1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường đại học thủ đô hà nội

96 424 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp luận Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của tâm lý học sau đây: - Nguyên tắc hoạt động: Hoạt động là phương thức hình thành, tồn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG THỊ THU TRANG

ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ DẠY HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Tâm lý học

Mã số : 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hữu Toàn

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào./

Tác giả luận văn

Dương Thị Thu Trang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Tâm lý - Học viện Khoa học Xã hội đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo, TS Nguyễn Hữu Toàn người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của mình

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo và các bạn sinh viên của trường Đại học Thủ đô Hà Nội đã cộng tác nhiệt tình trong suốt thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Do điều kiện thời gian và năng lực còn hạn chế, chắc chắn công trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học để công trình hoàn thiện hơn./

Hà Nội, ngày tháng 2 năm 2017

Học viên

Dương Thị Thu Trang

Trang 4

MỤC LỤC

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ

1.2 Biểu hiện định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên 20 1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị nghề dạy học

Chương 3 THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ DẠY

HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ

HÀ NỘI

37

3.1 Thực trạng định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên

trường Đại học Thủ đô Hà Nội

37

3.2 Thực trạng một số yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị

nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội

Trang 5

Bảng 3.10 So sánh niềm tin của sinh viên qua các năm học tập 56 Bảng 3.11 Động cơ chọn nghề dạy học của sinh viên 57 Bảng 3.12 Tính tích cực hành động của sinh viên 59 Bảng 3.13 So sánh tính tích cực hành động của sinh viên qua các

năm học tập

62

Bảng 3.14 Một số yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến định hướng giá trị

nghề dạy học của sinh viên

64

Bảng 3.15 Một số yếu tố khách quan ảnh hưởng đến định hướng giá trị

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Định hướng giá trị là cơ sở bên trong của hành vi, điều chỉnh và thúc đẩy hoạt động, quyết định lối sống cá nhân Tính hiệu quả, thiết thực trong hoạt động của mỗi cá nhân phụ thuộc rất lớn vào định hướng giá trị của họ

Định hướng giá trị luôn có ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nội lực của mỗi cá nhân trong hoạt động của mình Định hướng giá trị sẽ quy định xu hướng phát triển nhân cách và từ đó chỉ đạo toàn bộ hoạt động của con người Bất cứ hoạt động nào của cá nhân đều được quyết định bởi hệ thống thang giá trị đặc thù của chính cá nhân và nhóm đó Do đó, mỗi cá nhân để sáng tạo ra các giá trị hữu ích cho xã hội thì họ cần có định hướng giá trị phù hợp

1.2 Định hướng giá trị nghề là cơ sở của hoạt động nghề, điều chỉnh và thúc đẩy hoạt động, quyết định sự lựa chọn nghề của cá nhân Tính hiệu quả, thiết thực trong hoạt động nghề của mỗi cá nhân phụ thuộc rất lớn vào định hướng giá trị nghề của họ Trong bối cảnh của thời đại mới, thời đại của nền kinh tế kỹ thuật đã dẫn đến sự chuyển đổi thang giá trị của xã hội và tất yếu dẫn đến sự đánh giá và lựa chọn khác nhau về nghề nghiệp Việc định hướng giá trị các ngành, nghề trong xã hội ảnh hưởng đến mỗi cá nhân tham gia vào ngành nghề đó trong việc phấn đấu rèn luyện để đạt được thang giá trị của nghề nghiệp mà mình lựa chọn

1.3 Hình thành, phát triển định hướng giá trị nghề cho sinh viên là nhiệm vụ quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo của các nhà trường Do

đó việc định hướng giá trị nghề cho sinh viên là điều có ý nghĩa vô cùng quan trọng Sinh viên chỉ thực sự phát huy hết năng lực của bản thân khi họ lựa chọn được nghề nghiệp đúng theo năng lực, sở trường của mình

1.4 Hình thành, phát triển định hướng giá trị nghề cho sinh viên sư phạm là nhiệm vụ quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo của các Nhà

Trang 7

trường sư phạm hiện nay Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều sinh viên tìm đến với nghề dạy học bởi sự chi phối của các nhân tố khách quan như: gia đình, thầy cô hay bạn bè, họ chưa xuất phát từ yêu cầu của nghề, nhận thức, nhu cầu, sở thích và năng lực của bản thân đối với nghề dạy học Trong quá trình học tập, phần lớn những sinh viên này thiếu tính tự giác, tích cực học tập rèn luyện Vì vậy, việc định hướng giá trị nghề dạy học cho sinh viên là nhiệm vụ quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo của các Nhà trường sư phạm

Trường Đại học Thủ đô Hà Nội là một trong những trung tâm nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố Hà Nội Nhận thức rõ vai trò công tác định hướng giá trị nghề dạy học cho sinh viên

sư phạm là nhân tố quyết định chất lượng đạo tạo, vì vậy trong những năm qua Nhà trường đã có nhiều giải pháp nhằm định hướng giá trị nghề dạy học cho sinh viên Vậy nên, đa số sinh viên sư phạm đã có ý thức rõ về nghề nghiệp tương lai, về trách nhiệm, nghĩa vụ của người sinh viên sư phạm, có hứng thú, say mê trong rèn luyện, học tập để trở thành người giáo viên Bên cạnh đó vẫn còn một số sinh viên chưa có nhận thức đúng đắn về giá trị nghề nghiệp Họ thi tuyển vào ngành sư phạm với nhiều lý do, chứ không chỉ xuất phát từ việc nhận thức được giá trị đích thực và ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn của nghề nghiệp sư phạm Vì vậy, trong quá trình đào tạo, những sinh viên này chưa thực sự tự giác, tích cực tu dưỡng, học tập và rèn luyện nghề nghiệp, chưa thực sự yên tâm và gắn bó với nghề đã chọn

Xuất phát từ thực tế cho thấy trong những năm qua mặc dù Nhà trường

đã có nhiều giải pháp nhằm định hướng giá trị nghề dạy học cho sinh viên nhưng chưa có nghiên cứu khoa học nào về lĩnh vực định hướng giá trị nghề dạy học cho sinh viên nhà trường

Với mong muốn góp một phần nhỏ vào công tác xây dựng định hướng

giá trị cho sinh viên Nhà trường, chúng tôi chọn vấn đề “Định hướng giá trị

Trang 8

nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội” làm đề tài

nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về định hướng giá trị và định hướng giá trị nghề

- Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu về đặc điểm và sự phát triển

của hệ thống định hướng giá trị cá nhân ở lứa tuổi học sinh phổ thông, sinh viên và các nhóm lứa tuổi trung gian Đại diện tiêu biểu cho hướng này là các tác giả: N.D.Saiko, V.I Ginijetsinxki [9, tr.9] Các công trình nghiên cứu theo hướng này đều khẳng định, sự phát triển định hướng giá trị gắn liền với mỗi giai đoạn lứa tuổi, được thể hiện qua các đặc điểm phát triển của cá nhân,

sự thay đổi tính cấu tạo của hệ thống giá trị và sự thay thế các đặc điểm trước đây Đặc biệt, ở lứa tuổi thanh niên là giai đoạn quan trọng hình thành hệ thống định hướng giá trị, điều đó ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách cá nhân nói chung Ở lứa tuổi này, bên cạnh các định hướng giá trị chung, thì định hướng giá trị nghề nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vì đây là giai đoạn họ bắt đầu “bước vào” cuộc sống với tư cách là một công dân, họ phải xác định và chọn cho mình một nghề nghiệp Sự biến đổi của xã hội, những tác động khác nhau của quá trình xã hội hoá đều ảnh hướng đến việc hình thành, biến đổi định hướng giá trị nói chung và định hướng giá trị nghề nghiêp của thanh niên

- Hướng nghiên cứu thứ hai: Nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa các

định hướng giá trị với sự hình thành đặc điểm tâm lý cá nhân, hình thành định hướng giá trị nghề nghiệp Đại diện tiêu biểu là N.A Volkova, Z Ransenbakh [9, tr.10-11] Các kết quả nghiên cứu theo hướng này đã chỉ rõ vai trò của định hướng giá trị trong việc hình thành các đặc điểm tâm lý cá nhân: tính cách, xu hướng, sự xác định kế hoạch sống, động cơ làm việc, định hướng giá trị nghề nghiệp của thanh niên

Trang 9

Từ các hướng nghiên cứu trên cho thấy:

Vấn đề định hướng giá trị vẫn đang được nghiên cứu theo các hướng khác nhau Điều này đã phản ánh tính đa dạng trên các mặt biểu hiện của định hướng giá trị

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước về định hướng giá trị và định hướng giá trị nghề nghiệp

- Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu định hướng giá trị nhân cách của

sinh viên, thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường

Từ năm 1991-1995 nhiều đề tài thuộc chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước đã tiếp cận vấn đề giá trị và định hướng giá trị Đặc biệt là các

đề tài thuộc chương trình KX-07 “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm Tiêu biểu trong chương trình nghiên cứu này là đề tài: “Định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” (1994), do tác giả Thái Duy Tuyên làm chủ nhiệm Các tác giả khẳng định, định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam nói riêng và toàn xã hội nói chung đang có sự biến đổi mạnh mẽ, bên cạnh những giá trị truyền thống như: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, cần cù trong lao động đã xuất hiện những giá trị mới như: tính năng động, chấp nhận cạnh tranh, tính hiệu quả thiết thực Đồng thời cũng xuất hiện xu hướng chạy theo lợi ích cá nhân, coi nhẹ lợi ích tập thể, phai nhạt lý tưởng Từ đó, đề tài đã đưa ra các giải pháp điều chỉnh, giáo dục định hướng giá trị cho thanh niên [30]

Công trình nghiên cứu “Giá trị, định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” (1995) là một nhánh của đề tài KX07-04, do tác giả Nguyễn Quang Uẩn làm chủ nhiệm cũng khẳng định: Định hướng giá trị nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang có sự biến đổi so với trước thời kỳ đổi mới Trong đó, các giá trị truyền thống, giá trị chung như: nguyện vọng sống trong hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế, mong có học vấn, nghề nghiệp,

Trang 10

sức khoẻ, gia đình, vẫn được đề cao Tuy nhiên, định hướng giá trị cũng thể hiện rõ tính thực dụng, cá nhân, mang dấu ấn của kinh tế thị trường Từ đó, các tác giả đặt ra yêu cầu phải giáo dục giá trị cho nhân dân, nhất là học sinh, thanh niên nhằm chuẩn bị hành trang cho họ bước vào thế kỷ XXI

- Hướng nghiên cứu thứ hai: Nghiên cứu về định hướng giá trị nghề

nghiệp và định hướng giá trị nghề dạy học

Theo hướng nghiên cứu này có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu: Nguyễn Đăng Đông [7]; Nguyễn Thị Chanh [1]; Nguyễn Thị Huyền [16]v.v… Những công trình nghiên cứu này đã tiếp cận nghiên cứu định hướng giá trị nghề dạy học với nhiều biểu hiện đa dạng, phong phú trên đối tượng là thanh niên, sinh viên các trường đại học - cao đẳng sư phạm hiện nay Kết quả nghiên cứu đều khẳng định xu thế biến đổi trong định hướng giá trị nói chung và định hướng giá trị nghề dạy học nói riêng trước sự biến đổi của nền kinh tế -

xã hội Từ đó, đưa ra những giải pháp khắc phục những biểu hiện lệch lạc, không phù hợp và hình thành định hướng giá trị nghề nghiệp đúng đắn cho sinh viên sư phạm Nhìn chung, trong hơn hai thập kỷ qua, những công trình nghiên cứu về định hướng giá trị và định hướng giá trị nghề nghiệp ở trong nước cũng khá phong phú và đa dạng trên nhiều khía cạnh khác nhau Đặc biệt khi tiếp cận vấn đề này, các đề tài thường lấy lứa tuổi thanh niên, sinh viên là nhóm khách thể quan trọng trong quá trình nghiên cứu Tính đa dạng của kết quả nghiên cứu cho thấy “bức tranh toàn cảnh” về vấn đề định hướng giá trị của người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ nói riêng hiện nay khá sôi động và chứa trong nó những mâu thuẫn nhất định Những định hướng giá trị đó luôn biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội, nhất là từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới (1986) cho đến nay Về hướng nghiên cứu, các đề tài chủ yếu tiếp cận vấn đề định hướng giá trị trên bình diện văn hóa học, xã hội học, đạo đức học, giáo dục học hoặc tiếp cận liên nghành Hướng nghiên cứu định hướng giá trị trên bình diện tâm lý học còn ít công trình đề cập Đặc biệt, cho đến nay, chưa có công

Trang 11

trình nào nghiên cứu về định hướng giá trị nghề dạy học cho sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên

- Khái quát những vấn đề lý luận về: Giá trị, định hướng giá trị nghề dạy học, định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên

- Khảo sát thực trạng định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội

- Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội

- Đề xuất một số kiến nghị về định hướng giá trị nghề dạy học cho sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên là vấn đề rất rộng, tuy

nhiên trong khuôn khổ công trình này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các nội dung chính yếu sau:

Trang 12

- Thực trạng định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội Được biểu hiện cụ thể qua 3 mặt: nhận thức, thái độ, hành vi Cụ thể:

+ Nhận thức về giá trị của nghề dạy học: vai trò, tầm quan trọng và các giá trị của nghề dạy học (giá trị kinh tế, giá trị thăng tiến, giá trị đạo đức)

+ Thái độ đối với nghề dạy học: hứng thú, niềm tin và động cơ lựa chọn nghề dạy học

+ Hành động để học tập, rèn luyện, tu dưỡng để chiếm lĩnh các giá trị của nghề dạy học

- Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội (vốn tri thức hiểu biết về nghề dạy học, khuynh hướng, lý tưởng và niềm tin nghề dạy học, thái độ yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học, gia đình, người thân, bạn bè, nhà trường và cộng đồng xã hội)

4.3 Khách thể nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu định hướng giá trị nghề dạy học của 600 sinh viên thuộc 3 khóa: 2014 - 2017; 2015 - 2018; 2016 - 2019 đang theo học hệ Cao đẳng chính quy, trường Đại học Thủ đô

Hà Nội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp

luận cơ bản của tâm lý học sau đây:

- Nguyên tắc hoạt động: Hoạt động là phương thức hình thành, tồn tại, phát triển và thể hiện định hướng giá trị nghề nói chung và định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội nói riêng Đồng thời định hướng giá trị nghề là cái giúp mỗi cá nhân nhận thức, tỏ thái độ lựa chọn nghề phù hợp với bản thân Do đó nếu có định hướng giá trị nghề dạy học phù hợp sẽ giúp sinh

Trang 13

viên chủ động, tích cực học tập lĩnh hội tri thức để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của nghề dạy học

Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường đại học Thủ đô

Hà Nội được thực hiện thông qua các hoạt động thực tiễn như tìm hiểu nhận thức, thái độ và hành động của sinh viên, tức là thông qua quan sát, đánh giá kết quả định hướng giá trị nghề của sinh viên

- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Con người là một thực thể xã hội, có nhiều yếu tố chi phối đến định hướng giá trị nghề của nghề dạy học bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Do đó cần nghiên cứu định hướng giá trị nghề của sinh viên trong các mối quan hệ tương hỗ của nhiều yếu tố tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội, điều kiện hoàn cảnh gia đình, nhà trường, xã hội

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu;

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;

- Phương pháp phỏng vấn sâu;

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;

- Phương pháp xử lý thông tin bằng thống kê toán học

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê toán học qua sự hỗ trợ của phần mềm SPSS (phiên bản 20.0) để phân tích dữ liệu thu được từ phiếu điều tra

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến nội dung nghiên cứu: giá trị, định hướng giá trị, định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên được biểu hiện qua 3 mặt nhận thức, thái độ và hành động

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu thực tiễn làm sáng rõ về định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội biểu hiện qua các mặt nhận

Trang 14

thức, thái độ, hành động của sinh viên Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục, để từ đó đưa ra các biện pháp giáo dục trong công tác định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội

Trang 15

1.1.1.1 Khái niệm giá trị

Khái niệm giá trị được đề cập và nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như triết học, kinh tế học, xã hội học, tâm lý học, đạo đức học…

Trong triết học, có nhiều quan điểm khác nhau về giá trị Tuy nhiên, ở đây giá trị chủ yếu được xét theo quan điểm Mác xít nên giá trị được coi là hiện tượng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của con người Giá trị là sự thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan [33, tr.51]

Dưới góc độ xã hội học, xuất phát từ quan điểm khác nhau, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm giá trị Dựa vào mục đích và ý nghĩa của hoạt động đối với cá nhân, Max Weber cho rằng giá trị là những gì có ý nghĩa

và mang lại lợi ích cho chủ thể Trong khi đó, dựa vào ý nghĩa của các giá trị đối với cuộc sống thì Giêm Pipon và Garich Belay (1991) cho rằng: Giá trị là các ý tưởng về các loại mục đích hay các loại lối sống của một cá thể, nhóm hoặc xã hội mong muốn hoặc coi là có ý nghĩa Đó là những chất lượng để đảm bảo cuộc sống, các chuẩn tối thượng chỉ đạo mọi hoàn cảnh thực tiễn [12]

Trong đạo đức học, giá trị luôn gắn liền với các khái niệm trung tâm như: cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, bác ái bởi vì khái niệm giá trị thuộc phạm vi đời sống đạo đức của con người, các quan hệ xã hội và quá trình hình thành các chuẩn mực, quy tắc đạo đức của xã hội [28, tr.19]

Dưới góc độ Tâm lý, các nhà Tâm lý học đã sử dụng hàng loạt thuật ngữ có liên quan: ước muốn, nhu cầu hay động cơ Trước hết, giá trị không

Trang 16

đồng nhất với ước muốn và nhu cầu Các nhu cầu nảy sinh từ sự thiếu hụt, những đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển Ước muốn là sự mong mỏi nhằm vào một đối tượng hay trạng thái nhất định, những ước muốn có thể trở thành một nhu cầu, trong đó pha trộn những ước muốn tương ứng Còn giá trị là những cái cần và có ích cho chủ thể Mặt khác, các giá trị không phải là những động cơ Động cơ là cái thôi thúc con người hoạt động, là đối tượng mà hoạt động cần chiếm lĩnh “Một giá trị nào

đó có thể có sức mạnh tương đối độc lập so với bất cứ động cơ đặc thù nào

đó, dù rằng theo một nghĩa nào đó nó vẫn còn có chức năng là một hệ thống động cơ”[10, tr.139] Khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu động cơ thúc đẩy hành vi, hoạt động của con người trong định hướng giá

trị và dự báo xu hướng phát triển nhân cách

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Giá trị là cái quy định mục đích của họat động Đó là vấn đề sống còn của từng con người, mà tổng hợp lại có thể nói rằng vấn đề giá trị đi theo suốt đời người: xác định giá trị, hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị, định hướng giá trị (gọi tắt là xác định giá trị), rồi theo đuổi giá trị, rồi biểu hiện giá trị và thực hiện nó” [10, tr.150] Như vậy, nói đến giá trị là nói đến việc đánh giá, tìm ra ý nghĩa của sự vật này, sản phẩm kia mà chủ thể quan tâm tới, có ước muốn đạt được để thực hiện một mục đích nào đấy

Theo tác giả Trần Trọng Thủy: “Giá trị là một hiện tượng xã hội điển hình biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực

và các tư tưởng chuẩn mực, mục đích, lý tưởng được loài người tạo ra nhưng đều phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội và sự phát triển của cá nhân con người” [31, tr.11]

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, có nhiều định nghĩa khác nhau về giá trị, thông thường có thể hiểu: “Giá trị là cái đáng quý, cái cần thiết, có lợi ích, có

ý nghĩa, thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, của giai

Trang 17

cấp, nhóm, xã hội nói chung Giá trị là một phạm trù lịch sử, thay đổi theo thời gian, là một phạm trù xã hội, phụ thuộc vào tính chất của dân tộc, tôn giáo, cộng đồng” [32, tr.106]

Tác giả Lê Đức Phúc cho rằng: “Giá trị là cái có ý nghĩa đối với xã hội, tập thể và cá nhân, phản ánh mối quan hệ chủ thể khách quan được đánh giá xuất phát từ điều kiện lịch sử xã hội thực tế và phụ thuộc vào trình độ phát triển nhân cách Khi đã được nhận thức đánh giá lựa chọn, giá trị trở thành một trong những động lực thúc đẩy con người theo xu hướng nhất định” [27, tr.19]

Tóm lại, qua xem xét các quan niệm về giá trị ở trên, kế thừa các quan điểm đã nêu, đề tài nghiên cứu quan niệm về giá trị như sau:

Giá trị là những cái có ý nghĩa đối với cá nhân, cộng đồng, xã hội với

tư cách là phương tiện thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích, biểu thị niềm tin của con người về mục đích và lý tưởng sống, khi được nhận thức, đánh giá và lựa chọn sẽ trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động

1.1.1.2 Đặc điểm của giá trị

Từ cách hiểu về giá trị, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm sau của giá trị:

Giá trị là những cái có ý nghĩa đối với cá nhân hay nhóm xã hội, tức là được chủ thể nhận thức về tầm quan trọng, sự cần thiết trong quan hệ với sự vật hiện tượng mang giá trị

Giá trị cuốn hút cá nhân hay nhóm xã hội vươn tới nó Chủ thể khi đã nhận thức một cách đầy đủ, các giá trị sẽ trở thành những tiêu chuẩn cho sự so sánh, đánh giá và hướng tới của con người

Giá trị thôi thúc con người hành động vì nó Giá trị là nguồn gốc thúc đẩy hành động, là cơ sở hình thành định hướng giá trị của con người và chính con người lại là nơi sản sinh ra giá trị, đồng thời cũng là nơi duy trì, truyền thụ

và điều chỉnh các giá trị

Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố tình cảm và

Trang 18

yếu tố hành vi của chủ thể trong quan hệ với sự vật hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự lựa chọn, đánh giá và hướng tới của chủ thể Giá trị là nguồn gốc sâu xa thúc đẩy con người hoạt động, là cơ sở để hình thành định hướng giá trị của họ

1.1.1.3 Phân loại giá trị

Hiện nay, có nhiều cách phân loại giá trị, tùy theo mục đích tiếp cận, tiêu chuẩn, căn cứ mà mỗi tác giả có cách phân loại giá trị khác nhau

Theo Rokeach, có hai loại giá trị: giá trị mục đích và giá trị công cụ Theo ông, các giá trị mục đích là những mục đích, lý tưởng, những tình trạng mục đích của tồn tại đáng để đạt được đối với cá nhân và xã hội Các giá trị này bao gồm: Thế giới hòa bình, an ninh quốc gia, tự do, bình đẳng, cuộc sống ý nghĩa, tình bạn, chân thành, tôn trọng người khác, thông minh, sáng suốt, cuộc sống sung túc Các giá trị công cụ (phương tiện) là phương thức ứng xử lý tưởng tối ưu đối với cá nhân và xã hội trong mọi tình huống liên quan đến mọi đối tượng Những giá trị công cụ bao gồm: trách nhiệm, danh

dự, lòng tin, thanh lịch, dũng cảm, hợp tác, trong sạch, khoan dung, kỷ luật [35, tr.58]

Còn dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu của con người mà người ta chia các giá trị thành hai loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần Trong các giá trị vật chất, người ta còn phân biệt giá trị sử dụng và giá trị kinh tế tức là cái có ích

và cái có thể bán được trên thị trường Trong các giá trị tinh thần, người ta thường đề cập đến các loại giá trị sau: giá trị khoa học hay còn gọi là giá trị nhận thức (cái chân lý), giá trị chính trị (cái chính nghĩa, cái cách mạng ), các giá trị pháp luật (cái hợp pháp), giá trị đạo đức (cái thiện, cái ác), giá trị thẩm

mỹ (cái đẹp), giá trị tôn giáo (sự linh thiêng, thánh thiện ) Mỗi loại giá trị có một phản giá trị tương ứng là thành một cặp hiện tượng đối lập tương phản [41]

Như vậy tùy vào từng mục đích khác nhau mà có cách phân lọai giá trị khác nhau Và sự phân loại này cũng chỉ mang tính chất tương đối

Trang 19

1.1.2 Định hướng giá trị

1.1.2.1 Khái níệm

Định hướng giá trị được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu như Xã hội học, Tâm lý học…

T Lêvưkin cho rằng: “Định hướng giá trị là việc đánh giá các khả năng

và tình hình hiện có để xác định các phương tiện và phương pháp nhằm đạt những mục tiêu đã đề ra” [40]

Theo tác giả Trần Trọng Thủy: “Định hướng giá trị chính là các giá trị

đã được con người sống trong xã hội tiếp thu với tư cách như là những tiêu chuẩn của hành vi” [31, tr.29]

Sau khi đưa ra nhiều định nghĩa và phân tích khái niệm định hướng giá trị, tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã nêu lên các ý chung cơ bản sau: Định hướng giá trị được hình thành trong quá trình cá nhân hoặc nhóm người gia nhập vào các quan hệ xã hội với tư cách chủ thể của hoạt động đó, hướng vào các giá trị có ý nghĩa cơ bản với cá nhân hay nhóm; quá trình định hướng giá trị bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố nhận thức (đánh giá), ý chí và cảm xúc (thử nghiệm) cũng như các khía cạnh đạo đức, thẩm mỹ trong sự phát triển nhân cách; định hướng giá trị là cơ sở bên trong của hành vi, quyết định lối sống của cá nhân [33, tr.125]

Theo tác giả Lê Đức Phúc: “Định hướng giá trị là thái độ lựa chọn của con người đối với các giá trị vật chất và tinh thần; là một hệ thống tâm thế, niềm tin, sở thích được biểu hiện trong hành vi của con người Đó cũng là năng lực của ý thức, nhận thức và đánh giá các hoạt động và các sản phẩm xã hội khác nhau” [27, tr.37] Ở đây, tác giả quan tâm đến 3 khía cạnh của định hướng giá trị, đó là: nhận thức, thái độ và hành vi

Trang 20

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Định hướng giá trị là cơ sở để hướng tới sự lựa chọn, một cách đánh giá, một cách nhìn, một niềm tin, một mục đích tiến tới Công việc cốt lõi của định hướng giá trị là giáo dục giá trị” [11, tr.154]

Như vậy, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về định hướng giá trị, trên cơ sở tiếp thu các quan điểm của các nhà nghiên cứu về định hướng giá trị, chúng tôi đưa ra cách hiểu định hướng giá trị như sau:

Định hướng giá trị là khuynh hướng chủ thể lựa chọn những giá trị trong hoạt động sống của mình và được thể hiện qua nhận thức, thái độ và hành động của cá nhân

Định hướng giá trị là quá trình lựa chọn thể hiện thái độ đánh giá của chủ thể đối với một đối tượng nhất định, nghĩa là chủ thể nhận thức, đánh giá những giá trị mà bản thân đã lựa chọn

Các giá trị mà chủ thể hướng tới là các giá trị mà có ý nghĩa, phù hợp với bản thân Các giá trị này có thể phù hợp với chủ thể, nhóm xã hội này nhưng không phù hợp với chủ thể, nhóm xã hội khác Điều này có nghĩa là định hướng giá trị của mỗi cá nhân, nhóm xã hội có thể khác nhau và chúng ta

có thể chỉ ra được đặc trưng về định hướng giá trị của một tầng lớp, một giai cấp nào đó

1.1.2.2 Đặc điểm của định hướng giá trị

Từ khái niệm định hướng giá trị chúng ta có thể thấy một số đặc điểm sau của định hướng giá trị:

Định hướng giá trị là một yếu tố quan trọng của cấu trúc nhân cách, được hình thành và củng cố bởi nhận thức, bởi kinh nghiệm sống cá nhân qua

sự trải nghiệm lâu dài giúp cá nhân tách cái có ý nghĩa, cái bản chất thiết thân đối với họ ra khỏi cái vô nghĩa, cái không bản chất Bởi vì định hướng giá trị được hình thành thông qua quá trình cá nhân gia nhập các quan hệ xã hội, hoạt động sống cơ bản và là chủ thể của hoạt động đó, hướng vào các giá trị

có ý nghĩa cơ bản với cá nhân hay nhóm

Trang 21

Quá trình định hướng giá trị bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố nhận thức, thái độ và hành động cũng như các khía cạnh đạo đức, thẩm mỹ trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Định hướng giá trị là cơ sở bên trong của hành vi, quyết định lối sống

cá nhân

1.1.2.3 Phân loại định hướng giá trị

Các giá trị của con người rất đa dạng, phong phú và phức tạp Vì vậy, dựa trên những căn cứ khác nhau có các cách phân loại định hướng giá trị cũng khác nhau, cụ thể:

Căn cứ vào đối tượng của sự định hướng, ta có:

+ Định hướng giá trị vật chất + Định hướng giá trị tinh thần Căn cứ vào ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những giá trị mà con người đang theo đuổi, ta có:

+ Định hướng giá trị tích cực + Định hướng giá trị tiêu cực Căn cứ vào ý nghĩa xã hội hay cá nhân của những mục đích cá nhân hướng tới, ta có:

+ Định hướng giá trị xã hội + Định hướng giá trị cá nhân

1.1.3 Định hướng giá trị nghề dạy học

1.1.3.1 Khái niệm chung về nghề

Về thuật ngữ “nghề” hay “nghề nghiệp” được sử dụng khá đa dạng: Thuật ngữ “nghề nghiệp” theo tiếng Anh là “Frofession” có nghĩa là một công việc chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại

Theo từ điển tiếng Việt, “nghề” (hay “nghề nghiệp”): công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động của xã hội [25, tr.654]

Trang 22

Như vậy, nghề là một hoạt động đặc thù của con người nảy sinh khi xã hội có sự phân công lao động, hình thành cùng với sự phát triển của xã hội; là một lĩnh vực hoạt động trong đó con người đem sức lao động vật chất hay tinh thần tùy theo sự phân công lao động của xã hội để tạo ra những cái cần thiết cho xã hội, từ đó con người thỏa mãn nhu cầu của mình để tồn tại và phát triển

Nghề trong xã hội rất đa dạng, xã hội càng phát triển cao thì càng phát triển nhiều nghề mới để đáp ứng nhu cầu của con người, của xã hội Hiện nay, ở nước ta có khoảng 33 nhóm nghề và mỗi nhóm lại chia thành nhiều nghề khác nhau Dựa trên cách phân chia của tác giả E.A Klimov chia các nghề trong xã hội thành 5 nhóm: 1) Nhóm nghề “Người – Tự nhiên”; 2) Nhóm nghề “người – kỹ thuật”; 3) Nhóm nghề “người – hệ thống kỹ thuật”; 4) Nhóm nghề “người – người”; Nhóm nghề “người – nghệ thuật” Trong xã hội, đặc biệt

là trong xã hội hiện đại, con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi mỗi người phải lao động trong một nghề nhất định

1.1.3.2 Khái niệm giá trị nghề

Mỗi nghề trong xã hội đều có những giá trị khác nhau, nó phản ánh sự đánh giá của cá nhân và xã hội đối với nghề nghiệp Những giá trị này được khẳng định ngay từ khi xuất hiện nghề nghiệp nhưng nó luôn biến đổi theo tiến trình phát triển của lịch sử - xã hội

Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu:

Giá trị nghề là những cái có ý nghĩa đối với hoạt động nghề cũng như cuộc sống của chủ thể, cuốn hút họ vươn tới và thôi thúc hành động vì nó

Trang 23

nhận thức, thái độ và hành động của chủ thể

Định hướng giá trị nghề là quá trình chủ thể thể hiện thái độ đánh giá đối với nghề mà mình lựa chọn Thái độ này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của chủ thể trong lĩnh vực nghề đó Định hướng giá trị nghề là cái thúc đẩy hoạt động của chủ thể nhằm hướng tới và đạt được các giá trị đó

1.1.3.4 Giá trị nghề dạy học

Theo từ điển Giáo dục học: “nghề dạy học là nghề có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác” [13, tr.282] Ngày nay nghề dạy học (hay còn gọi là nghề giáo viên) thuộc nhóm nghề người - người trong xã hội, là một lĩnh vực hoạt động lao động trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong đó người giáo viên sử dụng năng lực thể chất và tinh thần của mình để giảng dạy, giáo dục, rèn luyện người học trở thành những người có ích cho gia đình và xã hội theo mô hình, mục tiêu đã xác định Người giáo viên trong nhà trường sư phạm có vai trò rất quan trọng, là người truyền thụ kiến thức khoa học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho sinh viên, quản lý hoạt động của sinh viên ở trên lớp, giáo dục phẩm chất nhân cách cho những giáo viên tương lai

Từ những vấn đề phân tích trên, theo chúng tôi nghề dạy học cần được

hiểu: Là một lĩnh vực hoạt động của nhà giáo theo sự phân công của xã hội

Trong đó các nhà giáo bằng chính những phẩm chất, năng lực được xã hội thừa nhận để dạy dỗ thế hệ trẻ trở thành công dân có ích cho xã hội

Giáo viên - người thay mặt cho xã hội để giáo dục thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu của xã hội Việc giáo dục thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu xã hội là cả một quá trình lâu dài khó khăn và phức tạp Điều quan trọng cần phải xác định được tính chất của việc dạy học - giáo dục Việc xác định các tính chất này có tầm quan trọng đặc biệt vì nó phản ánh bản chất của việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển của xã hội Vậy nên, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu tính chất nghề dạy học, tuy vẫn còn nhiều quan điểm chưa đồng

Trang 24

thuận song trong đề tài này, chúng tôi đưa ra 12 tính chất cơ bản nghề dạy học và

phân làm 3 loại: 1 Những tính chất nghiêng về chức năng dạy học: tính tích cực, tính sáng tạo, tính phát triển, tính toàn diện, tính phổ thông; 2 Những tính chất

nghiêng về chức năng giáo dục: tính chính trị, tính nhân văn, tính hiện đại, tính

dân tộc; 3 Những tính chất thực hiện cả chức năng dạy học và giáo dục: tính

khoa học, tính lao động trí óc, tính nghệ thuật

Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm giá trị nghề dạy học như sau:

Giá trị nghề dạy học là những cái có ý nghĩa đối với xã hội, phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể, được đánh giá xuất phát từ những điều kiện lịch sử

- xã hội cụ thể và phụ thuộc vào trình độ phát triển nhân cách người giáo viên Khi đã được nhận thức, đánh giá và lựa chọn, giá trị nghề dạy học trở thành động lực thúc đẩy người giáo viên theo một xu hướng nhất định

Như vậy, có thể hiểu giá trị nghề dạy học là sự thừa nhận, đánh giá của

xã hội và chính bản thân người giáo viên đối với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngành sư phạm, của những người giáo viên trong hệ thống giáo dục quốc dân Những giá trị đó, được khẳng định thông qua kết quả đào tạo sinh viên và chất lượng hoạt động nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường Đồng thời, thể hiện ở chính nhận thức, thái độ, hành động và sự trưởng thành của người giáo viên trong quá trình hoạt động nghề nghiệp

Giá trị nghề chính là sự đánh giá của xã hội đối với nghề Nghề dạy học luôn tồn tại và với ý nghĩa là nghề cao quý trong xã hội, là nhân tố quyết định nguồn nhân lực cho những nghề khác Chính vì thế mà nghề dạy học có những giá trị được xã hội thừa nhận: Nghề có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn; nghề có ý nghĩa tư tưởng - văn hóa; nghề có ý nghĩa kinh tế - sản xuất; nghề có điều kiện chăm sóc gia đình và giáo dục con cái; nghề có thu nhập ổn định v.v…

Có thể nói, giá trị của nghề dạy học rất đa dạng và phong phú, bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần Trong đó, các giá trị tinh thần, giá trị xã hội là những giá trị

Trang 25

chủ yếu và được thể hiện rõ nhất

1.1.3.5 Định hướng giá trị nghề dạy học

Dựa trên cơ sở những hiểu biết về giá trị, định hướng giá trị, giá trị nghề, chúng tôi đưa ra quan niệm về định hướng giá trị nghề như sau:

Định hướng giá trị nghề dạy học là khuynh hướng chủ thể lựa chọn những giá trị có ý nghĩa đối với hoạt động dạy học cũng như cuộc sống, được thể hiện qua nhận thức, thái độ và hành động của chủ thể

1.1.3.6 Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên

Trên cơ sở của các khái niệm về giá trị, định hướng giá trị, giá trị nghề dạy học đã được xác định ở trên, chúng tôi cho rằng định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên là:

Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên là khuynh hướng sinh viên lựa chọn những giá trị có ý nghĩa đối với hoạt động nghề dạy học, cũng như trong cuộc sống, được thể hiện qua nhận thức, thái độ, hành động của sinh viên

Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên được hình thành chủ yếu trong quá trình đào tạo nghề nghiệp, liên tục được củng cố và phát triển cả khi đã trở thành người giáo viên Nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở bên trong, chi phối nhận thức, thái độ và định hướng, điều chỉnh hành vi, hoạt động của sinh viên trong tu dưỡng, rèn luyện, học tập cũng như trong mọi lĩnh vực cuộc sống Nói cách khác, nó quyết định sự hình thành phong cách, lối sống của sinh viên, quyết định sự hình thành nhân cách người giáo viên trong tương lai

1.2 Biểu hiện định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên

1.2.1 Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên biểu hiện qua nhận thức đối với nghề dạy học

Các giá trị của nghề dạy học có vai trò định hướng, thúc đẩy con người hành động khi các giá trị được chủ thể nhận thức nghĩa là nhận thấy nó làm thỏa mãn, có một ý nghĩa nào đó đối với cá nhân và xã hội

Nhận thức nghề nghiệp là sự phản ánh vai trò, vị trí, các đặc điểm, thuộc tính, những đặc trưng cơ bản của nghề; những yêu cầu xã hội đối với nghề; những yêu cầu, đòi hỏi về mặt tâm, sinh lý đối với người làm nghề đó

Trang 26

và cũng là sự phản ánh các quá trình lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định Theo đó, chúng tôi tìm hiểu nhận thức giá trị nghề dạy học của sinh viên qua các mặt cơ bản: Nhận thức về vị trí, vai trò của nghề dạy học; nhận thức các mặt giá trị của nghề dạy học

1.2.1.1 Nhận thức của sinh viên về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học

Hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế, xã hội Mỗi ngành nghề đều có vai trò, vị trí và đóng góp riêng, trong đó giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Vì vậy, nghề dạy học được coi là một nghề đặc biệt, có ý nghĩa không chỉ đối với bản thân, gia đình, mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội vô cùng to lớn, góp phần quyết định xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng phục vụ phát triển đất nước Nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của nghề giúp bản thân người học củng cố mục tiêu, xây dựng chương trình, chiếm lĩnh tri thức để đạt được mục tiêu nhất định

1.2.1.2 Nhận thức về các giá trị của nghề: được biểu hiện trên ba mặt: Giá

trị về mặt kinh tế của nghề; giá trị về mặt thăng tiến của nghề; giá trị về mặt đạo đức của nghề dạy học

a Giá trị kinh tế là giá trị mà bất cứ chủ thể nào khi tham gia vào các hoạt

động nghề nghiệp trong xã hội đều hướng tới Giá trị này có vai trò định hướng, thúc đẩy chủ thể hành động nhằm thỏa mãn, đạt được nó trong quá trình sống của cá nhân và xã hội

Nhận thức về giá trị về mặt kinh tế của nghề dạy học được biểu hiện qua hai khía cạnh:

- Nghề đem lại cuộc sống ổn định: Mỗi sinh viên khi lựa chọn cho mình một ngành nghề bất kỳ nào đó đều mong muốn ngành nghề đó có thể giúp bản thân một công việc có thu nhập, đảm bảo cho người làm việc trong nghề

có một cuộc sống ổn định Đó chính là giá trị mà nghề mang lại cho chủ thể

- Nghề đem lại cho chủ thể có cuộc sống khá giả: khi hướng đến các nghề nghiệp trong xã hội nói chung, nghề dạy học nói riêng các sinh viên còn mong muốn nghề không chỉ đảm bảo cuộc sống ổn định mà còn phải có cuộc

Trang 27

sống khá giả Bởi xã hội ngày càng phát triển đi lên với nhu cầu vật chất và tinh thần của con người ngày một nâng cao Khát vọng có một cuộc sống khá giả từ chính nghề nghiệp của mình sẽ là động lực để giúp con người tâm huyết, gắn bó với nghề và cống hiến cho nghề nhiều hơn

b Giá trị thăng tiến của nghề dạy học thực chất là sự tiến bộ về chuyên

môn, công việc và địa vị, danh tiếng trong xã hội Mỗi chủ thể tham gia vào hoạt động đều có nhu cầu thăng tiến, nghề dạy học được đánh giá là nghề có điều kiện thăng tiến nhanh so với các nghề trong xã hội Để thăng tiến nhanh sinh viên cần: Có trình độ chuyên môn cao; năng lực tư duy, năng lực dạy học tốt; năng lực hòa đồng, kết nối; năng lực tổ chức; sự thừa nhận của đồng nghiệp, của cơ quan Vì vậy, sinh viên xác định việc nâng cao trình độ chuyên môn, rèn các kỹ năng là nhiệm vụ chính yếu của sinh viên sư phạm

Họ hiểu rằng chỉ có nâng cao trình độ chuyên môn mới có thể giúp họ đứng vững được trong nghề, nâng cao được thu nhập, mức sống và sự thăng tiến của mình

c Giá trị về mặt đạo đức của nghề dạy học tức là mỗi ngành nghề đều đòi

hỏi ở người thực hiện nó những phẩm chất nhân cách đặc thù Phẩm chất nhân cách đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp là cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động nghề nghiệp Sự nhận thức đúng đắn về những yêu cầu, đòi hỏi của nghề nghiệp dạy học về phẩm chất nhân cách sẽ định hướng cho sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện để có được những phẩm chất và năng lực tương ứng, phù hợp

Ngoài những phẩm chất chung như: Tôn trọng luật pháp, tôn trọng những quy định tại nơi làm việc; có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực và có tính kỉ luật cao Tuy nhiên, trong dạy học, người thầy được xem là mô phạm

về tri thức và đạo đức nghề, đạo đức người Vì vậy, nghề dạy học luôn là nghề đòi hỏi cao về đạo đức của chủ thể Người giáo viên tương lai cần có: Thế giới quan khoa học, bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng; Trình độ chuyên môn cao, vốn tri thức rộng trên các lĩnh vực khoa học; Phẩm chất đạo đức trong sáng, mẫu mực; Yêu người, yêu nghề sư phạm, có lý tưởng nghề nghiệp cao đẹp; Ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách vì lý

Trang 28

tưởng nghề nghiệp; Tay nghề sư phạm cao, khả năng tổ chức và thực hiện hiệu quả hoạt động sư phạm

1.2.2 Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên biểu hiện qua thái độ đối với nghề dạy học

Thái độ đối với nghề nghiệp là nhân tố quan trọng chi phối hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện nghề nghiệp của sinh viên; phản ánh mức độ yêu mến, say mê của người học đối với nghề nghiệp đã chọn Thái độ đối với nghề nghiệp thể hiện ở những đặc trưng cơ bản như: yêu nghề và hứng thú với nghề;

sự tin tưởng, yên tâm với nghề; động cơ chọn nghề

1.2.2.1 Lòng yêu nghề và hứng thú với nghề

Yêu nghề và hứng thú với nghề là thái độ đặc biệt của sinh viên đối với nghề trên cơ sở nhận thức được giá trị và sức hấp dẫn, tạo kích thích cho sinh viên trong học tập Hứng thú được hình thành trong hoạt động, và sau đó trở lại thúc đẩy cá nhân hành động Vì thế, hứng thú tạo ra khát vọng về đối tượng

và mong muốn đi sâu chiếm lĩnh đối tượng Nói đến nghề dạy học chúng ta nghĩ ngay đến trách nhiệm hết sức nặng nề của người giáo viên Giáo viên là nhà giáo dục hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, là người đào tạo ra những người kế tục sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Do đó người giáo viên phải là người có kiến thức cần thiết, có nhân cách, thiết tha yêu nghề, yêu trẻ Lòng yêu nghề phải là điều kiện tiên quyết cần có của một người giáo viên

1.2.2.2 Sự tin tưởng và yên tâm với nghề

Tin tưởng và yên tâm với nghề thực chất là sự khẳng định ý chí của bản

thân trước sự lựa chọn của người học trên cơ sở nhận thức rõ các hệ giá trị của nghề mang lại Sự tin tưởng là sự kết tinh của những tri thức, quan điểm,

ý chí, của con người thể nghiệm, nó trở thành chân lý bền vững trong mỗi cá nhân Sự tin tưởng giúp cho con người có nghị lực, ý chí để hành động phù hợp với quan điểm đã chấp nhận Như vậy sự tin tưởng và yên tâm với nghề dạy học

sẽ giúp sinh viên có đủ nghị lực, ý chí để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

1.2.2.3 Động cơ chọn nghề

Trang 29

Động cơ chọn nghề là lực thúc đẩy bên trong, lý giải tại sao sinh viên

chọn nghề sư phạm Động cơ chọn nghề của sinh viên rất đa dạng, phong phú, mỗi yếu tố trong hệ thống động cơ đều có vị trí, vai trò riêng, trong đó nghề dạy học có những động cơ cốt lõi, phản ánh bản chất của nghề

1.2.3 Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên biểu hiện qua hành động tự tu dưỡng, học tập, rèn luyện

Nghề dạy học là một nghề đặc biệt, bởi cũng là lao động nhưng sản phẩm lại là con người, công cụ lao động là nhân cách của chính mình Do đó đòi hỏi người giáo viên phải có một phẩm chất đạo đức và năng lực cao

1.2.3.1 Hành động tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức nghề dạy học

Phẩm chất là thái độ của con người đối với hiện thực (tự nhiên, xã hội, người khác, bản thân), là hệ thống những thuộc tính tâm lý biểu hiện các mối quan hệ xã hội cụ thể của người đó, thường được biểu hiện qua nhận thức, thái độ, hành vi, cách ứng xử

Sự tự tu dưỡng về mặt đạo đức là một hành động tự giác mà sinh viên thực hiện với chính bản thân mình nhằm khắc phục những hành vi trái đạo đức và bồi dưỡng, củng cố những hành vi đạo đức của mình, thúc đẩy sự phát triển nhân cách

Hành động của người thầy giáo là nhằm thay đổi nhân cách của học sinh, do đó mối quan hệ giữa thầy và trò ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học và giáo dục Đồng thời người thầy giáo luôn là tấm gương để học sinh noi theo Do đó đòi hỏi ở người học phải rèn luyện về mặt nhân cách để đạt được những tính cách và khí chất cần thiết, phù hợp với hoạt động sư phạm Đó là tinh thần trách nhiệm, thái độ công bằng, nhân hậu, chính trực, ngay thẳng, khiêm tốn, giản dị, điềm đạm, biết kiềm chế

1.2.3.2 Hành động tu dưỡng, rèn luyện về mặt năng lực chuyên môn nghề dạy học

Không chỉ có những phẩm chất phù hợp với nghề dạy học, sinh viên sư phạm muốn trở thành người thầy giỏi cần có năng lực sư phạm Năng lực sư phạm được hiểu trên hai khía cạnh là kiến thức giáo dục và kiến thức chuyên môn Trước hết dạy học không chỉ dạy các kiến thức chuyên môn của mình

Trang 30

mà còn có mặt giáo dục Đó là giáo viên phải hướng học sinh hình thành những nhân cách tốt, tránh những thói hư, tật xấu Còn kiến thức chuyên môn

đó là năng lực nắm vững tri thức khoa học cơ bản và khoa học giáo dục; nắm vững nội dung, hệ thống tri thức khoa học thuộc lĩnh vực mình giảng dạy và những tri thức có liên quan; từ đó để hiểu đối tượng giáo dục và có sự lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp với trình độ phát triển trí tuệ và tâm lý học sinh Bởi vậy phương pháp sư phạm và các kỹ thuật dạy học, sự sáng tạo trong học tập, nghiên cứu, giảng dạy là những yếu tố rất cần thiết mà sinh viên phải rèn luyện khi chọn nghề dạy học

Như vậy, định hướng giá trị nghề dạy học được biểu hiện phong phú và

đa dạng, ở cả 3 mặt: nhận thức, thái độ cảm xúc và hành vi Các mặt này có quan hệ mật thiết, tác động qua lại bổ sung cho nhau tạo nên tính thống nhất thúc đẩy chủ thể hoạt động

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên sư phạm

1.3.1 Yếu tố chủ quan

1.3.1.1 Ảnh hưởng từ vốn tri thức, hiểu biết về nghề dạy học

Tri thức được xem là tài nguyên vô tận và vô giá của con người Từ xa xưa, tri thức được xem là tài sản riêng của người quân tử, những kẻ sĩ bề trên; tri thức được biểu hiện ở đời sống tinh thần, đạo đức, trí tuệ, nhân cách của con người; tri thức là để cho mình, để chứng tỏ phẩm giá của mình, tức là để sống, để khẳng định sự tồn tại của mình Hơn thế, tri thức đối với sinh viên còn là nhân tố quan trọng, quyết định đến cuộc sống, sự thăng tiến của họ trong sự nghiệp Bởi lẽ, sinh viên là những người góp phần quan trọng trong công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực của đất nước Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của ngành giáo dục, họ luôn nhận thức rõ vai trò và ý nghĩa của tri thức đối với người giáo viên Tri thức đem lại cho sinh viên những hiểu biết, kiến thức, khả năng tư duy lý luận, khả năng phân tích, tiếp cận, luận giải và truyền thụ vấn đề cho người học tường minh, rõ nghĩa; sinh viên

Trang 31

sử dụng tri thức là công cụ chính yếu trong quá trình hoạt động nghề nghệp của mình Vì vậy, tri thức là đòi hỏi tối quan trọng đối với người giáo viên, là yêu cầu cao trong mục tiêu đào tạo của Nhà trường

1.3.1.2 Ảnh hưởng bởi khuynh hướng, lý tưởng và niềm tin nghề dạy học

Khuynh hướng, lý tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất mà người ta muốn đạt tới Lý tưởng rất quan trọng đối với bất cứ ai, đối với tất cả mọi người, đặc biệt là lý tưởng về nghề dạy học của sinh viên sư phạm Nhờ có ánh sáng ngọn đèn lý tưởng mà sinh viên có nghị lực và niềm tin trong cuộc đời, biết sống có ý nghĩa, sống xứng đáng với vinh dự và niềm tự hào của người giáo viên nhân dân Khuynh hướng, lý tưởng giúp sinh viên vượt qua được những vô vị, nhàm chán, lối sống thực dụng, lười học, lười lao động và các tệ nạn trong xã hội, từ đó xây dựng động cơ thôi thúc người học vượt qua những khó khăn trong hành trình chiếm lĩnh tri thức

Niềm tin được ví như một động lực để giúp con người vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống Niềm tin có được khi sinh viên nhận thức đúng vị trí, vai trò, xu hướng phát triển của nghề dạy học trong xã hội; đồng thời, họ ý thức rõ năng lực, phẩm chất, giá trị của bản thân, đánh giá được vị trí vai trò của mình trước những đòi hỏi cao của nghề dạy học mà mình đang theo học Nghĩa là sinh viên cần có niềm tin vào nghề và tin vào bản thân mình, trong đó niềm tin vào bản thân là quan trọng nhất, là động lực bên trong, trực tiếp thôi thúc sinh viên hành động Nếu người học mất niềm tin, họ sẽ xa rời lý tưởng, mất ý chí, nghị lực để bước tiếp trên con đường

mình đã chọn

1.3.1.3 Ảnh hưởng bởi thái độ yêu nghề, gắn bó với nghề

Thái độ của sinh viên đối với nghề dạy học là nhân tố quan trọng góp phần cấu thành nhân cách, biểu hiện sắc thái tình cảm, mức độ say mê đối với hoạt động nghề nghiệp Thái độ liên quan đến nhu cầu, động lực chọn nghề và cảm hứng đối với nghề nghiệp Thái độ tích cực ảnh hưởng đến tác phong lao động, tinh thần trách nhiệm, lòng say mê nghề và hiệu quả công việc Trong

Trang 32

bất cứ nghề nghiệp nào, 3 yếu tố để dẫn đến thành công là kiến thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề và thái độ nghề nghiệp Có thể người ta nhận biết nhau qua kiến thức và kỹ năng vì đó là phần nổi, còn thái độ nghề nghiệp là cái mà khó nhận ra, đó là những giá trị chuẩn mực, cách phê phán và hợp tác, động lực lao động, đạo đức và niềm tin Những điều này làm nên thái độ con người, tác động đến hành vi cư xử, giao tiếp và hình thành thói quen ứng xử tích cực hay tiêu cực trong cuộc sống

1.3.2 Yếu tố khách quan

1.3.2.1 Ảnh hưởng từ gia đình

Mỗi con người sinh ra trong một gia đình nhất định và luôn chịu ảnh hưởng, tiếp thu, kế thừa những giá trị truyền thống của các thế hệ trong gia đình Bởi lẽ, gia đình là một cộng đồng ổn định và xác định Gia đình thực hiện các chức năng của hoạt động kinh tế, tổ chức sản xuất, tổ chức các lĩnh vực khác trong hoạt động sống của con người: giáo dục từ tình cảm, đến kỹ năng, kỹ xảo; từ ứng xử đến đạo đức, từ lối sống hình thành nên định hướng giá trị Giáo dục gia đình có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc định hướng giá trị nhân cách, nghề nghiệp Thông qua yếu tố gia đình, chúng ta có thể giải thích được hiện tượng “thừa kế” tài năng trong một số gia đình, qua nhiều thế

hệ cùng theo một ngành nghề nào đó Và rất nhiều người nhầm tưởng rằng sự thừa kế đó như là hiện tượng di truyền Nhưng hoàn toàn không phải vậy, đây

là một hiện tượng xã hội, một quá trình ảnh hưởng giáo dục có chủ định hoặc không chủ định Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và thực tế cho thấy gia đình là môi trường đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành

và phát triển nhân cách của người học

1.3.2.2 Ảnh hưởng từ giáo dục của Nhà trường

Nhà trường là một môi trường giáo dục đặc biệt nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục con người, đào tạo nguồn nhân lực của một thời kỳ lịch sử nhất định Hơn nữa giáo dục nhà trường được tổ chức một cách có hệ thống theo một quy trình có mục tiêu, nội dung, phương thức tổ chức cùng với đội ngũ

Trang 33

thầy,cô giáo có đầy đủ phẩm chất và năng lực để đào tạo ra những con người phát triển toàn diện theo như mục đích giáo dục Như vậy, Nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong quá trình định hướng giá trị nhân cách, nghề nghiệp cho sinh viên Mọi sự tác động giáo dục của nhà trường có tác dụng hình thành định hướng nhân cách cho người học Do đó trong nhà trường việc sinh viên hướng đến giá trị nào đó ít nhiều do nhà trường quyết định

1.3.2.3 Ảnh hưởng từ bạn bè, cộng đồng xã hội

Môi trường vi mô bao gồm bạn bè và các tổ nhóm xã hội; môi trường

vĩ mô bao gồm các thể chế chính trị xã hội, môi trường văn hóa, quốc gia, quốc tế có ảnh hưởng gián tiếp đến định hướng giá trị nghề của sinh viên Có thể nói, tất cả các yếu tố này chưa bao giờ tác động nhiều đến định hướng giá trị nghề của sinh viên như hiện nay bởi họ rất nhanh nhạy và dễ bị ảnh hưởng trước những thay đổi của xã hội bao gồm cả những cái tích cực lẫn tiêu cực Nhìn chung, bên cạnh những giá trị đạo đức, giá trị nghề nghiệp mới đang được hình thành ở sinh viên hiện nay, trong tiến trình đổi mới của đất nước, của sự nghiệp giáo dục cũng cần phải tính đến những chuẩn giá trị mới sẽ hình thành trong bối cảnh toàn cầu hóa, trong thời đại khoa học công nghệ cao

Tiểu kết chương 1 Định hướng giá trị là khuynh hướng chủ thể lựa chọn những giá trị trong hoạt động sống của mình và được thể hiện qua nhận thức, thái độ và hành động của cá nhân

Định hướng giá trị của sinh viên là khuynh hướng sinh viên lựa chọn những giá trị có ý nghĩa đối với hoạt động của nghề dạy học cũng như trong cuộc sống, được biểu hiện qua nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên

Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên được biểu hiện qua cả ba mặt: nhận thức, thái độ và hành vi của họ

Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên chịu sự chi phối bởi những nhân tố khách quan, chủ quan khác nhau, trong đó nhân tố chủ quan đóng vai trò quyết định chất lượng định hướng giá trị nghề

Trang 34

Chương 2

TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổ chức nghiên cứu

2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu

Nghiên cứu tư liệu liên quan đến lĩnh vực định hướng giá trị nghề nhằm xây dựng cơ sở lý luận và thiết kế công cụ nghiên cứu là “Phiếu điều tra”

2.1.2 Giai đoạn điều tra thử

Giai đoạn điều tra thử nhằm điều chỉnh bảng hỏi/công cụ nghiên cứu cho phù hợp với thực tiễn Trong giai đoạn này, chúng tôi xây dựng các câu hỏi sơ bộ sử dụng để khảo sát thử Trên cơ sở những thông tin thu được từ giai đoạn điều tra thử, người nghiên cứu hoàn thiện các câu hỏi và xây dựng phiếu điều tra để khảo sát chính thức

Bảng hỏi được khảo sát ở 45 sinh viên thuộc 3 khóa: 2014 -2017;

2015 - 2018; 2016 - 2019 đang theo học hệ Cao đẳng chính quy, tại trường Đại học Thủ đô Hà Nội

Thời gian: từ 1/10/2016 đến 15/10/2016

2.1.3 Giai đoạn điều tra chính thức

Bảng câu hỏi sau khi được hoàn thiện sẽ được khảo sát chính thức ở

600 sinh viên thuộc 3 khóa: 2014 - 2017; 2015 - 2018; 2016 - 2019, đang theo học hệ Cao đẳng chính quy, tại trường Đại học Thủ đô Hà Nội

2.1.5 Hoàn thành luận văn

Viết và hoàn chỉnh luận văn

Thời gian: từ 21/12/2016 đến 27/2/2017

Trang 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Chúng tôi thu thập, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá nội dung các tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau có liên quan đến vấn đề định hướng, định hướng giá trị, định hướng giá trị nghề để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cá nhân

- Mục đích nghiên cứu: khảo sát thực trạng định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô ở các biểu hiện: nhận thức, thái độ, hành vi

- Phương pháp nghiên cứu: phương pháp điều tra bằng bảng hỏi dành cho cá nhân

- Khách thể nghiên cứu: nghiên cứu 600 sinh viên trường Đại học Thủ

đô Hà Nội với 3 chuyên ngành (Giáo dục tiểu học, Khoa học Xã hội, Ngoại ngữ) thuộc 3 khóa (2014 - 2017; 2015 -2018; 2016 - 2019)

- Nguyên tắc điều tra: mỗi khách thể tham gia hoàn thành bảng hỏi một cách độc lập theo nhận thức riêng của từng cá nhân, không được phép trao đổi, bàn bạc với những cá nhân khác Cá nhân có thể hỏi điều tra viên về những vấn đề mà họ chưa hiểu trong bảng hỏi Quá trình điều tra được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, cởi mở

Dựa trên cơ sở khung lý thuyết đã được xác định ở cơ sở lý luận, bảng hỏi được xây dựng với các nội dung sau:

+ Phần 1: Nhận thức của sinh viên về giá trị của nghề dạy học

+ Phần 2: Thái độ của sinh viên về giá trị của nghề dạy học

+ Phần 3: Hành động của sinh viên trong việc tu dưỡng, rèn luyện, học tập

để chiếm lĩnh các giá trị của nghề dạy học

Trang 36

+ Phần 4: Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên

+ Phần 5: Những thông tin cá nhân của sinh viên có liên quan: lớp, giới tính, trường, nơi ở hiện nay

Bảng hỏi được thiết kế theo kiểu thang đo như sau:

Câu 2, 10, 11: được thiết kế với 3 mức độ: Rất quan trọng, ít quan trọng, không quan trọng và Ảnh hưởng nhiều, ít ảnh hưởng, không ảnh hưởng

Câu 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 được thiết kế với 5 mức độ: Rất đúng, đúng, phân vân, không đúng, hoàn toàn không đúng và Rất thường xuyên, thường xuyên, đôi khi, không thường xuyên, chưa bao giờ

Cụ thể như sau:

- Nhận thức của sinh viên về giá trị của nghề dạy học: ở thang đo này được thiết kế với các nội dung liên quan đến nhận thức của sinh viên về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học, nhận thức của sinh viên về các giá trị của nghề dạy học như giá trị kinh tế, giá trị thăng tiến và giá trị đạo đức:

“Nghề dễ xin việc với mức lương ổn định”, “Nghề không lo thất nghiệp”, “Nghề

nghèo nàn khó kiếm tiền”, “Học nghề này để có một vị trí tốt cho công việc trong tương lai”, “Không có hy vọng thăng tiến trong nghề này”, “Nghề này không liên quan đến giá trị đạo đức”, “Nghề giúp bản thân tự hoàn thiện”

- Thái độ của sinh viên đối với nghề dạy học: ở thang đo này được thiết kế với các nội dung về thái độ của sinh viên, thể hiện qua hứng thú, niềm tin và

động cơ chọn nghề của sinh viên đối với nghề dạy học: “Em rất vui khi tiếp xúc

với trẻ”, “Nghề dạy học là nghề nhàm chán, đơn điệu”, “Em rất tin tưởng và yên tâm khi chọn nghề”, “Em rất hài lòng với nghề mình đã chọn”

- Hành động của sinh viên trong việc học tập, rèn luyện, tu dưỡng để chiếm lĩnh các giá trị của nghề dạy học: ở thang đo này được thiết kế với các

nội dung: “Tập trung nghe giảng”, “Ghi chép bài đầy đủ”, “Tự giác học

thêm các môn học ngoài chương trình như vi tính, ngoại ngữ, năng khiếu”

Trang 37

- Một số yếu tố ảnh hưởng đến định hướng của sinh viên về nghề dạy học như: vốn tri thức hiểu biết về nghề dạy học, gia đình, nhà trường, bạn bè

2.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

- Mục đích nghiên cứu: bổ sung, kiểm tra nhằm làm rõ những thông tin định lượng thu được thông qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cá nhân, qua đó thấy rõ hơn được những nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên trong định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô

Hà Nội

- Khách thể phỏng vấn:

+ Sinh viên: 8 sinh viên

+ Giảng viên: 3 giảng viên

- Nguyên tắc phỏng vấn: các cuộc phỏng vấn được thực hiện theo nguyên tắc: 1) Cung cấp cho đối tượng phỏng vấn biết rõ mục đích cuộc nghiên cứu là nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học, 2) Hạn chế tối đa việc giải thích đối với đáp viên trả lời, 3) Không gợi ý câu trả lời, 4) Khuyến khích đáp viên làm rõ quan điểm cá nhân về vấn đề được hỏi

- Nội dung phỏng vấn: phỏng vấn theo nội dung soạn sẵn

- Cấu trúc biên bản phỏng vấn gồm 2 phần:

+ Phần 1: Thông tin chung về cá nhân sinh viên

+ Phần 2: Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề sau:

* Thực trạng định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội được biểu hiện qua nhận thức, thái độ, hành vi

* Một số yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội

* Các kiến nghị để sinh viên có định hướng giá trị nghề dạy học phù hợp đối với giảng viên và nhà trường

- Phân tích kết quả phỏng vấn: kết quả phỏng vấn được phân loại theo định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên biểu hiện qua nhận thức, thái

Trang 38

độ, hành vi và các yếu tố tác động đến định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên

2.2.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

- Mục đích nghiên cứu: Nhằm thu thập những góp ý và ý kiến đánh giá chuyên sâu của chuyên gia về nội dung cũng như cách xây dựng công cụ nghiên cứu, cách tiến hành nghiên cứu về định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội và một số yếu tố ảnh hưởng

- Nội dung: Chúng tôi tiến hành xin ý kiến các chuyên gia chuyên sâu nghiên cứu lĩnh vực này nhằm chính xác hóa các khái niệm cơ bản, bộ công cụ nghiên cứu, hướng phân tích và đánh giá các kết quả nghiên cứu thực tiễn

2.2.2.4 Phương pháp xử lý thông tin bằng thống kê toán học

- Với bảng có 3 khoảng, chúng tôi quy ước tính điểm theo 3 mức:

Không quan trọng, không ảnh hưởng: 1 điểm

Ít quan trọng, Ít ảnh hưởng: 2 điểm

Rất quan trọng, Ảnh hưởng nhiều: 3 điểm

Như vậy với bảng có 3 khoảng khi áp dụng công thức:

Giá trị khoảng cách = (Maximum - Minimum)/n = (3 - 1)/3 = 0,67

chúng ta thu được kết quả như sau:

Trang 39

Rất đúng/ Đúng, rất thường xuyên/thường xuyên: 3 điểm

* Nhận thức của sinh viên về định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên: Nhận thức ở mức thấp: sinh viên không hiểu, không đánh giá đúng được vai trò, tầm quan trọng, các giá trị của nghề dạy học

Nhận thức ở mức trung bình: sinh viên chỉ hiểu, đánh giá được một phần vai trò, tầm quan trọng và các giá trị của nghề dạy học

Nhận thức ở mức cao: sinh viên đã hiểu rõ, đánh giá đúng vai trò, tầm quan trọng và các giá trị của nghề dạy học

* Thái độ của sinh viên trong định hướng các giá trị của nghề dạy học: Thái độ ở mức thấp: sinh viên không tin tưởng, không yên tâm, không xác định sẽ gắn bó đối với nghề dạy học Trong quá trình học tập họ không có hứng thú, sự say mê

Thái độ ở mức trung bình: sinh viên ít tin tưởng, chỉ tin tưởng một phần vào các giá trị cao đẹp của nghề dạy học

Thái độ ở mức cao: sinh viên hoàn toàn tin tưởng, yên tâm khi chọn nghề dạy học Trong quá trình học tập họ luôn yêu thích nghề, say mê với nghề

* Hành động của sinh viên trong việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện:

- Hành động ở mức thấp: sinh viên chưa tích cực, tự giác, chưa chủ động trong việc học tập, rèn luyện

Hành động ở mức trung bình: sinh viên thực hiện các hành động học tập, rèn luyện mức đôi khi, không thường xuyên, không thực sự chủ động, tích cực

Hành động ở mức cao: sinh viên rất chủ động, tích cực, tự giác, nỗ lực trong việc học tập, rèn luyện

- Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS: tính trung bình mẫu, hệ

số tương quan

Giá trị trung bình cộng (X)

Trung bình cộng của n số X1, X2,… Xn là:

Trang 40

+ Trong thang điểm nghiên cứu này, điểm cao nhất là 3 và điểm thấp nhất

là 1, số điểm càng gần 3 chứng tỏ rằng trong định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên càng đúng

+ Đo kiểu mức độ ảnh hưởng với điểm 1 là mức độ ảnh hưởng cao nhất tiếp đến là mức độ ảnh hưởng giảm dần theo thứ tự các điểm tiếp theo

2.2.2.5 Nội dung của xử lý số liệu bằng thống kê

Số liệu thu được sau giai đoạn điều tra chính thức được làm sạch và xử

lý bằng phần mềm SPSS dùng trong môi trường Window phiên bản 20.0 các thông số và phép thống kê được dùng trong nghiên cứu là phân tích thống kê

mô tả

Điểm trung bình cộng (mean) được dùng tính điểm đạt được của từng mệnh đề và từng yếu tố

Chỉ số phần trăm của các phương án trả lời

So sánh thứ bậc của các yếu tố trong từng câu hỏi

2.3 Địa bàn khảo sát

Trường Đại học Thủ đô Hà Nội tiền thân là Trường Cao đẳng Sư phạm

Hà Nội, được thành lập ngày 06/01/1959, là một trong số những trường đại học thuộc tốp đầu trong hệ thống các trường đại học toàn quốc với những ưu thế nổi trội như: Có đội ngũ cán bộ, giảng viên giàu kinh nghiệm, quy trình đào tạo hoàn chỉnh, có chương trình đào tạo chất lượng cao.v.v Trong hơn 50 xây dựng và trưởng thành, Nhà trường đã không ngừng phát triển, đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo của Thủ đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung

Ngày đăng: 11/05/2017, 10:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Chanh (2003), Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên cao đẳng sư phạm Hà Nam, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên cao đẳng sư phạm Hà Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Chanh
Năm: 2003
2. Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội XII của Đảng (2015), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội XII của Đảng
Tác giả: Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội XII của Đảng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
3. Phạm Tất Dong (1978), Nghề nghiệp tương lai, Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nghiệp tương lai
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 1978
4. Dương Tự Đam (1996), Định hướng giá trị của thanh niên, sinh viên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Luận án PTS Khoa học Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị của thanh niên, sinh viên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Dương Tự Đam
Năm: 1996
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
7. Nguyễn Đăng Đông (1995), Bước đầu tìm hiểu một số biểu hiện về định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên sư phạm trong điều kiện kinh tế thị trường, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu một số biểu hiện về định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên sư phạm trong điều kiện kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Đăng Đông
Năm: 1995
8. Trần Văn Giầu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giầu
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1980
9. Đỗ Ngọc Hà (2002), Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên hiện nay, Luận án Tiến sĩ Tâm lí học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên hiện nay
Tác giả: Đỗ Ngọc Hà
Năm: 2002
10. Phạm Minh Hạc (2012), Giá trị học, NXB Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2012
11. Phạm Minh Hạc (1994), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
12. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển Giáo dục, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục
Tác giả: Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa
Năm: 2001
14. Nguyễn Thế Hùng (dịch 1997), Từ điển bách khoa toàn thư Xô viết, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa toàn thư Xô viết
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
15. Đỗ Huy, Chu Khắc Liêm, Trường Lưu, Lê Quang Thiêm (1993), Nghiên cứu văn hoá trong bảng giá trị Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hoá trong bảng giá trị Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy, Chu Khắc Liêm, Trường Lưu, Lê Quang Thiêm
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1993
16. Nguyễn Thị Huyền (2011), Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên dân tộc thiểu số trường cao đẳng sư phạm Yên Bái, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên dân tộc thiểu số trường cao đẳng sư phạm Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Thị Huyền
Năm: 2011
17. Chu Khắc (1988), Thanh niên các nước đã và đang phát triển trong thập kỷ 80, Nội san nghiên cứu thế hệ trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên các nước đã và đang phát triển trong thập kỷ 80
Tác giả: Chu Khắc
Năm: 1988
18. Nguyễn Thị Mai Lan (2010), Định hướng giá trị nhân cách của học sinh trung học phổ thông, NXB Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị nhân cách của học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Lan
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2010
19. Đỗ Long (1999), Định hướng giá trị và sự phát triển của thế hệ trẻ, Tạp chí Tâm lý học, (Số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị và sự phát triển của thế hệ trẻ
Tác giả: Đỗ Long
Năm: 1999
20. Đỗ Long (2002), Phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tạp chí Tâm lý học, (Số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Đỗ Long
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w