khác, những ngân hàng ở các nước đang phát triển muốn thâm nhập vào thị trường các nước cần phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn của những thị trường này mới nhận được giấy phép hoạt động

+) Những thách thức

Thứ nhất, hệ thống NHTM các nước đang phát triển có tiềm lực tài chính

nhỏ bé, chất lượng tài sản thấp, danh mục sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, chất lượng sản phẩm dịch vụ chưa cao, cơ cấu tổ chức chưa thực sự hợp lý và chưa

Trang 20

14

chuyên nghiệp, trình độ quản lý điều hành còn thấp, công nghệ ngân hàng còn có khoảng cách đáng kể so với trình độ của các nước phát triển Hệ thống NHTM các nước đang phát triển chỉ có lợi thế về mạng lưới chi nhánh phân phối sản phẩm dịch

vụ và khách hàng rộng rãi, am hiểu về tập quán địa phương và môi trường kinh doanh Tuy nhiên, đây không phải là những lợi thế lâu dài, mang tính quyết định và

sẽ mất dần khi lĩnh vực ngân hàng thực sự tự do hóa hoàn toàn

Thứ hai, hoạt động của NHTM nước ngoài trên thị trường nội địa với những

sản phẩm mới cùng với các giao dịch trên một phạm vi rộng lớn và với tốc độ rất nhanh sẽ gây khó khăn cho việc kiểm soát của các cơ quan quản lý, giám sát của từng quốc gia Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại làm cho nhiều hoạt động ngân hàng thoát khỏi sự kiểm soát của các cơ chế giám sát đã đặt ra

Thứ ba, các NHTM nước ngoài hoạt động trên thị trường nội địa tạo ra áp

lực cạnhtranh gay gắt, có thể gây ra những xung đột về lợi ích giữa các nhóm khác nhau, ảnh hưởng đến đặc quyền kinh doanh của các ngân hàng trong nước

Thứ tư, trong môi trường vốn luân chuyển tự do giữa các nước, kích thích

các tổ chức trong nước nhận vốn vay nước ngoài một cách thiếu thận trọng Nếu những tổ chức kinh tế có hệ số nợ nước ngoài cao bị mất khả năng trả nợ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống ngân hàng

Thứ năm, hội nhập quốc tế đòi hỏi các NHTM trong nước phải có một nguồn

nhân lực không chỉ có chuyên môn cao về nghiệp vụ ngân hàng mà còn phải am hiểu Luật thương mại quốc tế và được trang bị đầy đủ những kiến thức và kỹ năng nghiên cứu, phân tích, đánh giá và dự báo theo mô hình và chuẩn mực quốc tế, trong khi nguồn nhân lực của các NHTM các nước đang phát triển còn rất yếu kém

về các kiến thức và kỹ năng Đây là một khó khăn lớn cho các NHTM các nước đang phát triển

b Hoạt động của Ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập KTQT

Nhà kinh tế học người Mỹ Peter Rose đă đưa ra một định nghĩa tương đối

đầy đủ về NHTM Theo ông: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính cung

cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm

Trang 21

15

và dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [17, tr15]

Ở Việt Nam, khái niệm NHTM được nêu trong Luật các Tổ chức Tín dụng

(TCTD) năm 2010 [17, tr5]: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng

có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận” Luật này còn định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” [18, tr8].

Như vậy, qua các định nghĩa trên thì có thể khái quát khái niệm về NHTM là một định chế tài chính trung gian có khả năng thực hiện toàn bộ các dịch vụ tài chính ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận

NHTM đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, nó giữ một

vị trí quan trọng trong nền kinh tế Nhờ NHTM mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các chủ thể kinh tế nhằm phát triển kinh tế xã hội

Khái niệm năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại

Quan niệm về năng lực hoạt động của doanh nghiệp được dựa trên nhiều góc

độ như dựa trên góc độ chỉ số kinh doanh, hay góc độ thứ bậc, cũng có khi dựa trên góc độ chất lượng sản phẩm của hoạt động sản xuất Đối với ngành ngân hàng, với đặc thù là ngành tài chính với các hoạt động đa dạng và sâu rộng, do đó, khái niệm năng lực hoạt động của Ngân hàng thương mại được hiểu một cách khái quát là năng lực tập hợp và phát huy các điều kiện, tiềm lực hoạt động riêng có của ngân hàng, biểu hiện qua hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp cả định tính và định lượng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, bằng việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng chất lượng một cách lâu dài và đối với Ngân hàng thương mại là có lợi nhuận

và phát triển bền vững

Mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại

Tùy từng nước và từng thời kỳ, mô hình hoạt động của các NHTM có thể áp dụng khác nhau Có 3 mô hình hoạt động chủ yếu của NHTM: ngân hàng chuyên doanh, ngân hàng kinh doanh tổng hợp, ngân hàng đa năng [23, tr20]

Ngân hàng chuyên doanh: là những ngân hàng chỉ chuyên hoạt động trong

Trang 22

16

một lĩnh vực nhất định như: ngân hàng công nghiệp, ngân hàng nông thôn, ngân hàng đô thị…

Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: là những ngân hàng có thể thực hiện đồng

thời nhiều loại nghiệp vụ truyền thống trong nhiều lĩnh vực Thực chất ngân hàng làm nghiệp vụ tổng hợp của nhiều ngân hàng chuyên doanh

Ngân hàng đa năng: Là ngân hàng ngoài thực hiện các nghiệp vụ của ngân

hàng kinh doanh tổng hợp còn thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác ngoài lĩnh vực ngân hàng như bảo hiểm, chứng khoán Có hai loại ngân hàng đa năng:

Thứ nhất, ngân hàng đa năng trực tiếp Theo mô hình này, các NHTM ngoài

các nghiệp vụ kinh doanh về lĩnh vực ngân hàng còn trực tiếp kinh doanh về lĩnh vực chứng khoán hoặc bảo hiểm… mà không cần mở công ty chứng khoán hay công ty bảo hiểm trực thuộc Mô hình ngân hàng này được áp dụng ở Hà Lan, Đức, Thụy Sĩ

Thứ hai, đó là mô hình ngân hàng đa năng gián tiếp Theo mô hình này, các

ngân hàng thương mại ngoài các nghiệp vụ kinh doanh về lĩnh vực ngân hàng không được trực tiếp kinh doanh về lĩnh vực chứng khoán hay bảo hiểm… mà phải

mở công ty chứng khoán hay công ty bảo hiểm trực thuộc để hoạt động Cùng với

sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, nghiệp vụ ngân hàng truyền thống và nghiệp vụ ngân hàng hiện đại với nghiệp vụ chứng khoán và bảo hiểm ngày càng xích lại gần nhau, do đó mô hình ngân hàng đa năng ngày càng trở nên phổ biến hơn ở các nước

Các hoạt động cơ bản cùa Ngân hàng thương mại

Hoạt động cơ bản của các NHTM là các hoạt động đem lại lợi nhuận cho ngân hàng thương mại bao gồm: Hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay, đầu

tư và các hoạt động kinh doanh dịch vụ

+) Hoạt động huy động vốn

Trong cơ cấu nguồn vốn, các nhà quản trị ngân hàng thường quan tâm tính hợp lý của tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng với nguồn vốn ngân hàng huyđộng được từ bên ngoài, đến sự tương ứng giữa nguồn vốn ngắn hạn, dài hạn với sử dụng vốn ngắn hạn, dài hạn, giữa nguồn vốn chủ sở hữu với nguồn vốn đầu tư cho tài sản

cố định, giữa vốn chủ sở hữu của ngân hàng với phần tài sản khó có khả năng thu hồi

Trang 23

17

Huy động vốn chủ sở hữu của ngân hàng

Để có thể thành lập một NHTM, thông thường chủ sở hữu phải có một số vốn nào đó lớn hơn số vốn mà luật pháp quy định (vốn pháp định)

Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để thành lập NHTM do pháp luật quy định Mỗi NHTM lại có số vốn hoạt động khác nhau gọi là vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định Tùy theo từng loại hình NHTM mà nguồn hình thành vốn điều lệ do các chủ sở hữu đóng góp khác nhau Nếu NHTM tư nhân thì vốn này

do vốn riêng của chủ doanh nghiệp đầu tư, NHTM cổ phần do các cổ đông đóng góp, NHTMNN do Nhà nước cấp vốn, nếu là ngân liên doanh hình thành từ đóng góp của nước sở tại và bên nước ngoài, vốn chủ sở hữu là nguồn vốn riêng thuộc quyền sở hữu của ngân hàng mức vốn điều lệ là bao nhiêu tùy thuộc vào quy mô kinh doanh và pháp luật quy định cụ thể Trong hoạt động ngân hàng nguồn vốn này thường nhỏ so với tổng nguồn vốn và do đó chúng chủ yếu tham gia vào tài sản cố định, cơ sờ vật chất kỹ thuật phục vụ kinh doanh

Vốn chủ sở hữu là nguồn lực cơ bản để minh chứng sức mạnh tài chính củacác NHTM, đóng vai trò quan trọng vừa để một ngân hàng bầt đầu hoạt động, vừađảm bảo khả năng tồn tại của ngân hàng đó, quyết định quy mô hoạt động, tầm vươnvà độ an toàn cho các hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng trên thương trường Để đo lường và quyết định mức vốn chủ sở hữu hợp lý của một NHTM người ta thường xem xét vốn chủ sở hữu trong mối liên hệ với nhiều khoản mục khác nhau của bảng tổng kết tài sản như : tổng tiền gửi, tổng tài sản, tổng tài sản rủi

ro, đều quan tâm đến khả năng của ngân hàng trong việc duy trì mức vốn chủ sở hữuvà phương pháp quản trị vốn chủ sở hữu

Huy động vốn nợ (tiền gửi và đi vay)

Ngoài vốn chủ sở hữu, các NHTM thực hiện huy động vốn nợ Đây là một trong những hoạt động chủ yếu của NHTM nhằm giải quyết "đầu vào", tức là giải quyết nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng chính đáng của tất cả các khách hàng

Để huy động vốn, các NHTM có thể thu hút từ các nguồn vốn từ bên ngoài và dưới các hình thức khác nhau như:

Nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài

nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của

Trang 24

18

ngân hàng Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có nguồn tiền có chất lượng càng cao, các NHTM đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau như: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn của dân cư cũng như của doanh nghiệp, các tố chức xã hội

Vốn vay của NHTM: Các NHTM vay từ Ngân hàng Nhà nước (như hình

thức vay tái cấp vốn ở Việt Nam), vay các tổ chức tín dụng khác để giải quyết kịp thời các nhu cầu chi trả cấp bách hoặc duy tri tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHNN quy định hoặc vay trên thị trường bằng cách phát hành các kỳ phiếu, trái phiếu

Hiệu quả của hoạt động huy động vốn thể hiện ở: Quy mô, tốc độ tăng

trưởng của nguồn vốn huy động; Cơ cấu tiền gửi của ngân hàng ảnh hưởng tới thu

nhập của ngân hàng; Chất lượng nguồn vốn huy động thông qua tính ổn định và chi phí phải trả cho nguồn vốn huy động

Hoạt động huy động vốn hiệu quả là huy động được tổng nguồn vốn đủ đảmbảo khả năng thanh khoản, tốc độ tăng trưởng cao đáp ứng nhu cầu vốn cho nềnkinh tế Nguồn vốn hiệu quả là đảm bảo chênh lệch lãi suất cơ bản càng cao thì thu nhập càng lớn và ngược lại Nguồn vốn hiệu quả là nguồn ổn định và có cơ cấu nguồn vốn phù hợp để đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn như các nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư dự án trung, dài hạn Tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất trong vốn tiền tệ của NHTM Do vậy các ngân hàng tập trung mọi cố gắng để làm tiếp thị

về loại vốn này

+) Hoạt động cho vay và đầu tư

Hoạt động cho vay (tín dụng) là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để

tạo thu nhập Đây là hình thức ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian thỏa thuận nhất định giữa Ngân hàng và khách hàng với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi Nghiệp vụ này hiện nay luôn chiếm

từ 60% đến trên 80% tài sàn của các NHTM Việc cấp tín dụng của các NHTM thường dưới nhiều hình thức như: theo thời gian sử dụng, theo mục đích sử dụng, theo cách thức cho vay chiết khấu thương phiếu, tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, cho thuê tài chính, bảo lãnh và nhiều hình thức khác Khi cho vay các NHTM quan tâm đến việc bảo toàn vốn của mình và có lợi nhuận tối đa, còn khách hàng muốn nhận được khoản tín dụng với những điều kiện ưu đãi nhất Đây là hoạt

Trang 25

19

động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, tuy nhiên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro (rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro chính trị, rủi ro đạo đức) khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây ảnh hưởng lớn đến ngân hàng vì phần lớn vốn của ngân hàng là được huy động từ nền kinh tế Tín dụng là hoạt động cơ bàn củaNHTM và là nguồn thu nhập chính

Chất lượng của đầu tư tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng, nó quyết định hiệu quả kinh doanh của NHTM, dù hết sức tiết kiệm chí phí, tận thu các khoản nhưng chất lượng món vay thấp sẽ dẫn tới mất vốn hoạt động của Ngân hàng vàcó thế đi tới sự phá sản

Hoạt động đầu tư: Các NHTM dùng vốn của mình để mua các loại chứng

khoán khác nhau có độ rủi ro thấp, năng lực thị trường cao, chủ yếu do Chính phủ hoặc do các doanh nghiệp lớn phát hành nhằm đáp ứng các nhu cầu thanh khoản khi cần và thu lợi nhuận Ngày nay, các ngân hàng đã tham gia ngày càng nhiều hơn vào các thị trường chứng khoán Ngoài ra, các NHTM còn hùn vốn để liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác để kinh doanh Hiệu quả hoạt động đầu tư của NHTM thể hiện ở tỉ lệ sinh lời của các khoản đầu tư, sự tăng giá các chứng khoán

và sự an toàn của các khoản đầu tư đó Hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán mang lại cho ngân hàng một khoản lợi nhuận tương đối lớn, song đó cũng là một hoạt động có nhiều rủi ro

+) Hoạt động kinh doanh dịch vụ khác

Kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, các loại hình dịch vụ của ngân hàng càng thêm phong phú, đa dạng và thu nhập từ dịch vụ chiếm một vị trí quan trọng trong tổng thu nhập của ngân hàng Khả năng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng

lệ thuộc vào năng lực của từng ngân hàng, nhu cầu của đối tượng khách hàng mà ngân hàng đang phục vụ, điều kiện và môi trường ngân hàng đang hoạt động Xu hướng hiện nay là các ngân hàng chủ động mở rộng các hoạt động dịch vụ để cải thiện thu nhập và củng cố vị thế của mình Các dịch vụ chủ yếu là:

Kỉnh doanh ngoại tệ: Kinh doanh ngoại tệ là việc NHTM dùng đồng tiền

nước này để mua bán đồng tiền nước khác tại cùng một địa điểm hoặc giữa các địa điểm khác nhau trong cùng một khoảng thời gian hoặc tại các thời điểm khác nhau nhằm mang lại thu nhập dưới hình thức "chênh lệch giá"

Trang 26

20

Bào lãnh: Bảo lãnh là việc các NHTM dùng uy tín và khả năng tài chính của

mình để bảo lãnh cho khách hàng nếu như họ có yêu cầu Các loại bảo lãnh mà ngân hàng thường thực hiện là: Bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh khác theo yêu cầu của doanh nghiệp và cá nhân Thông qua hoạt động bảo lãnh ngân hàng thu "phí dịch vụ bảo lãnh"

Dịch vụ thanh toán: Dịch vụ thanh toán là việc NHTM cung ứng và thực

hiện các dịch vụ như hoạt động thu hộ, hoạt động chi hộ, hoạt động chuyển tiền, dịch vụ thanh toán quốc tế: Đó là việc ngân hàng thanh toán tiền cho các bên tham gia hợp đồng ngoại thương dựa trên cơ sở hệ thống ngân hàng đại lý của mình trên thế giới Các hình thức thanh toán quốc tế được ngân hàng sử dụng là: Thư tín dụng (Letter of Credit), Chuyển tiền (Telegraifics tranfer), Nhờ thu (Collection) Khi thực hiện các dịch vụ thanh toán kể trên NHTM thu được các khoản"phí dịch vụ" Khi nhu cầu dịch vụ thanh toán của nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển sâu rộng trên mọi lĩnh vực thì "phí dịch vụ" là khoản không nhỏ và có xu hướng ngày càng ra tăng của các ngân hàng

Dịch vụ tư vẩn: Dịch vụ tư vấn là việc ngân hàng cung ứng các dịch vụ tư

vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng và thu được các khoản "phí" dịch vụ tư vấn nhất định

Các dịch vụ khác: Các dịch vụ khác như việc cung ứng các dịch vụ bảo quàn

hiện vật qua giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật

Hiệu quả của các hoạt động này thể hiện ở thu nhập từ các hoạt động này Việc mở rộng các sản phẩm dịch vụ để thu phí trở thành một yếu tố then chốt trong chiến lược tăng cường thu nhập của NHTM những năm gần đây

Chức năng của ngân hàng thương mại

+) Chức năng thủ quỹ

Với chức năng thủ quỹ, ngân hàng thương mại nhận tiền gửi, giữ tiền, bảo quản tiền, thực hiện yêu cầu rút tiền, chi tiền của khách hàng của mình là các chủ thể trong nền kinh tế, từ đó mang lại những lợi ích khác nhau cho các chủ thể khác

Trang 27

21

nhau Thứ nhất, đối với khách hàng, chức năng thủ quỹ giúp cho khách hàng ngoài việc đảm bảo an toàn tài sản của mình mà còn giúp sinh lời được đồng vốn tạm thời thừa Thứ hai, đối với ngân hàng, chức năng thủ quỹ giúp ngân hàng có được nguồn vốn để ngân hàng thực hiện chức năng tín dụng và là cơ sở để ngân hàng thực hiện được chức năng trung gian thanh toán Thứ ba, đối với nền kinh tế, chức năng thủ quỹ khuyến khích tích luỹ trong xã hội đồng thời tập trung nguồn vốn tạm thời thừa

để phục vụ phát triển kinh tế [23, tr21]

+) Chức năng trung gian tín dụng

Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM là cầu nối giữa người thừa vốn

và người thiếu vốn Ngân hàng huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để cho vay đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế

Thông qua thực hiện chức năng trung gian tín dụng của NHTM đem lại lợi ích cho các chủ thể: Thứ nhất, đối với khách hàng là người gửi tiền, chức năng này thu lợi được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức tiền lãi đồng thời đảm bảo an toàn tiền gửi và được hưởng những tiện ích mà ngân hàng mang lại; còn đối với người đi vay, chức năng này giúp cho các chủ thể trong nền kinh tế thoả mãn được nhu cầu vốn tạm thời thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng đồng thời tiết kiệm được chi phí, tiết kiệm thời gian tìm kiếm được nguồn vốn tiện lợi, an toàn và hợp pháp Thứ hai, đối với ngân hàng, chức năng này là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển ngân hàng thông qua lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, đồng thời nó là cơ sở để NHTM tạo bút tệ góp phần tăng qui mô tín dụng cho nền kinh tế Thứ ba, đối với nền kinh tế, chức năng này giúp điều hoà vốn tiền tệ từ nơi tạm thời dư thừa đến nơi tạm thời thiếu hụt góp phần phát triển sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế [23, tr22]

+) Chức năng tạo tiền cho nền kinh tế

Chức năng tạo tiền của các NHTM cho nền kinh tế chỉ phát huy khi hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, trong đó Ngân hàng Trung ương là ngân hàng cấp 1, là ngân hàng phát hành tiền và quản lý lưu thông tiền tệ, còn các NHTM là ngân hàng cấp 2 chuyên thực hiện kinh doanh tiền tệ Quá trình tạo tiền của các

Trang 28

22

NHTM được thực hiện thông qua hoạt động huy động, tín dụng và thanh toán Thực chất của quá trình này là hệ thống NHTM đã biến một khoản tiền gửi ban đầu tại một NHTM đầu tiên nhận khoản tiền gửi đó thành một số tiền lớn hơn gấp nhiều lần được lưu thông trong nền kinh tế nhờ việc thực hiện liên tiếp các nghiệp vụ tín dụng

và thanh toán qua nhiều NHTM khác [20, tr23]

+) Chức năng trung gian thanh toán

Ngân hàng thương mại thay mặt cho khách hàng trích tiền trên tài khoản trả cho người được hưởng do mua hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác hoặc nhận tiền vào tài khoản từ bán hàng hoá, dịch vụ và các khoản thu khác

Thông qua chức năng trung gian thanh toán: chức năng này đem lại lợi ích cho các chủ thể: Thứ nhất, đối với khách hàng, chức năng này giúp cho khách hàng thanh toán một cách nhanh chóng, an toàn, hiệu quả Bởi vì khi việc thanh toán trực tiếp giữa các chủ thể với nhau mà không thông qua ngân hàng thì sẽ gặp nhiều rủi

ro, chi phí thanh toán cao, không nhanh chóng, đặc biệt là khi các chủ thể này cách

xa nhau Thứ hai, đối với ngân hàng, chức năng này tạo điều kiện thu hút nguồn vốn tiền gửi thông qua cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lượng cao Thứ ba, đối với nền kinh tế, chức năng này giúp đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội, đồng thời nó cũng giúp làm giảm khối lượng tiền mặt dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt [23, tr20]

+) Chức năng cung ứng các dịch vụ tài chính

Ngoài chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và tạo tiền, NHTM còn cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác Các dịch vụ tài chính mà ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng như dịch vụ tư vấn tài chính,

tư vấn đầu tư, dịch vụ bảo hiểm, quản lý danh mục đầu tư, Hơn thế nữa, cùng với

sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, các NHTM không ngừng cung cấp thêm các dịch vụ mới như dịch vụ thẻ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ quản lý mua bán nợ, các dịch vụ ngân hàng hiện đại như MobileBanking, InternetBanking, E-Banking,

Các chức năng của NHTM có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Thứ nhất, chức năng thủ quỹ và chức năng trung gian tín dụng tạo cơ sở

Trang 29

23

cho việc thực chức năng trung gian thanh toán Ngược lại, khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng thủ quỹ lại góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng Thứ hai, chỉ khi chức năng thanh toán được thực hiện hoàn thiện thì vai trò của NHTM mới được nâng cao hơn với tư cách là người thủ quỹ xã hội Ngược lại, trên cơ sở chức năng thủ quỹ, NHTM mới thực hiện chức năng thanh toán Vì vậy, NHTM muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, muốn phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì phải biết sắp xếp tổ chức hợp lý để thực hiện đồng bộ các chức năng, không nên quá chú trọng đến chức năng này, mà xem nhẹ chức năng khác Việc kết hợp các chức năng trên giúp cho NHTM có khả năng tạo bút tệ Cũng cần nói thêm

là khả năng tạo bút tệ của NHTM là hệ quả của sự phối kết hợp các chức năng trên chứ nó không phải là một chức năng riêng có của NHTM [23, tr24]

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại

Với sự phát triển của lĩnh vực tài chính nói chung và của dịch vụ ngân hàng hiện nay, các hoạt động của NHTM ngày càng trở nên đa dạng và sâu rộng hơn Bởi vậy, việc đánh giá một cách toàn diện năng lực hoạt động của NHTM là rất khó khăn

và phức tạp Năng lực hoạt động của các NHTM không chỉ đơn thuần thể hiện ở những con số, những chỉ tiêu về nguồn lực và kết quả kinh doanh mà còn được biểu thị thông qua cách thức tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh, các chiến lược kinh doanh hiện tại và trong dài hạn, các tác động về mặt kinh tế, tài chính và xã hội cũng như tiềm năng, triển vọng phát triển trong tương lai Do đó việc nghiên cứu để đưa ra một hệ thống các chỉ tiêu cụ thể, có trọng tâm để đánh giá năng lực hoạt động của các NHTM là rất cần thiết Hệ thống chỉ tiêu để đánh giá năng lực hoạt động của các NHTM bao gồm các chỉ tiêu sau đây:

a Năng lực tài chính

Năng lực tài chính của NHTM không chỉ là nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của NHTM mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh Năng lực tài chính không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn thể hiện sức mạnh tài chính tiềm năng, triển vọng và xu hướng phát triển trong tương lai của NHTM đó

Các chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính là:

Trang 30

24

Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt động của một ngân hàng Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô mở rộng mạng lưới kinh doanh cũng như quy mô hoạt động của NHTM: Khả năng huy động vốn, khả năng mở rộng tíndụng, dịch vụ, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang bị công nghệ

Vốn chủ sở hữu tác động đến khả năng huy động vốn thông qua chỉ tiêu:

Hệ số đòn bảy = Tổng tài sản nợ bình quân/Vốn chủ sở hữu bình quân

Và vốn chủ sở hữu còn tác động đến khả năng mở rộng mạng lưới Theo thông

tư 21/2013/TT-NHNN ngày 9 tháng 9 năm 2013 về số lượng chi nhánh của một NHTM được thành lập phải đảm bảo:

Hệ thống sở giao dịch, chi nhánh của NHTM là kênh trực tiếp cung cấp các dịch vụ ngân hàng đến khách hàng NHTM có mạng lưới rộng sẽ giúp cho khách hàng tiếp cận được với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng được thuận tiện hơn, giúp ngân hàng mở rộng và chiếm lĩnh thị trường, tạo hình ảnh vị thế của ngân hàng Từ

đó tăng doanh thu, lợi nhuận và tăng năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh cho ngân hàng Theo quy định trên thì NHTM có vốn điều lệ càng cao và khả năng mở rộng vốn chủ sở hữu lớn thì số lượng mạng lưới mở càng nhiều và ngược lại

Ngoài ra, nếu ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn cao sẽ cho phép đầu tư vào những lĩnh vực tương đối rủi ro để thoả mãn nhu cầu sinh lời và an toàn

Khả năng mở rộng vốn chủ sở hữu lệ thuộc vào triển vọng tăng vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh của ngân hàng Quy mô vốn chủ sở hữu thường được tính toán theo quy ước quốc tế

Với những ý nghĩa quan trọng đó có thể nói một ngân hàng có mức vốn chủ sở

Trang 31

25

hữu lớn là yếu tố đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn, đồng thời thể hiện sức mạnh tài chính của bản thân ngân hàng

Nhóm chỉ tiêu về qui mô và chất lượng tài sản

Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Vì vậy để tăng trưởng tổng tài sản sẽ không chỉ phụ thuộc vào

sự tăng trưởng của tài sản có mà còn phụ thuộc vào sự tăng trưởng của tài sản nợ của ngân hàng

Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài chính, năng lực quản lý của một NHTM Đánh giá qui mô, chất lượng tài sản được thể hiện qua các chỉ tiêu: Tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản, tính đa dạng hoá trong tài sản, tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng của dư nợ, tỷ trọng dư nợ trên tổng tài sản có,

tỷ lệ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, tình hình đảm bảo tiền vay…

Bên cạnh hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư cũng góp phần tăng qui mô tổng tài sản của ngân hàng Hoạt động đầu tư được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như: qui mô, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ dự phòng giảm giá chứng khoán…

Trong điều kiện hội nhập quốc tế, các yếu tố về biến động chính trị, sự thay đổi của chính sách và luật pháp của nước ngoài, sự biến động của các đồng tiền quốc gia… sẽ ảnh hưởng đến tình hình sử dụng tài sản ở nước ngoài, mối tương quan giữa tài sản nước ngoài và tài sản ngoại tệ trong tổng tài sản của ngân hàng

Nguồn vốn: Khi quy mô huy động vốn càng tăng cũng làm tăng tổng tài sản

Quy mô, chất lượng nguồn vốn được thể hiện ở tổng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được với chí phí thấp, tính ổn định cao và có cơ cấu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu về cho vay, đầu tư Nâng cao chất lượng nguồn vốn có thể hiểu là các hoạt động liên quan đến việc cung cấp cho các nhu cầu về tín dụng, đầu tư, thanh khoản với các nguồn vốn phù hợp về kỳ hạn và lãi suất Điều này đòi hỏi ngân hàng phải cân nhắc các rủi ro, sự ổn định của nguồn vốn để có thể đầu tư vào các dự án có thời gian dài cũng như sự chênh lệch giữa chi phí vay vốn với mức lợi nhuận có thể thu được khi vốn được đầu tư vào tín dụng và giấy tờ có giá…Các chỉ tiêu để đánh giá qui mô, chất lượng nguồn vốn như: Tổng nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn, thị phần huy động vốn, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn trên tài sản ngắn hạn, lãi suất huy động bình quân…

Trang 32

26

Muốn tăng trưởng tổng tài sản bền vững đòi hỏi phải nghiên cứu mối tương quan giữa cơ cấu tài sản và nguồn vốn Qua mối tương quan này sẽ đánh giá được tính tối ưu trong cơ cấu tài sản - nguồn vốn, khả năng phản ứng của ngân hàng trước những hiện tượng bất thường của môi trường kinh doanh và đáp ứng yêu cầu rút tiền của công chúng Sự phối hợp hiệu quả sẽ giúp ngân hàng tối đa hoá thu nhập đồng thời kiểm soát chặt chẽ các rủi ro

Khả năng sinh lời cao và ổn định

Khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động, đánh giá hiệu quả kinh doanh

và mức độ phát triển của một NHTM Đứng trên góc độ từ NHTM, thì một NHTM

có khả năng sinh lời cao sẽ có khả năng tích luỹ cao, sẽ có điều kiện trang bị, đầu tư công nghệ, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ thu hút khách hàng; mặt khác đứng trên góc độ nhà đầu tư, người gửi tiền sẽ quyết định giao dịch khi nhìn thấy NHTM đó có thể an toàn do có thể bù đắp rủi ro, từ đó tạo điều kiện tăng trưởng tổng tài sản

Theo thông lệ quốc tế người ta thường đo lường khả năng sinh lời của NHTM bằng các chỉ tiêu định lượng: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hình thành từ nguồn nào) và đặc biệt là các chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE), lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA)

(1) ROA (Return on Assets): Lợi nhuận ròng/tổng tài sản

= Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản có x 100

Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) thể hiện khả năng của đơn vị trong việc sửdụng các tài sản của mình để tạo ra lợi nhuận ROA càng cao thể hiện khả năng quản lý của Ban quản trị ngân hàng trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành lợi nhuận ròng Thể hiện hiệu quả kinh doanh cao của ngân hàng với cơ cấu tài sản sinh lời và không sinh lời khá hợp lý Tuy nhiên, ROA quá cao không phải là tín hiệu tốt đối với các ngân hàng vì trong tình huống đó, ngân hàng đang rơi vào tình trạng rủi ro cao do lợi nhuận kỳ vọngvà rủi ro có mối quan hệ thuận chiều [20, tr 34]

(2) ROE (Return on Equity): Tỷ lệ thu nhập/Vốn chủ sở hữu

Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu thể hiện 1 đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường

là 1 năm) [20, tr36]

Trang 33

27

ROE (%) = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu x 100

Nói cách khác, ROE đánh giá lợi ích mà cổ đông (chủ sở hữu ngân hàng) có được từ nguồn vốn bỏ ra Tỷ lệ này càng cao thể hiện việc sử dụng vốn của ngân hàng trong đầu tư, cho vay càng hiệu quả Các nhà quản trị ngân hàng luôn muốn tăng ROE để thoả mãn yêu cầu của cổ đông thông qua nhiều biện pháp như kiểm soát rủi ro có hiệu quả, hạn chế khoản vay xấu…

Các chỉ tiêu ROA, ROE thường được các nhà quản trị, các nhà đầu tư quan tâm, sử dụng khi đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chúng thể hiện khả năng, thời hạn thu hồi vốn đầu tư của chủ sở hữu Hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của ngân hàng cao là cơ sở để ngân hàng tăng quy mô vốn cũng như năng lực tài chính của mình

Sử dụng các chỉ tiêu trên đây để so sánh giữa các thời kỳ, so sánh giữa các NHTM, so sánh với mức bình quân hoặc so sánh với mức dự kiến sẽ cho thấy khả năng sinh lời cao hay thấp, năng lực tài chính ở mức độ nào Khả năng sinh lời phụ thuộc rất nhiều vào mức độ nợ xấu của NHTM, mức độ nợ xấu càng thấp thì khả năng sinh lời càng cao và ngược lại

b Mức độ đa dạng về sản phẩm dịch vụ cung cấp và chất lượng sản phẩm dịch vụ

Bên cạnh những hoạt động truyền thống thì cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, các ngân hàng cũng không ngừng phát triển các sản phẩm dịch vụ mới phục vụ cho nhu cầu ngày một đa dạng hơn của khác hàng, đồng thời phân tán rủi ro trong kinh doanh Ở các nước phát triển, các sản phẩm dịch vụ mới ngày càng đa dạng hơn và tỉ trọng thu nhập đem lại từ các sản phẩm dịch vụ mới đó tính trên tổng thu nhập ngày một lớn hơn cho các NHTM Như vậy, sự đa dạng về danh mục sản phẩm dịch vụ cung cấp vừa tạo ra sự phát triển về cả chiều rộng và chiều sâu, vừa giúp cho các NHTM phát huy lợi thế nhờ quy mô Tuy nhiên, mức độ đa dạng sản phẩm dịch vụ chỉ có hiệu quả và hợp lý trong tương quan với quy mô và chất lượng các nguồn lực hiện có và nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường mà ngân hàng

đó hoạt động kinh doanh, nếu không việc cung cấp quá nhiều sản phẩm dịch vụ so với mức cần thiết sẽ khiến cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng kém hiệu quả do dàn trải không hợp lý các nguồn lực và gia tăng độ rủi ro

Trang 34

28

Bên cạnh sự đa dạng các sản phẩm dịch vụ cung cấp, xét về mặt Marketing chất lượng các sản phẩm dịch vụ là yếu tố quyết định sự thành công trong hoạt động kinh doanh của mọi DN nói chung và của các NHTM nói riêng Chất lượng sản phẩm dịch vụ của một NHTM thể hiện ở phương thức cung cấp sản phẩm dịch vụ, mức độ đơn giản hoá và tiện lợi trong giao dịch, tốc độ thực hiện giao dịch, thái độ phục vụ và chăm sóc khách hàng của đội ngũ nhân viên để duy trì sự trung thành của khách hàng

c Cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý và hệ thống chi nhánh phân phối sản phẩm dịch vụ

Mỗi ngân hàng có phạm vi hoạt động kinh doanh rất sâu và rộng, bởi vậy đòi hỏi một hệ thống tổ chức nhiều cấp gồm nhiều phòng ban chức năng, bộ phận chuyên môn đa dạng nhưng không cồng kềnh và rườm rà Cơ cấu tổ chức hợp lý, khoa học

và chặt chẽ sẽ giúp ngân hàng phối hợp và phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống mà không lãng phí các nguồn lực Hiệu quả của cơ cấu tổchức không chỉ thể hiện ở số lượng phòng ban chức năng, bộ phận chuyên môn, đơn vị trực thuộc

có phù hợp với quy mô và phạm vi hoạt động kinh doanh hay không, mà còn phụ thuộc vào sự phân công, phân cấp giữa các phòng ban bộ phận và mức độ phối hợp giữa chúng có hiệu quả hay không trong việc triển khai các chiến lược kinh doanh, các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày để đạt được mục tiêu chung

Ngoài cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý điều hành của hội đồng quản trị và ban giám đốc của một ngân hàng cũng ảnh hưởng vô cùng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh Mỗi một chính sách, quyết định chiến lược của đội ngũ quản lý điều hành đều có thể quyết định sự thành công hay thất bại của cả một hệ thống, làm cho ngân hàng đó mạnh lên hay yếu đi Ngành ngân hàng là ngành đòi hỏi đội ngũ cán

bộ quản lý có trình độ quản lý cao, phạm vi hiểu biết sâu rộng, phong cách điều hành phải mềm dẻo và linh hoạt nhưng không kém phần cứng rắn và quyết đoán

Hệ thống chi nhánh phân phối sản phẩm dịch vụ là một yếu tố vô cùng quan trọng, đặc biệt với các NHTM thường có quy mô và phạm vi địa lý hoạt động rất rộng Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay, việc hình thành và phát triển một mạng lưới phân phối sản phẩm dịch vụ rộng rãi và được phân

bố hợp lý vừa góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh, vừa là một vũ khí vô cùng quan trọng của các NHTM trong nước để chống lại sự xâm nhập và mở rộng thị

Trang 35

29

trường của các NHTM nước ngoài vốn có ưu thế vượt trội gần như toàn diện Hiệu quả của mạng lưới chi nhánh phân phối sản phẩm dịch vụ của một NHTM thể hiện cụ thể qua số lượng chi nhánh, sở giao dịch theo phạm vi địa lý cũng như tính hợp lý trong phân bố mạng lưới ở các vùng, miền và vấn đề quản lý, giám sát hoạt động

d Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của mọi DN nói chung và các ngân hàng nói riêng Ngành ngân hàng là một ngành đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao cả về trình độ kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và kinh nghiệm Nguồn nhân lực của một ngân hàng là nguồn lực cơ bản, có khả năng kết nối với các nguồn lực khác để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cải tiến Thực trạng về chất lượng, số lượng nguồn nhân lực của một NHTM phản ánh rõ nét thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó có tính bền vững lâu dài hay không, thể hiện ở một số yếu tố như: hiệu quả chính sách tuyển dụng, đào tạo người lao động và cơ chế thù lao đối với người lao động, trình độ kiến thức và trình độ thành thạo nghiệp vụ, tác phong và tinh thần làm việc, mức độ cam kết gắn bó với DN của người lao động

e Trình độ công nghệ ngân hàng

Đối với hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng, công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn và trở thành nguồn lực to lớn thúc đẩy hoạt động của mỗi NHTM Hiện nay, công nghệ ngân hàng luôn luôn là lĩnh vực công nghệ cao nhất và phát triển nhanh nhất trong số các ngành kinh tế Do đó, trình độ công nghệ của mỗi NHTM trong quá trình phát triển là một nhân tố quan trọng phản ánh hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó về chiều sâu Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm các công nghệ mang tính chất tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán buôn, hệ thống ngân hàng bán lẻ, các loại thẻ, các loại máy rút tiền tự động ATM, mà còn bao gồm các công nghệ quản lý giám sát (như hệ thống thông tin quản

lý, hệ thống báo cáo rủi ro) và các phần mềm ứng dụng tiện ích (TelephoneBanking, MobileBanking, InternetBanking, E-Banking, ) Đánh giá năng lực phát triển công nghệ của các NHTM cũng không chỉ giới hạn ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn phải xem xét mức độ đầu tư cho phát triển công nghệ và tiềm năng phát triển công nghệ trong tương lai của ngân hàng đó cả về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế

Trang 36

30

f Thị phần trong nước đối với các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính

Để đánh giá năng lực hoạt động của các NHTM, ngoài việc được đánh giá qua năng lực của các nguồn lực, các yếu tố nội tại của các ngân hàng đó như năng lực tài chính, mức độ đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ cung cấp và chất lượng sản phẩm dịch

vụ, nguồn nhân lực, công nghệ, cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý còn thể hiện qua những chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh và thị phần trên các phân đoạn thị trường mà ngân hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ, việc đánh giá khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị phần của các NHTM, phản ánh năng lực hoạt động của các NHTM

g Kết quả hoạt động kinh doanh

Thước đo cuối cùng và chính xác nói lên năng lực hoạt động của các NHTM

là kết quả hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định của NHTM Kết quả hoạt động kinh doanh được thể hiện qua một số chỉ tiêu cụ thể như lợi nhuận trước thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu lợi nhuận (tổng lợi nhuận hoạt động kinh doanh được hình thành từ hoạt động nào và tỷ trọng là bao nhiêu) và các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời như tỷ suất lợi nhuận (sau thuế)/Tổng tài sản có ROA (Return

on Asset) và tỷ suất lợi nhuận (sau thuế)/Vốn chủ sở hữu ROE (Return on Equity)

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại

Cùng với những cơ hội từ việc toàn cầu hóa và mở cửa thị trường ngân hàng, tài chính, việc gia tăng áp lực cạnh tranh từ các tổ chức tín dụng trong nước, nước ngoài và nhu cầu ngày càng phát triển của khách hàng đã đặt các NHTM trong tình trạng không ngừng nghiên cứu để mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính màhọ cung cấp cho khách hàng Các NHTM đã phải phát huy tối đa những lợi thế của mình, liên tục nâng cấp công nghệ để có thể đưa ra những sản phẩm dịch vụ tốt nhất đáp ứng nhu cầu của khách hàng mới có thể tồn tại và phát triển

Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở nên quyết liệt không chỉ giữa các NHTM trong nước với nhau, mà còn giữa NHTM trong nước với NHTM nước ngoài và các tổ chức được cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng Sự cạnh tranh này được thể hiện rất rõ qua việc cạnh tranh về danh mục

Trang 37

31

sản phẩm dịch vụ cung cấp, cụ thể là các sản phẩm: tín dụng, tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai

Sự nới lỏng các quy định kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi, nguồn vốn cơ bản của ngân hàng buộc các NHTM phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định Đồng thời, việc chính phủ nhiều quốc gia yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn chủ sở hữu nhiều hơn một nguồn vốn đắt đỏ để tài trợ cho các tài sản của mình buộc NHTM phải tìm cách cắt giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân viên, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại đã tạo ra một khoản chi phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi)

Các qui định của Chính phủ đối với lĩnh vực ngân hàng tạo cho khách hàng khả năng nhận được mức thu nhập cao hơn từ việc chuyển những khoản tiền gửi trong các tài khoản tiết kiệm với lãi suất thấp và các tài khoản giao dịch không sinh lợi sang các tài khoản có mức lãi suất cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường Vì vậy, ngân hàng phải đối mặt với những khách hàng nhạy cảm với lãi suất hơn

Đối mặt với sự canh tranh ngày càng gay gắt hơn, những năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng Những sản phẩm điển hình của cách mạng trong công nghệ ngân hàng có thể

kể đến là: máy rút tiền tự động, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của

họ 24/24 giờ; máy thanh toán tiền được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới

Trang 38

tế, tìm kiếm và mở rộng quan hệ với các đối tác tiềm năng để tăng cường huy động

hỗ trợ cả về tài chính và kỹ thuật cho Việt nam

Hội nhập kinh tế đã giúp các MHTM nâng cao năng lực tài chính khi tiếp cận được với nguồn vốn nước ngoài Một ví dụ điển hình, nằm 2007 lần đầu tiên Vietcombank đã phát hành cổ phiếu ra công chúng và đạt kết quả thành công hơn mức kỳ vọng; đặc biệt năm 2011, Vietcombank đã ký hợp đồng cổ đông chiến lược với Mizuho Corporate Bank thuộc tập đoàn Tài chính lớn thứ ba tại Nhật Bản

Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cơ hội cho các NHTM được tiếp cận với chuyên gia, nhà quản lý cấp cao trong lĩnh vực ngân hàng, sẽ giúp trao đổi

kỹ năng, trình độ quản lý tốt cho các nhà quản lý ngân hàng Việt Nam Có rất nhiều NHTM đã thuê các chuyên gia nước ngoài cung cấp các gói thầu tư vấn để từ đó tự nâng cao trình độ quản lý, cơ cấu tổ chức cho phù hợp và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao

Mặt khác, hội nhập đã tạo cho các NHTM có cơ hội tiếp cận với trình độ công nghệ cao, hiện đại trong việc cung ứng các sản phẩn dịch vụ, đặc biệt là hệ thống phần mềm công nghệ quản trị ngân hàng Từ đó, các Ngân hàng không chỉ nâng cao sản phẩm dịch vụ về lượng mà cả chất; rủi ro trong sử dụng các dịch vụ ngân hàng cũng giảm nhờ các phần mềm công nghệ quản trị rủi ro

Như vậy, hội nhập kinh tế sẽ tạo đà cho các NHTM tự nâng cao năng lực hoạt động của mình về mọi mặt Từ đó các NHTM không những phát triển mạnh trong nước, cạnh tranh được với các NHTM ở các nước phát triển vào Việt Nam kinh doanh, mà còn mở rộng hoạt động kinh doanh ra các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 39

33

Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG 2.1 Các hoạt động nghiệp vụ của Vietcombank Hải Dương

2.1.1 Tổng quan về Vietcombank Hải Dương

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trước đây, nay là Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/4/1963 với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, Vietcombank chính thức hoạt động với tư cách là một NHTM cổ phần vào ngày 02/6/2008 Ngày 30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM

Trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Vietcombank từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày nay đã trở thành một ngân hàng đa năng, hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp cho khách hàng đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế; trong các hoạt động truyền thống cũng như lĩnh vực dịch vụ ngân hàng hiện đại

Vietcombank Hải Dương được thành lập theo Quyết định số TCCB-ĐT ngày 4/9/2002 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

405/QĐ-NHNT-và đi 405/QĐ-NHNT-vào hoạt động từ ngày 17/3/2003 Sau 13 năm thành lập, chi nhánh VCB Hải Dương đã phát triển mạnh về cơ cấu tổ chức, nhân sự, doanh số hoạt động, cơ sở vật chất Đến nay cơ cấu tổ chức của Chi nhánh gồm có: 10 phòng tại trung tâm, 15 phòng giao dịch tại các huyện, thị xã và thành phố trên địa bàn tỉnh Hải Dương, 58 máy ATM, hơn 200 máy tính, 8 máy chủ, tổng giá trị tài sản cố định là 180 tỷ đồng [24]

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của Vietcombank Hải Dương đối với Vietcombank Việt Nam ngày càng quan trọng hơn Vietcombnak Hải Dương là đơn vị trực thuộc Vietcombank Việt Nam, chịu mọi sự quản lý theo dõi, điều hành và

áp dụng chiến lược của Vietcombank Việt Nam Vietcombank Hải Dương phải tiếp tục giữ vững nhiệt huyết, tận tâm cống hiến, phát huy mọi lợi thế, bám sát định hướng chỉ đạo của Ban lãnh đạo Vietcombank Việt Nam, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều

Ngày đăng: 11/05/2017, 11:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Ngoại giao (2002), Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa: "Vấn đề và giải pháp
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
2. Đặng Văn Dân (1012), “Hội nhập quốc tế của ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2020”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế của ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2020”
3. Phan Thái Hà (2010), “Ngân hàng thương mại Việt Nam hội nhập quốc tế, cơ hội và thách thức”Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán số 38, tháng 12.2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại Việt Nam hội nhập quốc tế, cơ hội và thách thức”
Tác giả: Phan Thái Hà
Năm: 2010
4. Phan Thị Thu Hà (2012), Ngân hàng Thương mại, Nxb Đại học Kinhtế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Thương mại
Tác giả: Phan Thị Thu Hà
Nhà XB: Nxb Đại học Kinhtế Quốc dân
Năm: 2012
5. Lê Thị Tuyết Hoa (2009), Tiền tệ - Ngân hàng, ĐH Ngân hàng TP.HCM, Nxb thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ - Ngân hàng
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 2009
6. Nguyễn Quỳnh Hoa (2014), “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Quỳnh Hoa
Năm: 2014
7. Trần Viết Hoàng, Cung Trần Việt (2009), Các nguyên lý tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính, Nxb thông kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên lý tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính
Tác giả: Trần Viết Hoàng, Cung Trần Việt
Nhà XB: Nxb thông kê
Năm: 2009
8. Nguyễn Việt Hùng (2008), “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam”,Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Năm: 2008
9. Nguyễn Minh Kiều (2011), Nghiệp vụ ngân hàng, ĐH Kinh tế TP.HCM, Nxb thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 2011
10. Phạm Thị Bích Lương (2007), “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Nhà nước Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Nhà nước Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Phạm Thị Bích Lương
Năm: 2007
11. Lê Thị Mận, Trần Thị Kỳ (2010), Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ, Nxb thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ
Tác giả: Lê Thị Mận, Trần Thị Kỳ
Nhà XB: Nxb thống kê
Năm: 2010
12. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Thông tư số 36/2014/TT-NHNN, ngày 20/11/2014, Quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt độngcủa tổ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 36/2014/TT-NHNN
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2014
13. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010), “Mô hình phát triển và cấu trúc cơ bản của hệ thống ngân hàng Việt Nam”, Tài liệu hội thảo, 9/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình phát triển và cấu trúc cơ bản của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2010
14. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), Thông tư số 02/2011/TT-NHNN, ngày 03/3/2011, Quy định mức lãi suất huy động tối đa bằng VND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 02/2011/TT-NHNN
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2011
15. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013), Thông tư số 21/2013/TT-NHNN, ngày 09/9/2013, Quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 21/2013/TT-NHNN
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2013
17. Nguyễn Thị Quy (2005), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong xu thế hội nhập, Nxb Chính trị QG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong xu thế hội nhập
Tác giả: Nguyễn Thị Quy
Nhà XB: Nxb Chính trị QG
Năm: 2005
18. Quốc hội (2010), Luật các Tổ chức tín dụng, số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật các Tổ chức tín dụng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2010
19. Quốc hội (2010), Luật Ngân hàng Nhà nước, số 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng Nhà nước
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2010
22. Phạm Quốc Trụ (2011), “Hội nhập quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, truy cập ngày 15/12/2015 từ http://nghiencuubiendong.vn/toan-cau-hoa-hoi-nhap-kinh-te/2014-hoi-nhap-quoc-te-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Quốc Trụ
Năm: 2011
27. Asli Demirguc & Harr Huizinga (1998), Determinants of commercial bank interest margins and profitability: some international evidence, The World Bank Economic Review Vol. 13, No. 2 (May, 1999), pp. 379-408:http://www.jstor.org/stable/3990103 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1  Cơ cấu tổ chức của Vietcombank Hải Dương  34 - Nâng cao năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thươngviệt nam chi nhánh hải dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Vietcombank Hải Dương 34 (Trang 6)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Vietcombank Hải - Nâng cao năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thươngviệt nam chi nhánh hải dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Vietcombank Hải (Trang 40)
Bảng 2.3: Cơ cấu tiền gửi theo đối tượng khách hàng của VCB Hải Dương, - Nâng cao năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thươngviệt nam chi nhánh hải dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.3 Cơ cấu tiền gửi theo đối tượng khách hàng của VCB Hải Dương, (Trang 44)
Bảng 2.5: Dư nợ tín dụng theo kỳ hạn của VCB Hải Dương, 2011- 2015 - Nâng cao năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thươngviệt nam chi nhánh hải dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.5 Dư nợ tín dụng theo kỳ hạn của VCB Hải Dương, 2011- 2015 (Trang 46)
Bảng 2.6: Dư nợ tín dụng theo khách hàng của VCB Hải Dương, 2011- 2015 - Nâng cao năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thươngviệt nam chi nhánh hải dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.6 Dư nợ tín dụng theo khách hàng của VCB Hải Dương, 2011- 2015 (Trang 47)
Bảng 2.7: Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của VCB Hải Dương, 2011- 2015 - Nâng cao năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thươngviệt nam chi nhánh hải dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.7 Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của VCB Hải Dương, 2011- 2015 (Trang 49)
Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu đánh giá qui mô, chất lƣợng tài sản của - Nâng cao năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thươngviệt nam chi nhánh hải dương trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2.9 Một số chỉ tiêu đánh giá qui mô, chất lƣợng tài sản của (Trang 51)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w