LỜI CẢM ƠN Luận văn với đề tài “Nghiên cứu phần mềm Dspace và khả năng triển khai tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Tư liệu giáo khoa, Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy” là kết quả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THÀNH TRUNG
NGHIÊN CỨU PHẦN MỀM DSPACE VÀ KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THÀNH TRUNG
NGHIÊN CỨU PHẦN MỀM DSPACE VÀ KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin – Thư viện
Mã số: 60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Quý
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Nghiên cứu phần mềm Dspace và khả năng
triển khai tại Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa, Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân
tôi Đề tài này chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình./
Hà Nội, ngày 03 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thành Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn với đề tài “Nghiên cứu phần mềm Dspace và khả năng triển
khai tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Tư liệu giáo khoa, Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy” là kết quả học tập và nghiên cứu của tác giả trong khoá
Cao học từ năm học 2014 - 2016, ngành Thông tin - Thư viện tại trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả được PGS.TS.NGƯT Trần Thị Quý trực tiếp hướng dẫn Sự tận tình chỉ bảo của cô giáo cùng với sự định hướng chuyên môn, gợi mở những hướng nghiên cứu của các nhà khoa học trong ngành đã giúp cho tác giả có điều kiện hoàn thành luận văn của mình Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS.NGƯT Trần Thị Quý và đội ngũ các nhà khoa học ngành Thông tin - thư viện
Tác giả xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị và các học viên Trường Đại học Phòng Cháy Chữa Cháy, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Học Viện Hành chính Quốc gia và các bạn đồng nghiệp, đồng môn …đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá thực hiện luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn tới mọi người thân trong gia đình đã luôn đồng hành, động viên và dành nhiều thời gian để tác giả có điều kiện học tập và hoàn thành Luận văn này
Trong quá trình thực hiện, do thời gian có hạn, trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên luận văn vẫn còn nhiều thiếu xót Vì vậy, tác giả mong nhận được sự thông cảm và góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 51
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
4 Giả thuyết nghiên cứu 15
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
6 Phương pháp nghiên cứu 16
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 16
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu 17
CHƯƠNG 1: TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU
GIÁO KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY VỚI PHẦN MỀM QUẢN LÝ BỘ SƯ TẬP SỐ DSPACE 18
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 18
1.1.1 Khái niệm tài liệu số 18
1.1.2 Khái niệm Bộ sưu tập số 19
1.1.3 Khái niệm Thư viện số 19
1.1.4 Khái niệm Phần mềm quản lý bộ sưu tập số 21
1.2 Lịch sử ra đời và vai trò của phần mềm quản lý bộ sưu tập số Dspace 22
1.2.1 Lịch sử ra đời của Dspace 22
1.2.2 Tiết kiê ̣m kinh phí mua phần mềm 22
1.2.3 Góp phần quan trọng trong việc vận hành thư viện số 23
1.3 Các điều kiện cần và đủ để ứng dụng phần mềm thư viện số 24
1.3.1 Trình độ nguồn nhân lực thông tin thư viện 24
1.3.2 Nguồn lực thông tin/ tài liệu số 25
1.3.3 Hạ tầng công nghệ thông tin 27
1.3.4 Năng lực thông tin của người dùng tin 28
1.3.5 Chính sách đầu tư của lãnh đạo 29
1.4 Các tiêu chí đánh giá phần mềm quản lý bộ sưu tập số 29
1.4.1 Tiêu chí về tạo lập, tổ chức và quản lý các bộ sưu tập số 29
1.4.2 Khả năng tích nhập các định dạng tệp tin khác nhau 30
1.4.3 Tính tương thích với các chuẩn siêu dữ liệu trong xử lý tài liệu 30
1.4.4 Hỗ trợ đa ngôn ngữ 30
Trang 62
1.4.5 Tìm kiếm, duyệt xem thông tin và phát hành bộ sưu tập 30
1.4.6 Khả năng đáp ứng các chuẩn về công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại 31
1.4.7 Bảo mật và an toàn dữ liệu 31
1.5 Khái quát về Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy 32
1.5.1 Sơ lược về Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy 32
1.5.2 Đặc điểm Trung tâm Thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa 35
1.6 Ý nghĩa của việc triển khai phần mềm Dspace tại Trung tâm 39
1.6.1 Đối với Thư viện 39
1.6.2 Đối với người dùng tin 40
1.6.3 Đối với Nhà trường 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ PHẦN MỀM DSPACE VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO VIỆC ỨNG DỤNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY 42
2.1 Đánh giá phần mềm Dspace của một số thư viện đã ứng dụng 42
2.1.1 Tạo lập, tổ chức và quản lý các bộ sưu tập số 42
2.1.2 Khả năng tích nhập các định dạng tệp tin khác nhau 43
2.1.3 Tính tương thích với các chuẩn siêu dữ liệu trong xử lý tài liệu 44
2.1.4 Hỗ trợ đa ngôn ngữ 44
2.1.5 Tìm tin, duyệt xem thông tin và phát hành bộ sưu tập 45
2.1.6 Khả năng đáp ứng các chuẩn về công nghệ thông tin 46
2.1.7 Bảo mật và an toàn dữ liệu 48
2.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng Phần mềm Dspace tại Trung tâm 48
2.2.1 Trình độ nguồn nhân lực thông tin thư viện 49
2.2.2 Nguồn lực thông tin/ tài liệu số 56
2.2.3 Hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở vật chất kỹ thuật 66
2.2.4 Năng lực thông tin của người dùng tin 70
2.2.5 Chính sách đầu tư của lãnh đạo 74
2.3 Thử nghiệm phần mềm Dspace tại Trung tâm 75
2.3.1 Thiết lập hệ thống phần mềm Dspace 76
2.3.2 Tạo lập các đơn vị và bộ sưu tập số trên phần mềm Dspace 78
Trang 73
2.3.3 Biên mục và tải tài liệu lên Dspace 80
2.3.4 Duyệt xem và tìm kiếm thông tin trong Dspace 82
2.4 Nhận xét chung 85
2.4.1 Ưu điểm 85
2.4.2 Hạn chế 91
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 93
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ TRIỂN KHAI PHẦN MỀM DSPACE TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY 95
3.1 Chú trọng phát triển nguồn lực thông tin số 95
3.1.1 Phát triển nguồn lực thông tin số nội sinh 95
3.1.2 Phát triển nguồn lực thông tin số ngoại sinh 96
3.1.3 Số hóa tài liệu hiện có 97
3.2 Chú trọng yếu tố con người 98
3.2.1 Cần sự quan tâm của lãnh đạo các cấp 98
3.2.2 Bồi dưỡng nâng cao trình độ nguồn nhân lực 99
3.2.3 Đào tạo nâng cao năng lực thông tin cho người dùng tin 102
3.3 Các giải pháp khác 102
3.3.1 Hiện đại hóa Hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở vật chất 102
3.3.2 Tăng cường kinh phí đầu tư 104
3.4 Kiến nghị triển khai phần mềm Dspace tại Trung tâm 105
3.4.1 Đối với lãnh đạo các Bộ, ngành 105
3.4.2 Đối với Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy 105
3.4.3 Đối với Trung tâm Thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa 106
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 114
Trang 84
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
(Trung tâm 1)
Trang 95
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 2.1: Số liệu về trình độ Công nghệ thông tin của cán bộ trung tâm
Bảng 2.2: Số liệu về các kỹ năng CNTT và mức độ thành thạo của cán bộ
Bảng 2.3: Số liệu về trình độ ngoại ngữ của cán bộ trung tâm
Bảng 2.4: Số liệu về các kỹ năng ngoại ngữ và mức độ thành thạo của cán bộ
Bảng 2.5: Thống kê số lượng sách và tỉ lệ sách được xếp giá trong thư viện
Bảng 2.6: Thống kê loại hình tài liệu có trong thư viện
Bảng 2.7: Đánh giá về mức độ sử dụng của bạn đọc đối với nội dung tài liệu
Bảng 2.8: Đánh giá về mức độ sử dụng của bạn đọc đối với loại hình tài liệu
Bảng 2.9: Khảo sát nhu cầu sử dụng các tài liệu điện tử tại Trung tâm
Bảng 2.10: Khảo sát khả năng sử dụng các loại ngôn ngữ của bạn đọc
Bảng 2.11: Khảo sát các loại và dạng tài liệu cần bổ sung
Biểu đồ 2.1: Đánh giá của cán bộ thư viện về việc tạo lập, tổ chức và quản lý các bộ sưu tập số
Biểu đồ 2.2: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn nhân lực
Biểu đồ 2.3: Thể hiện trình độ sử dụng CNTT của cán bộ tại Trung tâm
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu trình độ ngoại ngữ của nguồn nhân lực
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu giới tính nguồn nhân lực
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu lứa tuổi nguồn nhân lực
Biểu đồ 2.7: Thể hiện nội dung tài liệu thư viện
Biểu đồ 2.8: Tỉ lệ % giữa các chuyên ngành và lĩnh vực
Biểu đồ 2.9: Thống kê loại hình tài liệu có trong thư viện
Biểu đồ 2.10: Tỉ lệ % loại hình tài liệu trong thư viện
Biểu đồ 2.11: Thể hiện nhu cầu bổ sung tài liệu điện tử/ tài liệu số
Biểu đồ 2.12: Thể hiện mức độ cần thiết của thư viện điện tử, thư viện số
Biểu đồ 2.13: Đánh giá mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin của bạn đọc
Biểu đồ 2.14: Đánh giá của bạn đọc về vốn tài liệu thư viện
Biểu đồ 2.15: Đánh giá của bạn đọc về phần mềm Dspace
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức Trung tâm TTKH&TLGK Trường Đại học PCCC
Hình 2.1: Giao diện chỉnh sửa ngôn ngữ cho Dspace
Trang 106
Hình 2.2: Giao diện thay đổi lựa chọn ngôn ngữ trong Dspace
Hình 2.3: Banner thư viện số đã được chỉnh sửa
Hình 2.4: Lựa chọn ngôn ngữ trong thư viện số
Hình 2.5: Giao diện tạo đơn vị trong Dspace
Hình 2.6: Giao diện tạo bộ sưu tập trong Dspace
Hình 2.7: Mô tả thuộc tính của tài liệu khi biên mục tài liệu
Hình 2.8: Mô tả tài liệu
Hình 2.9: Tải tài liệu lên phần mềm
Trang 117
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (KH&CN) đang phát triển mạnh như vũ bão và có sức ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó công nghệ thông tin (CNTT) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mọi quốc gia làm cho thế giới chuyển dịch dần từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin
Việt Nam, đang trên con đường hội nhập và phát triển, sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước phụ thuộc nhiều vào những thành tựu của KH&CN Nhận thức rõ vai trò của KH&CN trong sự phát triển của đất nước Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khoa học kỹ thuật phát triển, đặc biệt trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, tại khoản 1, điều 63 đã chỉ ra “Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” Chính vì vậy mà trong bài phát biểu của mình ngày 18 tháng 5 năm 2014 nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định vai trò của
KH&CN “Cạnh tranh giữa các quốc gia, suy cho cùng là cạnh tranh nguồn vốn tri
thức, thể hiện qua chất lượng nguồn nhân lực và trình độ KH&CN"
Để có chất lượng nguồn nhân lực tốt với nguồn vốn tri thức và trình độ KH&CN cao, giáo dục và đào tạo đang là quốc sách hàng đầu và là vấn đề then chốt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Vì vậy, để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì vấn đề cốt lõi là phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, trong đó giáo dục đại học phải được ưu tiên đổi mới theo tinh thần nghị quyết Trung Ương 8 khóa XI, đồng thời phải đổi mới phương thức đào tạo từ hình thức đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, vì vậy đòi hỏi phải có đủ nguồn thông tin, tài liệu đặc biệt là tài liệu số với các
bộ sưu tập số để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu và giảng dạy của cả người học
và người dạy trong nhà trường Muốn có bộ sưu tập số cần phải có công cụ xây dựng
bộ sưu tập số đó chính là phần mềm chuyên dụng quản trị học liệu số
Hiện nay, có hai loại: phần mềm nguồn mở (miễn phí) và phần mềm nguồn đóng (hay còn gọi là phần mềm thương mại phải trả tiền)
Tại Việt Nam hiện nay có các phần mềm thương mại đã được một số công ty tiến hành xây dựng, chuyển giao các công cụ hỗ trợ cho quá trình tạo lập bộ sưu tập
Trang 128
số (BSTS) của các thư viện như Kipos, Dlib, Libol 6.0 Một số phần mềm tiêu biểu trong nhóm phần mềm thương mại có thể kể đến như: Content Pro IRX của hãng Innovative; CONTENTdm của OCLC; Digital Commons của Bepress; DigiTool của ExLibris; Open Repository của BioMed; VITAL của VTLS… Nếu sử dụng các phần mềm này, các cơ quan thông tin, thư viện cần có kinh phí để mua sở hữu và sử dụng
Trong các phần mềm nguồn mở để xây dựng BSTS, Greenstone và Dspace nổi lên là hai phần mềm tiêu biểu Phần mềm Greenstone là kết quả của Dự án Thư viện số (TVS) tại Trường Đại học Waikato, New Zealand (New Zealand Digital Library Project) với UNESCO và Human Info NGO Tháng 8/2000, phiên bản đầu tiên của Greenstone được phát hành và được sử dụng khá rộng rãi trong các trường đại học, viện nghiên cứu và các cơ quan tổ chức khác trên thế giới Tuy nhiên qua thực tiễn sử dụng phần mềm Greentone đã bộc lộ những điểm hạn chế nhất định như
“khả năng tùy biến giao diện kém, cách thức quản lý các tài liệu số kém linh hoạt, khả năng phân quyền đối với BSTS và từng tài liệu hạn chế Đối với các đơn vị có lượng tài liệu số nhiều thì Greenstone không phải là giải pháp tối ưu
Bên cạnh Greenstone, tại Việt Nam có một phần mềm mã nguồn mở mới đươ ̣c sử du ̣ng để xây dựng BSTS, đó là Dspace, phần mềm Dspace hỗ trợ giải pháp xây dựng và phân phối các BSTS hóa trên internet, cho phép các cơ quan thông tin - thư viện, nghiên cứu phát triển và mở rộng Dspace rất phù hợp để quản lý các BSTS
là luận văn, luâ ̣n án, đồ án tốt nghiê ̣p, Dspace sử du ̣ng chuẩn mô tả Dublin core để
mô tả tài liê ̣u , đây là mô ̣t trong những chuẩn mô tả siêu dữ liê ̣u phổ biến và được nhiều thư viê ̣n áp du ̣ng , khả năng phân quyền và bảo mậ t của Dspace cao , đảm bảo tuyê ̣t đối cho quá trình truy xuất và an toàn dữ liê ̣u Với những tính năng nổi trội, ưu việt hơn so với Greenstone, Dspace đã được nhiều cơ quan thông tin, thư viện đại học lựa chọn cho việc xây dựng BSTS của mình Theo PGS.TS Đoàn Phan Tân, hiện trên thế giới có hơn 11.000 các cơ quan thông tin, thư viện đại học và các tổ chức sử dụng Dspace để quản lý, khai thác và chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin số của mình
Với tính năng nổi trội như vậy của Dspace, trên con đường hiện đại hóa của mình, Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa - Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy cũng cần phải nghiên cứu áp dụng Cùng với các trường đại học trong hệ thống ngành Công an trên cả nước, Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa (Nay là Trung tâm Lưu trữ và Thư viện) của Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy (ĐH PCCC) luôn xác định rõ vai trò và nhiệm vụ chính trị của mình
Trang 139
trong chiến lươc của lực lượng Công an nhân dân (CAND), là một lực lượng vũ trang trọng yếu của Nhà nước, có vai trò nòng cốt, xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội Trường ĐH PCCC
là một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đầu ngành của lực lượng cảnh sát Phòng cháy chữa cháy (CS PCCC) và của ngành Công an, có nhiệm
vụ đào tạo sỹ quan có trình độ đại học, sau đại học các lĩnh vực về Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Mục tiêu của Nhà trường là đào tạo ra đội ngũ sỹ quan Cảnh sát PCCC có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có phương pháp
tư duy và làm việc khoa học, có trình độ và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, có trình
độ tin học và ngoại ngữ, có thể lực tốt, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ được giao Với mục tiêu chiến lược ấy trong những năm gần đây nhiệm vụ của Trường ĐH PCCC trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng Công an là hết sức nặng nề đòi hỏi có sự vào cuộc của Đảng ủy Ban Giám hiệu và tất cả các phòng, ban, khoa, trung tâm trong nhà trường Do đó, việc cung cấp và đáp ứng nhu cầu thông tin cho cán bộ, giảng viên và học trong trường ở mọi lúc, mọi nơi để người dạy, người học có thể hoàn thành được nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, giảng day của của mình thì Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa (Trung tâm 1) có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Trong bối cảnh ấy, Trường ĐH PCCC đã có nhiều đổi mới về phương thức dạy và học, trong đó có sự đổi mới về hoạt động thông tin - thư viện như ứng dụng công nghệ thông tin vào trong hoạt động thư viện, ứng dụng phần mềm Libol 5.5 để quản lý nguồn tài liệu thư viện rút ngắn quá trình tra cứu và mượn tài liệu của người đọc, xây dựng kho tài liệu mở về sách tham khảo, báo, tạp chí giúp bạn đọc thuận tiên cho việc khai thác và truy cập thông tin Tuy nhiên sự đổi mới ấy vẫn trong bối cảnh thư viện lai nên chưa đáp ứng hết được nhu cầu về thông tin và tài liệu cho thầy
và trò của nhà trường, vì thế để có sự đổi mới và hiệu quả hơn trong công tác phục
vụ thông tin tài liệu thì Trung tâm 1 cần phải hướng tới việc hiện đại hóa hoạt động thông tin thư viện để Trung tâm 1 trở thành thư viện số/ thư viện điện tử hiện đại đáp ứng được nhu cầu học tập và nghiên cứu Trong điều kiện kinh phí của nhà trường còn nhiều hạn hẹp, việc ứng dụng một phần mềm mã nguồn mở để hiện đại hóa Trung tâm 1 là điều hết sức cần thiết, xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên tác giả đã
lựa chon đề tài “Nghiên cứu phần mềm Dspace và khả năng triển khai tại Trung tâm
Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy”
làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 1410
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Qua tìm hiểu thực tế cho thấy đã có nhiều tài liệu nghiên cứu liên quan đến các nội dung về thư viện số và phần mềm thư viện số Dspace Cụ thể:
Các công trình nghiên cứu về Thư viện số nói chung như:
Một chùm bài của Ths Cao Minh Kiểm như “Thư viện số - định nghĩa và vấn đề” đăng trong Tạp chí Thông tin và Tư liệu 3/2000; “Phát triển thư viện số: những vấn đề cần xem xét” trong Tạp chí Thông tin và Tư liệu 2/2014 Đây là các tài liệu đưa ra những khái quát và quan niệm khác nhau về thư viện số, thư viện điện tử nói chung, vai trò, mục đích của thư viện số, cách thức xây dựng thư viện số Hay bài vấn đề “Phát triển nội dung số ở Việt Nam: Những nguyên tắc chỉ đạo” của TS Tạ
Bá Hưng đăng trong Tạp chí Thông tin và Tư liệu 1/2000; “Xây dựng thư viện điện
tử và vấn đề số hóa tài liệu ở Việt Nam” của TS Nguyễn Tiến Đức đăng trong Tạp chí Thông tin và Tư liệu 2/2005); “Vấn đề phát triển và chia sẻ nguồn lực thông tin
số hóa tại Việt Nam” của PGS TS Nguyễn Hữu Hùng đăng trong Tạp chí Thông tin
và Tư liệu 1/2006; Bài “Thư viện số: 2 thập kỷ phát triển trên thế giới, bài học kinh nghiệm và định hướng phát triển cho Việt Nam” của TS Nguyễn Hoàng Sơn đăng trong Tạp chí Thông tin và Tư liệu 2/2011; Thư viện số và cán bộ thư viện số” của
TS Đỗ Văn Hùng trong Tạp chí Thông tin và Tư liệu 4/2014… Là những nghiên cứu xoay quanh về vấn đề thư viện số như áp dụng thư viện số, xây dựng thư viện số
và ứng dụng thư viện số
Ngoài ra, còn có một số luận văn nghiên cứu về vấn đề thư viện số như: “Hoạt động của Thư viện số tại Trung tâm thông tin khoa học Quân sự Bộ Quốc Phòng” của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, năm 2014; “Thư viện số Tại cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia” của tác giả Trần Thị Kiên, năm 2013
Các công trình nghiên cứu về học liệu số và vai trò, chia sẻ học liêu số như:
Một chùm bài của PGS.TS Trần Thị Quý đã công số như “Số hoá tài liệu - từ
nhận thức đến triển khai đào tạo tại Khoa thông tin - thư viện Trường ĐHKHXH&NV” năm 2014 [15] “Phát triển tài liệu số - Yếu tố quan trọng cho sự phát triển giáo dục đại học Việt Nam Số hóa học liệu và quản trị nguồn học liệu số tại Trường ĐHKHXH&NV” tại hội thảo “Chuẩn hóa Mục lục trực tuyến và xây dựng
thư viện số”, 8/2013 tại Đại học Sài gòn [16] “Số hóa học liệu và quản trị nguồn
học liệu số tại Trường ĐHKHXH&NV” Hôi thảo Phát triển học liệu số tại Trường
ĐHKHXH&NV, 5/2014 [17] “Consortium - Hình thức hợp tác phát triển nguồn
học liệu ngành/ chuyên ngành hiệu quả cho các trường đại học Việt Nam Kỷ yếu
Trang 1511
“Thư viện hướng đến tương lai hợp tác, tiến bộ và phát triển” tại ĐH KHXH&NV -
Đại học Quốc Gia Tp.HCM, 11/2014 [18] “Hướng đến tổ chức và quản lý các cơ
quan thông tin - thư viện Việt Nam theo chuẩn ISO” Kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới mô
hình tổ chức & hoạt động cho các thư viện Việt Nam” do TVQGVN tổ chức, 2015,
Tr 125-136 [19] Trần Thị Quý, Đỗ Văn Hùng “Tự động hóa trong hoạt động thông tin - thư viện”, Nxb Đại học Quốc Gia, tr 41 [20] Trần Thị Quý, Đỗ Văn Hùng
“Đào tạo nguồn nhân lực thư viện số cho các thư viện đại học Việt Nam” Kỷ yếu
Hội thảo “Hoạt động thông tin - thư viện với vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam”, ĐHQGHN, 2014, tr 206-219 [21] Tại các công trình này, tác giả Trần Thị Quý đã trình bày những vấn đề cần lưu ý khi xây dựng bộ sưu tập số đặc biệt trong việc lựa chọn tài liệu đưa vào số hóa Theo đó, tác giả cho rằng tài liệu số có vai trò quan trọng trong việc chia sẻ nguồn lực thông tin Tác giả đã
đưa ra 5 tiêu chí khi lựa chọn tài liệu số hóa xây dựng bộ sưu tập số: “yêu cầu đầu
tiên là cần đáp ứng yêu cầu tin của người sử dụng về nội dung, ngôn ngữ, dạng tài liệu Đặc biệt là nhu cầu về nội dung tài liệu/ giá trị tri thức của tài liệu gốc” [16]
Điều này cho thấy tác giả đã đặt người dùng tin (NDT) ở vị trí trung tâm trong việc xây dựng bộ sưu tập số Các yêu cầu tiếp theo được tác giả đã liệt kê bao gồm:
“Tuyển lựa các tài liệu tiềm năng/ đặc thù mà thư viện mình đang lưu giữ, các thư viện khác không có; Các tài liệu độc bản, tài liệu sắp hư hỏng khó hồi phục; Tài liệu quý hiếm; Tài liệu chưa có nơi nào số hóa để tránh trùng lặp” Đây đều là những
yêu cầu hết sức quan trọng, giúp cho việc lựa chọn được những tài liệu thích hợp nhất cho quá trình số hóa và xây dựng các bộ sưu tập số Tác giả cũng đưa ra định nghĩa về bộ sưu tập số, phần mềm quản lý tài liệu số và các phân hệ chính của phần mềm thư viện số và những loại tài liệu cần phải được số hóa cho phép lưu trữ và khai thác thông tin hay tài liệu
Các công trình nghiên cứu về phần mềm thư viện nói chung như:
Nhiều công trình đã đề cập đến phần mềm quản lý tài liệu số Để xây dựng các bộ sưu tập số không thể thiếu phần mềm chuyên dụng Căn cứ vào tính chất
thương mại để phân chia hiện nay có hai loại: phần mềm nguồn mở (miễn phí) và
phần mềm nguồn đóng (phải trả tiền) Trong các phần mềm nguồn mở để xây dựng
bộ sưu tập số, Greenstone và Dspace là hai phần mềm tiêu biểu
Có các công trình đã đề cập đến các phần mềm như: “Xây dựng thư viện điện
tử bằng phần mềm mã nguồn mở” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai, Nguyễn Thị Kim Loan năm 2014 đã giới thiệu về các phần mềm mã nguồn mở và cách thức cài
Trang 162003, Ian H Witten cùng David Bainbridge đã công bố tác phẩm “How to build a
digital library” đề cập đến cách thức tổ chức các BSTS và xây dựng TVS Trong tác
phẩm này có 2/9 chương dành riêng cho nội dung hướng dẫn về phần mềm
Greenstone, đó là chương 6: Tạo lập BST bằng Greenstone (Building collections
with Greenstone, p.283-353) và chương 7: Sử dụng Greenstone (How Greenstone work, p 355-392) Năm 2002, Ian H Witten có bài “Examples practical digital libraries: collections built internationally using Greenstone” được mời làm diễn giả
chính (keynote speaker) tại Hội nghị TVS Châu Á (ICADL) tại Singapore Sau này
ông cùng các đồng sự còn có nhiều bài viết tiếp tục quảng bá cho Greenstone như
“Greenstone Open Source Digital Library Software” năm 2011 trên Tạp chí D-Lib
Magazine Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về xây dựng các BSTS và
có ảnh hưởng nhất định đến cộng đồng TVS trên thế giới và tại Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về đánh giá phần mềm như:
“Các tiêu chí đánh giá và lựa chọn phần mềm cho Thư viện điện tử ở Việt Nam” của TS Tạ Bá Hưng, Nguyễn Điến, Nguyễn Thắng trong Tạp chí Thông tin và
Tư liệu 2/2005, đã đưa ra 3 nhóm tiêu chí đánh giá và lựa chọn phần mềm thư viện điện tử như nhóm tiêu chí về Công nghệ thông tin, về tiêu chuẩn nghiệp vụ thông tin
- thư viện và nhóm tiêu chí đối với các phân hệ chức năng; Bài giảng về môn học
“Đánh giá phần mềm quản trị thông tin - thư viện” của tác giả Đoàn Phan Tân đã đưa
7 tiêu chí đánh giá phần mềm quản lý các bộ sưu tập số dựa trên các tiêu chí về chức năng và khả năng của một hệ quản trị bộ sưu tập số Theo đánh giá của nhóm nghiên tại Đại học Athens trong tài liệu “Comparing Open Source Digital Library Software”
về 5 phần mềm mã nguồn mở đang được sử dụng phổ biến hiện nay bao gồm: Dspace, Fedora, Greenstone, Keystone, Eprints theo 10 tiêu chí như khả năng liên kết siêu dữ liệu và nội dung số, xây dựng bộ sưu tập số và liên kết đối tượng, lưu trữ siêu dữ liệu và tài liệu số, trình duyệt và tìm kiếm, quản lý đối tượng, giao diện người dùng, kiểm soát truy cập, hỗ trợ đa ngôn ngữ, khả năng tương tác và khả năng phân quyền, đã đánh giá các phần mềm dựa trên những tiêu chí này, từ đó có định hướng cơ bản giúp thư viện lựa chọn được những phần mềm phù hợp với đặc điểm vốn tài liệu và nhu cầu của từng thư viện
Trang 1713
Các công trình nghiên cứu về phần mềm Dspace như:
Tác giả Nguyễn Huy Chương , Nguyễn Tiến Hùng với cô ng trình nghiên cứu
“Dspace – Giải pháp tạo lập, lưu trữ và phổ biến tài nguyên điê ̣n tử cho các thư viê ̣n điê ̣n tử ở Viê ̣t Nam” , Kỷ yếu Hội thảo khoa học Xây dựng và chia sẻ nguồn lực
thông tin địa phương dạng số phục vụ bảo tồn di sản và phát triển kinh tế - xã hội, tr
100 – 107, 2011 Tác giả đã đưa ra mô hình tổng quan của Dspace , kiến trú c hê ̣ thống, giao diê ̣n người dùng và các luồng công việc trong Ds pace Tác giả Phan Ngọc Đông với các công trình nghiên cứu về phần mềm như: “Dspace - Giải pháp xây dựng thư viện số”, tạp chí Thư viện Việt Nam số 3, tr 39-41 và “Ứng dụng phần mềm mã nguồn mở Dspace trong xây dựng thư viện số ở các trường đại học, cao đẳng”, (Hoạt động thông tin - thư viện với vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục đại học ở Việt Nam), tr 404-412 Tác giả đã giới thiệu qua về các phần mềm
mã nguồn mở như Dspace, GreenStone từ đó đưa ra những điểm nổi bật của phần mềm Dspace và những tính năng mới của phần mềm Dspace 4.2, đồng thời tác giả cũng xây dựng một loạt các slide hướng dẫn về cách cài đặt phần mềm Dspace và việt hóa phần mềm Tác giả Phan Ngọc Đông không chỉ Việt hóa giới thiệu phần mềm với các tính năng nổi trội, mà còn biên soạn tập bài giảng và tổ chức một số khóa tập huấn tại nhiều tỉnh thành trong cả nước nhằm hướng dẫn cài đặt và sử dụng phần mềm Dspace cho cán bộ tại các cơ quan Thông tin - thư viện (TT-TV) Đồng thời, tác giả đã giới thiệu quy trình cho việc chuyển đổi CSDL từ phần mềm
Greenstone sang phần mềm Dspace Tác giả cũng cho rằng “với quy trình này, các đơn vị hiện đang sử dụng phần mềm Greenstone có thể dễ dàng chuyển đổi dữ liệu
đã có trước đây sang phần mềm mới mà không phải tốn quá nhiều thời gian cũng như chi phí cho việc xử lý lại từ đầu những dữ liệu đã có” Công trình “Quản lý tài
liệu điện tử bằng Dspace tại Trung tâm Thông tin – thư viện, Trường Đại học Kinh tế
- Tài chính thành phố Hồ Chí Minh” của Bùi Loan Thùy, Trương Thị Ngọc Mai đăng trong Tạp chí Thông tin và Tư liệu 5/2012 đưa ra những luận cứ khi chọn phần mềm Dspace và nêu rõ những kinh nghiệm từ thực tế sử dụng Dspace; Đồ án tốt nghiệp “Ứng dụng phần mềm thư viện số Dspace tại Học viện Hành chính Quốc gia” của tác giả Đàm Hải Yến, năm 2015, đồ án đi sâu vào nghiên cứu cài đặt và khai thác các tính năng của phần mềm hay công trình của tác giả Đoàn Phan Tân với công trình nghiên cứu “Dspace, giải pháp phần mềm cho Thư viện điện tử, quản lý và khai thác nguồn thông tin số nội sinh ở các trường Đại học hiện nay” đăng trong Kỷ yếu Hoạt động thông tin – thư viện với vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục
Trang 18Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu về những nội dung khác tại Trung tâm 1 trường Đại học PCCC như:
Đề tài luận văn thạc sỹ về: “Nguồn nhân lực thông tin - thư viện của một số cơ
sở đào tạo đại học thuộc Bộ Công an trên khu vực Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Loan, năm 2013 Đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực thông tin thư viện tại các cơ sở đào tạo của những trường Công an nhân dân trong đó có Trung tâm Thông tin Khoa học và Tư liệu giáo khoa trường Đại học Phòng cháy chữa cháy và đề tài
“Công tác phục vụ bạn đọc tại Trung tâm thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa trường Đại học Phòng cháy chữa cháy” của tác giả Nguyễn Thị Hà, năm 2015, nghiên cứu về nhu cầu tin và phương pháp nâng cao hiệu quả phục vụ bạn đọc tại Trung tâm thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa trường đại học PCCC Như vậy, qua quá trình tìm hiểu có thể khẳng định là chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về
vấn đề “Nghiên cứu phần mềm Dspace và khả năng triển khai tại Trung tâm Thông
tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích:
Nghiên cứu phần mềm Dspace và khả năng triển khai tại Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy, không nhằm ngoài mục đích xây dựng được thư viện số cho Trung tâm, tăng cường khả năng thu thập, xử lý và tổ chức lưu giữ, khai thác tài liệu số phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập của cán bộ, giáo viên và học viên nhà trường ở mọi lúc, mọi nơi
+ Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu các khái niệm về tài liệu số, bộ sưu sập số, thư viện số và phần mềm quản lý bộ sưu tập số, các tiêu chí đánh giá phần mềm và các yếu tố tác động
Trang 1915
tới hiệu quả hoạt động của phần mềm
- Nghiên cứu khái quát về Trung tâm TTKH&TLGK (Trung tâm 1) Trường Đại học PCCC
- Nghiên cứu việc ứng dụng phần mềm Dspace tại một số thư viện đã sử dụng phần mềm
- Chạy thử nghiệm phần mềm Dspace tại Trung tâm TTKH&TLGK - Trường ĐHPCCC để có cơ sở đưa ra những nhận xét cho việc ứng dụng phần mềm
- Nghiên cứu thực trạng các yếu tố để đảm bảo triển khai chính thức sử dụng phần mềm Dspace tại Trung tâm 1 - Trường Đại học PCCC
- Đề xuất những kiến nghị để để đảm bảo việc triển khai phần mềm Dspace tại Trung tâm 1 - Trường Đại học PCCC có tính khả thi
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, Trung tâm 1, trường Đại học PCCC đang sử dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5, tuy nhiên thực tế cho thấy phần mềm này còn nhiều hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động Trong khi đó, nhu cầu thông tin/ tài liệu của thầy và trò đều rất lớn để phục vụ cho phương thức đào tạo tín chỉ và nghiên cứu khoa học Hiện nay, tại Việt Nam, các trung tâm TT-TV của các trường đại học đang có xu hướng sử dụng phần mềm mã nguồn mở Dspace Đây là phần mềm mã nguồn mở quản lý bộ sưu tập số đang được cộng đồng các cơ quan TT-TV đánh giá cao và đang được áp dụng rộng rãi Có thể do các tính năng của phần mềm đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng và quản lý bộ sưu tập số Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là liệu Trung tâm có thể ứng dụng phần mềm Dspace được không và thực trạng các yếu
tố tác động đến việc thực hiện triển khai phần mềm này ở Trung tâm ra sao? Có các biện pháp nào để duy trì việc ứng dụng phần mềm này tại Trung tâm một cách bền vững? Tác giả tin rằng nếu phần mềm Dspace được ứng dụng tại Trung tâm 1 sẽ khắc phục được những hạn chế trên Đồng thời theo chủ quan của tác giả các yếu tố cần và đủ để đảm bảo triển khai ứng dụng phần mềm Dspace tại Trung tâm 1 - Trường PCCC hoàn toàn có tính khả thi nếu có các giải pháp như chú trọng phát triển nguồn lực thông tin số; Nâng cao trình độ cho cán bộ; Trang bị năng lực thông tin cho người dùng tin; Hiện đại hóa cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin và cần sự quan tâm đầu tư thích đáng của lãnh đạo Nhà trường
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Phần mềm Dspace và những điều kiện để đảm bảo
ứng dụng phần mềm
Trang 2016
+ Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Trung tâm Thông tin khoa học và Tư
liệu giáo khoa (Trung tâm 1), (Từ tháng 5/2016 đổi tên thành Trung tâm Lưu trữ và Thư viện và vẫn gọi tắt là Trung tâm 1) Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy và một số thư viện đã sử dụng phần mềm Dspace
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Thực trạng hiện nay tại Trung tâm TTKH&TLGK Trường ĐH PCCC
6 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp luận:
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác thông tin thư viện trong môi trường giáo dục đại học
+ Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập - phân tích - tổng hợp tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Phạm vi quy mô mẫu khảo sát: 200 phiếu Trong đó: 10 phiếu dành cho cán bộ các thư viện đang áp dụng phần mềm Dspace; 21 phiếu dành cho cán bộ của Trung tâm TTKH&TLGK; 169 phiếu dành cho bạn đọc (20% bạn đọc là cán bộ, giáo viên, 80% bạn đọc là sinh viên) Đối với NDT là sinh viên, tác giả chú trọng đến tính đại diện của mẫu điều tra về ngành đào tạo; khóa đào tạo Để có những đánh giá khách quan về phần mềm tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra thực tế từ việc ứng dụng phần mềm Dspace tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và Học viện Hành chính Quốc Gia
- Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng khi xem xét các đánh giá của các cơ
sở đã ứng dụng phần mềm Dspace với phần mềm Trung tâm đang ứng dụng Libol 5.5
- Phương pháp thử nghiệm: Tác giả tiến hành cài đặt phần mềm Dspace tại Trung tâm và chạy thử nghiệm
- Phương pháp phỏng vấn: Tác giả tiến hành phỏng vấn cán bộ và sinh viên
- Phương pháp điều tra thực tế: Tác giả tham gia triển khai phần mềm để chạy thử và hàng ngày ghi chép các hoạt động thực tế tại trung tâm
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
+ Về mặt khoa học:
Luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về thư viện số và phần mềm quản lý bộ
Trang 218 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày trong khoảng 110 trang A4
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Trường Đại
học Phòng cháy chữa cháy với Phần mềm quản lý bộ sưu tập số Dspace
Chương 2: Thực trạng đánh giá phần mềm Dspace và các điều kiện đảm bảo
việc ứng dụng tại Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
Chương 3: Các giải pháp để triển khai phần mềm Dspace tại Trung tâm
Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
Trang 2218
CHƯƠNG 1: TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÕNG CHÁY CHỮA CHÁY VỚI
PHẦN MỀM QUẢN LÝ BỘ SƯ TẬP SỐ DSPACE 1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm tài liệu số
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, ngày nay thuật ngữ CNTT không còn xa lạ với mỗi chúng ta, có thể thấy những lợi ích từ thành tựu CNTT mang lại là rất lớn, có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống xã hội, giúp việc truyền tải thông tin, tri thức trong xã hội nhanh chóng, kịp thời Dưới sự tác động của CNTT mọi ngành nghề trong xã hội nói chung và hoạt động TT-TV nói riêng đã có những bước ngoặt chưa từng có trong lịch sử loài người Công nghệ, máy móc, phần mềm, mạng internet đang phục vụ đắc lực cho công việc giúp con người tiết kiệm sức lao động, tăng giá thành sản phẩm Trong hoạt động TT-TV cũng vậy, công tác xây dựng và phát triển thư viện điện tử, thư viện số trong các cơ quan, tổ chức đang không ngừng được quan tâm đầu tư giúp cho việc tiếp cận các nguồn thông tin trong các thư viện một cách dễ dàng và hiệu quả hơn thông qua các thiết bị điện tử, phần mềm thư viện số đã đánh dấu một bước ngoặt to lớn trong công tác quản trị, lưu trữ và phổ biến thông tin
Thuật ngữ “Tài liệu số”, “Bộ sưu tập số”, “Thư viện số” hay “phần mềm
quản lý bộ sưu tập số” là những thuật ngữ mới xuất hiện trong những năm gần đây
khi mà xã hội thông tin đang trên đà phát triển và thâm nhập toàn diện tới ngành thông tin - thư viện Tuy mới xuất hiện nhưng những thuật ngữ này đã được nhiều chuyên gia trong ngành nghiên cứu và đưa ra các định nghĩa khác nhau xoay quanh
vế đề thư viện số góp phần làm sáng tỏ những lý luận cũng như thực tiễn trong công tác TT-TV
Tài liệu số theo tác giả Phạm Văn Hùng “Tài liệu số là những tài liệu được
lưu giữ bằng máy tính Tài liệu số có thể được tạo bởi máy tính như việc xử lý các file văn bản, các bảng biểu hoặc chúng có thể được chuyển đổi sang dạng số từ những tài liệu khác nhau” [1, tr 19]
Theo tác giả Lê Văn Năng: “Tài liệu số là vật mang tin mà thông tin trong đó được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [2]
Theo tác giả Nguyễn Thị Vân Anh thì: “Tài liệu số là các thông tin được mã hóa và lưu trữ trên vật mang tin để người dùng tin có thể truy cập được qua các thiết