Có được vị trí đó, không những là do cuộc đời, đức độ và ý thức vì dân, vì nước của ông đạt tới tầm cao của thời đại, mà ông còn khái quát lên những vấn đề có tính quy luật trong công cu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THỊ NHUNG
TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI CỦA NGUYỄN TRÃI
VÀ Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TÀI ĐÔNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
BÙI THỊ NHUNG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: BỐI CẢNH XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CON NGƯỜI CỦA NGUYỄN TRÃI 7
1.1 Bối cảnh xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV 7
1.2 Tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng con người của Nguyễn Trãi 11 1.3 Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi 17
Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI VỀ CON NGƯỜI 27
2.1 Tư tưởng nhân bản của Nguyễn Trãi 27
2.2 Tư tưởng dân bản của Nguyễn Trãi 36
2.3 Tư tưởng về đạo làm người của Nguyễn Trãi 39
Chương 3: Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI VỀ CON NGƯỜI 46
3.1 Ý nghĩa của tư tưởng nhân bản 46
3.2 Ý nghĩa của tư tưởng dân bản 55
3.3 Ý nghĩa của tư tưởng về đạo làm người 58
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng đất nước, dân tộc Việt Nam đã liên tiếp đẩy lùi các cuộc xâm lăng của giặc ngoại xâm để bảo vệ chủ quyền quốc gia Chính thời khắc đó đồng thời đã sản sinh biết bao anh hùng hào kiệt, viết nên trang sử hào hùng của dân tộc Trong số những anh hùng đó, Nguyễn Trãi đã nổi bật lên như một ngôi sao sáng mà sự nghiệp và tư tưởng mãi mãi ghi sâu vào tâm khảm của mỗi một người dân Việt Nam Tên tuổi của ông sáng chói trên cuốn sử vàng dân tộc, là kết tinh cao đẹp nhất giữa thực tiễn lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XV với giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và tinh hoa tư tưởng phương Đông Có được vị trí đó, không những là do cuộc đời, đức độ và ý thức vì dân, vì nước của ông đạt tới tầm cao của thời đại, mà ông còn khái quát lên những vấn đề có tính quy luật trong công cuộc cứu nước và dựng nước, chỉ ra được tầm quan trọng của nhận thức lý luận trong hoạt động thực tiễn, từ đó nâng tư duy của dân tộc lên một trình độ mới Có thể nói rằng, Nguyễn Trãi là một thiên tài trên nhiều lĩnh vực Ông là một nhà chính trị lỗi lạc, một nhà ngoại giao xuất sắc, một nhà văn hóa, nhà tư tưởng uyên thâm của mọi thời đại
Những lý luận của ông không chỉ có ý nghĩa đối với đương thời, mà còn có những giá trị sâu xa về sau Đúng như C.Mác đã viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại của mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” Truyền thống tư tưởng của người Việt Nam luôn coi trọng con người và đề cao vai trò của nhân tố con người trong tiến trình phát triển đời sống xã hội Ẩn chứa đằng sau các lĩnh vực và các giá trị văn hóa, tư tưởng ấy là tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi Ông là nhà tư tưởng mở đầu triều đại Lê Sơ lấy Nho giáo làm học thuyết chính trị chính thống; là người
Trang 5học Nho, đỗ đạt cao, nhưng sự quan tâm của ông không phải là những điều có tính chất kinh viện, những khảo cứu rắc rối, những sao lục ý kiến của tiền nhân Nho gia để tán thưởng và noi theo như nhiều nhà nho trong lịch sử đã mắc phải, mà là những vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra Chính vì thế mà những tư tưởng của ông không chỉ có ý nghĩa sâu sắc đối với thời đại Lê Sơ,
nó còn có ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay Đặc biệt là tư tưởng nêu cao tinh thần tự hào, tự tôn và ý chí độc lập dân tộc, là lòng yêu nước thương dân, thân dân, trọng dân của ông Có thể nói, trước những biến đổi của đời sống xã hội, đó là sự bất cập trong những vấn đề về văn hóa - tư tưởng, đạo đức - lối sống của con người trong thời đại ngày nay, cho thấy cần phải xây dựng hệ thống lý thuyết về những khuôn mẫu con người hiện nay Con người ấy phải được kế thừa những tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc và nền văn minh của thời đại để góp phần bổ sung
và làm giàu thêm cho việc xây dựng và phát triển nền giáo dục và văn hóa của Việt Nam hiện nay
Đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Trãi Trong đó nổi lên các nội dung: quốc gia và quốc gia độc lập, đường lối trị nước, tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi, nhưng tư tưởng của ông về con người vẫn chưa
được đề cập nhiều, cho nên tôi lựa chọn vấn đề“Tư tưởng về con người của
Nguyễn Trãi và ý nghĩa hiện thời của nó” làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết
học
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Nguyễn Trãi là một nhân vật mang vóc dáng lớn lao không những trong thơ ca, khoa học và cả trong lịch sử tư tưởng của đất nước Việt Nam Trải qua đã 570 năm ngày mất của người con ưu tú đất Việt mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa hiểu hết về con người tài năng xuất chúng này Những
Trang 6nghiên cứu về ông trên nhiều bình diện khác nhau vẫn đang diễn ra khắp nơi trong và ngoài nước Trong đó có số lượng không nhỏ những công trình nghiên cứu Nguyễn Trãi với tư cách là một nhà tư tưởng lịch sử Việt Nam Thế nhưng, ở một khía cạnh khá quan trọng ở tác gia Nguyễn Trãi cho đến nay vẫn chưa có sự nghiên cứu thỏa đáng, đó chính là tư tưởng về con người của Nguyễn Trãi
Trong cuốn sách Nguyễn Trãi - về tác gia và tác phẩm, nhà xuất bản
Giáo dục năm 1998, tác giả Nguyễn Hữu Sơn đã tập trung hầu hết những bài viết về Nguyễn Trãi, những bài viết này được trích lọc từ nhiều nguồn khác nhau đã góp phần mang đến một cái nhìn toàn diện về tác gia Nguyễn Trãi Các bài viết trong quyển sách đã phân tích, đánh giá, bình phẩm và đưa ra nhận định về Nguyễn Trãi với nhiều góc cạnh, nhiều phương diện khác nhau về ông
Trong các công trình nghiên cứu về Lịch sử tư tưởng Việt Nam nói
chung, Nguyễn Trãi nói riêng phải kể đến cuốn: “Lịch sử tư tưởng Việt Nam”,
tập I, do Nguyễn Tài Thư chủ biên, viết từ thời kỳ Nguyên thủy đến thế kỷ XVIII đã phân tích một cách khá toàn diện nội dung tư tưởng về thế giới quan, tư tưởng chính trị - xã hội, triết học, đạo đức,… của các đại biểu như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Lê Qúy Đôn, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm Trong cuốn này, tác giả đã dành một chương để khảo cứu về Nguyễn Trãi và khẳng định những tư tưởng của Nguyễn Trãi không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn vượt qua giới hạn không gian, thời gian để tỏ rõ sức mạnh định hướng, chỉ đạo của lý luận đối với thực tiễn
Trong cuốn “Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Nguyễn Trãi”, do
Doãn Chính và Bùi Trọng Bắc chủ biên đã khái quát tiền đề hình thành tư tưởng triết học, nội dung, đặc điểm và giá trị lịch sử trong tư tưởng triết học Nguyễn Trãi Đồng thời khẳng định tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi không
Trang 7chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và thiết thực với yêu cầu lịch sử xã hội Việt Nam thời Lê Sơ và thực tiễn xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước hiện nay
Đây là những thành quả to lớn trong việc nghiên cứu lịch sử phát triển tư duy lý luận của dân tộc ta Ngoài ra, các tác giả khác thì nhìn nhận Nguyễn
Trãi ở các phương diện khác như: “Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân
tộc” của Phạm Văn Đồng; Võ Nguyên Giáp đặt mối tương quan “Nguyễn Trãi
và nền văn hiến Đại Việt”; Vũ Khiêu nhận định Nguyễn Trãi “Người trí thức
từ tinh hoa của dân tộc”;v.v… Tất cả những bài viết đó vẫn chưa có bài viết
nào bàn trực tiếp về con người trong tư tưởng của Nguyễn Trãi
Ngoài những công trình nghiên cứu kể trên, qua sự khảo sát của người viết thì hầu hết những sách, báo viết về Nguyễn Trãi đều chưa hoàn toàn chú trọng đến vấn đề con người trong tư tưởng của Nguyễn Trãi mà phần đông đi vào tìm hiểu tư tưởng thân dân, nhân nghĩa, đường lối trị nước… của ông mà
thôi Tóm lược lại lịch sử vấn đề của đề tài “Tư tưởng về con người của
Nguyễn Trãi và ý nghĩa hiện thời của nó”, tuy đây không phải là đề tài
mới hoàn toàn nhưng những bài nghiên cứu có liên quan đến đề tài chưa nhiều Tuy vậy, những bài viết, những công trình nghiên cứu có liên quan ít nhiều đến Nguyễn Trãi, đều bổ trợ rất lớn trong quá trình thực hiện đề tài này của người viết và người viết dựa vào đó làm nền tảng cho việc đưa ra những nhận định, những cách lí giải nhằm làm sáng tỏ chủ đề về con người trong tư tưởng của Nguyễn Trãi
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có mục đích làm sáng tỏ tư tưởng về con người của Nguyễn Trãi và ý nghĩa hiện thời của nó
Để thực hiện mục đích trên thì luận văn cần giải quyết một số nhiệm vụ sau:
Trang 8- Phân tích làm rõ bối cảnh xã hội của Đại Việt thế kỷ XV và những tiền
đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng của Nguyễn Trãi về con người
- Làm rõ, phân tích, trình bày một cách hệ thống các nội dung cơ bản trong tư tưởng Nguyễn Trãi về con người
- Làm rõ những giá trị và ý nghĩa trong tư tưởng về con người của Nguyễn Trãi đối với sự nghiệp xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Tư tưởng con người của Nguyễn Trãi
- Ý nghĩa hiện thời của tư tưởng con người của Nguyễn Trãi
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Người viết chủ động lựa chọn phương pháp tổng hợp theo vấn đề Người viết dựa trên tư liệu tổng hợp đó phân tích làm nổi bật từng đặc điểm
tư tưởng con người của Nguyễn Trãi
Phương pháp lịch sử, để thấy được vai trò của xã hội tác động như thế nào đến sự hình thành tư tưởng về con người của Nguyễn Trãi
Song song với hai phương pháp trên, người viết còn sử dụng phương pháp phân tích, logic Người viết vận dụng phương pháp này để phân tích các đặc điểm, các nhân tố cấu thành nên con người đại chúng và con người cá nhân Nguyễn Trãi trên cơ sở đó tổng hợp để đưa ra những nhận định xác đáng
về tư tưởng con người Nguyễn Trãi
Ngoài ra, người viết còn biết vận dụng các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, ,… để nhằm hỗ trợ khi phân tích, tổng hợp vấn đề Kết hợp với các phương pháp trên là việc vận dụng các thao tác bình luận, phân tích,…để người viết rút ra những nhận xét chung nhất nhằm làm sáng rõ vấn
đề “Tư tưởng về con người của Nguyễn Trãi và ý nghĩa hiện thời của nó”
Trang 96 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong tưởng của Nguyễn Trãi về con người và ý nghĩa hiện thời của nó Đây là những vấn đề
có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ đối với giai đoạn lịch sử trước đó mà
cả đối với hiện tại đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
được kết cấu gồm 3chương:
Chương 1: Bối cảnh xã hội và những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư
tưởng con người của Nguyễn Trãi
1.1 Bối cảnh xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV
1.2 Tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng con người của Nguyễn Trãi
1.3 Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi
Chương 2: Một số nội dung cơ bản của tư tưởng Nguyễn Trãi về con
người
2.1 Tư tưởng nhân bản của Nguyễn Trãi
2.2 Tư tưởng dân bản của Nguyễn Trãi
2.3 Tư tưởng về đạo làm người của Nguyễn Trãi
Chương 3: Ý nghĩa hiện thời của tư tưởng Nguyễn Trãi về con người
3.1 Ý nghĩa của tư tưởng nhân bản
3.2 Ý nghĩa của tư tưởng dân bản
3.3 Ý nghĩa của tư tưởng về đạo làm người
Trang 10Chương 1 BỐI CẢNH XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CON NGƯỜI CỦA NGUYỄN TRÃI
1.1 Bối cảnh xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV
Xã hội Đại Việt giai đoạn cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV với nhiều biến động xoay chuyển Đó là sự tồn tại và phát triển thịnh vượng của chế độ điền trang thái ấp nhà Trần sau một thời gian dài đã lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng Điều này là bởi vì, hình thức quản lý xã hội này đã tạo đà cho công hầu, quý tộc có nhiều đặc quyền đặc lợi trong quản lý nhà nước và có địa vị về cả kinh tế
Sự phát triển và lấn áp quyền lực của quý tộc, công hầu khiến cho nhà nước nhiều lần phải can thiệp bằng pháp lệnh về việc tranh cướp, tranh kiện ruộng đất Trong Đại Việt sử ký toàn thư có chép lại rằng: “Quý Hợi, năm thứ
10 (1323), xuống chiếu rằng phàm việc tranh ruộng mà ruộng có lúa thì hãy chia ra làm hai phần, đền lại cho người cấy một phần, còn một phần lưu lại” [75, tr 125] Thêm vào đó, sự tồn tại của chế độ này trong một khoảng thời gian dài đã biến phần ruộng đất công làng xã thành ruộng đất ban cấp cho quý tộc làm thái ấp cho quan lại làm lương bổng và ruộng thưởng công, “đây chính là nhân tố hạn chế nguồn tài chính nhà nước” [9, tr 247]
Đến nửa sau thế kỷ XIV xã hội Đại Việt đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng Các điền trang ngày một phát triển nhưng sản xuất thì ngày một trì trệ, đời sống nông nô, nô tì trong các thái ấp bị bần cùng hóa, thêm vào đó mất mùa đói kém liên tiếp xảy ra nông dân nổi dậy bạo động, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ ở Yên Phụ (Hải Dương) Không những vậy chế độ điền trang thái ấp đã trở thành một vật chướng ngại cho sự phát triển của tài năng của các bậc sĩ phu, nho sĩ khiến “tuyệt đại đa số các tầng lớp xã hội (nô
Trang 11tì, nông dân tự do, địa chủ, nho sĩ) muốn có cải cách nhằm làm cho xã hội tiến lên” [39, tr 14]
Trong triều thì vua quan ăn chơi sa đọa, những công thần Trần Nguyên Đán hay như Chu Văn An từng dâng sớ Thất trảm không thành đành lui về ở
ẩn, đã gây ra một cuộc khủng hoảng chốn cung đình Bên ngoài thì ngoại xâm gây rối phía Nam là quân Chămpa, phía Bắc là kế hoạch bành trướng của giặc Minh Bộ máy chính trị nhà nước trước đây, ở những vị trí quan trọng thiết yếu chỉ dành cho người tôn thất thì đến cuối thế kỷ XIV ngày càng có sự tham gia của nho sĩ xuất thân khoa cử Nho giáo Trong xã hội nảy sinh mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc tôn thất và tầng lớp quan liêu “Về mặt nào đó, sự mất dẫn vai trò chính trị của tầng lớp quý tộc tôn thất đã làm cho vai trò nổi trội trước đây vì thế mà rơi dần vào thế xuống dốc” [9, tr 262]
Có thể thấy rằng, xã hội Đại Việt cuối thế lỷ XIV đầu thế kỷ XV đang lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc: chính quyền suy yếu, bọn nịnh thần chuyên quyền, dòng họ thống trị phân tán, sa đọa, kinh tế nông nghiệp sa sút đã dẫn đến chỗ nông dân nghèo, gia nô, nô tì nổi dậy chống đối hoặc là chạy chốn khỏi các thái ấp điền trang Trong khi đó thì những cuộc tấn công đánh phá của Chămpa lại liên tục diễn ra, dù cuối cùng bị đẩy lùi hẳn, đã làm cho cuộc sống của nhân dân thêm khổ cực, triều chính rối ren, tài chính kiệt quệ Đã thế, Đại Việt lại đứng trước nguy cơ một cuộc ngoại xâm ngày càng đến gần Bên trong khủng hoảng, giặc ngoài đe dọa “Cuộc khủng hoảng này bộc lộ rõ ràng yêu cầu thủ tiêu kinh tế điền trang thái ấp và quan hệ nông nô, nô tì để mở đường cho chế độ phong kiến
tiến lên một giai đoạn mới cao hơn” [10, tr 94]
Trước tình thế đó, năm 1400 Hồ Quý Ly ép vua Trần Thiếu Đế phải nhường ngôi, lập ra triều Hồ Với tài thao lược của mình thì Hồ Quý Ly đã tiến hành một loạt cải cách tiến bộ trên nhiều mặt Đó là việc xây dựng một nhà nước chuyên chế tập quyền vững mạnh có xu hướng Pháp gia, trên lĩnh
Trang 12vực quân sự tiến hành thử nghiệm và chế tạo súng thần công, về kinh tế ngay
từ khi còn làm quan nhà Trần ông đã tiến hành phát hành tiền giấy
Trong lĩnh vực giáo dục, thi cử thì tiến hành mở rộng hệ thống giáo dục
ở địa phương, đặt các học quan, cấp học điền…, tổ chức ngay lại khoa thi lấy
đỗ Thái học sinh Để giải quyết tình trạng biến dạng của điền trang thái ấp nhà Trần, Hồ Quý Ly cho thi hành chính sách hạn điền, hạn nô “một chính sách cải cách được cho là tiến bộ nhất của Hồ Quý Ly đó là ông đã thi hành phép hạn điền, hạn nô, đánh mạnh vào thế lực kinh tế của quý tộc Trần Điền trang bị suy yếu từ đó” [56, tr 81- 82] Tuy nhiên, Hồ Quý Ly lên ngai vàng giữa lúc vận nước lâm nguy thù trong giặc ngoài, lại thêm việc truất ngôi nhà Trần nên chưa được lòng dân, hơn nữa Hồ Quý Ly còn “là con người thủ đoạn độc đoán, mất lòng dân, chủ quan duy ý chí” [56, tr 87], vì thế công cuộc cải cách và chế độ của Nhà Hồ nhanh chóng sụp đổ Thêm nữa là sự bành trướng của nhà Minh âm mưu biến Đại Việt thành quận, huyện của chúng Phía nhà Hồ thì sức yếu lực mỏng đã không thể chống lại sức mạnh của ngoại xâm phương Bắc Việc làm mất nước của nhà Hồ được nhiều học giả phân tích bởi “nhà Hồ đã mất dân từ trước” [10, tr 95]
Sau khi thủ tiêu nhà Hồ, quân Minh tràn vào Đại Việt hòng thiết lập một nền thống trị thuộc địa hà khắc, âm mưu biến Đại Việt thành một quận của Trung Hoa Trong gần hai thập kỷ (1407 - 1427), văn hóa Đông Á Nho giáo Trung Hoa - trong thời gian đô hộ đã được cưỡng bức du nhập ồ ạt vào Đại Việt, lấn át dần văn hóa Nam Á bản địa Chính vì thế khi nhà Lê khôi phục nền độc lập chính trị, nền văn hóa đó vẫn còn đọng lại, ở một mặt nào đó vẫn được bổ sung thêm, tạo nên một sự chuyển đổi mô hình thiết chế, “từ nền quân chủ Phật giáo quý tộc sang nền quần chủ Nho giáo quan liêu” [56, tr 108]
Trước những biến động của xã hội, cùng những chế độ áp bức, bóc lột
do quân Minh đặt ra lại càng làm cho dân tộc Việt Nam hăng hái đứng lên
Trang 13đánh đuổi ngoại xâm Từ nam chí bắc phong trào vũ trang đánh giặc cứu nước của nhân dân đã tự động nổi lên ở nhiều nơi Đó là các cuộc khởi nghĩa của nhân dân huyện Đông Lan và huyện Trà Thanh thuộc Diễn Châu Họ đốt phá nhà ngục và giết chết bọn huyện quan Tại miền Thất Nguyên (Thất Khê - Lạng Sơn), nhân dân thiểu số cũng nổi lên đánh quân Minh Ở Đông Triều (Quảng Ninh), Phạm Trấn đã dựng cờ khởi nghĩa và đưa Trần Nguyệt Hồ lên làm minh chủ Đầu năm 1480, Chu Sư Nhạn, Trần Nguyên Khoáng nổi lên ở Thái Nguyên; Hà Thế Trật, Hà Khả Chinh, Hà Nhân Tráng nổi lên ở Tam Đái (Phú Thọ); Trần Nguyên Tôn, Nguyễn Nhật Tân nổi lên ở Ninh Giang ( Hải Dương)….[39, tr 16] Bên cạnh những phong trào của quần chúng, còn có hai cuộc khởi nghĩa của tôn thất nhà Trần vừa đánh đuổi ngoại xâm vừa muốn lập lại ngôi vua cho nhà Trần Đáng chú ý nhất là cuộc khởi nghĩa của Giản Định
đế Trần Ngỗi và cuộc khởi nghĩa của Trùng Quang đế Trần Quý Khoáng, tuy nhiên không được bao lâu, do nội bộ phong trào khởi nghĩa không đoàn kết nhất trí lại bị quân Minh bắt được chủ tướng nên cuộc khởi nghĩa đi đến thất bại Sự thất bại của các cuộc khởi nghĩa này là điều không thể tránh khỏi, bởi cũng như nhà Hồ mất nước vì đã mất dân từ trước Thực chất các phong trào khởi nghĩa của tôn thất nhà Trần không phải chỉ vì giành độc lập cho nhân dân mà còn muốn lập lại ngôi vua nhà Trần Nên chưa thể tập hợp được số đông quần chúng càng không thể tạo dựng được sự tin tưởng ở nơi nhân dân
Đó chính là lý giải vì sao suốt mười năm kháng chiến trước Lam Sơn khởi nghĩa, đã có rất nhiều phong trào nổ ra dưới nhiều hình thức khác nhau Song một con người như Nguyễn Trãi có chí lớn, có lòng yêu nước tha thiết, có tài năng nhưng ông lại không đi theo một phong trào nào mà lại chọn cách mai danh ẩn tích ở thành Đông Quan chờ thời cơ Bởi vì, chính thời khắc này giúp ông nhận ra rằng, muốn đánh bại giặc Minh xâm lược, giành lại độc lập cho dân tộc phải dựa vào dân, phải phát động được lực lượng đông đảo quần
Trang 14chúng nhân dân, cũng chính là phải đề ra những chủ trương chính sách phù hợp với lợi ích của nhân dân
Từ những vấn đề trên, có thể nói xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV là một giai đoạn lịch sử đầy biến cố Nguyễn Trãi sinh ra
và lớn lên gắn liền với giai đoạn này Đặc biệt Nguyễn Trãi từng sống suốt mười năm với cảnh bần cùng thiếu thốn tại thành Đông Quan để mưu toan kế sách đánh giặc cứu nước Rồi phò Lê Lợi cùng ông “nếm mật nằm gai”, tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Những tác động xã hội đó đã hun đúc cho Nguyễn Trãi những tư tưởng tiến bộ về nhân sinh quan Bởi thế, trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi tác gia luôn luôn đề cập đến con người, vận nước, quốc gia dân tộc và tư tưởng về việc xây dựng một xã hội tiến bộ vì con người, vì sự phát triển
1.2 Tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng con người của Nguyễn Trãi
1.2.1 Tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Lão - Trang
Nước Việt nằm trên con đường giao thoa của nhiều luồng văn hóa, tư tưởng khác nhau chính vì thế cùng với sự phát triển của lịch sử dân tộc, các học thuyết này cũng đồng thời du nhập và dung hòa cùng truyền thống văn hóa bản địa của người Việt Đến thời Lý, Trần thì Nho - Phật - Lão đều được coi trọng và cùng tồn tại với các lý thuyết về “Tam giáo đồng Nguyên”, “Tam giáo đồng quy”, “Tam giáo nhất nguyên” Với Nguyễn Trãi, con người sống ở hai thế kỷ hai triều đại vì thế bản thân ông đã có sự tiếp nhận các giá trị tư tưởng đó Tuy thời đại ông sống, Nho giáo đang dần chiếm ưu thế, và bản thân lại là một nhà Nho song nhìn chung, cả Nho, Đạo và Phật giáo đều ảnh hưởng đến tư tưởng của Nguyễn Trãi theo mức độ đậm nhạt khác nhau
Về Nho giáo thì đã được du nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc dưới một “phương thức giao lưu văn hóa cưỡng chế” [56, tr 97] Vì thế Nho giáo chưa được phổ biến, có ảnh hưởng rất nhỏ trong xã hội lúc bấy giờ Tuy
Trang 15nhiên, từ thời Lý, Nho giáo đã được nhà nước chấp nhận song vẫn chỉ giữ ở vị trí khiêm tốn Sau khi, nhà Lý tiến hành xây dựng Văn Miếu để thờ Chu Công, Khổng Tử … và dùng làm nơi dạy học cho Hoàng Thái tử, đến năm
1705, nhà Lý tổ chức khoa thi Thái học sinh đầu tiên, lập Hàn lâm viện Tới triều Trần, các vua Trần cố gắng dung hòa Phật - Nho trong đường lối trị nước, vì thế tầng lớp nho sĩ ra làm quan dưới triều Trần ngày một đông đảo,
và có vị thế chính trị hơn Cuối triều Trần, chính chế độ điền trang thái ấp ngày càng suy yếu, đã giúp cho các nho sĩ không xuất thân từ tầng lớp quý tộc tiến lên giành địa vị chủ chốt trong xã hội Điều này khiến cho Phật giáo dần mất đi địa vị trong xã hội, thay vào đó Nho giáo đã đạt tới thời kỳ cực thịnh, nhất là dưới thời nhà Lê Sơ
Bên cạnh đó, trong khuôn khổ những cải cách để thiết lập một nhà nước trung ương tập quyền thì Hồ Quý Ly đã đẩy mạnh quá trình Nho giáo hóa xã hội Đại Việt, đó là việc ông bắt đầu cho dịch và chú giải các Kinh Thư, Kinh Thi, mở trường Nho học ở các địa phương và tổ chức thi hương Chính các yếu tố tiền đề điều kiện đó, mà Nho giáo ngày một phổ biến dưới thời Lý - Trần đặc biệt được Hồ Quý Ly khuyến khích trong công cuộc cải cách xã hội của mình Chính trong bối cảnh đó, điều kiện xã hội đó đã quy định nội dung tư tưởng của Nguyễn Trãi Hơn nữa, sau khi ông ngoại là quan
tư đồ Trần Nguyên Đán mất, ông trở về làng Nhị Khê sống với cha là Nguyễn Phi Khanh, tại đây Nguyễn Trãi đã nhận được sự giáo dục trực tiếp của cha theo khuôn khổ của Nho giáo Sau khi lớn lên, Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh,
và được bổ nhiệm làm quan Ngự sử đài chánh trưởng dưới triều nhà Hồ cùng với cha ông “Hai cha con đều là nho sĩ chính thức có tư tưởng khai phóng tiến bộ, không phải giáo điều cố chấp” [63, tr 18], điều này được ông bộc bạch ở lời thơ:
Vãng sự nan tầm thời dị quá
Quốc ân vị báo, lão kham liên
Trang 16Bình sinh độc bão tiên ưu niệm
Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên
(Việc xưa khó tìm kiếm lại được, thời gian lại trôi đi quá nhanh
Ơn nước chưa báo mà tiếc rằng đã già rồi
Suốt cuộc đời chỉ ôm tấm lòng lo trước cái lo của thiên hạ
Ngồi ôm chăn lạnh mà thức suốt đêm thâu)
“Hải khẩu dạ bạc hữu cảm (I)” [79, tr 91]
Chính vì thế có thể thấy rằng nền tảng tư tưởng của Nguyễn Trãi chính
là Nho giáo với những kinh văn, giáo điều học thuyết của Nho giáo đã ăn sâu bén rễ trong con người ông Tại sao lại nói tư tưởng con người của Nguyễn Trãi có nền tảng từ học thuyết của Nho gia, bởi “Nguyễn Trãi đã tự coi mình
là môn đệ của của Khổng Tử và Mạnh tử” [39, tr 51] mà theo học thuyết Khổng - Mạnh là để bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến, vua quan phải quan tâm đến đời sống nhân dân, nhân dân mới ủng hộ vua quan, quyền lợi của giai cấp phong kiến do đó mới có thể bảo vệ được Thực chất là cả Khổng
tử cũng như Mạnh tử chủ trương bảo vệ nền quân chủ và hết sức đề cao quân quyền song nền quân chủ chỉ có thể tồn tại khi nó được nhân dân ủng hộ Muốn được nhân dân ủng hộ thì người làm vua, nắm vận nước phải thích cái thích của dân, phải ghét cái ghét của dân Mạnh Tử lại nhấn mạnh thêm vai trò của nhân dân khi ông viết: Dân là quý, rồi mới đến Nhà nước, còn vua là nhẹ Nguyễn Trãi sinh ra trong gia đình Nho học, chịu sự giáo huấn từ nhỏ của người cha là thầy đồ ắt hẳn những tư tưởng về con người về nhân dân trong học thuyết Khổng Mạnh đã được ông tiếp thu và phát triển Như cách nhận xét của GS Trần Huy Liệu: “Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi tuy chịu ảnh hưởng ít nhiều của Khổng - Mạnh nhưng ở Nguyễn Trãi tư tưởng nhân dân đậm đà sâu sắc hơn Có hệ thống hơn và nhất trí với nhau từ đầu đến cuối hơn, nó vì nhân dân hơn là vì lợi ích của giai cấp phong kiến” [39, tr 57]
Trang 17Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn thấm nhuần triết lý Phật giáo với đức hiếu sinh, khoan dung, bác ái và từ bi [10, tr 96] Bởi học thuyết Phật giáo là chú ý đến mặt phát triển tự nhiên của con người, không phân biệt đẳng cấp Mọi sinh linh đều có cảm giác, từ con người cho đến các sinh vật khác đều gánh chịu khổ đau; là ước vọng mãnh liệt thúc đẩy ta phải giải thoát mình và chúng sinh ra khỏi khổ đau, là tinh thần bình đẳng sơ khai đã gây được sự xúc động trong lòng người trở thành một trong những nguồn gốc sâu xa của lòng thương người, của chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Trãi đã được tiếp thu những giáo lý đó ngay từ thủa ấu thơ khi ông được sống với cha mẹ và ông ngoại trong cảnh tuyệt diệu của động Thanh hư với Côn Sơn Chính vì thế, Nguyễn Trãi đã hấp thụ được đạo vị thiền ở Trần Nguyên Đán, thân tộc các vua nhà Trần đều là các vị Thiền sư nổi tiếng như Trần Thái Tông có “Khóa hư Lục”, nhất là Trần Nhân Tông, tổ thứ nhất dòng Trúc Lâm YênTử, mà ông đã nhắc nhở đến trong bài thơ đề chùa Hoa Yên:
Quải thạch chân lưu lạc bán không
Nhân miếu đương niên di tích lại
(Treo trên đã, dải châu rơi xuống lưng trời
Dấu tích vua Nhân Tông năm xưa còn đó)
“Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự” [79, tr 125 - 126]
Có thể nhận thấy rằng, dấu ấn của Phật giáo trong con người Nguyễn Trãi là sự kế thừa trung thành những giá trị tinh tế nhất “của tiền nhân Lý Trần mà ông đã trực tiếp chịu ảnh hưởng của ông ngoại” [63, tr 30]
Cùng với Nho, Phật, Nguyễn Trãi còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Lão
- Trang Nếu Nho giáo với các thiết chế chặt chẽ của nó có sức hấp dẫn, gợi
mở, trở thành dòng mạch chính chi phối thế giới quan, tư tưởng, phương cách hành xử của Nguyễn Trãi bản lĩnh kiên định thì Đạo giáo với đường lối vô vi chủ trương quay về với tự nhiên với một cuộc sống không bị lệ thuộc bởi thế tục, không vương vấn chuyện đời Đó là lòng “thanh tĩnh vô vi, nhàn tản, ung
Trang 18dung tự tại, không màng danh lợi của ông” [10, tr 97] Nhất là khi về cuối đời, chính sự ảnh hưởng của tư tưởng Đạo gia mà Nguyễn Trãi đã rất muốn từ quan về quê, sống cuộc sống an nhàn thanh tao, ẩn dật hòa mình vào thiên nhiên ở vùng đất Côn Sơn Nửa cuộc đời của ông đã gắn bó và cống hiến cho
sự nghiệp của đất nước nên đến cuối đời ông muốn thanh tĩnh và sống cùng với thiên nhiên Để trăm năm trong cõi nhân sinh được sống cùng với nhân dân phục vụ cho nhân dân Thời gian sống ở Côn Sơn cũng chính là thời gian ông tĩnh tâm nhất trong cuộc đời để suy ngẫm về thế sự và thân phận Những vẫn thơ ông sáng tác tại đây như là một biểu hiện tự nhiên của tình yêu quê hương đất nước, đồng thời thể hiện những lo lắng của ông cho vận mệnh của đất nước
Thật vậy, trong con người Nguyễn Trãi có “Nho giáo giới hạn tình yêu vào nhân quần xã hội, còn Đạo gia mở rộng ra thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm nguồn cảm hứng nghệ thuật Nguyễn Trãi đòi khai triển lòng nhân ái ở đức Nhân ra đến tất cả chúng sinh, tức là lòng từ bi bác ái hỷ xả vô biên, vô lượng của đức Phật” [63, tr 31] Có được điều này cũng bởi, Nguyễn Trãi sống trong một xã hội đầy biến động, cùng những du nhập hỗn tạp của văn hóa và một cuộc đời đầy truân chuyên của con người đa tài, đa cảm trước cuộc đời như Nguyễn Trãi
1.2.2 Ý thức dân tộc, lòng tự hào dân tộc
Sinh ra trong một thời đại nhiều biến chuyển, đó là sự sụp đổ của nhà Trần, thất bại của nhà Hồ trước công cuộc cải cách và chống giặc ngoại xâm Thêm vào đó là gần hai thập kỷ nhân dân ta kháng chiến chống Minh giành độc lập dân tộc Bản thân Nguyễn Trãi đã phải chịu cảnh nước mất nhà tan, nước mắt long tròng tiễn biệt cha và em ở chốn biên ải, cùng vua Lê trải qua những năm tháng nếm mật nằm gai, gây dựng nền độc lập dân tộc Có thể thấy những áng thơ văn của ông là sự tiếp nối và nối dài của truyền thống yêu
Trang 19nước, lòng tự tôn dân tộc Bởi thế mà tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” của ông được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc là bước phát triển mới của “Nam quốc sơn hà” Có được tư tưởng về con người, hướng về nhân dân cũng bởi truyền thống chống giặc ngoại xâm giữ vững chủ quyền của dân tộc
từ ngàn xưa Đó là các cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng… suốt nghìn năm chịu sự đô hộ của ngoại xâm phương Bắc Rồi đến cuộc kháng chiến chống quân Tống dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn Quân dân ta đã đánh tan các đạo quân Tống ở Chi Lăng, Bạch Đằng, Tây Kết làm thất bại kế hoạch xâm lược của chúng
Sang nửa cuối thế kỷ XI, quân Tống lại một lần nữa mưu đồ một cuộc
ra quân lớn, quân dân ta dưới sự lãnh đạo của chủ tướng nhà Lý đánh tan các căn cứ xâm lược của địch, làm giảm sút nghiêm trọng lực lượng và phương tiện của quân Tống Cũng trong giờ khắc kiên cường kháng chiến chống giặc
ngoại xâm, thì bài thơ thần – “Nam quốc sơn hà” chính là những lời lẽ đanh
thép nhằm khẳng định chủ quyền quốc gia dân tộc ta trước mưu đồ bành trướng của ngoại xâm
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia sứ sở)
“Nam quốc sơn hà”
Không phải chỉ đến thế kỷ thứ XI sau bài thơ thần trên sông Như Nguyệt mới là áng văn hùng hồn về chủ quyền đất nước, mà trước đó những phong trào đánh đuổi ngoại xâm hàng nghìn năm qua, bao xương máu của những con dân đất Việt đó chính là sự khẳng định đanh thép nhất về nền độc lập, chủ quyền về lãnh thổ, văn hóa… của dân tộc ta
Những lời sấm dạy đó cùng vô số tấm gương anh dũng hy sinh bảo vệ nền độc lập đã hun đúc cho dân tộc ta một tinh thần quật cường, bất khuất
Trang 20chống ngoại xâm Đó là ba lần cùng vua quan triều Trần đánh đuổi vó ngựa quân Nguyên Ba lần đánh thắng một kẻ thù hung bạo nhất của thời đại, không phải vì nhân dân ta thời Trần, quân đông, vũ khí nhiều hơn địch, mà chính vì “nhân dân ta thời Trần có tinh thần kiên cường, bất khuất, có truyền thống chiến thắng giặc ngoại xâm và có sức mạnh cả nước cùng đánh giặc” [5, tr 12]
Dân tộc ta hình thành từ rất sớm, dựng nước rất sớm và ý thức dân tộc cũng nảy nở rất sớm Trong quá trình đấu tranh lâu dài để dựng nước và giữ nước, ý thức dân tộc của nhân dân ta ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc Ý thức
đó đã có ở tất cả các tầng lớp nhân dân, tất cả các lứa tuổi và ở tất cả các thời đại Ý thức đó đã tạo nên khí phách anh hùng và những phẩm chất cao quý của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam Chính vì thế, ở Nguyễn Trãi
và thời đại của ông sống, với biết bao tấm gương của bậc tiền nhân đi trước, biết bao bài học lịch sử về đấu tranh dựng nước và giữ nước, đã cho ông những nhận định sâu sắc là nền tảng tư tưởng về con người của ông Hơn ai hết, ông thấu hiểu cảnh nước mất nhà tan, thấu hiểu được vai trò của quảng đại quần chúng trong các cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập thái bình Do
đó, Nguyễn Trãi luôn cảm thông sâu sắc với nỗi đau khổ của nhân dân đang
bị rên xiết dưới ách đô hộ, nô dịch tàn bạo của giặc Minh gần hai thập kỷ
1.3 Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi
1.3.1 Về thân thế của Nguyễn Trãi
Nguồn gốc gia đình của Nguyễn Trãi có ảnh hưởng sâu xa tới cuộc đời của ông sau này nhất là tác động đến sự hình thành những tư tưởng của ông Sinh ra trong một gia đình có sự phức tạp về thành phần Bởi mẹ ông thuộc dòng dõi quý tộc là con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, song cha ông lại chỉ là một nho sĩ, lấy việc dạy học làm kế sinh nhai
Nguyễn Trãi - tên hiệu là Ức Trai - ra đời năm Canh Thân (1380) niên hiệu Xương Phù thứ 4 đời Đế Nghiễm nhà Trần, giữa kinh đô Thăng Long
Trang 21trong dinh quan Tư đồ Trần Nguyên Đán [29, tr 8] Tuy nhiên, tổ tiên Nguyễn Trãi ở xã Chi Ngại, huyện Phương Sơn (tức Phương Nhãn nay là huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) sau mới dời về làng Nhị Khê [39, tr 19] phủ Thường Tín, Hà Tây đây là một phủ được nhà sử học Phan Huy Chú viết rằng: “phủ Thường Tín ở phía Bắc Sơn Nam, địa giới gần Trung đô, các huyện đều men theo đường quan lộ, đất bằng rộng rãi, không có núi rừng ngăn cản Duy có dòng sông Tô quanh vòng trong hạt, ba huyện (Thanh Đàm, Thượng Phúc, Phú Xuyên) đều có tiếng văn học, nhưng huyện Thanh Đàm, huyện Thượng Phúc thịnh hơn… Đất cung hoàng, đất Nhị Khê, càng đáng khen là đứng đầu trong phủ, làng Cung Đàm ở huyện Thanh Đàm (sau đổi là Thanh Trì) là nơi Văn Trình (Chu Văn An) ở…, làng Nhị Khê ở huyện Thượng Phúc là quê hương Nguyễn Trãi…”
Sinh trưởng trong gia đình họ ngoại là quý tộc nhà Trần, thủa nhỏ sống với ông ngoại Trần Nguyên Đán là một tôn thất nhà Trần, cháu bốn đời của Chiêu Minh Vương, Trần Quang Khải Dưới thời Trần Duệ Tông làm đến chức Nhập nội kiểm hiệu tư đồ Bình chương Quốc Thượng Hầu Đến đời Nghệ Tông ông dâng sớ cáo quan về quê Chính vì được sinh trưởng trong gia đình quan lại, truyền thống như vậy mà Nguyễn Trãi đã được thụ hưởng sự giáo dục từ ông ngoại Đó chính là nền tảng về học thức, những tư duy và nhận thức xã hội sau này của Nguyễn Trãi
Cha ông là Nguyễn Ứng Long sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh là một hàn sĩ, đi dạy học kiếm ăn Ông từng dạy học cho con gái quan Tư đồ tức vợ ông sau này Năm Giáp Dần niên hiệu Long Khánh thứ hai (1374), đời vua Trần Duệ Tông mở khoa thi Nguyễn Ứng Long đỗ đệ nhất giáp, đệ nhị danh, tức Bảng Nhãn song không được làm quan vì vua Trần cho rằng ông là con nhà thường dân mà lại lấy con gái họ tôn thất Không được làm quan nên ông trở về làng Nhị Khê, mở trường dạy học ở đó Cho tới cuối đời Kiến Tân (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi mở ra cho Nguyễn Ứng Long một con đường tiến
Trang 22thân Ông ra làm quan dưới triều Hồ và tới đời Hồ Hán Thương được thụ chức “Đại lý tự khanh kiêm thị lang tòa Trung thư, Học sĩ viện Hàn lâm lại lĩnh chức Tư nghiệp trường Quốc tử” [29, tr 9] Mẹ ông là bà Trần Thị Thái con gái của quan Tư đồ, từng là học trò của cha ông
Có thể nói, ông ngoại và cha Nguyễn Trãi là những tri thức uyên bác,
đã có nhiều công sức dạy dỗ Nguyễn Trãi từ lúc nhỏ và Nguyễn Trãi cũng học ở ông, cha những kiến thức sâu rộng, tâm hồn cao đẹp Ông khác với những nhà Nho trước đó hay cùng thời đại ở tư tưởng suốt đời phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân chứ không bao giờ suy nghĩ và hành động phục vụ cho một dòng họ Nguyễn Trãi là nhà Nho có bản lĩnh, giàu lòng nhân ái, vì nước vì dân, một thành viên rất có uy tín của số đông trong lòng mọi người Tất cả những điều ấy chỉ là những kiến thức đương thời mà Nguyễn Trãi đã
tiếp thu và sử dụng như những phương tiện “Lấy xưa nghiệm nay”, “Hiểu
người, hiểu mình”, để sáng tạo và hành động
Về bản thân Nguyễn Trãi - ông là con trai trưởng trong gia đình có năm người con trai, dưới ông còn bốn người em là Phi Bảo, Phi Ly, Phi Bằng và Phi Hùng Ông nổi tiếng là người tài cao, học sâu hiểu rộng Thủa nhỏ sống với ông ngoại ở Côn Sơn, năm lên 5 tuổi ông ngoại và mẹ đều qua đời, ông trở về làng Nhị Khê sống với cha Năm 20 tuổi đỗ Thái học sinh và ra làm quan dưới triều Hồ với chức Chính trưởng đài ngự sử Bản thân Nguyễn Trãi là người học rộng, biết nhiều lại nhận được sự rèn rũa từ người cha là thầy đồ, nên ông có nền tảng kiến thức vững chắc Trải qua cuộc sống khó khăn gian truân đã khiến cho “Nguyễn Trãi trở thành một nhân vật lịch sử duy nhất đã tự mình viết nên những tư tưởng chính trị, quân sự và đạo đức của mình” [39, tr 40]
Tuy nhiên, trong những tiền đề hình thành tư tưởng về con người của Nguyễn Trãi không thể thiếu nhân tố chủ quan của nhân tài Nguyễn Trãi Đó
là ông sinh trưởng trong một gia đình nhà nho, như đã nói ở phần trên cả cha
và ông ngoại đều là những nhà Nho, nhà trí thức uyên bác Nguyễn Trãi đã
Trang 23học ở ông và cha những kiến thức sâu rộng và tâm hồn cao đẹp Ông cũng tiếp thu ở nhiều nhà nho trước đó hay cùng thời đó là tư tưởng “báo quốc” “an dân” Đã tiếp nhận nhiều luồng tư tưởng của thời đại phong kiến, của dòng dõi thế tộc, tiếp thu nhiều luồng kiến thức pha tạp qua sách sử cũ như Tứ thư, Ngũ kinh, song tự bản thân Nguyễn Trãi đã có sự đổi mới Nhờ lối tư duy độc lập, biết chắt lọc những nhân tố tích cực trong Nho - Phật - Lão kết hợp với thực tiễn xã hội và những trải nghiệm sau này trong cuộc đời đã giúp ông hình thành nên những tư tưởng cao đẹp vì con người
1.3.2 Về cuộc đời - sự nghiệp của Nguyễn Trãi
Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi gắn liền với các biến cố lịch sử của thời đại mà ông sống Sau khi ông ngoại Trần Nguyên Đán mất, Nguyễn Trãi về làng Nhị Khê sống với cha và chịu sự giáo dục trực tiếp của cha theo khuôn khổ Nho giáo Sau bao biến chuyển của vận nước, nhà Hồ lật đổ triều Trần tiến hành cải cách đất nước, trong đó có giáo dục Tức năm Canh Thìn (1400), nhà Hồ mở khoa thi đầu tiên, tại khoa thi này Nguyễn Trãi đã đỗ Thái học sinh năm vừa tròn hai mươi tuổi và được bổ nhiệm làm Ngự sử đài chánh chưởng Dưới triều Hồ, cả hai cha con ông đều ra làm quan cùng giúp Hồ Quý Ly tiến hành cải cách đất nước và chống ngoại xâm
Sau khi nhà Hồ thất bại trước thế lực của giặc Minh, các triều thần vua tôi nhà Hồ đều bị bắt đầy sang Trung Quốc Trong cảnh nước mắt lưng tròng tiễn biệt cha và em, ông gắng nhớ lời cha dặn: “con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, thế mới là đại hiếu”
Tuy nhiên, sau khi trở về đến thành Đông Quan, Nguyễn Trãi bị giặc Minh bắt,tướng giặc Minh biết Nguyễn Trãi là một người trẻ tài cao nên nhiều lần dụ dỗ ông ra làm quan song với tính cách cương trực, thẳng thắn và mối thù nhà nợ nước ông kiên quyết từ chối Không dụ được Nguyễn Trãi chúng cho giam lỏng ông tại đây Thời gian lâu dài hàng mười năm này, với những
Trang 24điều kiện gian khổ về vật chất và tinh thần mà ông phải chịu đựng Thực tế đã giúp cho ông thông cảm sâu sắc với đời sông thống khổ của nhân dân đang sống quằn quại dưới ách đô hộ của phong kiến nhà Minh “Trước mắt ông đồng bào của ông đang bị lũ giặc xâm lăng hành hạ, bóc lột tới một độ dã man cùng cực” [29, tr 15- 16] Chính trong thời gian này, Nguyễn Trãi đã thấy rằng muốn cho đất nước thoát khỏi thảm cảnh đó chỉ có một con đường là đứng lên cầm vũ khí đánh đuổi kẻ thù Mười năm im hơi náu tiếng trong thành Đông Quan [29, tr 20] là mười năm chờ đợi thời cơ để trừ bạo an dân Biết tin Lê Lợi ở đất Lam Sơn phất cờ khởi nghĩa, Nguyễn Trãi tìm cách trốn thoát khỏi bộ lưới phong tỏa của quân minh tìm gặp Lê Lợi Tại đây, Nguyễn Trãi dâng “Bình Ngô sách”, cùng chủ tướng Lê Lợi chuẩn bị nghĩa quân tiến hành khởi nghĩa Suốt mười năm khởi nghĩa cùng Lê Lợi chống Minh là mười năm cực kỳ gian khổ, Nguyễn Trãi đã có dịp đi sâu vào nhân dân, sống gần gũi với nhân dân, nhiều khi còn hòa mình vào với đời sống của nhân dân Do
đó, ông đã nhìn thấy những đức tính cao quý của nhân dân, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân Mười năm kháng chiến chống quân Minh là mười năm Nguyễn Trãi tận mắt chứng kiến sự thắng lợi của cuộc khởi nghĩa chính bởi sự hy sinh xương máu của biết bao người dân, đó chính là điều mà sau này trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi đã nhắc đến nhân dân đầu tiên Bởi ông thấu hiểu sự nghiệp này không vì điều gì khác ngoài làm cho “yên dân”
Dưới trướng Lê Lợi, Nguyễn Trãi lĩnh chức thừa chỉ học sĩ viện Hàn lâm luôn luôn sát cánh cùng Lê Lợi để bàn luận về mọi phương châm, chính sách, đường lối chính trị, quân sự Qua những áng văn, vần thơ của mình Nguyễn Trãi không những thu phục được lòng dân, nhờ thế mà khởi nghĩa Lam Sơn vừa nổ ra đã được quảng đại nhân dân hưởng ứng ủng hộ, và cùng tham gia vào nghĩa quân Mà còn thu phục được quân địch khiến chúng không đánh mà lui, đầu hàng rút quân về nước “Ông được cho là linh hồn
Trang 25của của khởi nghĩa, là chiến sĩ tiên phong đưa đường cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi cuối cùng” [29, tr 31] Khi luận công và ban thưởng, “Nguyễn Trãi được ban quốc tính và phong tước Quan phục hầu; về quan chức ông vẫn giữ nhập nội hành khiển Lại bộ thượng thư như cũ kiêm quản công việc khu mật viện [39, tr 25]
Cuộc đời của danh nhân, nhà tư tưởng lỗi lạc này tưởng chừng như đến đây được hưởng niềm vui viên mãn, những ý tưởng xây dựng một đất nước thái bình thịnh trị, vì muôn dân sẽ được thực hiện Tuy nhiên, sau khi nhà Lê lên nắm quyền, vua Lê Lợi thì tỏ ra nghi kỵ nhân tài thêm vào đó còn bị bọn nịnh thần xúi bẩy nên đã giết hại nhiều bề tôi từng có công lao lớn trong khởi nghĩa Trong đó có hai công thần thân tín với Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Hãn phải nhảy xuống sông tự tử và sai giết Thái úy Phạm Văn Xảo Cũng trong thời gian này, Nguyễn Trãi cũng từng bị bắt và hạ ngục điều này ta có thể thấy rõ qua bài Oán thán:
Hư danh thực họa thù kham tiếu
Chúng bang cô trung tuyệt khả liên
(Mang danh hư, bị họa thực buồn cười
Bao kẻ dèm pha, một mình trung thành rất đáng thương)
Chớ có thân sơ, mới trượng phu
“Báo kính cảnh giới (XXV)” [73, tr 130]
1 Lỗi thác: tội lỗi, thác ố tức cố ý phạm lỗi, hoặc vì sai lầm mà phạm lỗi
2
Ủy khúc: Tình lý khuất khúc và chi tiết tỉ mỉ
3 Hòa hưu: Giải hòa, xin thôi, hai bên nguyên bị hòa với nhau xin thôi kiện
4
Tội ai cho nấy… do câu tục ngữ: “Ai làm người đó chịu”
Trang 26Tuy rằng được tha tội, song “dưới thời Lê Lợi ông không được tin dùng nhiều, không được làm một việc quan trọng gì cả” [39, tr 27], điều này phần nào khiến ông buồn chán và lui về Côn Sơn sông cuộc đời ẩn dật thanh tịnh
Ngoài năm mươi tuổi ngoài chưng thế 5
Ắt đã tròn bằng nước ở bầu 6
“Trần tình (IV)” [73, tr 55]
Ở đây chưa lâu thì Lê Thái Tông lại xuống chiếu vời ông ra làm việc, được vua trao cho chức Kim tử Vinh lộc đại phu, viện Hàn lâm thừ chỉ học sĩ, coi việc Tam quán và kiêm việc quân dân bạ tịch ở hai đạo Tây Bắc Có thể thấy rằng, đến đời Thái tông ông được trọng dụng hơn trước Trong bài tạ biểu của Nguyễn Trãi dâng lên vua Lê Thái Tông khi được khởi dụng thì thái
độ của ông đã chứng tỏ một đôi niềm thỏa dạ tin tưởng, ông có thể hy vọng mang đạo đức tài năng ra giúp nước một cách tốt đẹp như lòng ông mong muốn Cuộc đời một đức nhân với tư tưởng lớn thì luôn gắn với những biến động thăng trầm của vận nước, và thăng trầm của chính cuộc đời họ Với Nguyễn Trãi thì đó là điều mà ông đã phải trải qua, có lẽ không sót một điều nào Những tưởng được tin dùng, được trọng dụng, Nguyễn Trãi quyết đem hơi sức tàn của ông để thực hiện chí bình sinh Song với cái chết của vua Lê Thái Tông và những biến cố ở vườn Lệ Chi đã chấm dứt một thời kỳ dài tình trạng mâu thuẫn tiềm tàng giữa Nguyễn Trãi và quan thần triều đình nhà Lê
mà lịch sử thường hay nhắc lại đó là vụ án Lệ Chi viên (1442) Vụ án này đã chấm dứt cuộc đời của một danh nhân lỗi lạc đương thời với cái án oan chu di tam tộc Sau này, khi lên làm vua Lê Nhân Tông tuy biết được sự tình cái chết oan uổng của Nguyễn Trãi song cũng chỉ có thể thốt lên với quan thần:
“Nguyễn Trãi là người Trung Thành giúp đức Thái Tổ lấy võ dẹp quân khấu
Trang 27nạn, giúp đức Thái Tông lấy văn xây nền trị bình, văn chương đức nghiệp của bản triều không một ai so bì kịp Không may vì kẻ phụ thân gây biến mà người lương thiện mắc oan thật rất đáng thương” Và phải đến đời Lê Thánh Tông thì vụ án đó mới được đưa ra ánh sáng, đích thân vua Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi vào năm 1464 Được triều đình nhà Lê truy tặng chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, tước Tán Trù Bá
Trong suốt cuộc đời truân chuyên với nhiều thăng trầm như vậy, Nguyễn Trãi đã để lại cho dân tộc nhiều tác phẩm văn thơ có giá trị, và một nền tảng tư tưởng vì dân vì nước vì sự phát triển của con người Các tác phẩm của ông được sản sinh trong những năm tháng đó vì thế mà nó là bản chứng tích về số phận của con người tài hoa song gặp nhiều nỗi long đong Thường thì những tư tưởng lớn luôn xuất phát từ thực tiễn xã hội, song nó lại chưa được chấp nhận Bởi những tư tưởng đó không chỉ để phục vụ cho một giai đoạn, một thời kỳ nhất định mà nó là hệ tư tưởng lớn có giá trị đến tương lai Khi ngẫm lại những tư tưởng của Nguyễn Trãi qua các áng thơ văn ta mới thấy, giá trị và tầm vóc lớn lao của nó đến nhường nào Đơn cử, chỉ là một
câu nói: mến người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân
“Chiếu về việc làm hậu tự huấn để răn dạy thái tử (V)” [79, tr 83] thực vậy thời nào cũng thế, quảng đại nhân dân là yếu tố quan trọng nhất, triều đại nào được lòng dân thì sẽ hưng thịnh và ngược lại Qua đó để thấy được giá trị của những tư tưởng mà Nguyễn Trãi để lại đáng quý dường nào
Các tác phẩm của Nguyễn Trãi là sản phẩm để phục vụ sự nghiệp bảo
vệ đất nước, xây dựng đất nước, trau dồi đạo đức, nhân nghĩa của con người Căn cứ vào sử sách và các công trình nghiên cứu trước đó, thì có thể thấy rằng, suốt cuộc đời mình Nguyễn Trãi đã để lại rất nhiều tác phẩm như: Đại
cáo bình Ngô, Quân trung từ mệnh tập, Quốc âm thi tập, Dư địa chí, Lam Sơn
thực lục, Ngọc Đường di cảo, Luật thư, Giao tự đại lễ, Thạch khánh đồ, Văn bia Vĩnh Lăng, Phú núi Chí Linh, Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh và môt số
Trang 28bài biểu, bài chiếu mà ông thay mặt cho Lê Thái Tổ hoặc viết cho các đại thần, hoặc viết cho các hoàng tử
Nói về các tác phẩm của Nguyễn Trãi để lại có thể kể đến đó là: Bình
Ngô đại cáo được thảo ra vào ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428) Đây là
Bản tuyên ngôn độc lập do Nguyễn Trãi thay mặt vua Lê Thái Tổ viết ra để tuyên bố cho nhân dân cả nước biết rằng quân Lam Sơn đã đánh bại giặc
Minh, đem lại độc lập cho dân tộc Quân Trung từ mệnh tập do Lê Lợi sai
Nguyễn Trãi viết, trừ một bài đứng tên Trần Cảo thì đều đứng tên Lê Lợi, hầu hết là thư gửi cho bọn tướng nhà Minh như Sơn Thọ, Phương Chính, Thái Phúc, Vương Thông…và viết cho cả bọn tay sai như Đả Trung và Lương Nhữ
Hốt Trong Lam Sơn thực lục tác giả đã tố cáo tội ác của bọn phong kiến nhà Minh gây ra trên đất Đại Việt Quốc âm thi tập là tập thơ chữ Nôm tiêu biểu
của Nguyễn Trãi, ở đó là một tâm hồn cao thượng, khinh ghét bọn nịnh hót tham ô, thi thoảng lại bi quan song ông luôn luôn dành sự quan tâm đến đạo đức xã hội Đặc biệt ở đó có cả một tình yêu thiên nhiên, giang sơn đất nước trong con người của vị thi nhân này
Những tác phẩm để lại của ông là những áng văn hào hùng nhất của một nhà tư tưởng lớn, đó là kết tinh những ước vọng của ông về một xã hội mới tốt đẹp vì con người Một đất nước thái bình thịnh trị, song tư tưởng thường được xuất phát từ thực tiễn nhưng nó lại không được thời đại đó chấp nhận Bởi thế mà những tư tưởng lớn thường có giá trị trường tồn, lâu dài Vì vậy mà, đến ngày nay khi đọc những áng thơ văn của Nguyễn Trãi ta mới thấy chính xã hội ngày nay chúng ta đang dày công hướng tới lại chính là xã hội vì con người mà Nguyễn Trãi luôn mong muốn xây dựng
Tiểu kết chương 1
Có thể thấy rằng, những tư tưởng của Nguyễn Trãi đặc biệt là tư tưởng
về con người của ông bắt nguồn từ thực tiễn đầy biến cố trong nước kết hợp với nền tảng giáo dục của gia đình và sự nhận thức tinh tế của ông trước thời
Trang 29cuộc Những tư tưởng đó đã trở thành một bộ phận cấu thành, đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Nó thể hiện
tư duy sâu rộng, nhạy bén của ông trước những biến động của xã hội thời Trần - Hồ và thời kỳ Lam Sơn khởi nghĩa [10, tr 89] GS Phạm Như Cương trong cuốn kỷ yếu Hội thảo kỷ niệm 600 năm năm sinh Nguyễn Trãi đã từng
nhận xét về nguồn gốc tư tưởng Nguyễn Trãi: “chính là những di sản tinh
thần văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam được đúc kết qua hơn ba ngàn năm dựng nước và giữa nước của nhân dân ta, là những bài học rút ra từ thực tiễn nóng hổi của đất nước lúc đó mà Nguyễn Trãi hẳn đã dày công
quan sát khảo nghiệm tổng kết”
Trang 302.1 Tư tưởng nhân bản của Nguyễn Trãi
Về tư tưởng nhân bản của Nguyễn Trãi đó chính là sự quan tâm của ông đến cuộc sống của con người, hay có thể hiểu là mọi tư tưởng và hành động đều là vì con người, hướng đến sự phát triển của con người Chúng ta có thể thấy rõ điều này, ngay từ khi Nguyễn Trãi từng sống cuộc sống khó khăn thiếu thốn suốt mười năm tại thành Đông Quan rồi lại thêm mười năm cùng
Lê Lợi “nếm mật nằm gai” để đánh đuổi giặc Minh xâm lược Tại sao với mối thù nhà, nợ nước trong mình ông không tham gia ngay vào cuộc khởi nghĩa của vua tôi nhà Trần, hay tự mình dựng cờ khởi nghĩa mà lại chọn cách nấu mình và phò Lê Lợi như vậy Có lẽ, chính cuộc sống thiếu thốn, cho phép ông được sống gần dân, được hiểu nỗi thống khổ của muôn dân Ông nhận ra rằng, đánh giặc cứu nước, không chỉ là đền nợ nước trả thù nhà mà nó phải là
Trang 31vì nhân dân, vì con người, vì cuộc sống ấm no hòa bình Bởi theo ông, muốn
“an dân” trước hết phải đánh quân xâm lược tức là phải “trừ bạo”
Điều đó được ông nhắc đến ngay từ những câu thơ đầu trong Bình Ngô
đại cáo :
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân;
Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt7
trước lo trừ bạo”
“Bình Ngô đại cáo” [79, tr 25 - 40]
“hay như:
dùng quân nhân nghĩa cứu vớt nhân dân, đánh kẻ có tội
“Thư gửi cho Vương Thông” [79, tr 57]
Thực vậy, chỉ khi đã quét sạch quân xâm lược mới có thể “an dân”, mới
có thể để cho nhân dân no đủ “khắp nơi thôn cùng xóm vắng không còn tiếng hờn giận, oán sầu” Và công cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là nhằm mục đích giải phóng dân tộc, cho nên đó là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, vì hòa bình do
đó đã thu hút được tâm lực của nhân dân, thâu phục được thành lũy giặc,
mang lại thắng lợi cuối cùng cho nhân dân Trong bài “Mấy nét về Nhị Khê”,
Trần Lê Văn đã có những nhận xét về Nguyễn Trãi - một con người luôn hết lòng vì dân “Tấc lòng thương dân, yên dân, lo lắng vì dân ở con người có tầm
cỡ vượt xa thời đại ấy nếu là biển thì cũng không phải là biển êm biển lặng
mà là biển luôn luôn sôi động sóng gió Với con người ấy, gian nan thử thách chỉ có tác dụng làm cho tâm hồn cao hơn, lớn hơn” [90, tr 175 - 176]
Cái hay của Nguyễn Trãi là ở ông không chỉ nghĩ đến muôn dân của Đại Việt - những người vừa chịu sự tàn phá của cuộc chiến lại chịu sự thống trị hà khắc của giặc Minh mà ông còn nghĩ tới nhân của cả hai nước trong
7
Điếu phạt: Do câu “điếu dân phạt tội” ở Kinh Thư nghĩa là thương xót nhân dân, đánh kẻ có tôi
Trang 32cuộc chiến tranh này Điều này được thể hiện rõ nét qua những lá thư ông viết
cho tướng nhà Minh đó là: giả xem dân nào cũng là dân, không có riêng tây
“Thư gửi cho Vương Thông” [79, tr 57]
Nếu như ta từng bắt gặp trong thơ ca của Nguyễn Trãi là một con người thiết tha yêu nước, tự hào về truyền thống dân tộc và luôn ý thức về chủ
quyền biên giới lãnh thổ như cách mà ông từng tuyên bố trong Bình Ngô đại
cáo đó là:
Duy ngã Đại Việt chi quốc
Thực vi văn hiến chi bang
Sơn xuyên chi phong vực kỳ thú
Nam bắc chi phong tục diệc dị
(Xét như nước Đại Việt ta
Thật là một nước văn hiến
Bờ cõi núi sông đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác)
“Bình Ngô đại cáo” [79, tr 25 - 40]
Song không vì thế mà ông căm ghét nhân dân Trung Quốc cũng bởi
“ông không hề có chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi” và “không coi dân tộc Trung Quốc là thù địch của dân tộc Việt Nam [39, tr 63] Hơn ai hết, một nhà tư tưởng lớn và vĩ đại như Nguyễn Trãi nhận thấy rằng đối với bất kỳ cuộc chiến nào thì nhân dân cả hai nước đều chịu cảnh cực khổ, cơ hàn khó khăn không thể nào tránh được Đọc những lá thư ông viết cho chủ tướng của địch còn lại
trong tác phẩm Quân trung từ mệnh tập mới thấy cái giá trị nhân văn trong tư
Trang 33tưởng nhân bản của Nguyễn Trãi Khi ông tha thiết kêu gọi hai bên hãy hòa hoãn để chấm dứt chiến tranh là vì nghĩ cho cái “khổ can qua” của nhân dân trong nhiều năm liền phải trải gươm đao Trong bức thư trả lời Phương Chính ông viết: “Nay mày muốn đánh, thì nên tiến quân giao chiến, để quyết sống mái, đừng để khổ cho quân sĩ của cả hai nước” [79, tr 56] Thực vậy, cuộc chiến tranh nào cũng đều khiến cho biết bao người dân vô tội phải thiệt mạng,
bao cảnh lầm than, chia lìa tang thương xảy ra khiến trong nước hư hao, nhân
dân mệt mỏi “Lại thư cho Vương Thông” [79, tr 72] Hơn ai hết ông hiểu bất
kỳ một cuộc chiến nào dù bên nào đang dành được phần thắng thì cũng đều
đã phải đánh đổi bằng rất nhiều thứ Đó có thể là máu thịt của nhân dân, và đó còn là cuộc sống ấm no hạnh phúc của nhân dân, là sự phát triển chung của cả dân tộc Có thể thấy rõ điều đó trong một bức thư ông viết cho Vương Thông, ông đã trách triều đình nhà Minh gây ra cuộc chiến khiến “cho những dân vô tội, liền năm phải thiệt mạng ở chốn gươm đao, những kẻ lưu ly luôn năm phải nát gan nơi đồng cỏ” Vì thế ông đã khuyên Vương Thông nên tự rút quân về nước để “thoát cho cả hai nước khỏi cái khổ can qua” Mục đích cao nhất vẫn là hướng đến nhân dân, hướng đến một đất nước thái bình, thịnh trị nhân dân no ấm Chính bởi thế, Nguyễn Trãi luôn chủ trương “hòa” hayđó chính là dứt mối chiến tranh “Hòa bình và dứt mối chiến tranh cho nhân dân
ta, mà cũng cho cả nhân dân Trung Quốc” [58, tr 61]
Bởi thế ông nói “Dùng binh cốt lấy bảo toàn cả nước làm trên hết Để cho bọn Vương Thông trở về nói với vua Minh trả lại đất đai cho ta, đó là điều ta cần không gì hơn thế nữa” [74, tr 28] Tuyệt mối chiến tranh, bảo toàn
cả nước trên hết “nghĩ kế nước nhà trường cửu, tha cho mười vạn hùng binh Gây lại hòa hảo cho hai nước, dập tắt chiến tranh cho muôn đời” [74, tr 87] Như vậy, chủ trương “hòa” Nguyễn Trãi đã không chỉ nghĩa đến lợi ích của nhân dân Đại Việt lúc bấy giờ mà ông còn nghĩ đến lợi ích của nhân dân
Trang 34Trung Hoa Có thể thấy rằng tư tưởng vì con người, vì quyền sống vì sự phát triển đó là khát vọng cháy bỏng của Nguyễn Trãi, hơn thế, “đó còn là một tinh thần nhân đạo cao cả, một triết lý nhân sinh sâu sắc” [10, tr 126]
Ta còn thấy ở Nguyễn Trãi - đó là một tư tưởng yêu quý hoà bình mong muốn gây dựng một nền thái bình muôn thủa để nhân dân được hưởng sự tự
do, ấm no, hạnh phúc và cùng nhau phát triển
Thánh tâm dục dữ dân hữu tức
Văn trị chung tu trí thái bình
(Lòng vua muốn cùng dân nghỉ ngơi
Văn trị vẫn là việc cần thiết để xây nền hòa bình)
“Quan duyệt thủy trận” [79, tr 122 - 123]
HayXã tắc dĩ chi điện an
Sơn xuyên dĩ chi cải quán
Càn khôn ký bĩ nhi phục bái
Nhật nguyệt ký hối nhi phục minh
Vu dĩ khai vạn thế thái bình chi cơ
(Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bí dĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Để mở nền muôn thủa thái bình)
Trang 35“Bình Ngô đại cáo” [79, tr 25 - 40]
Đúng thế, nếu như mục đích của việc phải tiến hành các cuộc chiến tranh chỉ là để đi tới thái bình, thì mục đích của việc tạo ra môi trường “hòa bình” là để mang lại hạnh phúc cho nhân dân Bởi những năm tháng chiến tranh đó đã tàn phá, đem đến sự chết chóc, luôn đe dọa tới cuộc sống con người, đẩy xã hội vào tình trạng thống khổ Chính vì thế mà trong những áng thơ văn của Nguyễn Trãi, không những thể hiện ý chí đấu tranh, cương quyết giải phóng dân tộc, tiêu diệt quân xâm lược mà còn thể hiện ý nghĩa đấu tranh cho hòa bình, vì nhân dân, vì dân tộc đó là:
Nhất nhung đại định hà thần tốc
Giáp tẩy, cung nang lạc thái bình
(Một bộ nhung y nên công đại địch, thật là thần tốc
Từ nay rửa áo giáp, cất cung tên, vui cảnh thái bình)
“Hạ quy lam sơn (II)” [79, tr 121 - 122]
Và thật ra, qua những bức thư Nguyễn Trãi gửi cho địch, chúng ta bắt gặp ý chí hòa bình của ông không phải chỉ đóng khung trong phạm vi quốc gia, không riêng vì hạnh phúc của dân tộc ta Mà “Nguyễn Trãi còn mơ ước một nền hòa bình rộng ra cả bốn biển, ước mong bốn biển đều là anh em (tứ hải giai huynh đệ)” [58, tr 61] Đọc những câu thơ như: “để cởi cái khổ can qua cho hai nước; để gỡ cái vạ hao hại cho quốc gia” “cởi binh giải điều oán, tạo hạnh phúc của sinh linh trong thiên hạ” ta thấy rằng chủ trương hòa bình
ấy nhằm mục đích cao cả vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, giữ mối hòa hiếu giữa hai dân tộc Xuất phát từ tư tưởng đó, nên ngay từ những ngày đầu kháng chiến Nguyễn Trãi luôn chủ chương chiến lược “tâm công”, đối xử rất
Trang 36tốt đối với các tướng nhà Minh muốn giảng hòa Và Nguyễn Trãi cũng cho chúng ta thấy:
Tướng giặc thành tù, vẫy đuôi họ đã lạy lục cúi bái
Thần võ chẳng giết, thể lòng trời cũng mở lượng hiếu sinh
Bọn Tham Chính, Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ trước được cấp năm trăm chiếc thuyền đã vượt bể mà hồn vẫn kinh phách tán
Bọn Tổng binh Vương Thông, Tham Chính, Mã Anh lại được cấp mấy nghìn cỗ ngựa đã về nước mà còn mặt xám mày xanh [90, tr 249]
Kết quả rực rỡ của đường lối hòa bình là tướng giặc ở các thành đều đem các ngụy quan và nhân dân bị bắt trao trả đủ Từ đó giáo mác được lặng yên, đất đai lấy lại, trong nước thái bình, nhân dân yên nghiệp như cũ Lúc đó, Nguyễn Trãi sung sướng thấy tình giao hảo giữa hai dân tộc có thể được xây dựng sau khi hòa bình lập lại:
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ
Tứ minh tong tử tức kinh ba
(Hồ Việt một nhà nay may được thấy
Bốn biển từ đây lặng hẳn sóng kình)
“Quá thần phù hải khẩu” [79, tr 124 - 125]
Nguyễn Trãi hiểu rằng quan hệ hòa bình giao hảo giữa hai dân tộc là cả một quá trình đấu tranh trường kỳ, gian khổ, đã có biết bao xương máu của nhân dân đổ xuống Vì thế mà ông luôn thiết tha với tình giao hảo giữa hai nước vừa đạt được, hết lòng dốc sức duy trì mối quan hệ bang giao đó Ở Nguyễn Trãi ta thấy một ý chí vì nền hòa bình “xuất phát từ lợi ích của nhân