Những khái niệm liên quan và chức năng của đảng chính trị Trong xã hội có phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp, tổ chức đảng chính trị là một hiện tượng đặc thù, là yếu tố cơ bản củ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu có điều gì
sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Quân
Trang 4Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ HUYỆN BA TƠ (QUẢNG NGÃI) 32
2.1 Khái quát đặc điểm, tình hình huyện Ba Tơ và các nhân tố ảnh hưởng đến
tổ chức, hoạt động của tổ chức Đảng ở cơ sở 32 2.2 Tổ chức và hoạt động của tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở huyện Ba Tơ 34
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP CỦNG CỐ, KIỆN TOÀN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI 60
3.1 Dự báo tình hình và các yếu tố tác động đến tổ chức, hoạt động của tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở 60 3.2 Quan điểm củng cố, kiện toàn tổ chức và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở 62 3.3 Một số nhóm giải pháp củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở 63
KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Qua các thời kỳ lịch sử đã chứng minh trong mọi xã hội có giai cấp, chủ thể cầm quyền thực hiện quyền lực của mình bằng một hệ thống thiết chế nhất định Đó là
hệ thống chính trị - một chỉnh thể bao gồm các tổ chức chính trị trong xã hội được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể cầm quyền
Trong chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là ở Việt Nam, hệ thống chính trị là một cơ chế, đồng thời là công cụ thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị luôn được thể hiện, ghi nhận qua các bản Hiến pháp và Cương lĩnh của Đảng Đó là cơ sở của mối quan hệ giữa xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị Khác với các nước dân chủ trên thế giới, ở Việt Nam hệ thống chính trị cơ sở là bộ phận của hệ thống chính trị không thể tách rời
Trong những năm qua, nhất là từ năm 2010 trở lại đây, ở huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi), đảng bộ các cấp từ huyện đến cơ sở đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực đạt nhiều kết quả quan trọng: Đảng bộ không vi phạm về đường lối, chính sách; kinh tế - xã hội có những bước phát triển khá; quốc phòng, an ninh được tăng cường, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đạt được những kết quả quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng
Tuy nhiên, kinh tế phát triển chưa đồng đều giữa các vùng trong huyện; các nguồn lực chưa được khơi dậy và phát huy đúng mức; công tác lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu chưa mạnh, phát triển thương mại - dịch vụ còn nhỏ lẻ Lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, học tập và chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là ở vùng cao, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Tình hình trật tự xã hội còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội có nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Trang 6Những hạn chế, yếu kém do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là cơ cấu tổ chức của Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở còn nhiều bất cập, chưa phù hợp; nội dung, phương thức hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng chưa thật
sự đổi mới, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng ở cơ sở còn hạn chế, chưa bảo đảm là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở
Sự đúng đắn và tính hiệu quả của những chủ trương, quan điểm về kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Đảng không chỉ đặt ra ở cấp vĩ mô mà phải tiến hành đồng bộ ở các cấp Làm thế nào để cấp cơ sở thực hiện và vận dụng sáng tạo, hoạt động hiệu quả hơn, phát huy những mặt tích cực, khắc phục những tiêu cực, yếu kém, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng là một yêu cầu bức thiết đặt ra cho đảng bộ các cấp trong tỉnh Quảng Ngãi nói chung và của tổ chức đảng ở cơ sở huyện Ba Tơ nói riêng Đặc biệt, hiện nay, khi mà Đảng ta đang thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII là vấn đề có tính thời sự và rất đáng nghiên
cứu Từ nhận thức và thực tiễn ấy, tác giả chọn vấn đề "Đảng trong hệ thống chính trị
cơ sở từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi" để nghiên cứu, làm đề tài luận văn
Thạc sỹ, ngành Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, mối quan hệ giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị và nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặt biệt là của tổ chức đảng ở cơ sở đã được nhiều người nghiên cứu trong các chương trình, đề tài khoa học được công bố ở một số tạp chí, nhà xuất bản trong nước; đồng thời cũng được nhiều người làm khoa học nghiên cứu, tiêu biểu là một số công trình sau:
- Lê Đức Bình (2003) “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với nhà nước”
- Trần Quang Cảnh (2007), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối
với chính quyền huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc" Luận văn Thạc sĩ
- Đỗ Tiến Dũng (2015), Các đảng chính trị ở Anh, Pháo, Mỹ - sự tương đồng và
khác biệt Luận văn thạc sỹ, mã số 60.31.02.01 Tác giả đã phân tích điểm giống và khác
Trang 7nhau giữa các đảng chính trị ở Anh, Pháp, Mỹ, góp phần hoàn thiện về mặt lý luận cho Đảng ta tham khảo và vận dụng trong giai đoạn hiện nay
- Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam: Nội dung và
phương thức lãnh đạo của Đảng, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
+ Trần Đình Huỳnh (chủ nhiệm) (2000), Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà
nước" Đề tài khoa học 96.98.058 Tác giả nghiên cứu về phương thức lãnh đạo của
Đảng Cộng sản đối với Nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện đã giành được chính quyền Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không chỉ là vấn đề nội dung mà còn
là vấn đề tổ chức thực hiện nội dung, trong đó phương thức lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quan trọng
- Nhị Lê (2006), về sự cầm quyền của Đảng, Tạp chí Cộng sản, số 16, tháng 8 Tác
giả bàn về vấn đề cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Nguyễn Viết Mạnh (2014), Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ cấp xã
trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội hiện nay, Luận văn thạc sỹ, bảo vệ tại
Học viện báo chí và Tuyên truyền Tác giả đánh giá thực trực và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng bộ xã trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
- Lê Hữu Nghĩa (2001), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý
của chính quyền cơ sở Tạp chí cộng sản số 19
- Lê Hữu Nghĩa (2014), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
trong điều kiện Đảng cầm quyền Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội
- Trần Đình Nghiêm (chủ nhiệm) (1993), Phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.05 03 Đề tài này tác giả nghiên cứu,
phân tích làm rõ về vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước theo quy định của Hiến pháp 1992
- Trần Đình Nghiêm (chủ biên), các chuyên đề “Đảng cầm quyền”, “Đảng lãnh
đạo chính quyền” Đề tài cấp nhà nước KX.05.09 (giai đoạn 2001-2005) đã nghiệm
thu và in thành sách Tác giả làm rõ hơn vị trí, vai trò của Đảng cầm quyền; phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền
Trang 8- Vũ Hữu Ngoạn (chủ biên) (1994),“Đặc điểm, nội dung,phương thức lãnh đạo
của Đảng trong hệ thống chính trị, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể tổ chức xã hội” Đề tài cấp nhà nước KX.05.06 Tác giả làm rõ hơn mối quan hệ
giữa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị Việt Nam
- Nguyễn Thị Xuân Nữ (2013), Nâng cao năng lực của Đảng bộ phường trên
địa bàn quận cầu giấy, Thành phố Hà Nội hiện nay Luận văn Thạc sỹ, bảo vệ tại Học
viện Báo chí và Tuyên truyền Tác giả phân tích những biện pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ cấp phường trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
- Phạm Ngọc Quang (chủ biên) (giai đoạn 2001-2005), “Đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và chính quyền các cấp” Tác giả làm rõ hơn
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước chính quyền các cấp
- Phạm Ngọc Quang - Nguyễn Khánh (2004), “Đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với nhà nước và xã hội”, Tạp chí cộng sản (9) và hội thảo lý luận giữa 2
Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng cộng Sản Trung Quốc
+ Tạ Ngọc Tấn, (chủ biên) (2012), Một số vấn đề về các đảng chính trị trên
thế giới, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội Tác giả giới thiệu 20 đảng chính trị
tiêu biểu trên thế giới, trong đó có đảng chính trị Anh, Pháp, Mỹ Đồng thời giới thiệu
sự hình thành và phát triển của các đảng chính trị, kinh nghiệm lãnh đạo, kinh nghiệm tranh quyền và cầm quyền, kinh nghiệm xây dựng, phát triển của các đảng chính trị, kinh nghiệm điều chỉnh chiến lược, sách lược của các đảng chính trị hiện nay
+ Ngô Đức Tính, (chủ biên) (2004), Một số Đảng chính trị trên thế giới, Nhà
xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã đề cập đến các đảng chính trị Anh, Pháp, Mỹ ở góc độ phạm vi từng quốc gia
- Trần Văn Tường (2006), Sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội, trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ
Trang 9- Trần Vĩnh Tuyến (2005), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Thành ủy với
chính quyền Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay - thực trạng và giải pháp, Luận văn
Thạc sĩ
- Nguyễn Văn Vĩnh, Hệ thống chính trị và đổi mới Hệ thống chính trị ở nước ta
hiện nay Bài giảng chuyên đề
- Nguyễn Khánh Vinh (chủ nhiệm) (2015), Hệ thống chính trị cơ sở phục vụ
phát triển bền vững vùng Tây Nguyên
Các công trình và tài liệu nghiên cứu đã làm rõ hơn các khái niệm như đảng chính trị, hệ thống chính trị và hệ thống chính trị ở cơ sở; nghiên cứu về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phương thức lãnh đạo, mối quan hệ giữa thành
tố Đảng với các thành tố khác trong hệ thống chính trị, đặc biệt là hệ thống chính trị ở
cơ sở Tuy nhiên, hầu hết các công trình trên đây chủ yếu nghiên cứu về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, ít có đề tài nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với cả hệ thống chính trị Hơn nữa, các công trình đi sâu nghiên cứu những vấn đề lớn
ở cấp vĩ mô, chưa đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm giữa vấn đề lý luận và thực tiễn ở
cơ sở trong nội dung, phương thức hoạt động của Đảng đối với hệ thống chính trị Và đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề tổ chức Đảng trong hệ
thống chính trị ở cơ sở từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, vì vậy đề tài này sẽ
đi sâu vào nghiên cứu để làm rõ hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về Đảng chính trị, tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở; đánh giá đúng thực trạng về tổ chức bộ máy, nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở, huyện Ba Tơ; tìm những nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểm, từ đó đưa ra một số nhóm giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, tiếp tục đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng nói chung và tổ chức Đảng trong hệ thống chính ở cơ sở huyện Ba Tơ nói riêng
Để đạt được mục đích trên, tác giả phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Trang 10- Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị ở cơ sở nói riêng
- Phân tích những yếu tố tác động và thực trạng về tổ chức, hoạt động của tổ chức Đảng ở cơ sở; nêu bật những vấn đề còn hạn chế, khuyết điểm, những bất cập, chưa phù hợp giữa lý luận và thực tiễn cần được giải quyết
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp xây dựng tổ chức cơ sở Đảng nhằm bảo đảm về tổ chức, hoạt động và vai trò lãnh đạo đối với hệ thống chính trị cơ sở, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Địa bàn 20 xã, thị trấn; một số thôn, khu dân cư thuộc 20 xã thị trấn
+ Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng nói chung và tổ chức đảng ở cơ sở nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, nghiên cứu tài liệu, khảo sát, tổng kết thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức, nội dung và phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở huyện Ba Tơ trên cơ sở khái quát những
Trang 11quan điểm của Đảng, cũng như một số kinh nghiệm trong quá xây dựng tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở cơ sở
- Đánh giá đúng thực trạng về tổ chức, nội dung và phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở huyện Ba Tơ
- Nêu quan điểm và đề xuất giải pháp củng cố, kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức Đảng ở cơ sở
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở Chương 2: Thực trạng tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở huyện Ba
Tơ (Quảng Nngãi)
Chương 3: Quan điểm, giải pháp củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng
hoạt động của tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ
1.1 Nhận thức chung về Đảng chính trị, về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị ở cơ sở
1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về đảng chính trị
1.1.1.1 Những khái niệm liên quan và chức năng của đảng chính trị
Trong xã hội có phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp, tổ chức đảng chính trị
là một hiện tượng đặc thù, là yếu tố cơ bản của hệ thống chính trị, hệ thống tổ chức quyền lực chính trị, của chế độ chính trị và xã hội công dân, là công cụ tập hợp của một hay nhiều giai cấp, tầng lớp trong xã hội; tổ chức lãnh đạo đấu tranh giai cấp vì mục tiêu giành, giữ và sử dụng quyền lực chính trị, mà tập trung là quyền lực Nhà nước và định hướng chính trị cho phát triển xã hội
Cho đến nay, có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về đảng chính trị, theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Đảng chính trị là tổ chức chính trị thể hiện những lợi ích của một giai cấp hay tầng lớp xã hội, liên kết những đại diện
ưu tú nhất của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới những mục đích và lý tưởng nhất định” [46, tr.465]
Theo quan niệm của Mác - Ănghen, Đảng cộng sản là đảng của giai cấp công nhân, có quan hệ thống nhất, chặt chẽ với giai cấp công nhân cả về mục tiêu, lý tưởng, lợi ích cũng như cả về ý chí và hành động Tuy nhiên, hai ông cũng chỉ rõ, Đảng không phải là toàn bộ giai cấp công nhân; Đảng là một bộ phận của giai cấp, là lãnh tụ chính trị, đội tiên phong của giai cấp công nhân, có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, bao gồm những người ưu tú nhất, giác ngộ cách mạng nhất trong
giai cấp công nhân, Đảng tiên phong cả về lý luận và thực tiễn: “về mặt lý luận, họ hơn
bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”, “về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên” [12, tr 614, 615]
Trang 13V.I.Lênin là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, lãnh tụ của phong trào công nhân Nga, ông đã kế thừa và bổ sung, phát triển sáng tạo những tư tưởng của C.Mác
và Ph.Ăngghen cho phù hợp với điều kiện lịch sử về xây dựng một chính đảng độc lập của giai cấp vô sản Chính ông đã trực tiếp tổ chức, thành lập, lãnh đạo Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga - một chính đảng vô sản kiểu mới - tiền thân của Đảng Cộng sản Liên Xô sau này Đây là một đảng kiểu mới, khác với tất cả các tổ chức đảng
chính trị đương thời Lê nin khẳng định: "Chỉ có Đảng Cộng sản, nếu nó thực sự là đội
tiền phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp đó chỉ có một đảng như vậy mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cuối cùng, kiên quyết nhất, thẳng tay nhất chống lại tất cả mọi thế lực của giai cấp tư sản” [50, tr 227] Và cũng theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin:
“Đảng chính trị là một tổ chức chính trị của một giai cấp, đại biểu lợi ích cho giai cấp
đó Đảng chính trị ra đời nhằm mục đích đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Đảng chính trị lãnh đạo giai cấp đấu tranh giành chính quyền bằng phương pháp cách mạng và bạo lực cách mạng” [48, tr 124]
Liên quan đến quan niệm, khái niệm Đảng chính trị là vấn đề “Đảng lãnh đạo”,
"Đảng cầm quyền"
"Đảng lãnh đạo" là một khái niệm được các nhà kinh điển Mác - xít nêu ra vào những năm cuối thế kỷ XIX và được hiểu là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp, là giai cấp công nhân thực hiện vai trò tiền phong, gương mẫu, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân để làm sao có được sự đồng tình, ủng hộ một cách tự nguyện của đại đa số nhân dân lao động đối với Đảng, kể cả khi Đảng chưa giành được chính quyền, nhằm xây dựng một xã hội tiến bộ theo mục tiêu của Đảng V.I Lênin viết:
“Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền
phong của mình, tức đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được Nhưng sự đồng tình, ủng hộ đó không thể có ngay được và không phải do những cuộc bỏ phiếu quyết định, mà phải trải qua một cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài, khó khăn, gian khổ mới giành được”[49, tr 251]
Khái niệm “Đảng cầm quyền” được dùng trong khoa học chính trị, chỉ một đảng chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ và lãnh đạo chính quyền để điều hành, quản lý đất nước nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp mình Theo V.Lênin, đảng
Trang 14cầm quyền được hiểu là “đảng nắm chính quyền” bằng những người đại diện của đảng trực tiếp thực hiện công việc quản lý trong bộ máy nhà nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rất sớm về Đảng cầm quyền, tuy nhiên Người không nêu rõ khái niệm Đảng cầm quyền là như thế nào Và có thể thấychỉ có
một lần trong Di chúc, Người mới nói rõ “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”[32];
nhưng qua những bài viết, bài nói, Người cho rằng “Đảng cầm quyền” là một khái niệm khác với “Đảng lãnh đạo”, Đảng cầm quyền là khái niệm gắn với quyền lực Theo Người, Đảng cầm quyền cũng là Đảng nắm chính quyền, nghĩa là Đảng có quyền lực trong thực tế Tuy nhiên, Đảng ta là đội tiền phong không chỉ của giai cấp công nhân mà là của cả dân tộc, là Đảng của cả giai cấp lao động và cũng là đảng của toàn dân; những cán bộ, đảng viên của Đảng trực tiếp thi hành những nhiệm vụ quản lý trong bộ máy nhà nước nhưng đều chỉ là những người được nhân dân “ủy thác”, bầu ra
để phục vụ nhân dân Người viết: “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền Nhân dân
bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy” [33, tr 218] Có thể thấy, đây
là một nét đặc thù của Đảng cầm quyền ở nước ta, trong khi đảng cầm quyền ở nhiều nước chỉ luôn đại diện một lực lượng trong nhiều lực lượng khác nhau của các giai cấp, tầng lớp dân chúng trong xã hội
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Muốn làm cách mạng trước hết phải có Đảng cách
mạng, Người khẳng định: Cách mạng “trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong
thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” [34, tr 267, 268] và Đảng có vững cách mạng mới thành công
Qua các quan niệm trên có thể thấy, Đảng chính trị là một liên kết các cá nhân, tập hợp chung những người có cùng niềm tin, mục đích chính trị, chia sẻ mong muốn kiểm soát bộ máy nhà nước bằng các phương thức hợp hiến Như vậy, Đảng chính trị
là một liên minh chính trị của các nhóm, các phái cùng chung mục đích đấu tranh giành, giữ quyền lực nhà nước nhằm mang lại lợi ích cho giai cấp, tầng lớp xã hội của mình Trong đảng chính trị có nhiều nhóm, phe phái hoạt động với mục đích khác nhau và chỉ liên minh với nhau khi đạt đến mục đích chính trị thống nhất
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh
Trang 15thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến, đưa Nhân dân ta từ địa vị nô lệ lên làm chủ đất nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ nền độc lập của Tổ quốc Kết quả ấy là biểu thị cho những thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và được cả dân tộc Việt Nam thừa nhận
Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và
Cộng sản Việt Nam
Từ những vấn đề trên có thể khái niệm Đảng chính trị là một tổ chức chính trị được liên kết lại gồm những đại diện tiêu biểu nhất của một giai cấp hay tầng lớp xã hội, theo một hệ tư tưởng hay quan điểm chính trị nhất định, thể hiện lợi ích của giai cấp hay tầng lớp xã hội ấy, hướng tới việc giành, giữ và sử dụng quyền lực chính trị
mà trọng tâm là quyền lực nhà nước nhằm tồn tại, duy trì và phát triển giai cấp hay tầng lớp xã hội ấy
Khi nghiên cứu về những quan niệm, định nghĩa về đảng chính trị, có thể thấy rằng các đảng chính trị là thành phần không thể thiếu cho sự vận hành của các chính phủ dân chủ hiện đại, có nghĩa là nền dân chủ không thể hoạt động nếu không có sự tồn tại của các đảng phái chính trị Bởi lẽ, các đảng chính trị có những chức năng cơ bản đó là:
Thứ nhất, các đảng chính trị bảo đảm cho hoạt động của chính phủ, quốc hội có thể thực hiện được trên thực tế, vì Quốc hội hay Nghị viện bao gồm các đại diện của nhân dân Các đảng chính trị tham gia vào quy trình thành lập những cơ quan quyền lực này theo đường lối, chính sách chung của mình để vận động cử tri ủng hộ Chính đảng mà có được đa số phiếu bầu sẽ thành lập chính phủ và điều hành nhà nước
Thứ hai, các đảng chính trị xây dựng các chính sách công cộng Mỗi đảng chính trị tham gia vào cuộc bầu cử để đạt được mục tiêu của nó kết hợp với tuyên ngôn chính trị của của đảng đó, đồng thời hình thành quyết sách, cương lĩnh chính yếu của từng đảng trong quá trình tranh cử Tuy nhiên, không đảng phái nào có thể đạt được sự đồng thuận gần như tuyệt đối về mặt quan điểm
Trang 16Thứ ba, các đảng chính trị giúp định hướng và hỗ trợ công luận Trong bất kỳ
hệ thống chính phủ nào, các đảng chính trị đều định hướng, xây dựng, tập hợp, tổ chức
và thực hiện hóa công luận, đây là yếu tố không thể thiếu trong môi trường nhà nước hiện đại Các đảng phái chính trị với nỗ lực tiến gần hơn với công chúng, bằng nhiều hình thức làm cho quan điểm của mình trở nên rõ ràng Điều này tạo cho người dân có
cơ hội phân tích những ưu, khuyết điểm của các vấn đề quan trọng khác nhau
Thứ tư, các đảng chính trị tạo nên sự ổn định chính trị Bằng nhiều cách, các đảng chính trị thường giúp hợp nhất, đơn giản hóa và ổn định quá trình chính trị của đất nước Các lực lượng, nguồn gốc gây mất ổn định cục bộ, khu vực, lợi ích và vị thế địa lý sẽ có thể giải quyết tranh chấp của mình bằng con đường chính trị Thông qua đảng chính trị, những lực lượng này buộc phải cải tạo hệ tư tưởng của họ để thu hút dân chúng Ngoài ra, các đảng phái chính trị trong nền dân chủ đại diện còn đóng một vai trò rất lớn trong việc duy trì sự ổn định bằng cách thực hiện các vai trò của mình trong cơ quan lập pháp, góp phần tạo nên sự ổn định của chính phủ
Thứ năm, các đảng chính trị giúp hội tụ những nhà lãnh đạo toàn diện, người có
đủ tố chất liêm chính, được tín nhiệm, có ảnh hưởng, có khả năng lãnh đạo gấp nhiều lần các thành viên của nó và chuẩn bị cho cuộc bầu cử trong tương lai Bởi lẽ chính những thành viên đại diện của đảng chính trị là người truyền bá hệ tư tưởng của đảng, thảo luận các vấn đề xã hội và tổ chức các cuộc họp, họp báo để vận động hỗ trợ từ cộng đồng…
1.1.2 Nhận thức về Hệ thống chính trị và Hệ thống chính trị ở cơ sở
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Hệ thống chính trị
Khi nghiên cứu hệ thống chính trị có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng cơ
bản có thể nghiên cứu theo ba cách sau:
Thứ nhất, tiếp cận từ góc độ tổ chức và chức năng thì hệ thống chính trị là một
hệ thống các cơ quan, tổ chức chính trị hợp pháp thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hội Từ góc độ này, hệ thống chính trị được hiểu là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, các đảng chính trị hợp pháp và nhà nước của giai cấp cầm quyền cùng với các quy định, thể chế về mối quan hệ qua lại giữa các tổ chức đó, tác động vào các quá trình đời sống xã hội nhằm duy trì, phát triển xã hội, bảo đảm quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền
Trang 17Thứ hai, tiếp cận từ góc độ bản chất và tính chỉnh thể thì hệ thống chính trị là
hệ thống thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền, bao gồm các bộ phận hợp thành cả về mặt tổ chức và mục tiêu, điều kiện bảo đảm cho các bộ phận của hệ thống ấy được vận hành theo hướng thực hành dân chủ
Thứ ba, nếu tiếp cận từ góc độ cơ chế thực hiện thì hệ thống chính trị là tổng
thể các cơ chế như quyết định, thực hiện và tham gia, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị nhằm bảo đảm cho sự vận hành của quyền lực chính trị
Trong hệ thống chính trị của mỗi quốc gia đều có cơ chế vận hành riêng, nhưng
về cơ bản là vận hành theo ba cơ chế: Thứ nhất, cơ chế mệnh lệnh cưỡng bức; thứ hai
là cơ chế thể chế; thứ ba là cơ chế tư vấn Ba cơ chế này có thể vận hành đồng thời, có thể riêng biệt tùy theo các quan hệ giữa chủ thể chính trị và đối tượng chịu tác động của quyền lực chính trị
Xét từ ba góc độ trên, có thể khái luận: Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các
thiết chế và cơ chế thực thi quyền lực chính trị Hay nói cụ thể hơn: Hệ thống chính trị
là hệ thống các thiết chế thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hội gồm các đảng phái chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập hợp pháp, có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị, có quan hệ ràng buộc, tác động lẫn nhau xoay quanh việc tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị [51, tr 18]
Ở Việt Nam, thuật ngữ "Hệ thống chính trị" được sử dụng lần đầu tiên tại Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (tháng 3-1989), sau đó được chính thức đưa vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ năm 1991 và được sử dụng phổ biến trong các văn kiện của Đảng từ đó đến nay Theo quan điểm chính thống thể hiện trong các
Văn kiện của Đảng ta “Hệ thống chính trị bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở, liên quan đến cả cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, bố trí cán bộ, phương thức hoạt động, lề lối làm việc và chế
độ, chính sách đãi ngộ rất phức tạp, nhạy cảm”[45]
Khi nghiên cứu hệ thống chính trị của nhiều nước trên thế giới, có thể thấy tùy vào thể chế chính trị, đặc điểm của từng bộ phận trong hệ thống chính trị ấy mà có đặc điểm khác nhau Hầu hết đảng chính trị ở các nước phương Tây hiện đại, đặc điểm cơ
bản đó là hệ thống “đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị” Xét cho cùng, tuy "đa nguyên,
Trang 18đa đảng” nhưng về cơ bản cơ quan Lập pháp và Hành pháp đều nằm trong tay các đảng
tư sản cầm quyền Ngay cả trường hợp có một số đảng liên minh cầm quyền thì trên
thực tế vẫn chỉ có các đảng lớn, có thế lực nhất nắm quyền quyết định, và suy đến cùng
là bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ tư bản chủ nghĩa
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, chế độ “nhất nguyên chính trị” là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản chống lại giai cấp tư sản Sau khi trở thành lực lượng cầm quyền, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo, thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Đối với tổ chức Nhà nước, trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều hình thức thể chế nhà nước, song có thể quy thành hai hình thức cơ bản là Quân chủ và Cộng hòa Mỗi thể chế có những đặc điểm riêng
Đối với các tổ chức chính trị - xã hội và các nhóm lợi ích, hoạt động của chúng vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội Tùy điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể
ở mỗi nước, các tổ chức này có đặc điểm riêng về tổ chức và phương thức hoạt động Thông thường các tổ chức này không đặt ra mục tiêu giành hoặc tham gia chính quyền; mà thường vì lợi ích của các thành viên trong tổ chức của mình tìm cách tác động, gây ảnh hưởng đối với chính quyền và đảng phái chính trị
Khác với hệ thống chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa và hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thì hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay ngoài đảng chính trị, nhà nước còn có một số tổ chức chính trị - xã hội được thành lập để thực hiện các hoạt động chính trị và các chức năng xã hội khác, nhưng đó không phải là chức năng chủ yếu Có thể khái quát hệ thống chính trị ở Việt Nam có những đặc điểm đó là: Tính nhất nguyên chính trị, không có đa đảng đối lập; tính thống nhất thể hiện sự gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân và hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc
Những đặc điểm trên vừa quy định kết cấu, tổ chức, cơ chế vận hành và các mối quan hệ vừa quy định tính thống nhất của hệ thống chính trị trong cả nước Các khái niệm trung ương - địa phương - cơ sở chỉ là những cấp độ khác nhau của hệ thống chính trị nói chung, không phải là có ba hệ thống chính trị: Hệ thống chính trị Trung ương, Hệ thống chính trị địa phương và Hệ thống chính trị cơ sở
Trang 191.1.2.2 Hệ thống chính trị ở cơ sở Việt Nam
Khái niệm cơ sở được hiểu theo tinh thần Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH
ngày 20/7/2007 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn Cơ sở ở đây được hiểu với tư cách là một cấp quản lý nhà nước trong
hệ thống quản lý hành chính nhà nước hiện hành Đó là cấp cơ sở của quản lý nhà nước, trong đó xã là cấp cơ sở ở khu vực nông thôn có địa bàn rộng lớn, chiếm đa số trong tổng số đơn vị cơ sở Vì vậy, hệ thống chính trị ở cơ sở được hiểu là hệ thống các thiết chế và các cơ chế để thực thi quyền lực chính trị tại cấp cơ sở, chủ yếu là ở
xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) Như vậy, bộ phận trọng tâm là chính quyền
cơ sở; các thiết chế dưới cấp chính quyền cơ sở như tổ dân phố, thôn, xóm, ấp… có liên hệ chặt chẽ tới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở và được xem là
bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị cơ sở
Theo cách hiểu như trên có thể khái niệm: Hệ thống chính trị cơ sở là một
chỉnh thể các thiết chế và cơ chế thực thi quyền lực chính trị tại cơ sở[51, tr 20]
Xét từ góc độ cấu trúc tổ chức của hệ thống chính trị có thể khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở là một chỉnh thể bao gồm các bộ phận: Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các thành viên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân địa phương Mỗi bộ phận trong hệ thống có vai trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành hệ thống, quản lý và điều hành mọi hoạt động tại cơ sở về các lĩnh vực của đời sống xã hội
Từ những cách tiếp cận về khái niệm và đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam, có thể khái quát hệ thống chính trị ở cơ sở có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hệ thống chính trị ở cơ sở là một bộ phận quan trọng, không thể tách
rời của hệ thống chính trị Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
bảo đảm tính nhất nguyên chính trị của hệ thống chính trị Việt Nam
Thể chế chính trị nước ta là nhất nguyên chính trị, duy nhất một Đảng lãnh đạo Mỗi một thành tố trong hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập
và lãnh đạo, vừa đóng vai trò là hình thức tổ chức quyền lực của Nhân dân, tổ chức tập hợp, đoàn kết, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng, nhưng đồng thời cũng vừa là tổ chức mà thông qua đó Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện việc lãnh đạo chính trị đối với xã hội
Trang 20Xét ở khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính pháp lý của chỉnh thể hệ thống chính trị ở nước ta thì hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp thấp nhất Tuy nhiên, ở cấp thấp nhất nhưng lại quan trọng nhất, vì cấp ở cơ sở là cấp trực tiếp thực thi các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện được hay không là do ở cơ sở
Thứ hai, xét về mặt cấu trúc, hệ thống chính trị cơ sở bao gồm Đảng bộ, Chính
quyền cơ sở, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương Hệ thống chính trị ở cơ sở có bộ máy đơn giản, cán bộ được hưởng các chế độ sinh hoạt phí thấp nhất, đội ngũ cán bộ thường xuyên biến động, trình độ lý luận và trình độ chuyên môn hạn chế
Mối quan hệ hoạt động giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị ở cơ sở tạo ra tính thống nhất của hệ thống chính trị ở cơ sở Các tổ chức thành viên cùng tồn tại và hoạt động trên cùng một địa bàn mang tính chất là một cấp chính quyền nhỏ nhất Các thành viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở đều đặt dưới sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng; các thành viên tiến hành các mặt hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và sự quản lý, điều hành của chính quyền địa phương theo các nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân Tuy có chức năng, nhiệm vụ, cách tổ chức và phương thức hoạt động khác nhau, nhưng các thành viên của hệ thống chính trị cùng hướng tới các mục tiêu chung là phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân địa phương Trong sự thống nhất của hệ thống chính trị ở cơ sở thì đảng bộ là hạt nhân chính trị, giữ vai trò lãnh đạo; chính quyền là lực lượng chủ đạo, giữ vai trò quản lý, điều hành và các đoàn thể Nhân dân là tổ chức đại diện của các tầng lớp nhân dân
Thứ ba, hệ thống chính trị cơ sở là gần dân nhất, là cấp trực tiếp giải quyết
những vấn đề ở cơ sở, là cấp đầu tiên tiếp cận và trực tiếp giải quyết những yêu cầu bức xúc của người dân, những vấn đề nảy sinh trong đời sống; hệ thống chính trị cơ sở gắn bó mật thiết và chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân
Cấp cơ sở là tầng sâu nhất, là điểm cuối cùng mà mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước phải tìm đến Chủ trương, chính sách có trở
Trang 21thành hiện thực hay không, người dân hưởng ứng hay không, tác dụng của các chủ trương, chính sách đó ở mức nào, đúng hay sai đều được chứng minh bởi cuộc sống, tâm trạng, thái độ, niềm tin và hành động cụ thể của người dân Vì vậy, cấp cơ sở tuy
là cấp thấp nhất trong hệ thống quản lý nhưng có tầm quan trọng đặc biệt Và trên thực
tế, cấp xã là nơi tập trung giải quyết các công việc của công dân Việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở và nâng cao chất lượng phục vụ, quản lý của chính quyền cơ sở là tiền đề cho sự ổn định và phát triển
Thứ tư, hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là miền núi, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố đặc thù mang tính chất vùng như: các quan hệ cộng đồng, các yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, phương thức sản xuất…
Những đặc điểm mang tính đặc thù trên có thể tác động, ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ nội bộ trong tổ chức và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở Trong quan hệ với dân, cán bộ ở cơ sở có thể bị chi phối, ràng buộc rất lớn bởi quan hệ
họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã vì vậy
phải chú ý khắc phục những tư tưởng lệch lạc, lạc hậu
Thứ năm, các mối quan hệ theo nhiều hướng đang đan xen và tác động lẫn nhau
hết sức sinh động và phức tạp
Trong hệ thống chính trị ở cơ sở, quan hệ giữa các thiết chế được xác lập theo
cơ chế chủ đạo: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.
Quan hệ giữa Đảng bộ cơ sở với chính quyền cơ sở là mối quan hệ giữa hai chủ thể vừa phụ thuộc, vừa độc lập Đảng lãnh đạo nhưng tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chấp hành chủ trương, nghị quyết của chính quyền địa phương; tuân thủ nội quy, quy chế hoạt động của chính quyền cơ sở; chính quyền cơ sở chịu sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở nhưng độc lập trong việc tổ chức điều hành, quản lý các công việc tại địa phương, trực tiếp giải quyết các vấn đề đặt ra tại địa phương
Quan hệ giữa Đảng bộ cơ sở với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tại cơ sở là
Trang 22mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo với các tổ chức đại diện hợp pháp cho các tầng lớp Nhân dân, mà Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị Đảng bộ vừa là người lãnh đạo Mặt trận cũng vừa là thành viên của Mặt trận Vì vậy, quan hệ giữa Đảng bộ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc vừa là quan hệ lãnh đạo vừa là quan hệ hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động
Quan hệ giữa chính quyền cơ sở với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tại cơ sở là mối quan hệ bình đẳng, cùng hướng vào mục tiêu đảm bảo quyền làm chủ của Nhân dân địa phương trong quản lý nhà nước và xã hội Ngoài ra, quan hệ giữa chính quyền cơ sở và Mặt trận Tổ quốc còn là quan hệ phối hợp hành động
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; giáo dục lý tưởng
và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước
Quan hệ giữa hệ thống chính trị cơ sở với hệ thống chính trị cấp trên là mối quan hệ giữa các bộ phận trên - dưới trong cùng hệ thống, mang tính chất chấp hành, điều hành, được thiết kế theo nguyên tắc tập trung dân chủ Đây là nguyên tắc cơ bản bảo đảm cho hệ thống chính trị thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị
Quan hệ giữa hệ thống chính trị cơ sở với các thiết chế chính trị của cộng đồng
tự quản tại địa phương là mối quan hệ giữa cấu trúc nhỏ nhất của hệ thống chính trị Việt Nam, các tổ chức này được xem là cánh tay nối dài của cấu trúc đó Trên thực tế,
đó là mối quan hệ phối hợp, hỗ trợ, vận hành theo quy chế phối hợp công tác, các văn bản pháp luật của nhà nước, luật tục, hương ước và quy phạm tôn giáo
Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng, là một bộ phận không thể tách rời hệ thống chính trị Việt Nam Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) nhận
định: “Các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh
Trang 23sống Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư” [3, tr.1]
Vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở được thể hiện qua sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị ở cơ sở, đồng thời cũng được thể hiện thông qua vai trò của từng
bộ phận cấu thành nên nó Nhìn chung hệ thống chính trị ở cơ sở có những vai trò sau:
+ Phát huy dân chủ ở cơ sở, đoàn kết, tập hợp quần chúng và huy động sức mạnh tổng hợp từ cơ sở để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước
+ Xác định các biện pháp và trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Cụ thể hóa quy hoạch kinh tế - xã hội và các quyết sách của cấp trên tại cơ sở
+ Thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, trật
tự kỷ cương xã hội trên địa bàn
+ Bảo đảm, bảo vệ các quyền cơ bản của con người, quyền công dân tại cộng đồng cơ sở
+ Tạo điều kiện và phối hợp với các thiết chế tự quản, các hội nghề nghiệp, từ thiện, nhân đạo…để vận động và hướng dẫn các tổ chức đó hoạt động đúng hướng, đúng pháp luật
+ Phát hiện nhu cầu, tổng hợp các sáng kiến tại cơ sở, chuyển tải các nguyện vọng của nhân dân địa phương phục vụ quá trình xây dựng chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển phù hợp với đặc điểm của vùng, khu vực
Vai trò của từng bộ phận trong hệ thống chính trị ở cơ sở thể hiện thông qua chức năng, nhiệm vụ của các thiết chế, năng lực của các thiết chế trong việc thực hiện hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và khả năng tác động tới quá trình xây dựng, phát triển tại địa phương Trong đó tổ chức cơ sở đảng có vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị; chính quyền cơ sở là đơn vị thực hiện, đồng thời cũng là nơi kiểm tra, đánh giá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là nơi trực tiếp trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đối với các đoàn thể Nhân dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc tập hợp, đoàn kết Nhân dân, chăm lo lợi ích của
Trang 24thành viên, thực hiện dân chủ thực thi quyền và nghĩa vụ của công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong trào vận động quần chúng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở
1.2 Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị ở cơ sở
1.2.1 Hệ thống, cơ cấu tổ chức của Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở
Hiện nay tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam được thực hiện theo Điều lệ
Đảng, các văn bản của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống chính trị và
xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chặt chẽ từ Trung ương xuống cơ sở Về cơ bản, tổ chức Đảng được tổ chức theo cơ cấu tổ chức hành chính nhà nước Có nghĩa là tại mỗi cấp hành chính nhà nước có các tổ chức đảng tương ứng
Điều lệ Đảng xác định: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ, đảng bộ cơ sở ) là nền
tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”; “Ở xã, phường, thị trấn, có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp ủy cấp huyện) Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng…nếu chưa đủ ba đảng viên chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp" [16, tr 35, 36] Theo đó, ở cấp Trung ương có Trung ương Đảng; ở cấp tỉnh có các đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ở cấp huyện
có các đảng bộ huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và ở cấp cơ sở có các tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn
Số lượng cấp ủy viên, cơ quan tham mưu, giúp việc ở mỗi cấp thực hiện do Điều lệ Đảng quy định Trong Điều lệ Đảng có nêu: "Số lượng Uỷ viên Ban Chấp
hành Trung ương do Đại hội đại biểu toàn quốc quyết định; số lượng cấp uỷ viên cấp nào do đại hội cấp đó quyết định theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương Cấp uỷ các cấp cần được đổi mới, bảo đảm tính kế thừa và phát triển qua mỗi lần đại hội Cấp uỷ mỗi cấp lập các cơ quan tham mưu, giúp việc theo hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương Khi cần, cấp uỷ lập tiểu ban, hội đồng, tổ công tác và giải thể khi hoàn thành nhiệm vụ .
[16, tr 26, 27,28]
Trang 25Ngoài hệ thống tổ chức cơ bản, tổ chức đảng còn được thành lập theo khối Trung ương lập một số đảng bộ khối trực thuộc Trung ương Các đảng bộ khối này được tổ chức theo các đơn vị cùng ngành hoặc các ngành có chức năng tương đồng và
có mối quan hệ với nhau về nhiệm vụ chính trị
Các đảng bộ khối trực thuộc Trung ương bao gồm các đảng bộ của các cơ quan
có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hiện nay, có hai đảng bộ khối trực thuộc Trung ương là Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương và Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương Các đảng bộ trực thuộc Đảng
bộ Khối trực thuộc Trung ương là các đảng bộ cấp trên cơ sở, bao gồm các loại hình:
- Các đảng bộ trong các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
- Các đảng bộ được thành lập trong các doanh nghiệp lớn, đông đảng viên, các
tổ chức kinh tế… Hầu hết đây là các đảng bộ trực thuộc Đảng bộ khối doanh nghiệp Trung ương
- Các đảng bộ khối thuộc Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Đảng bộ Khối cơ quan tỉnh, thành phố; ở các tỉnh, thành phố có nhiều doanh nghiệp thì có Đảng bộ khối doanh nghiệp Ngoài
ra, còn có các đảng bộ tương đương cấp huyện được thành lập ở một số nơi khác có đặc điểm riêng (thực hiện theo quy định Điều lệ Đảng)
Trực thuộc các đảng bộ cấp trên cơ sở là các tổ chức cơ sở đảng Đây là các đảng bộ, chi bộ được thành lập tại các tổ chức kinh tế - xã hội như cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị
Đối với hệ thống tổ chức Đảng trong Quân đội, Công an được tổ chức tương ứng với cơ cấu tổ chức của Quân đội và Công an, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và Công an
Xét từ góc độ đơn vị hành chính, trong hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng thì tổ chức cơ sở Đảng được thành thành lập tại xã, phường, thị trấn; là tổ chức đảng trực thuộc Đảng bộ huyện và tương đương Hiện nay có hai loại hình là đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở Ở xã, phường, thị trấn, tức là các cộng đồng dân cư cấp xã, nếu có từ ba đảng viên chính thức trở lên thì thành lập tổ chức cơ sở đảng trực thuộc đảng bộ cấp huyện Tùy vào số lượng đảng viên chính thức để thành lập đảng bộ cơ sở hay chi bộ
Trang 26cơ sở Nếu tại xã, phường, thị trấn, số đảng viên có từ ba mươi trở lên thì thành lập đảng bộ cơ sở Đảng bộ cơ sở được phân chia thành các tổ chức đảng trực thuộc là các chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở Chi bộ trực thuộc đảng bộ được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi cư trú của đảng viên; mỗi chi bộ ít nhất có ba đảng viên chính thức Nếu tại xã, phường, thị trấn, số đảng viên dưới ba mươi thì lập chi bộ cơ sở trực thuộc đảng
bộ huyện và tương đương
Tại các cơ sở là các tổ chức kinh tế - xã hội còn có các tổ chức cơ sở đảng khác như cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an…
có từ ba đảng viên chính thức trở lên thì thành lập tổ chức đảng, nhưng không nhất thiết phải là tổ chức cơ sở đảng
Như trên đã nêu thì cơ cấu tổ chức của Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở gồm Ban Chấp hành đảng bộ xã, phường, thị trấn (gọi tắt là Đảng ủy) do Đại hội cùng cấp bầu ra; Ban Thường vụ Đảng ủy do Ban Chấp hành Đảng bộ bầu (trừ khi có chỉ đạo Đại hội thí điểm để bầu trực tiếp Ban Thường vụ hoặc bầu một số chức danh: Bí thư, Phó Bí thư…)
Căn cứ vào tiêu chuẩn và thực trạng đội ngũ cán bộ, đại hội quyết định số lượng cấp ủy viên; cấp ủy khóa mới quyết định số lượng ủy viên ban thường vụ cấp
ủy Những nơi thực hiện thí điểm chủ trương đại hội đảng bộ cơ sở trực tiếp bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư thì đại hội quyết định số lượng cấp ủy viên, số lượng ủy viên ban thường vụ và số lượng phó bí thư cấp ủy, theo quy định của Trung ương, Bộ
Chính trị
1.2.2 Vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở
1.2.2.1 Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng
Tổ chức cơ sở đảng là cấp tổ chức cuối cùng trong hệ thống tổ chức bốn cấp của Đảng, là cấp tổ chức sâu rộng nhất gắn với các đơn vị cơ sở trên toàn lãnh thổ và các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đến từng
cơ sở, từng đảng viên và từng người dân Tổ chức cơ sở đảng là nơi lãnh đạo toàn diện các mặt hoạt động tại cơ sở, lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể quần chúng, là nơi đưa đường lối, chính sách của Đảng đến với Nhân dân thông qua các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở và đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên; đồng thời là nơi kiểm nghiệm sự đúng đắn của đường lối, đóng góp những sáng kiến của Nhân dân
Trang 27để Đảng bổ sung hoàn chỉnh đường lối, chính sách, là chỗ dựa tin cậy của Nhân dân ở
cơ sở Hơn nữa tổ chức cơ sở đảng cũng là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng Đảng như: Kết nạp, quản lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá đảng viên;
là nơi sâu sát nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phản ánh trung thực đầy đủ
và kịp thời với Đảng, để đề ra đường lối đúng đắn Điều đó khẳng định vị trí, vai trò là nền tảng của Đảng và là hạt nhân chính trị trong hệ thống chính trị cơ sở
1.2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng
Chức năng của tổ chức Đảng là toàn bộ những cộng việc xuất phát từ vị trí, vai trò mà tổ chức Đảng phải thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu của Đảng đề ra Tại
Điểm 1, Điều 21 Điều lệ Đảng quy định: "Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ
cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở"[16, tr 35] Như vậy tổ
chức cơ sở đảng có hai chức năng cơ bản Đó là chức năng nền tảng của Đảng và chức năng là hạt nhân chính trị ở cơ sở
Chức năng nền tảng của Đảng xuất phát từ những vị trí, vai trò của tổ chức cơ
sở đảng, đó là lãnh đạo, quản lý đảng viên và các tổ chức của đảng viên như chi bộ, tổ đảng một cách trực tiếp, ban hành các quyết định về đảng viên và các chi bộ, tổ đảng; quản lý những mặt hoạt động của đảng viên Đồng thời, các chủ trương, đường lối của Đảng chủ yếu bắt nguồn, lấy căn cứ từ hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và được thực hiện thông qua tổ chức cơ sở Đảng Tổ chức cơ sở đảng là nơi trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc, gần gũi, tìm hiểu, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, giáo dục, hướng dẫn và tổ chức Nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Tổ chức cơ sở đảng vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện nhưng đồng thời cũng vừa là nơi hình thành, phát triển chủ trương, đường lối, thông qua tổng kết hoạt động thực tiễn của đảng viên, quần chúng và ở cơ sở Các tổ chức cơ sở đảng còn là nơi lựa chọn, bồi dưỡng những quần chúng ưu tú để kết nạp vào Đảng, bổ sung đội ngũ của Đảng
Chức năng hạt nhân chính trị ở cơ sở thể hiện rõ ở phương diện cấu trúc của hệ thống chính trị Hệ thống chính trị được lập ra để thực hiện quyền lực chung của xã hội Đảng là một thành viên của hệ thống chính trị, nhưng là thành viên lãnh đạo hệ thống đó Chức năng "là hạt nhân chính trị" thể hiện ở tính tích cực và tầm ảnh hưởng của Đảng trong hệ thống chính trị Đảng tiến hành các nhiệm vụ chính trị vì lợi ích của giai cấp, của toàn xã hội Nhiệm vụ này không tổ chức nào khác mà do chính Đảng đề
Trang 28ra và tự giác, gương mẫu thực hiện Đảng không bao biện làm thay nhưng cũng không chia sẻ quyền lực chính trị Vì vậy, tổ chức cơ sở đảng luôn là thành viên tích cực nhất Mặt khác, tổ chức cơ sở đảng là thành viên giữ vai trò lãnh đạo toàn diện các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; giáo dục, tổ chức, động viên quần chúng thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đoàn kết và tập hợp mọi lực lượng ở cơ sở thành một khối thống nhất về ý chí và hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp để thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cơ sở
Nhiệm vụ là toàn bộ những công việc mà tổ chức đó phải đảm nhận và có trách nhiệm thực hiện Căn cứ hai chức năng cơ bản nêu trên, Điều 23 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định tổ chức cơ sở đảng (chi bộ, đảng bộ cơ sở) có năm nhiệm vụ [16, tr 39, 40], đó là:
- Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả
- Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên
- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân
- Liên hệ mật thiết với Nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhân dân; lãnh đạo Nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng
và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng
Từ năm nhiệm vụ trên, có thể khái quát các mặt công tác cơ bản của tổ chức cơ
sở đảng như sau:
Một là, lãnh đạo công tác xây dựng Đảng Trước hết là xây dựng Đảng về chính
trị, nâng cao năng lực, vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở Nâng cao khả năng tổ chức
Trang 29thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chất lượng xây dựng và ban hành, tổ chức thực hiện các quyết định của Đảng ở cơ sở Đồng thời, xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên; đồng thời thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng
Hai là, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị Nội dung này cần phân biệt giữa
công tác xây dựng Đảng về chính trị với công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị Theo nghĩa rộng hơn, đó là tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội
Tổ chức cơ sở đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
và bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhân dân, động viên quần chúng hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của cơ sở, đơn vị đối với Nhà nước; lãnh đạo Nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
Ba là, kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm cho các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng
Về cơ bản, tất cả các loại hình tổ chức cơ sở đảng đều có các nhiệm vụ nêu trên, nhưng ở mỗi loại hình thì nội dung nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị có sự khác nhau sao cho phù hợp với từng loại hình Đối với đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn, tập trung một số nhiệm vụ sau:
Đối với đảng bộ, chi bộ cơ sở xã:
Một là, lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội theo nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và của tổ chức đảng cấp trên, đặc biệt là nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế; quản lý và sử dụng đất đai, vốn và các nguồn lực để phát triển kinh tế
có hiệu quả, bền vững; phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; thực hiện tốt các chính sách xã hội, xóa đói, giảm nghèo
Trang 30Hai là, lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở, thực hiện tốt phương châm "dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"; kiểm tra, giám sát mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; giải quyết những vướng mắc, nảy sinh trong cộng đồng dân cư theo đúng pháp luật, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện tập thể vượt cấp hoặc lợi dụng dân chủ để làm mất ổn định chính trị ở cơ sở
Ba là, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và chính sách hậu
phương quân đội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Đối với đảng bộ, chi bộ cơ sở phường, thị trấn, về cơ bản thực hiện đầy đủ nội dung của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã Trong đó tập trung lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện đúng chức năng quản lý hành chính nhà nước và công tác quản lý đô thị, giữ vững an ninh chính trị và trật tự,
an toàn xã hội trên địa bàn; phòng, chống các tệ nạn xã hội
Căn cứ vào đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ chính trị của từng loại hình, Đảng
ủy cơ sở và các chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở lãnh đạo thực hiện hiệu quả nghị quyết của đảng ủy cơ sở Trong quá trình ban hành nghị quyết lãnh đạo của các cấp ủy đặc biệt chú ý đến các nhân tố đặc thù tác động, ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện, như đặc điểm vùng miền, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán cộng đồng Thường xuyên xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh; chủ động đề phòng và kịp thời khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống
Trong công tác xây dựng chi bộ tập trung giáo dục, quản lý và phân công công tác cho đảng viên để đảng viên thực hiện tốt vai trò tiên phong gương mẫu; làm tốt công tác vận động quần chúng và công tác phát triển đảng viên; thông qua công tác vận động để phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng; thường xuyên kiểm tra, giám sát, khen thưởng và kỷ luật; kịp thời phát hiện và có biện pháp giáo dục đối với đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người thoái hóa, biến chất, không đủ tư cách đảng viên
Giữ vững nền nếp, không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi ủy, chi bộ; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; trong sinh hoạt chi ủy, chi bộ coi trọng tự phê bình, nêu cao tình yêu thương đồng chí, giúp nhau không ngừng tiến bộ
Trang 311.2.3 Nội dung và phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở
1.2.3.1 Nội dung lãnh đạo của Đảng
Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là những vấn đề lớn của đất nước mà Đảng đưa ra Cụ thể là các chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ, các vấn
đề kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng và hoàn thiện hệ
thống chính trị nhằm định hướng chính trị cho việc đổi mới nội dung, phương thức
hoạt động của hệ thống chính trị nước ta Trong đó, Đảng coi trọng việc thể chế hoá,
cụ thể hoá quan điểm, chủ trương đường lối thành luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo Quốc hội trong các hoạt động lập pháp, giám sát tối cao và việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và định hướng cho việc ban hành cơ chế, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… của Chính phủ
Trong quá trình xây dựng, hoạch định đường lối, Đảng lãnh đạo và thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các nhiệm vụ lớn cách mạng trong thời kỳ đổi mới, xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội Đặc biệt, chú trọng xử lý và giải quyết tốt các mối quan
hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; chú ý giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
Từ những nội dung trên, tổ chức đảng ở cơ sở phải nâng cao nhận thức và thực hiện đúng chức năng là hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở, đặc biệt chú trọng một số nội dung:
Thứ nhất, xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là
then chốt, chăm lo xây dựng chính quyền cơ sở, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức
Trang 32hoạt động phải coi trọng các nhân tố đặc thù ở từng vùng, từng địa bàn ở cơ sở để đưa
ra nhiệm vụ, biện pháp phù hợp, có hiệu quả
Thứ hai, tổ chức quán triệt đầy dủ và thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Thứ ba, nắm chắc và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng, bảo đảm lợi ích
chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực Nhân dân, nâng cao trình độ dân trí
Thứ tư, các chi bộ, đảng bộ cơ sở không ngừng nâng cao chất lượng đảng viên
về mọi mặt; thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng; đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống, gương mẫu đi đầu trong công việc và làm tốt công tác phát triển đảng, bảo đảm tiêu chuẩn, nâng cao chất lượng đảng viên v.v…đặc biệt quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số
1.2.3.2 Phương thức lãnh đạo của Đảng
Phương thức lãnh đạo của Đảng là khoa học về những nguyên tắc của một Đảng,
là hệ thống các quan điểm chỉ đạo, các phương pháp, hình thức, giải pháp mà Đảng tác động vào đối tượng nhằm đạt được mục tiêu chính trị đã đề ra Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội có thể khái quát các phương thức sau:
Thứ nhất, Đảng đề ra Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, nghị quyết,
chỉ thị, chiến lược, kế hoạch về các vấn đề kinh tế, xã hội Căn cứ vào các văn kiện, chủ trương, quan điểm của Đảng, các tổ chức đảng, các tổ chức nhà nước và xã hội có trách nhiệm thể chế hóa và tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật
Thứ hai, Đảng lãnh đạo bằng công tác tổ chức, cán bộ và đội ngũ cán bộ, đảng
viên Thông qua các tổ chức chính trị - xã hội do Đảng lập ra tác động vào Nhà nước
và xã hội; đề cử cán bộ, đảng viên ưu tú vào bộ máy nhà nước, vào các tổ chức chính trị, xã hội; thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên để thực hiện các mục tiêu của mình
Thứ ba, kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng
Hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng không phải là khâu cuối cùng của quy trình lãnh đạo, mà nó đang xen vào tất cả các khâu, hướng vào việc xây dựng, thực hiện các nghị quyết, quyết định và chỉ thị của Đảng, hoàn thiện quy trình lãnh đạo và giữ gìn kỷ luật, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng
Trang 33Thứ tư, Đảng lãnh đạo xã hội bằng công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục
và vận động Nhân dân Đảng lãnh đạo bằng sự nêu gương, đi đầu trong việc thực hiện các nhiệm vụ
Từ thực tiễn cho thấy, trong hệ thống chính trị ở cơ sở phương thức lãnh đạo của
tổ chức đảng tập trung vào những vấn đề như sau:
Một là, đảng bộ, chi bộ ở cơ sở ban hành các nghị quyết của đảng bộ, chi bộ, của
cấp ủy Khi xây dựng nghị quyết cần nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng cấp trên, tổng kết thực tiễn về vấn đề ra nghị quyết, coi trọng việc đánh giá các nhân tố mang tính đặc thù tác động ảnh hưởng đến vấn đề lãnh đạo, chỉ đạo, hình thành dự thảo nghị quyết, lấy ý kiến đóng góp của Nhân dân, của các tổ chức chính trị - xã hội Chi bộ, cấp ủy thảo luận, thông qua nghị quyết, trong đó xác định chủ trương, giải pháp có tính định hướng phân công, giao trách nhiệm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị xây dựng chương trình, tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng tổ chức Những chủ trương, nội dung công tác thuộc của chính quyền, đoàn thể thì chính quyền và đoàn thể chủ động đề xuất, cấp ủy đảng bàn bạc và có ý kiến về những nội dung quan trọng
Hai là, xây dựng và thực hiện quy chế làm việc của chi bộ, đảng bộ, xác định rõ
trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể, cá nhân; mối quan hệ giữa Đảng với chính quyền, đoàn thể; trách nhiệm của đứng đầu cấp ủy, chính quyền để bàn và giải quyết kịp thời những vấn đề quan trọng và bức xúc trên địa bàn, bảo đảm cho cấp ủy đảng quán xuyến được các mặt công tác ở cơ sở
Ba là, đảng bộ, chi bộ và cấp ủy đảng phải chú ý xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận
thông qua rèn luyện đội ngũ đảng viên; đồng thời phát hiện và bồi dưỡng những người
có đức, có tài để đảm đương các vị trí công tác trong hệ thống chính trị Dựa vào nhân dân, thông qua hoạt động thực tiễn ở cơ sở để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng
và kiểm tra cán bộ
Bốn là, bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức đảng đối với các cuộc bầu cử ở cơ sở,
phát huy dân chủ rộng rãi, thực hiện đúng nguyên tắc, tiêu chuẩn, chú ý thực hiện việc giới thiệu đảng viên và người ngoài đảng để Nhân dân, Hội đồng nhân dân, Đại hội và Ban chấp hành các đoàn thể bầu vào các chức danh lãnh đạo, dựa trên sự đề cử, ứng cử
từ dưới lên Thực hiện tốt việc thăm dò ý kiến của Nhân dân trước khi bầu cử cấp ủy
Trang 34Khi thực hiện chủ trương nhất thể hóa người đứng đầu cấp ủy đồng thời là người đứng đầu chính quyền phải theo sự chỉ đạo của cấp ủy có thẩm quyền
Năm là, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng trong
việc chấp hành chủ trương, nghị quyết của Đảng; kiểm tra công tác, đồng thời kiểm tra
tư cách đảng viên Chú trọng lắng nghe ý kiến nhận xét, đánh giá của quần chúng đối với đảng viên và tổ chức đảng thông qua việc thực hiện dân chủ ở cơ sở
Từ những phương thức chung nhất, phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ
sở được cụ thể trên các lĩnh vực như sau:
Thứ nhất, đối với chính quyền
Đảng bộ, chi bộ cơ sở, trực tiếp là đảng ủy, chi ủy lãnh đạo chính quyền bằng việc đề ra chủ trương, nhiệm vụ, định hướng cho các hoạt động, các lĩnh vực công tác
ở cơ sở và kiểm tra việc tổ chức thực hiện; bảo đảm chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Tập thể cấp ủy ra nghị quyết về kiện toàn tổ chức và đội ngũ cán bộ công tác chính quyền cơ sở thuộc thẩm quyền Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, cấp ủy viên được cơ cấu trong chính quyền, bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội và của Nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước, thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí…
Thứ hai, đối với các tổ chức đoàn thể nhân dân:
Đảng ủy, chi ủy xây dựng chương trình, kế hoạch vận động Nhân dân; thường xuyên lắng nghe và đối thoại trực tiếp với nhân dân
Lựa chọn, giới thiệu cán bộ, đảng viên có phẩm chất và năng lực công tác vận động nhân dân để được bầu vào ban chấp hành, làm cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở Phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong các đoàn thể
Đảng ủy, chi ủy định kỳ làm việc với ban chấp hành từng đoàn thể và Ban công tác Mặt trận ở cơ sở, tạo điều kiện để các đoàn thể thực hiện tốt vai trò của mình
Thứ ba, trong nội bộ tổ chức đảng:
Trang 35Đảng ủy, chi ủy thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân
Đảng bộ, chi bộ, đảng ủy, chi ủy lãnh đạo bằng việc ra nghị quyết, chương trình,
kế hoạch và tổ chức thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, thực hiện "đảng viên đi trước, làng nước đi sau"
Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của cấp ủy và ủy ban kiểm tra về chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ gìn đoàn kết nội bộ, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với Nhân dân
Tổ chức cơ sở đảng thực hiện chức năng là hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở, trước hết
và chủ yếu là lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, với nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế và nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng và lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa tinh thần
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Ở CƠ SỞ HUYỆN BA TƠ (QUẢNG NGÃI)
2.1 Khái quát đặc điểm, tình hình huyện Ba Tơ và các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức, hoạt động của tổ chức Đảng ở cơ sở
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Ba Tơ là một trong sáu huyện miền núi, nằm về phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ngãi Phía bắc giáp các huyện Minh Long, Sơn Hà (Quảng Ngãi); phía đông bắc giáp huyện Nghĩa Hành (Quảng Ngãi); phía đông giáp huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi); phía nam và đông nam giáp huyện An Lão của tỉnh Bình Định; phía tây và tây nam giáp huyện Kon Plông của tỉnh Kon Tum và huyện K’Bang của tỉnh Gia Lai Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện: 113.669,52 hécta, chiếm 1/5 tổng diện tích tỉnh Quảng Ngãi
Địa hình của Ba Tơ chủ yếu là đồi núi, thung lũng và có nhiều sông, suối Đồi núi chiếm 4/5 diện tích toàn huyện, có nhiều núi cao hiểm trở nối liền với các huyện miền núi xung quanh như núi Cao Muôn, liền chân với các dãy núi ở các huyện Sơn
Hà, Minh Long (Quảng Ngãi) với dãy Ngọc Linh của tỉnh Kon Tum và núi Lớn của huyện Mộ Đức, núi Ba Huyện (nằm giữa ba huyện Ba Tơ, Nghĩa Hành và Đức Phổ)
2.1.2 Về kinh tế - xã hội
Về đơn vị hành chính, Ba Tơ có 20 xã, thị trấn, có 119 thôn (trong đó 112 thôn
và 07 tổ dân phố), với 216 khu dân cư Dân số toàn huyện có 14.604 hộ, với 58.151 nhân khẩu; dân tộc Hrê chiếm 82,7%, còn lại là dân tộc Kinh và một số dân tộc khác
Dân cư sinh sống không đồng đều giữa các vùng Người Hrê cư trú lâu đời ở
Ba Tơ và thường được gọi là Hrê "ngọn" (ngọn nguồn) Người Hrê sống thành từng làng thôn, từ vài chục đến vài trăm nóc nhà, quần tụ dưới chân núi hoặc sườn núi - nơi
có các cánh đồng, ruộng bậc thang hoặc đất bằng phẳng trải dài dọc triền sông Hình thái kinh tế chủ yếu là sản xuất lúa nước kết hợp với kinh tế nương rẫy Bên cạnh đó, người Hrê còn săn bắn, hái lượm, đánh cá Trong quá trình phát triển, bên cạnh nét văn hóa chung với các dân tộc anh em ở miền tây Quảng Ngãi, người Hrê ở Ba Tơ vẫn bảo lưu được vốn văn hóa cổ truyền giàu bản sắc của dân tộc mình như: Các lễ hội, văn nghệ dân gian, nhà sàn, nghề dệt thổ cẩm, trang sức, trang phục truyền thống
Trang 37Hơn 70% dân số sống bằng nghề nông Đời sống của nhân dân vốn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc trong huyện, nền kinh tế có những chuyển động theo hướng tích cực, khởi sắc Đặc biệt, các thiết chế cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng
xã hội được xây dựng đều khắp, nổi bật là trung tâm thị trấn Ba Tơ
Đồng bào các dân tộc Ba Tơ có truyền thống đoàn kết, đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Qua các thời kỳ lịch sử, phong trào yêu nước của nhân dân Ba Tơ tiếp tục được phát huy mạnh mẽ, nhất là từ khi Đảng bộ huyện Ba Tơ được thành lập (tháng 4.1930) đã lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh giành những thắng lợi to lớn, điển hình là cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ lịch sử 11/3/1945 trong kháng chiến chống Pháp và chiến dịch giải phóng Ba Tơ trong kháng chiến chống Mỹ giành thắng lợi
Cần khẳng định rằng, trong những năm qua, nhất là từ năm 2010 trở lại đây, kinh tế của huyện có bước phát triển khá, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân được đầu tư Mũi nhọn trong phát triển kinh tế chủ yếu là lâm nghiệp, phát triển mạnh nhất là trồng cây nguyên liệu (cây Keo); ngoài ra ở một số vùng quy hoạch cây mía, cây mỳ Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên đáng kể Lĩnh vực văn hóa - xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc chăm lo đến đời sống của nhân dân Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn
xã hội trên địa bàn huyện luôn được giữ vững, ổn định Tổ chức đảng và đảng viên không ngừng được kiện toàn, củng cố và phát triển; nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng tiếp tục được đổi mới, chất lượng hoạt động, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ, đảng viên được nâng lên
Tuy nhiên, với đặc điểm là huyện miền núi, nên điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí ở một số nơi còn thấp; một số hủ tục, phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại; Ba Tơ vẫn còn là một trong những huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ Trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp
vụ của đội ngũ cán bộ cơ sở tuy được đào tạo, bồi dưỡng, từng bước chuẩn hóa, nhưng
về năng lực thực tiễn còn nhiều hạn chế; đảng viên lớn tuổi, sức khỏe yếu, đảng viên
đi làm ăn xa còn nhiều, nhất là ở các chi bộ thôn, đã ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động lãnh đạo của Đảng và chưa theo kịp với nhu cầu phát triển của xã hội
Trang 382.2 Tổ chức và hoạt động của tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở huyện Ba Tơ
2.2.1 Cơ cấu tổ chức đảng trong hệ thống chính trị ở cơ sở
Toàn Đảng bộ huyện Ba Tơ có 62 chi bộ, đảng bộ trực thuộc; trong đó có 23 đảng bộ và 39 chi bộ (hành chính 31, sự nghiệp 04, doanh nghiệp 04) Trong 23 đảng
bộ cơ sở có 20 Đảng bộ xã, thị trấn và 03 đảng bộ cơ quan Tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ huyện có 3.410 đảng viên [6, tr 1]
Nhìn chung, đối với cấp huyện, về cơ cấu tổ chức của Đảng có các cơ quan lãnh đạo là Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (gọi tắt là Huyện ủy), Ban Thường vụ Huyện ủy
do Ban Chấp hành Đảng bộ bầu và Thường trực Huyện ủy do Ban Thường vụ Huyện
ủy phân công
Huyện ủy có các cơ quan tham mưu, giúp việc như:
- Ban Tổ chức Huyện ủy;
- Văn phòng Huyện ủy;
- Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy,
- Ban Dân vận Huyện ủy;
- Ban Tuyên giáo Huyện ủy;
- Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện;
- Đối với cấp cơ sở: Trong 23 Đảng bộ cơ sở, có 208 chi bộ trực thuộc; trong số
chi bộ trực thuộc có 112 chi bộ thôn, 07 chi bộ tổ dân phố; 32 chi bộ quân sự, công an (20 chi bộ quân sự, 01 chi bộ công an trực thuộc Đảng ủy xã, thị trấn; 03 chi bộ trực thuộc Đảng ủy Quân sự; 08 chi bộ trực thuộc Đảng ủy Công an); 10 chi bộ cơ quan (01 chi bộ cơ quan, 05 chi bộ trạm y tế trực thuộc Đảng ủy xã, thị trấn; 04 chi bộ trực thuộc Đảng ủy Trung tâm y tế huyện); 47 chi bộ trường học (18 chi bộ trường trung học, 14 chi bộ trường tiểu học, 15 chi bộ trường mầm non) [6, tr 2]
+ Tổng số đảng viên hiện đang sinh hoạt tại chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở là 3.003 đồng chí, trong đó: số đảng viên miễn sinh hoạt 99 đồng chí, chiếm tỷ lệ 3,29%
so với tổng số đảng viên sinh hoạt tại chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở; đảng viên chuyển sinh hoạt tạm thời 05 đồng chí, chiếm tỷ lệ 0,16%; đảng viên là người có đạo
01 đồng chí, chiếm tỷ lệ 0,03% [6, tr 1]
Trang 39+ Đối với chi bộ thôn, tổ dân phố: Đảng viên là cán bộ hưu trí có 207 đồng chí, chiếm tỷ lệ 6,89% với tổng số đảng viên sinh hoạt tại chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở; đảng viên là cán bộ hưu trí giữ chức bí thư chi bộ là 14 đồng chí, chiếm tỷ lệ 0,46%; không có bí thư chi bộ kiêm thôn trưởng, tổ trưởng tổ dân phố [6, tr 1]
- Có 78 chi bộ không có cấp ủy; 26 chi bộ có từ 3 - 5 đảng viên; 25 chi bộ có từ
5 -7 đảng viên; 22 chi bộ có từ 7 - 9 đảng viên; 135 chi bộ trên 9 đảng viên 100% thôn, tổ dân phố có chi bộ [6, tr 2]
- Đối với chi bộ cơ sở (trực thuộc Huyện ủy) có 39 chi bộ Trong đó, loại hình hành chính 31 chi bộ, sự nghiệp 04 chi bộ, doanh nghiệp 04 chi bộ Tổng số đảng viên hiện đang sinh hoạt tại chi bộ cơ sở 359 đồng chí, trong đó: Đảng viên giữ chức vụ đảng 86 đồng chí, đảng viên giữ chức vụ chính quyền 105 đồng chí, đảng viên giữ chức vụ đoàn thể 39 đồng chí; 11 chi bộ có cấp ủy[6, tr 2]
Về số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ cấp huyện cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Song, đối với các xã, thị trấn, tuy được cơ cấu theo cấp hành chính, có nghĩa ở huyện có Huyện ủy, có các cơ quan tham mưu giúp việc thì ở xã, thị trấn phải
có Đảng ủy xã, thị trấn… Như trên thực tế, ở xã, thị trấn tuy Đảng ủy có hệ thống cơ quan tham mưu, giúp việc như Văn phòng, Tổ chức, Kiểm tra, Dân vận nhưng chỉ là tên gọi, không có biên chế; biên chế của Đảng chỉ có 02 người làm công tác Đảng (Bí thư Đảng ủy và Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy), còn lại thuộc biên chế chính quyền
và trưởng các ngành, đoàn thể ở xã, thị trấn
Ban Chấp hành Đảng bộ xã, thị trấn (gọi tắt là Đảng bộ) do Đại hội cùng cấp bầu ra; số lượng cấp ủy viên do Đại hội quy định và theo Quy định của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Đảng bộ cấp xã thường có từ 13 - 15 đồng chí; Ban Thường vụ có từ 4
- 5 đồng chí
2.2.2 Các hoạt động của tổ chức đảng tại cơ sở
2.2.2.1 Hoạt động nâng cao năng lực của tổ chức đảng và đảng viên
- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên tại các cơ sở đảng ở huyện Ba Tơ được chú trọng và đổi mới với nhiều hình thức phong phú Đã tổ chức nhiều lớp nghiên cứu, quán triệt nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
Trang 40nước góp phần nâng cao nhận thức chính trị cho đảng viên, cán bộ và các tầng lớp Nhân dân Đa số đảng viên, cán bộ và các tầng lớp Nhân dân nhận thức đúng đắn về đường lối, chủ trương của Đảng, có lập trường vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch
Gắn với công tác giáo dục chính trị tư tưởng, Đảng ủy các xã, thị trấn đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo các chi bộ trực thuộc, các ngành tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 03, Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị; tổ chức học tập đầy đủ các chuyên
đề và các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; chỉ đạo xây dựng kế hoạch triển khai,
kế hoạch làm theo và rà soát, bổ sung chuẩn mực đạo đức sát hợp với nhiệm vụ chính trị của từng chi bộ, từng ngành ở cơ sở, gắn với thực hiện Chỉ thị số 10 của Ban Bí thư
về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy Qua việc triển khai thực hiện Chỉ thị 03, Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị đã có nhiều tập thể, cá nhân điển hình và
nhiều mô hình, việc làm thiết thực như: Phong trào hiến đất để xây dựng các công
trình phúc lợi, mô hình tiết kiệm, phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, cải cách thủ tục hành chính v.v…Điển hình như chi hội phụ nữ xã Ba Tiêu với mô hình
"ống tre tiết kiệm", "hủ gạo tiết kiệm"; cá nhân ông Phạm Văn Mao, hội viên nông dân
xã Ba Bích đã hiến 14.358m2
đất để xây dựng khu tái định cư; ông Phạm Quốc Anh, hội viên Cựu Chiến binh thị trấn Ba Tơ là hội viên sản xuất kinh doanh giỏi theo mô hình VACR, hàng năm thu nhập trên 200.000 triệu đồng
- Công tác tổ chức - cán bộ
Công tác tổ chức - cán bộ của các tổ chức đảng cũng thường xuyên được củng
cố, kiện toàn; công tác phát triển đảng viên được quan tâm hướng đến nâng cao chất lượng Hầu hết các tổ chức cơ sở đảng ban hành quy chế làm việc, chương trình công tác, tổ chức sinh hoạt theo chức năng, nhiệm vụ, đúng Điều lệ Đảng Công tác đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng hàng năm thực hiện đúng quy định và ngày càng đi vào thực chất Các khâu trong công tác cán bộ cơ bản thực hiện đúng quy trình, năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Sau cuộc bầu
cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm
kỳ 2016 - 2021, Đảng ủy các xã, thị trấn giới thiệu 96 nhân sự để bầu các chức danh