Thư viện đang tự chuyển mình cùng với sự phát triển của công nghệ bằng cách áp dùng những khía cạch tích cực của công nghệ vào trong các dịch vụ của mình.. Trong thực tế, nhiều năm qua n
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỉ 21, cả thế giới đang chuyển mình cùng sự phát triển của công nghệ Trong tình hình đó, doanh nghiệp hay cá nhân muốn phát triển thì phải đi theo những hướng đi của thời đại như ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông; tích hợp, liên kết thông tin đa phương tiện; hợp tác cùng phát triển; tiêu chuẩn hóa việc phổ biến tri thức… Và Web 2.0 được xem là một cuộc cách mạng trên thế giới mạng, đây là thế hệ web mới có những thay đổi quan trọng không chỉ ở nền tảng công nghệ mà còn
cả ở cách thức sử dụng - hình thành nên môi trường cộng đồng, ở đó mọi người cùng tham gia đóng góp cho xã hội "ảo" chứ không chỉ "duyệt và xem" Người dùng giờ đây được tiếp xúc với nhiều dịch vụ trực tuyến cho phép họ tạo ra, thu thập, phân nhóm, thanh lọc, truyền bá, và xuất bản nguồn lực thông tin trên Internet tại chỗ và toàn cầu Việc ứng dụng Web 2.0 chính là giải pháp cho hướng phát triển của toàn cầu hiện nay Thư viện đang tự chuyển mình cùng với sự phát triển của công nghệ bằng cách
áp dùng những khía cạch tích cực của công nghệ vào trong các dịch vụ của mình Với sự lớn mạnh của Internet, các thư viện đang cố gắng để nâng cao dịch vụ tra cứu của mình tới mức độ “mọi lúc mọi nơi” Công nghệ Web 2.0 cung cấp cho dịch vụ thư viện những giá trị gia tăng
và giúp thư viện chứng minh nguyên lý của Ranganathan1
rằng “thư viện là một thực thể hữu cơ đang phát triển” vẫn luôn luôn đúng Tác động tích cực của công nghệ Web 2.0 đem lại lợi ích đồng thời cho cả thư viện và bạn đọc
1
Trang 2Đối với thư viện, công nghệ mới , nếu biết sử dụng khôn ngoan, sẽ luôn nâng cao chất lượng dịch vụ và đạt được mục tiêu cung cấp những dịch vụ tốt nhất cho cộng đồng Ở môi trường Web 1.0, nơi thiếu điều kiện
để người dùng tham gia, sự gia tăng nội dung trí tuệ không nhiều Điều này
đã khiến thư viện cung cấp những dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc không đạt hiệu quả cao Với sự phát triển của công nghệ Web 2.0 các dịch vụ thư viện hiện có giờ đây có thể được nâng cao tới mức độ bạn đọc
có thể cùng tham gia Sự tham gia của người dùng đã gián tiếp cho phép thư viện mở rộng thêm tri thức mới bằng cách bổ sung thông tin hữu ích từ những bạn đọc khác nhau Kết quả là nội dung được dần dần làm giàu một cách tự nhiên và phần quan trọng nhất được những bạn đọc khác trong cộng đồng coi trọng Hơn nữa sự tham gia cũng sẽ tạo ra bầu không khí khiến bạn đọc cảm thấy rằng họ đã đóng góp cho thư viện và cộng đồng, từ đó tạo nên tinh thần làm chủ Họ sẽ cảm thấy được tôn trọng và vinh danh bởi đóng góp của họ được coi trọng Điều này sẽ gián tiếp nâng cao sự hài lòng của bạn đọc.Hòa theo những xu thế đương đại, thư viện cũng có thể hòa nhập với lối sống của giới trẻ hôm nay, giúp thư viện linh hoạt và dễ được cộng đồng chấp nhận Điều này gián tiếp tạo dựng một hình ảnh tích cực về dịch vụ thư viện tốt không chỉ đối với bạn đọc mà đối với cả cơ quan chủ quản
Các ứng dụng Web 2.0 có triển vọng làm thay đổi cách thức cung cấp các dịch vụ thư viện và nguồn lực thông tin hiện tại và tương lai
Trên thế giới việc áp dụng Web 2.0 nhằm nâng cao, cải tiến và bổ sung cho dịch vụ tra cứu ở các thư viện đại học lớn trên thế giới không còn là vấn đề mới Kể từ khi xuất hiện, Web 2.0 đã làm thay đổi phương thức hoạt động
và đặt ra nhiều thách thức cho các thư viện và hiệp hội thư viện các trường Đại học Với sự hòa nhập cùng sự phát triển của thế giới, Thư viện các
Trang 3chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo nên cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức trong tất cả các ngành Trong thực tế, nhiều năm qua ngành Thông tin – Thư viện của Việt Nam nói chung, hệ thống Thư viện các trường Đại học nói riêng đang từng bước tìm hiểu và áp dụng những công nghệ mới để nâng cao hiệu quả hoạt động Việc ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động thư viện các trường Đại học tạo nên những hoạt động phối hợp giữa cán bộ thư viện và nhà trường giúp khai thác trí tuệ tập thể, tạo ra tri thức mới và cung cấp những dịch vụ và nguồn lực thư viện hỗn hợp và phù hợp cho cộng đồng bạn đọc trong trường đại học Những dịch vụ này giúp nâng cao hình ảnh và cách nhìn tích cực về các dịch vụ thư viện cũng như những người làm thông tin thư viện Những giải pháp và ứng dụng của các thư viện đã và đang biến thư viện đại học trở thành một kho tàng chọn lọc của thế giới tri thức nhằm phục vụ giảng dạy, nghiên cứu và phát triển của chính ngôi trường mình Trường Đại học FPT là ngôi trường đi đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, luôn nắm bắt những công nghệ mới và vận dụng sáng tạo công nghệ đó vào trong hoạt động của mình Nhận thức được vai trò to lớn của Web 2.0 cũng như triển vọng của việc ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động của thư viện các trường Đại học
ở Việt Nam, đặc biệt là trường Đại học FPT tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “
Web 2.0 với hoạt động của thư viện trường Đại học FPT” làm đề tài
khóa luận của mình Hi vọng đề tài này sẽ mở ra hướng nghiên cứu mới - thư viện 2.0 năng động và phát triển - mà thư viện các trường Đại học sẽ đi tiên phong cho xu hướng này
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề chung về Web 2.0, tác giả muốn khái quát cho người đọc hiểu về Web 2.0 cũng như các ứng dụng hữu ích của Web 2.0 trong hoạt động của Thư viện trường Đại học FPT Trên cơ sở tìm hiểu sự
Trang 4áp dụng Web 2.0 trong hoạt động của thư viện này, tác giả muốn phân tích đánh giá triển vọng cao cũng như một vài hạn chế khi ứng dụng điều này
Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ Web 2.0 cho hoạt đông của thư viện trường Đại học FPT Hi vọng bước đi tiên phong của Thư viện trường Đại học FPT sẽ mở ra sự phát triển mới cho thư viện các trường Đại học ở Việt Nam khi ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động của các thư viện
3 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về Web 2.0 với hoạt động của thư viện các trường Đại học, ứng dụng Web 2.0 – hướng đi đúng cho các thư viện hiện nay, thực trạng ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động của thư viện trường Đại học RMIT,… Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về thực trạng ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động của thư viện trường Đại học FPT – một trong những cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin mạnh mẽ vào hoạt động của thư viện Do đó, cần có những nghiên cứu tìm hiểu về khả năng ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động của các thư viện trường Đại học ở Việt Nam, trong đó có thư viện trường Đại học FPT Việc nghiên cứu để tìm hiểu và đánh giá thực trạng ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động của thư viện trường Đại học FPT từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện công tác này là việc làm cần thiết hiện nay, điều này có ý nghĩa mở ra những nghiên cứu về hướng đi mới cho hệ thống thư viện các trường Đại học cũng như hệ thống các thư viện khác của nước
nhà Chính vì vậy, việc tôi quyết định lựa chọn đề tài “Web 2.0 với hoạt
động của Thư viện trường Đại học FPT” là hoàn toàn phù hợp với điều
kiện và tình hình thực tế hiện nay
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và những nhiệm vụ đã để ra, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài khóa luận được xác định như sau:
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Web 2.0 và những ứng dụng hữu ích của Web 2.0 trong hoạt động thư viện các trường Đại học Khóa luận tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động của thư viện trường Đại học FPT
b Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Thư viện trường Đại học FPT cơ sở Hà Nội
- Phạm vi về thời gian: Từ khi thư viện được thành lập (năm 2006) đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài khoá luận này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp quan sát khoa học
- Phương pháp phỏng vấn, mạn đàm với các chuyên gia
6 Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Nêu lên những khái quát chung nhất về Web 2.0 và các ứng dụng cơ bản của Web 2.0 trong hoạt động của thư viện
Trang 67 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Web 2.0
Chương 2: Ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động của Thư viện trường Đại
học FPT
Chương 3: Nhận xét, đánh giá và đề xuất các giải pháp nâng cao chất
lượng việc ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động của Thư viện trường Đại học FPT
Trang 7NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ WEB 2.0 1.1 Khái quát về Web và Web 1.0
1.1.1 Lịch sử hình thành World Wide Web
Vào tháng 1 năm 1978, hai chàng trai đến từ Chicago là Ward Christensen và Randy Suess đã quyết định sẽ xây dựng một hệ thống liên lạc đơn giản giữa 2 máy tính thông qua đường dây điện thoại… Và không
ai ngờ, đây lại là những bước đi đầu tiên, quan trọng để bắt đầu một kỷ nguyên thông tin mới – kỷ nguyên của World Wide Web Thiết bị kết nối
mà họ sử dụng modem Hayes 110-baud thế hệ đầu tiên ra đời tháng tư năm
1977 Christensen trước đó đã viết các giao thức truyền tệp nhị phân (binary file transfer protocol) đầu tiên vào tháng 8 năm 1977 (mang tên MODEM.ASM, sau đó là XMODEM) và anh đã phụ trách viết phần mềm trong khi đó Suess là người thiết kế phần cứng cho hệ thống này Một tháng sau, hệ thống mà Ward và Randy xây dựng đã có thể hoạt động được, được họ đặt tên là CBBS (tên viết tắt của Computerized Bulletin Board System - Hệ thống bảng tin trên nền máy tính) Sau khi tiến hành thử nghiệm và cải tiến trong những tháng tiếp theo CBBS được công bố
rộng rãi vào năm 1979 Và đó là hệ thống mạng điện tử đầu tiên cho phép
gửi các thông điệp dưới dạng văn bản lên hệ thống mạng (trừ các hệ thống chia sẻ và đồng bộ thời gian) CBBS cho phép người sử dụng có thể đưa các thông điệp lên mạng cộng đồng, đọc và phản hồi cũng như là tham gia vào các cuộc tranh luận ảo, đó chính là khởi nguồn của World Wide Web
mà chúng ta đang sử dụng như ngày nay Chỉ sau vài tháng sản phẩm của
Trang 8Ward Christensen và Randy Suess đã thu hút được sự chú ý rộng khắp, từ các nhà khoa học cho đến những người yêu thích máy tính, sản phẩm còn rất hiếm thời đó đối với những người bình thường Ở những phiên bản thử nghiệm đầu tiên, CBBS chỉ cho phép đường truyền có dung lượng khoảng
300 bauds (tương đương với khoảng 30 đến 40 ký tự trong một giây) và chỉ có các ký tự ASCII hoặc ANSI mới tương thích với hệ thống này Tuy nhiên sau đó, tốc độ đường truyền đã được nâng cấp lên khoảng 1200 đến
2400 với các modem hiện đại hơn - tốc độ này có thể chấp nhận được ở thời điểm những năm cuối của thập kỷ 70 Các hệ thống CBBS trở nên rất thông dụng vào thập niên 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ trước, tuy nhiên nó dần bị thay thế và biến mất khi mạng Internet được đưa vào khai thác và ngày càng trở nên phổ biến Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng CBBS chính là tiền thân của mạng World Wide Web hiện nay và thậm chí
là một số các tính năng của Internet cũng khởi nguồn từ hệ thống này Khởi nguyên của ma ̣ng thông tin toàn cầu WWW thực tế chỉ là mô ̣t di ̣ch
vụ chia sẻ thông tin qua Internet , được phát triển bởi viê ̣n sĩ Viê ̣n Hàn lâm Anh Tim Berners-Lee và Robert Cailliau (Bỉ) khi còn làm viê ̣c Hiê ̣p hô ̣i nghiên cứu các vấn đề ha ̣t nhân CERN thuô ̣c thành phố Geneva (Thụy Sỹ)
Tuy nhiên, với viê ̣c chia sẻ thông tin mô ̣t cách nhanh chóng , mạng thông tin toàn cầu WWW đã phát triển rộng khắp
1.1.2 Khái niệm Web
Web là từ viết tắt của 3 từ World Wide Web (WWW) Theo từ điển Internet của nhà xuất bản Đà Nẵng (xuất bản năm 2004, tr 493) web là “từ chung để chỉ hàng triệu website sử dụng giao thức truyền siêu văn bản (hypertext transfer protocol, viết tắt là http) và được đăng trên Internet Nó được gọi là web vì tính phức tạp của các liên kết giữa các site Bằng cách nhấp vào siêu liên kết (hyperlink) được nhúng trong các trang web, người
Trang 9dùng có thể di chuyển từ trang này đến trang khác hoặc từ site này đến site khác một cách dễ dàng Người dùng có thể truy cập các website và di chuyển (navigate) trong WWW thông qua các trình duyệt (browser); trình duyệt cũng cho phép kết nhập các hiệu ứng đa phương tiện (multimedia) vào các trang web WWW chính là trung tâm của Internet và là phần dễ thấy nhất, mặc dù Internet còn có e-mail, nhóm tin (newsgroup), chat room
và usenet Nhiều người thường lẫn lộn Internet với WWW Sự khác biệt giữa hai khái niệm này là: Internet chỉ mạng quốc tế gồm các máy tính được liên kết với nhau bằng các đường dây viễn thông hoặc công nghệ truyền thông không dây, còn WWW gồm hàng triệu website và trang web,
và chỉ là một tiện ích được cung cấp cho những người sử dụng Internet mà thôi” [6] Hay nói cách khác Web thực ra là một trong các dịch vụ chạy trên Internet, chẳng hạn như dịch vụ thư điện tử Web được phát minh và đưa vào sử dụng vào khoảng năm 1990, 1991 bởi viện sĩ Viện Hàn lâm Anh Tim Berners-Lee và Robert Cailliau (Bỉ) tại CERN - Geneva, Thụy Sỹ
Các tài liệu trên World Wide Web được lưu trữ trong một hệ thống
siêu văn bản (hypertext), đặt tại các máy tính trong mạng Internet Người dùng phải sử dụng một chương trình được gọi là trình duyệt web (web browser) để xem siêu văn bản Chương trình này sẽ nhận thông tin (documents) tại ô địa chỉ (address) do người sử dụng yêu cầu (thông tin trong ô địa chỉ được gọi là tên miền (domain name), rồi sau đó chương trình sẽ tự động gửi thông tin đến máy chủ (web server) và hiển thị trên
màn hình máy tính của người xem Người dùng có thể theo các liên kết
siêu văn bản (hyperlink) trên mỗi trang web để nối với các tài liệu khác
hoặc gửi thông tin phản hồi theo máy chủ trong một quá trình tương tác.[4]
Hoạt động truy tìm theo các siêu liên kết thường được gọi là duyệt Web
Trang 10Quá trình này cho phép người dùng có thể lướt các trang web để lấy thông tin Tuy nhiên độ chính xác và chứng thực của thông tin không được đảm bảo
1.1.3 Khái niệm Web 1.0
Giai đoạn đầu của web sau này được gọi là Web 1.0 hay web thế hệ thứ nhất, nó thực sự phát triển và phổ biến vào những năm từ 1990 đến
2005 Web 1.0 đã tạo ra bước phát triển đột phá cho hoạt động của nhiều ngành kinh tế nói chung, ngành Thông tin – Thư viện (TT-TV) nói riêng
Các cơ quan TT-TV từ chỗ chỉ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin truyền thống như bản tin, mục lục chủ đề định kỳ,… bằng công nghệ web, các trang web và các dịch vụ thông tin mới lần lượt ra đời, mà tiêu biểu như:
Thư viện đại học các nước trên thế giới đã áp dụng công nghệ web để phổ biến thông tin tới người dùng tin một cách tích cực thông qua các sản phẩm, dịch vụ như OPAC, CSDL trực tuyến, bản tin thư viện, thư mục chuyên đề,…thông tin được phát trên mạng để người dùng có thể truy cập
từ xa
Trang 11Ở Việt Nam, theo khảo sát được tiến hành trên 73 website của thư viện các trường đại học tại địa chỉ :
http://www.vietnamtradefair.com/dn/gd_dh.htm Chỉ một số ít các thư viện của các trường lớn như Thư viện Đại học Bách khoa Hà Nội, thư viện Đại học Cần Thơ, … cung cấp thông tin về thư viện trên website của trường, những nơi khác đều không làm được việc này
Về cơ bản, website sử dụng Web 1.0 cung cấp thông tin một chiều,
cơ quan thông tin-thư viện thực hiện việc “xuất bản” thông tin cho người dùng của mình Sự ra đời của thế hệ web thứ hai - Web 2.0 - vào năm 2004
đã mở ra một giai đoạn mới trong việc phát triển nguồn tin và thay đổi các sản phẩm và dịch vụ thông tin
1.2 Khái quát về Web 2.0
1.2.1 Khái niệm Web 2.0
Mục tiêu đầu tiên của những người tiên phong xây dựng Internet là nhằm kết nối các nhà nghiên cứu và các máy tính của họ với nhau để có thể chia sẻ thông tin hiệu quả Khi bổ sung WWW (năm 1990), Tim Berners-Lee cũng nhằm mục tiêu tạo phương tiện cho phép người dùng tự
do đưa thông tin lên Internet và dễ dàng chia sẻ với mọi người (trình duyệt web đầu tiên do Berners-Lee viết bao gồm cả công cụ soạn thảo trang web) Tuy nhiên, sau đó web đã phát triển theo hướng hơi khác mục tiêu ban đầu Web 1.0 (thế hệ web trước Web 2.0) có nhiều hạn chế và Web 2.0
ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của web 1.0
Khái niệm Web 2.0 đầu tiên được Dale Dougherty, phó chủ tịch của công ty OReilly Media (công ty sách công nghệ), đưa ra tại hội thảo Web 2.0 lần thứ nhất do OReilly Media và MediaLive International tổ chức vào tháng 10/2004 Dougherty không đưa ra định nghĩa mà chỉ dùng
Trang 12các ví dụ so sánh phân biệt Web 1.0 và Web 2.0: "DoubleClick là Web 1.0;
Google AdSense là Web 2.0 Ofoto là Web 1.0; Flickr là Web 2.0
Britannica online là Web 1.0; Wikipedia là Web 2.0 v.v " Sau đó Tim O'Reilly, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành OReilly Media, đã đúc kết lại
7 đặc tính của Web 2.0:
1 Web có vai trò nền tảng, có thể chạy mọi ứng dụng
2 Tập hợp trí tuệ cộng đồng
3 Dữ liệu có vai trò then chốt
4 Phần mềm được cung cấp ở dạng dịch vụ web và được cập nhật không ngừng
5 Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng
6 Phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị
7 Giao diện ứng dụng phong phú (O'Reilly, 2005) [12]
Khái niệm Web 2.0 đã thay đổi cách thức làm việc của thủ thư tra cứu Thư viện hay trung tâm thông tin có trách nhiệm đảm bảo rằng người dùng của mình được phục vụ nhanh chóng và hiệu quả nhất có thể bằng cách sử dụng những công cụ phù hợp nhất
Web 2.0 là một cách tiếp cận mới để sử dụng web như là một nền tảng nơi mà người dùng cùng nhau tham gia vào việc tạo ra, chỉnh sửa, và xuất bản thông tin thông qua những công cụ hợp tác sáng tạo nội dung trên nền web Web 2.0 liên quan tới người dùng không phải chỉ ở chỗ người dùng tạo ra nội dung mà người dùng giúp thu thập, tổ chức, mô
tả, cập nhật, chia sẻ, truyền bá, sắp xếp lại, bình luận, hiệu đính, và đóng
Trang 13gói lại nội dung Web 2.0 là một cuộc hội thoại trong đó người dùng có cơ hội để đánh dấu, nhận xét, và chia sẻ quan điểm về một số chủ đề, nguồn thông tin và dịch vụ thông tin nhất định Nó là một kiến trúc tham dự trong đó những tương tác và đóng góp được khuyến khích Điều đó có nghĩa là Web 2.0 hoàn toàn là nội dung do người dùng tạo ra nhờ khai thác trí tuệ tập thể
Thoạt đầu, Web 2.0 được chú trọng tới yếu tố công nghệ, nhấn mạnh tới vai trò nền tảng ứng dụng Nhưng đến hội thảo Web 2.0 lần 2 tổ chức vào tháng 10/2005, Web 2.0 được nhấn mạnh đến tính chất sâu xa hơn – yếu tố cộng đồng
Thực tế, ứng dụng trên web là thành phần rất quan trọng của Web 2.0 Hàng loạt công nghệ mới được phát triển nhằm làm cho ứng dụng trên web mạnh hơn, nhanh hơn và dễ sử dụng hơn, được xem là nền tảng của Web 2.0
1.2.2 Các đặc trƣng của Web 2.0
Như đã giới thiệu ở phần trên, chúng ta chưa đưa ra một khái niệm
cụ thể nào về Web 2.0 mà chỉ dựa vào một số đặc tính cơ bản để đánh giá một ứng dụng mạng có phải là Web 2.0 hay không Dựa vào yêu cầu về đặc tính đã nói, phần này sẽ nêu và phân tích để làm rõ hơn về các đặc trưng của Web 2.0 theo O'Reilly đã nói
Trang 141.2.2.1 Web có vai trò nền tảng
Trong thời kì đầu của sự ứng dụng công nghệ thông tin, người ta coi máy tính cá nhân là nền tảng để phát triển các phần mềm Các phương pháp kĩ thuật tiện lợi được áp dụng chủ yếu cho các ứng dụng desktop Có thể nêu ra đây một số nguyên nhân chính dẫn đến sự hạn chế của ứng dụng Web:
- Cơ sở hạ tầng mạng còn hạn chế, sự phát triển của các công nghệ mới
áp dụng cho mạng chưa nhiều
- Các ứng dụng Web luôn gặp khó khăn về việc tiêu chuẩn hóa việc trình bày Mọi ứng dụng Web phải được thẩm định với tối thiểu hai hoặc ba trình duyệt khác nhau để chắc chắn rằng tất cả những ai thăm trang Web với trình duyệt của họ đều không gặp vấn đề gì về sự tương thích
- Trong khi việc xây dựng các ứng dụng Web gặp nhiều khó khăn thì việc xây dựng phần mềm thân thiện với người dùng kiểu desktop thường dễ dàng hơn rất nhiều
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng mạng viễn thông và công nghệ phần mềm, người ta có thể xây dựng được các ứng dụng Web khá dễ dàng Nhiều công nghệ mạng đã và đang được phát triển
để tăng cường tính năng về giao diện và khả năng truy cập cho các ứng dụng Web Đáng kể như Java Applet, Macromedia Flash, JavaScript,ASP.NET … Và đặc biệt là kĩ thuật lập trình AJAX -
Asynchronous JavaScript and XML (JavaScript và XML không đồng bộ)
được đề xuất như mọt đặc trưng chủ yếu của thế hệ Web 2.0
Người dùng cũng đã nhận ra thế mạnh của các ứng dụng Web so với các ứng dụng desktop, như việc cài đặt, nâng cấp phần mềm trở nên dễ
Trang 15dàng, chi phí thấp, ứng dụng Web có thể làm việc với mọi hệ điều hành và trình duyệt, lưu trữ cơ sở dữ liệu tập trung, tránh được các lỗi kĩ thuật và giảm thiểu nguy cơ về an toàn dữ liệu
Với sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet toàn cầu, yêu cầu xây dựng các hệ thống phần mềm có khả năng hoạt động thông qua Internet là tất yếu không thể tránh được Với những lý do trên, các ứng dụng kiểu Webtop sẽ là xu hướng của phần mềm trong tương lai
Nguồn lực phần mềm của các công ty Web 2.0 chính là tài nguyên
mã nguồn mở phong phú Quan điểm của cộng đồng nguồn mở là “người
sử dụng phải được coi là người đồng phát triển” Như vậy, người dùng cũng chính là người cải tiến, điều chỉnh, hoặc góp ý sao cho các phần mềm dịch vụ ngày càng được hoàn thiện và đáp ứng được nhiều đối tượng người dùng hơn
Các siêu liên kết là nền tảng của Web Người dùng có thể thêm vào nội dung mới, trang Web mới, và các trang Web này được ràng buộc trong cấu trúc của Web và những người dùng khác thì khám phá nội dung và liên kết đến nó
Trang 16Một minh chứng khác về đặc trưng tập hợp trí tuệ cộng đồng, đó là
bộ từ điển bách khoa mở đa ngôn ngữ Wikipedia, mỗi đầu mục ở đây có thể được thêm vào hoặc biên mục bởi người dùng Web bất kì Trong khi một số học giả cho rằng bộ từ điển này không đáng tin cậy thì trên thực tế
có hang triệu lượt truy cập mỗi ngày vào trang này, có thể nói bộ từ điển này đủ tốt để sử dụng ở mức phổ thông Đây là một thay đổi sâu sắc trong việc tạo động lực cho việc hình thành nội dung Web
1.2.2.3 Dữ liệu có vai trò then chốt
Hoạt động của các ứng dụng Web hiện nay đều có một cơ sở dữ liệu chuyên dụng hỗ trợ phía hậu trường Với chủ trương xây dựng các ứng dụng mashup thì mô hình của cơ sở dữ liệu nhỏ, lẻ không còn phù hợp nữa, thay vào đó là các cơ sở dữ liệu chuyên dụng được xây dựng với quy
mô lớn và có tính liên kết chặt chẽ, liên hoàn với nhau Vì vậy, vai trò quan trọng tất yếu của dữ liệu như là vật liệu để xây dựng nên các ứng dụng của Web 2.0
Hiện nay, các thế mạnh cạnh tranh thị trường thuộc về những người
sở hữu các cơ sở dữ liệu chuyên dụng Các cơ sở dữ liệu chuyên dụng là tài nguyên của các dịch vụ giá trị Với các ứng dụng hữu ích này người ta hi vọng cách mạng công nghệ thông tin có thể hội tụ cả thế giới trong một cơ
sở dữ liệu khổng lồ với các dịch vụ liên hoàn với nhau như một thể thống nhất
Trang 171.2.2.4 Phần mềm được cung cấp ở dạng dịch vụ web và được cập nhật không ngừng
Web 2.0 chủ trương cung cấp các phần mềm tới khách hàng như là những dịch vụ, họ coi việc quản lý cơ sở dữ liệu là chủ đạo, khách hàng bằng cách gián tiếp hoặc trực tiếp sẽ trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ và khai thác dữ liệu của các công ty này Bên cạnh đó phải nói đến nguồn lợi
mà các công ty thu được qua dịch vụ quảng cáo, môi giới trung gian cho các thương vụ
Các phần mềm Webtop đang có xu hướng dần dần thay thế các phần mềm desktop truyền thống với sự phát triển của dịch vụ Internet băng thông rộng làm cho các phần mềm dịch vụ trở nên gần gũi với người dùng hơn, với những đặc điểm hài lòng người dùng:
- Phần mềm dịch vụ liên tục được cập nhật, bảo trì Trách nhiệm bảo trì, nâng cấp phần mềm, đảm bảo sự an toàn dữ liệu thuộc về nhà cung cấp dịch vụ
- Đối với nhà cung cấp dịch vụ thì việc nâng cấp, bảo trì trở nên dễ dàng bởi lẽ chỉ có một phiên bản được cài trên server của nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng chỉ truy cập phần mềm thông qua các trình duyệt Web thông dụng
1.2.2.5 Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng
Năm 1992, Web đã được sử dụng để phân phối các Applet và một
số loại nội dung động trong trình duyệt Web Năm 1995, Java đã trình bày hướng phân phối Applet, JavaScript và sau đó là DHTML - Dynamic
HyperText Markup Language (Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản hiện đại)
được giới thiệu như một phương thức gọn nhẹ để cung cấp khả năng lập
Trang 18trình trên máy khách Một vài năm trước đây, Macromedia tạo ra thuật ngữ
“Rich Internet Application” làm nổi bật khả năng của Flash để phân phối các nội dung đa phương tiện và cung cấp các giao diện người dùng phong phú cho ứng dụng Web
Tuy nhiên, tiềm năng của Web để phân phối các ứng dụng hoàn chỉnh không thỏa mãn cho đến khi Google giới thiệu dịch vụ thư điện tử Gmail, dịch vụ bản đồ trực tuyến Google Maps – đều là các ứng dụng nền tảng Web với các giao diện hướng tới người dùng và tính năng tương tác như các phần mềm desktop Tập hợp các công nghệ được sử dụng bởi Google và AJAX
Hiện tại, Internet Explorer, Netscape Navigate và Mozilla Firefox
là những trình duyệt phổ biến đều hỗ trợ kĩ thuật AJAX
1.2.2.6 Phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị
Hiện nay Web không còn bị hạn chế với nền tảng máy tính cá nhân Phần mềm chạy được trên nhiều thiết bị sẽ chiếm lĩnh thị trường trong tương lai Sự phát triển của mạng như nền tảng mở rộng ý tưởng này tới những ứng dụng tổng hợp bao gồm các dịch vụ do nhiều máy tính cung cấp
Hện tại đã có nhiều dịch vụ mạng cho phép các thiết bị cầm tay kết nối với Internet Với phương châm truy cập Internet và các dịch vụ Web từ bất kỳ đâu và bằng bất kỳ thiết bị liên lạc nào
Trang 191.2.2.7 Giao diện ứng dụng phong phú
Nhiều ứng dụng Web 2.0 đã thay thế các dịch vụ phức tạp bằng các
mô hình thiết kế đơn giản, RSS đang trở thành dịch vụ mạng được triển khai rộng khắp vì tính đơn giản
Ý tưởng của Web 2.0 là:
- Hỗ trợ mô hình lập trình gọn nhẹ, năng động và cho phép các hệ thống được kết hợp lỏng
- Mục đích của các dịch vụ mạng dạng RSS - Really Simple Syndication
(Định dạng tệp tin) và REST - Representational State Transfer (Biểu hiện trạng thái chuyển) là tổ chức dữ liệu ra chứ không phải kiểm soát những gì
xảy ra khi nó đến đầu kia của kết nối
- Sử dụng các ngôn ngữ lập trình kịch bản đơn giản, hiệu quả thay cho các ngôn ngữ lập trình truyền thống đòi hỏi môi trường phát triển lớn Tái sử dụng các thư viện mã nguồn mở dưới dạng các thư viện nhỏ gọn
- Sự cách tân trong thành phần: các mô hình tác nghiệp gọn nhẹ là một sự kết hợp tự nhiên của các ngôn ngữ lập trình và các kết nối đơn giản Một dịch vụ mới được xây dựng đơn giản bằng cách kết hợp hai dịch vụ sẵn có nào đó Chúng ta tin rằng, Web 2.0 sẽ mang lại cơ hội chiếm lĩnh thị trường bằng cách khai thác và kết hợp các dịch vụ được cung cấp bởi các
cơ quan, công ty, cá nhân khác
Trang 201.2.3 Các đặc điểm kỹ thuật của Web 2.0
1.2.3.1 Kỹ thuật AJAX
AJAX - Asynchronous JavaScript and XML là một kỹ thuật phát triển trên Web để tạo ra các ứng dụng Web tương tác Mục đích là để tạo các trang Web có khả năng hồi đáp các yêu cầu người dùng nhanh hơn bằng cách trao đổi một lượng nhỏ với máy chủ (server) ở hậu trường, sao cho toàn bộ trang Web không phải tải lại mỗi khi người dùng thực hiện một thao tác thay đổi nào đó trên trang Web, điều này làm tăng khả năng tương tác, tốc độ truy cập trang Web
Web cổ điển được thiết kế để duyệt các tài liệu HTML với mô hình tương tác người dùng kiểu “bấm, chờ, và làm mới lại” (click, wait, and refresh) và một cơ chế giao tiếp yêu cầu/ hồi đáp đồng bộ Vì vậy có hai nhược điểm xảy ra:
Thứ nhất: trong ngữ cảnh của các ứng dụng phần mềm, cơ chế hoạt động “bấm, chờ, và làm mới lại” diễn ra chậm, làm mất ngữ cảnh mỗi khi trang Web đang được lằm mới lại
Thứ hai: nhiều nội dung của trang Web được Server tải về là thừa, dẫn đến tiêu thụ băng thông quá mức cần thiết và thiếu chiều thứ hai trong việc khởi tạo các cập nhật giao tiếp thời gian thực hiện trên server
Bằng việc sử dụng công nghệ AJAX người ta có thể khắc phục được hai nhược điểm trên:
- Mô hình tương tác người dùng “cập nhật từng phần màn hình” thay cho
mô hình “bấm, chờ, và làm mới lại” Khi người dùng tương tác một ứng dụng AJAX, việc cập nhật chỉ diễn ra đối với các phần tử giao diện người
Trang 21dùng chứa thông tin cần thay đổi, như vậy giao diện vẫn được duy trì không bị ngắt quãng
- Giao tiếp không đồng bộ thay cho mô hình yêu cầu/ hồi đáp đồng bộ
Với một ứng dụng AJAX, yêu cầu có thể không đồng bộ, tách riêng tương tác người dùng với tương tác máy chủ (server) Kết quả là, người dùng có thể tiếp tục sử dụng ứng dụng trong khi trình khách yêu cầu thông tin từ server ở hậu trường Khi thông tin mới đến, chỉ những phần giao diện người dùng có liên quan được cập nhật, các phần giao diện còn lại được giữ nguyên
1.2.3.2 CSS - Cascading Style Sheets (các tập tin định kiểu theo tầng )
CSS là một loại ngôn ngữ được dùng để mô tả sự trình diễn của một loại tài liệu viết bằng một ngôn ngữ đánh dấu CSS được sử dụng để định nghĩa màu sắc, phông chữ, cách trình bày, và những diện mạo khác cho việc trình bày tài liệu Nó được thiết kế chủ yếu để cho phép sự tách biệt của nội dung tài liệu được viết trong HTML - HyperText Markup
Language (Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản) hay một ngôn ngữ đánh dấu
tương tự với việc trình bày tài liệu được viết bằng CSS
CSS mang lại nhiều ích lợi: sự tách biệt về nội dung và phần trình bày làm nội dung dễ tiếp cận hơn, cung cấp nhiều tính năng trình bày linh hoạt hơn, kiểm soát được những đặc tả của đặc điểm trình bày, giảm
sự phức tạp và sự lặp lại trong nội dung cấu trúc, việc bảo trì, cập nhật nội dung dễ dàng hơn Nội dung trang Web được giảm bớt về kích thước và sự phức tạo, bản thân tài liệu không cần thêm bất kỳ mô tả nào về trình bày
Đặc điểm này làm giảm sự tiêu phí băng thông và tăng tốc độ duyệt Web
vì không phải tải lại file CSS nhiều lần
Trang 221.2.3.3 RSS - Really Simple Syndication (Định dạng tệp tin)
RSS là một kiểu của định dạng nguồn dữ liệu Web RSS được sử dụng bởi một trong các dạng Website tin tức, Weblogs và podcasting Dữ liệu Web cung cấp nội dung Web hoặc các tóm tắt nội dung Web cùng với các liên kết tới nội dung đầy đủ và siêu dữ liệu khác Để việc cung cấp các siêu dữ liệu dễ dàng, RSS cho phép theo dõi thường xuyên các thông tin mới cập nhật trên một Website bằng một chương trình kết tập dữ liệu
Một số chương trình kết tập dữ liệu RSS có thể hoạt động trên nhiều
hệ điều hành khác nhau Các trình kết tập nội dung trên máy khách thường được xây dựng như một chương trình độc lập hoặc sự mở rộng của các trình duyệt
1.2.3.4 Weblog
Một Weblog ngắn gọn là blog là một kiểu Website, nơi các đầu mục được tạo ra (như trong một nhật ký), được hiển thị theo một trật tự đảo ngược về thời gian Các blog thường cung cấp các bài bình luận hoặc tin tức theo một chủ đề cụ thể như thực phẩm, chính trị, tin địa phương…hoặc một số chức năng khác như nhật ký cá nhân trực tuyến
Một blog điển hình gồm văn bản, tranh ảnh, và các liên kết đến blog khác, các trang Web và môi trường liên quan đến chủ đề của nó Hầu hết các blog chủ yếu là văn bản, mặc dù một số blog tập trung vào tranh ảnh, video, audio Có nhiều kiểu blog khác nhau và sự phân loại blog thường dựa vào cách phân phối nội dung hoặc cách viết nội dung Ví dụ một blog
có thể định nghĩa bằng sự hợp nhất môi trường của nó: blog gồm các file video gọi là vlog, gồm các liên kết gọi là linklog…
Trang 231.2.3.5 Mashups
Mashups còn được gọi là ứng dụng Web lai ghép, là một ứng dụng Web mà nội dung và chức năng của nó là sự kết hợp từ nhiều nguồn khác có sẵn có bằng các công nghệ RSS và AJAX Nội dung sử dụng trong mashup thường được cung cấp từ một hang thứ ba thông qua giao tiếp cộng đồng
Mashups nói chung không yêu cầu lập trình phức tạp, với những nội dung sẵn có từ các nguồn khác nhau, người phát triển hoặc người sử dụng có thể kết hợp chúng một cách linh hoạt để tạo ra các nội dung mới trong một ứng dụng khác gọi là một mashup
1.2.4 Ưu điểm và nhược điểm của Web 2.0 1.2.4.1 Ưu điểm
+ Web 2.0 là tự do về dữ liệu: Web API, RSS, mashup, tag… là những công cụ giúp người dùng lấy dữ liệu từ những nguồn khác nhau trên Web
mà không cần phải vào trang Web đó Dùng API của Flickr bạn có thể xem các hình ảnh trên trang Web này mà không cần phải vào Flickr Dữ liệu ở trên web luôn có rất nhiều và trước kia người ta không thể lấy về dùng một cách tự động và tiện lợi Web 2.0 đã thỏa mãn giấc mơ đó
+ Web 2.0 là băng thông rộng: Web 2.0 tận dụng việc phổ biến của đường truyền băng thông rộng như ADSL, cáp quang… Chúng ta thử tưởng tượng việc xem một đoạn video trên YouTube với kết nối theo kiểu truyền thống là quay số (dial-up) sẽ thế nào? Nếu không có băng thông rộng thì hầu hết các ứng dụng Web 2.0 sẽ chỉ có ý nghĩa trong một trường thí nghiệm
Trang 24+ Web 2.0 là sự liên kết: Web 2.0 là sự liên kết giữa người với người thông qua hệ thống các dịch vụ của MySpace, giữa các từ khóa, khái niệm với nhau như tư điển đa ngôn ngữ Wikipedia, giữa các website thông qua
kĩ thuật Mashup… Bản chất, Web 2.0 thay đổi cách liên kết từ quan hệ một-nhiều (one-to-many, tức là từ một website tới những người truy cập) sang quan hệ nhiều-nhiều (many-to-many) bằng các mối liên kết mới
+ Web 2.0 đặt con người lên trên công nghệ: Tuần báo Time năm 2006 đã bầu chọn nhân vật trong năm “person of the year” là “ bạn, con người”
“YOU” Tại sao? Bởi vì bạn, con người, chính là trung tâm của web 2.0, và theo báo Time, cuộc cách mạng Web 2.0 là tâm điểm của năm 2006 Đây cũng chính là đặc điểm dễ thấy nhất của Web 2.0, nó hiểu người dùng cần
gì trên Web và thỏa mãn họ
+ Web 2.0 cho phép người dùng “sử dụng” dữ liệu chứ không chỉ “lấy” dữ liệu: Công đầu của công nghệ AJAX không phải là làm cho các ứng dụng web dùng giống như các ứng dụng desktop mà giúp người dùng dễ dàng thay đổi, thêm, bớt dữ liệu tùy ý trên web thay vì chỉ có thể “đọc” chúng như những bản tin
+ Web 2.0 làm cho người ta không còn nghĩ Web chỉ là một dạng báo điện
tử hay một kiểu tivi khác: đã có lúc người ta coi Web là một dạng truyền thông như báo chí hay tivi vì tính một chiều Nhưng web 2.0 cho thấy giờ đây có những cái người dùng chỉ có thể làm thông qua Web chứ không thể qua báo chí hay tivi Tính tương tác mà Web 2.0 đem lại làm cho Web vượt qua khái niệm một trang báo điện tử: Web 2.0 sẽ trở thành một phương tiện giao tiếp hơn là một công cụ tuyên truyền
Trang 251.2.4.2 Hạn chế của Web 2.0
- Web 2.0 là sự liên kết toàn cầu, đây là một ưu điểm nhưng cũng là một nhược điểm khá lớn của Web 2.0 Điều này yêu cầu các chuyên gia bảo mật phải tìm ra biên pháp tối ưu để không cho vi rút xâm nhập phá hủy toàn bộ hệ thống Bởi lẽ, một khi vi rút xâm nhập để sửa lại lỗi này trên hệ thống máy chủ thì có nghĩa là phải sửa lại trên phạm vi toàn cầu
- Web 2.0 là sự tương tác có nghĩa là chúng ta không những được “lấy”
dữ liệu mà còn được đóng góp nội dung Điều này buộc các chuyên gia bảo mật phải chú ý nhiều hơn tới sự xâm nhập vi rút người dùng đưa vào
Các chuyên gia bảo mật đã sử dụng phần mềm lọc để tránh những đoạn mã không an toàn, tuy nhiên rất nhiều trường hợp sử dụng mã giả để vượt qua hang rào an toàn,vì thế yêu cầu các chuyên gia bảo mật phải chú ý nhiều cửa xâm nhập hơn
- Web 2.0 là băng thông rộng, vậy nếu không có băng thông rộng thì phần lớn các ứng dụng của Web 2.0 không có tác dụng Có nghĩa là người dùng để sử dụng được tất cả ứng dụng hữu ích của Web 2.0 người dùng phải luôn ở trạng thái kết nối trực tuyến (online) Điều này yêu cầu hệ thống mạng toàn cầu phải luôn ổn định, kết nối Internet liên tục Nếu mất kết nối, thì người dùng sẽ có thể mất dữ liệu, cũng như mất kết nối hoặc không lấy được dữ liệu mình cần Thách thức đặt ra là làm thế nào để không mất kết nối Internet hoặc cách nào đó để người dùng vẫn có thể sử dụng thông tin khi kết nối gián tuyến (offline) Tuy nhiên, các nhà phát triển đang làm việc để giải quyết khó khăn này, sử dụng đệm thông minh
để xây dựng ứng dụng có thể chạy offline cho ứng dụng web và trình duyệt của họ
- Web 2.0 với nhiều ứng dụng hiện đại đang là xu thế của toàn cầu
Nhưng không phải đối tượng người dùng nào cũng nắm bắt và sử dụng triệt để các ứng dụng của Web 2.0 một cách tối ưu nhất Vì vậy, đồng hành
Trang 26với sự đầu tư phát triển và ứng dụng Web 2.0 chúng ta cần quan tâm tới vấn đề đào tạo nâng cao trình độ cũng như ý thức cộng đồng cho người dùng để có thể sử dụng hiệu quả các ứng dụng đó
1.2.5 Thư viện 2.0
Với sự phát triển của Web 2.0, thuật ngữ Thư viện 2.0 (Library 2.0) không còn xa lạ với ngành TT-TV Thư viện 2.0 có phải là Web 2.0 + Thư viện? Điều này hoàn toàn không đúng bởi lẽ : Một hệ thống chỉ ứng dụng thuần túy công nghệ Web 2.0 sẽ phải đối mặt với không ít vấn đề về bảo mật và tính tương thích Khoa học thư viện có những đặc thù riêng và Web 2.0 chỉ là một trong số những công nghệ được áp dụng để “làm giàu”
cho hoạt động của Thư viện Định nghĩa về Thư viện 2.0 bởi vậy chỉ được
áp dụng cho các dịch vụ trên web chứ không cho các dịch vụ thư viện nói chung Vì vậy, ta có thể định nghĩa “ Thư viện 2.0 là việc áp dụng tương tác, hợp tác, và đa phương tiện trên công nghệ web vào các dịch vụ và bộ sưu tập trên web của thư viện”
Về lý thuyết, Thư viện 2.0 hàm chứa 4 yếu tố chính:
- Lấy người sử dụng làm trung tâm: Người dùng tham gia trực tiếp vào việc tạo ra nội dung và dịch vụ cung cấp trên OPAC , trang web của thư viện…
- Cung cấp nội dung đa phương tiện: Các bộ sưu tập và dịch vụ của Thư viện 2.0 sử dụng nội dung chứa hình ảnh và âm thanh
- Thư viện 2.0 là cộng đồng sáng tạo: Đây là điểm quan trọng nhất của Thư viện 2.0 Cộng đồng ảo này dựa trên nền tảng của thư viện như một dịch vụ cộng đồng, nhưng khi cộng đồng có sự thay đổi, thư viện không chỉ phải tự thay đổi mà còn phải cho phép người dùng thay đổi thư viện
Sự thay đổi này là liên tục để thỏa mãn cho sự tìm kiếm và sử dụng thông tin của cá nhân và cả cộng đồng.[10]
Trang 27Thư viện 2.0 có thể được coi là xã hội điện tử bình đẳng, người dùng có thể tương tác, tạo nguồn lực thông tin cùng với cán bộ thư viện
Thư viện 2.0 là khả năng cho sự liên kết của cộng đồng các thư viện có sự tương ứng về công nghệ và đây được coi là mô hình hữu ích cho thư viện các trường đại học Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của một mô hình thư viện có sự tương tác, hợp tác và đa phương tiện trên công nghệ web vào dịch vụ và bộ sưu tập trên web của thư viện là cần thiết trong xu thế phát triển của ngành TT-TV hiện nay Bởi vậy, ứng dụng Web 2.0 vào hoạt động TT-TV, trước hết là với thư viện các trường đại học là việc làm cần thiết
1.3 Một số ứng dụng cơ bản của Web 2.0 trong hoạt động Thông tin – Thƣ viện
1.3.1 Nhắn tin nhanh (Instant Messaging-IM)
Một trong những ứng dụng phổ biến của Web 2.0 là nhắn tin nhanh hay dịch vụ tra cứu qua chat Nhắn tin nhanh giúp người dùng kết nối với cán bộ thư viện trong thời gian thực không phụ thuộc vào thời gian
và vị trí Có nhiều ứng dụng miễn phí có thể tìm trên Internet như:
Yahoo(http://webmessenger.yahoo.com), GoogleTalk(http://www.google.com/talk)
Nhắn tin nhanh cũng có thể dễ dàng sử dụng được trên các thiết bị
di động khiến cho dịch vụ này trở thành một ứng dụng phổ biết, đặc biệt là thế hệ người dùng hiện nay Trong môi trường thư viện, cán bộ thư viện tra cứu có thể dùng ứng dụng này để trả lời câu hỏi hoặc yêu cầu nhanh qua chát Nhắn tin nhanh còn có thể dùng để hướng dẫn bạn đọc tìm thông tin qua cuộc trao đổi ngắn Mặc dù tìm thông tin và hỗ trợ trong giải đáp yêu cầu tra cứu là mục đính chính, nhắn tin nhanh cũng giúp xây dựng
Trang 28quan hệ tốt đẹp giữa thủ thư và bạn đọc Cả hai bên đều có thể sử dụng công cụ trung gian này để trao đổi quan điểm và kinh nghiệm quý báu
và đó cũng chính là nơi để lắng nghe độc giả và hiểu nhu cầu của họ
1.3.2 Định dạng tệp tin (Really Simple Syndication)
RSS (Really Simple Syndication) là một công cụ hữu dụng khác mà thủ thư tra cứu có thể sử dụng Công cụ này có sẵn miễn phí và có rất nhiều lựa chọn trên Internet Những công cụ đọc dòng tin RSS phổ biến bao gồm:
Feed Digest (www.feeddigest)
Google Reader (www.reader.google.com),
Awasu Personal Edition(www.awasu.com)
RSS là công cụ hữu ích giúp cập nhật cho bạn đọc về những chủ
đề từ tổng hợp cho tới chuyên sâu
Cán bộ thư viện tra cứu có thể phát triển nội dung trên những trang Web tập hợp thông tin từ những công cụ tìm kiếm và hiển thị nội dung mới nhất Họ có thể lập danh mục những website hữu ích dùng làm nguồn tra cứu hoặc tạo ra những thư mục chủ đề trên website của thư viện
Thông qua những công cụ đọc tin này, trang Web sẽ thường xuyên hiển
thị nội dung mới và nhờ đó người dùng luôn được cập nhật
1.3.3 Phát thanh (Podcasting hoặc broadcasting)
Có nhiều khâu trong dịch vụ tra cứu có thể sử dụng phương tiện phát thanh trên internet Thủ thư tra cứu có thể sử dụng podcasting để chuẩn bị cho các buổi tham quan thư viện và tài liệu cho lớp dạy kỹ năng
Trang 29thông tin hoặc thông báo cho bạn đọc về tin tức và sự kiện trong thư viện
Công cụ này cũng phù hợp cho việc chuẩn bị các tài liệu hướng dẫn khác như hướng dẫn sử dụng cơ sở vật chất, dịch vụ và trang thiết bị Cán bộ thư viện có thể tích hợp những bài thuyết trình bằng âm thanh này vào các bài thuyết trình trên phần mềm trình chiếu Microsoft Power Point để xuất bản trên Internet hoặc đưa vào blog Một số ứng dụng miễn phí nổi tiếng trên Internet để làm podcasting là:
Audacity(www.audacity.sourceforge.net)
OdeoStudio(www.studio.odeo.com)
1.3.4 Đánh dấu xã hội (social bookmarking)
Đánh dấu xã hội có thể được xem là công cụ quan trọng nhất có thể được dùng trong dịch vụ tra cứu Do bản chất công việc trong dịch vụ tra cứu là chuẩn bị tài liệu hướng dẫn, chỉ dẫn và các thư mục thông tin, đánh dấu xã hội đã trở thành công cụ chính để nâng cao hiệu suất của dịch vụ này Chính nhờ đánh dấu xã hội, cán bộ thư viện có thể tập hợp được những nguồn tra cứu hữu ích và phát triển các thư mục chủ đề Họ có thể lập các thẻ hữu dụng, xây dựng các nguồn lực thông tin dựa trên các danh mục tài liệu tra cứu, danh mục tài liệu nên đọc về các chủ đề cụ thể Họ cũng có thể chia sẻ và cho phép những người khác bổ sung thêm các đường dẫn (URL) liên quan Với những tính năng đó, cán bộ thư viện tra cứu có thể tập hợp quan điểm và kinh nghiệm từ nhiều người và chia sẻ những kiến thức này Vì Web 2.0 là nội dung do người dùng đóng góp, không chỉ cán bộ thư viện mà cả những người khác, có hoặc không có kiến thức chuyên sâu về một chủ đề cụ thể, cũng có thể tham gia đóng góp và đánh dấu những website hữu ích Chính những nỗ lực phối hợp từ những bạn đọc quý báu trong cộng đồng giảng viên và nhà nghiên
Trang 30cứu đã làm gia tăng giá trị trong việc làm giàu thông tin Mọi người khi thấy những nguồn thông tin đó là hữu ích sẽ mở rộng và đánh dấu trên danh mục đánh dấu xã hội của riêng mình Đánh dấu xã hội không chỉ giúp tập hợp những đường dẫn hữu ích mà còn tạo cơ hội để mô tả và phân loại những đường dẫn này vào các thư mục theo chủ đề cụ thể hoặc được quan tâm Hai trong số những ví dụ nổi bật cung cấp những tính năng này là:
Furl (www.furl.net) và del.icio.us (www.delicious.com)
1.3.5 Nhật ký trực tuyến (Blog)
Đối với nhiều người, blog từ lâu đã từng là ứng dụng phổ biến để chia sẻ nhật ký nhật trực tuyến Các thư viện cũng có thể tạo ra những nhật
ký của riêng mình, chia sẻ tin tức và thông báo mới nhất tới bạn đọc
Thông tin về nguồn tài liệu mới, giờ mở cửa, các sự kiện và biến cố có thể được chia sẻ bằng blog Trong dịch vụ tra cứu, cán bộ thư viện có thể quảng bá vốn tài liệu bằng cách tạo blog bình sách và khuyến khích bạn đọc cùng tham gia Một số phần mềm tạo blog cho phép cán bộ thư viện tạo ra các danh mục sách nên đọc bằng cách gắn blog của mình với Amazon.com Thủ thư cũng có lập danh mục những cuốn sách nên đọc cho một chủ đề cụ thể và mời các giảng viên tham gia phát triển danh mục
Thông qua viết blog, cán bộ thư viện cũng có thể chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của mình trong quá trình tìm kiếm, chẳng hạn các mẹo tìm kiếm thông dụng trên một cơ sở dữ liệu hoặc bất kỳ một kho tài liệu chuyên biệt của mình
Trong rất nhiều ứng dụng, blog được cả thư viện và cán bộ thư viện sử dụng khá rộng rãi Có nhiều blog cá nhân được cán bộ thư viện lập nên và duy trì như :
Trang 31The Shifted Librarian (www.theshiftedlibrarian.com);
Library Crunch (www.librarycrunch.com)
1.3.6 Công trình mở (Wiki)
Khác với blog, wiki cung cấp những nội dung mang tính trí tuệ dưới dạng bài viết hoặc thảo luận Với wiki, thư viện có thể khởi xướng một chủ đề và mở rộng nội dung này dựa trên hồi âm và hưởng ứng của bạn đọc Một trong số những wiki về thư viện nổi tiếng là Library Success: A best practice wikis(http://www.libsuccess.org/) nơi mà thủ thư trên toàn thế giới được khuyến khích chia sẻ những thành công của mình, trong khi Library Wikis (http://librarywikis.pbwiki.com/) lại lập danh mục về những wiki được dùng trong thư viện Các thủ thư dịch vụ tra cứu có thể sử dụng wiki để viết hướng dẫn sử dụng thư viện, mẹo tìm kiếm và chia sẻ kinh nghiệm tìm kiếm thông tin
Trang 32các triển lãm ảo để thông báo cho bạn đọc về các chiến dịch, diễn biến các
sự kiện, tin tức, Với những dịch vụ này, bạn đọc có nhiều cơ hội và cách thức để lấy thông tin từ thư viện mà không cần phải tới thư viện
Các chương trình thăm quan thư viện, hướng dẫn tóm tắt, hướng dẫn kỹ năng thông tin, video giới thiệu về thư viện, cũng có thể sử dụng dịch vụ chia sẻ video Những đoạn video này sẽ được truyền qua Interrnet hoặc tải lên trên YouTube Video đó có thể truy cập được từ bất cứ đâu, bất cứ lúc nào và nhờ đó các dịch vụ của thư viện có thể được tô điểm và quảng bá tới người dùng một cách tiện lợi
1.3.9 Mạng xã hội (social networks)
Thông qua các mạng xã hội như: Facebook(www.facebook.com), friendster (www.friendster.com) hoặc (http://www.linkedin.com) cán bộ thư viện tra cứu có thể dùng nền công nghệ này để giữ liên lạc với bạn đọc của mình nơi bạn đọc có thể đăng tin tức, sự kiện, hình ảnh, Cán bộ thư viện có tạo được liên kết cũng như học được từ bạn đọc thông qua tìm hiểu, phân tích và hiểu được quan điểm và cách nhìn của bạn đọc Những hồ sơ quý giá về bạn đọc này giúp cán bộ thư viện hiểu được nhu cầu và mối quan tâm của bạn đọc Từ đó, sẽ dễ hơn cho cán bộ thư viện trong việc phục vụ bạn đọc bởi họ đã hiểu được nền học vấn, những khác biệt về văn hóa hoặc những thông tin khác có thể gây ra rào cản giữa hai bên Cũng thông qua mạng xã hội, cán bộ thư viện có thể chia sẻ kinh nghiệm, quan điểm và kiến thức với bạn đọc và ngược lại
Trang 33và chuyên gia Đặc biệt trong số đó có 6 công ty đặt tại các thị trường lớn nhất như Nhật, Mỹ, Pháp, Úc, Singapore và Malaysia Năm 2008, bất chấp khủng hoảng tài chính, toàn tập đoàn đã đạt doanh số hơn 1 tỷ USD, trở thành doanh nghiệp tư nhân đầu tiên của Việt Nam đạt ngưỡng này Trong
3 năm tới, số nhân viên của FPT sẽ tăng thêm 10,000 người và doanh số sẽ vượt trên 2 tỷ USD FPT hiện là đối tác của hơn 200 tập đoàn công nghệ lớn nhất trên toàn cầu
Trong chuyến tháp tùng Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sang Mỹ
năm 2007, Tổng giám đốc Trương Gia Bình và đoàn đại biểu FPT đã đạt được một bước ngoặt trong quan hệ đối tác chiến lược với Microsoft Điều
đó cho phép các Lập trình viên của FPT được tham gia viết các phần mềm cốt lõi của Microsoft cũng như có được sự hỗ trợ của Microsoft trong việc xây dựng Đại học FPT trở thành “Ngôi trường của thế kỷ 21”
Ngày 08/09/2006, Chính phủ đã có Quyết định số TTg cho phép chính thức thành lập Trường Đại học Tư thục FPT Sứ mệnh
Trang 34208/2006/QĐ-của Trường Đại học FPT là xây dựng mô hình 208/2006/QĐ-của một trường Đại học thế
hệ mới, có triết lý giáo dục hiện đại, gắn liền đào tạo với thực tiễn cuộc sống và nhu cầu nhân lực của đất nước, góp phần đưa ngành CNTT Việt Nam lên ngang tầm các nước tiên tiến trên thế giới
Mục tiêu trước mắt của Trường Đại học FPT là đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao chuyên ngành CNTT và các nhóm ngành khác có liên quan cho tập đoàn FPT cũng như cho các tập đoàn CNTT toàn cầu tại khắp nơi trên thế giới và các doanh nghiệp CNTT Việt Nam
Sự khác biệt của Trường Đại học FPT so với các trường đại học khác là đào tạo kỹ sư công nghiệp, nghĩa là đào tạo theo hình thức liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp CNTT, gắn đào tạo với thực tiễn, với nghiên cứu - triển khai và các công nghệ hiện đại nhất Triết lý và phương pháp giáo dục hiện đại; Đào tạo con người toàn diện, hài hòa; Chương trình luôn được cập nhật và tuân thủ các chuẩn công nghệ quốc tế; Đặc biệt chú trọng kỹ năng ngoại ngữ; Tăng cường đào tạo quy trình tổ chức sản xuất, kỹ
năng làm việc theo nhóm và các kỹ năng cá nhân khác là những điểm sẽ đảm bảo cho sinh viên tốt nghiệp có những cơ hội việc làm tốt nhất tại tập đoàn FPT và các doanh nghiệp hàng đầu khác
Trường Đại học FPT có 4 cơ sở chính, trong đó tại Hà Nội có 2
cơ sở: tòa nhà Detech và Mỹ Đình 1, cơ sở tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh Trường có 7 trung tâm Aptech Arena Trường Đại học FPT Hà Nội là cơ sở lớn, cũng là trung tâm của mọi hoạt động của trường FPT
Phòng Thông tin – Thư viện đại học FPT Hà Nội là một đơn vị trực thuộc trường đại học FPT Hà Nội được chính thức thành lập từ ngày
Trang 35trường đại học FPT ra đời Xem hình ảnh thư viện Đại học FPT – Hình 1:
Khu thư viện và dịch vụ sinh viên trường Đại học FPT (phụ lục hình ảnh)
Phòng Thông Tin – Thư viện có tổng diện tích là 140m2 , trong
đó 100m2 được sử dụng để dành riêng cho khu vực bạn đọc Trường FPT
Hà Nội Bạn đọc có thể sử dụng máy tính xách tay, do trường đai học FPT phát, trong thư viện với hệ thống mạng wifi miễn phí của trường Hệ thống thư viện của Trường được cài đặt phần mềm giải pháp Thư viện điện tử Libol 6.0 của côn ty Tinh Vân Libol 6.0 là một trong những sản phẩm phần mềm thư viện điện tử và quản lý tích hợp nghiệp vụ thư viện thành công nhất ở Việt Nam Trường Đại học FPT mong muốn tạo một môi trường công nghệ thực sự cho sinh viên Trường hiện có 43 máy chủ; 525 máy tính cá nhân cho cán bộ giảng viên; 4365 máy laptop cho sinh viên;
171 điểm truy cập (Access point); 109 máy chiếu; 03 hệ thống hội thảo trực tuyến Teleconference; Đường truyền Internet bao gồm Leasedline
và FTTH với tổng băng thông 338Mb/s; Hệ thống mạng wifi của Cisco đáp ứng đủ nhu cầu cho khoảng 5000 người; Sinh viên của Trường được cấp email @fpt.edu.vn với dung lượng 7.5Gb để truy cập tài nguyên học tập và thông tin như: Hệ thống quản lý khóa học online (CMS:
http://cms.fpt.edu.vn), hệ thống quản lý sinh viên online (AP:
http://ap.fpt.edu.vn), hệ thống quản lý thư viện Libol:
http://libol.fpt.edu.vn, diễn đàn sinh viên (http://svfpt.net) , phụ huynh được cấp account để xem thông tin online về lịch học, điểm, điểm danh của con em; Hệ thống quản lý thi trực tuyến EOS (Exam Online System) được triển khai cho 35/38 môn học
Thư viện Đại học FPT đang từng bước phát triển và hoàn thiện hơn nữa góp phần không nhỏ vào công tác phục vụ sự nghiệp giáo dục của trường