1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại trường Đại học Điện lực

75 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 817,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA THÔNG TIN THƯ VIỆN ---o.0.o--- LÊ THỊ HIỀN TÌM HIỂU NHU CẦU TIN CỦA CÁC NHÓM NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM HỌC L

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA THÔNG TIN THƯ VIỆN -o.0.o -

LÊ THỊ HIỀN

TÌM HIỂU NHU CẦU TIN CỦA CÁC NHÓM NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM HỌC LIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH: THÔNG TIN – THƯ VIỆN

KHÓA: QH – 2007 X HỆ: CHÍNH QUY NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS TRẦN THỊ MINH NGUYỆT

Hà Nội – 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm bài khóa luận

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thày,cô trong và ngoài khoa Thông tin thư viện, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, những người đã dạy dỗ tận tình trong suốt thời gian tôi theo học tại trường

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh, chị đang công tác tại Trung tâm học liệu trường Đại học Điện lực đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi làm thực tập cũng như khảo sát thực tế, thu thập số liệu tại đây

Và cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình, bạn bè tôi đã luôn quan tâm, động viên tôi trong suốt quãng thời gian dài tôi học tập và làm bài khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Lê Thị Hiền

Trang 3

MỤC LỤC

Đ ẶT VẤN ĐỀ 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Lịch sử nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Bố cục bài nghiên cứu 7

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN VÀ NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC 7

1.1 Khái quát về trường Đại học Điện Lực 8

1.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức 8

1.1.2 Trươ ̀ng Đại học Điện lực trước yêu cầu đổi mới giáo dục đại học 10 1.2 Đặc điểm hoạt động thông tin – thư viê ̣n tại trường Đại học Điện lực12 1.2.1 Trung tâm học liệu 12

1.2.2 Nguồn lực thông tin tại Trung tâm học liệu 15

1.3 Đặc điểm chung người dùng tin tại trường Đại học Điện lực 17

1.3.1 Đặc điểm chung 17

1.3.2 Đặc điểm các nhóm người dùng tin tại trường 20

CHƯƠNG 2 NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC 29

2.1 Nô ̣i dung nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin 29

2.1.1 Nhu cầu về ca ́ c lĩnh vực tri thức trong tài liê ̣u 29

2.1.2 Nhu cầu về hình thức ta ̀i liê ̣u 38

2.1.3 Nhu cầu về tính thời gian của tài liệu 44

Trang 4

2.1.4 Nhu cầu về ngôn ngữ tri ̀nh bày trong tài liê ̣u 45

2.2 Tâ ̣p quán sử du ̣ng thông tin của người dùng tin 47

2.2.1 Nguồn khai tha ́ c thông tin chủ yếu 47

2.2.2 Thơ ̀i gian dành cho viê ̣c khai thác và sử dụng thông tin 50

2.2.3 Các sản phẩm và dịch vụ thông tin thường sử dụng 51

2.3 Đa ́ nh giá chung 55

2.3.1 Mư ́ c độ thỏa mãn nhu cầu tin 55

2.3.2 Như ̃ng nhu cầu tin chưa được đáp ứng và nguyên nhân 56

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐÁP ỨNG NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN 62

3.1 Phát triển nguồn lực thông tin phu ̀ hơ ̣p với nhu cầu tin 62

3.2 Đa da ̣ng hóa các sản phẩm và di ̣ch vu ̣ thông tin – thư viê ̣n 64

3.3 Phát triển nguồn nhân lực của Trung tâm học liệu 65

3.4 Đa ̀o ta ̣o người dùng tin 68

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC 1: PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ HÌNH ẢNH

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một nhà lãnh đạo người Singapore đã khẳng định: “Số phận của mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào việc người dân ở đó sử dụng một cách có hiệu quả thông tin, tri thức và công nghệ, đó là mấu chốt của sự thành đạt kinh tế, chứ hoàn toàn không phải do các nguồn dự trữ tài nguyên thiên nhiên phong phú ”

Nhân loại đang bước và thời đại lấy tri thức làm nguồn tài nguyên quan trọng, sử dụng, phân phối và sản xuất tri thức làm nhân tố chủ yếu, thời đại của nền kinh tế tri thức trong xã hội thông tin Xã hội thông tin với nền kinh tế chủ yếu dựa trên nền tri thức thông tin

Nếu như cán bộ thư viện là được coi là linh hồn của thư viện thì người dùng tin chính là điều kiện quyết định xem linh hồn đó có thể tồn tại và phát triển lâu dài được hay không Mỗi hệ thống thư viện đều có những chức năng, nhiệm vụ, hướng phát triển riêng để phù hợp với điều kiện của mình nhưng tất cả các thư viện đều nhằm phục vụ cho người dùng tin những thông tin chính xác, nhanh chóng và hiệu quả nhất

Người dùng tin sẽ quan tâm đến thư viện hơn khi những nhu cầu tin của họ được thỏa mãn Hiện nay, một số thư viện đã đặt người dùng tin vào trung tâm cho mọi dự án phát triển Khi tăng cường nguồn lực thông tin thì người lãnh đạo thư viện sẽ tìm hiểu nhu cầu tin và lấy ý kiến của người dùng tin trước khi đưa ra quyết định; khi phát triển nguồn nhân lực nói chung và nâng cao năng lực phục vụ bạn đọc nói riêng thì người lãnh đạo cần những

ý kiến nhận xét của người dùng tin; khi cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng tại thư viện người lãnh đạo cũng cần phải lấy những ý kiến đóng góp từ phía người dùng tin Nói tóm lại, mục đích cuối cùng của tất cả các thư viện là thỏa mãn tối đa nhu cầu tin cho người dùng tin vì vậy mọi thay đổi của thư

Trang 6

viện lấy người dùng tin làm nhân tố trung tâm thúc đẩy

Người dùng tin đến với thư viện càng đông thì càng chứng tỏ được rằng hoạt động của thư viện là rất hiệu quả

Với việc đưa giáo dục- đào tạo là quốc sách hàng đầu trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước thì sự phát triển của thư viện ngày càng trở lên quan trọng Thư viện không chỉ giúp cho sinh viên có những tài liệu nghiên cứu, học hỏi mà còn giúp cho cán bộ giảng viên có những phương pháp mới mẻ giúp cho sinh viên tiếp thu kiến thức Muốn làm được như vậy, không chỉ có học sinh đổi mới phương pháp học, giảng viên đổi mới phương pháp dạy mà thư viện phải thường xuyên tự đổi mới mình để phù hợp với từng loại nhu cầu khác nhau

Trường Đại học Điện lực là một trong những trường đại học hàng đầu của Việt Nam đào tạo một đội ngũ kỹ sư, cử nhân, công nhân chuyên ngành điện hùng hậu Cung cấp nguồn lao động chủ yếu cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam, xây dựng ngành điện phát triển đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước

Nếu sự phát triển của thư viện là quan trọng, thì sự thỏa mãn nhu cầu tin cho người dùng tin lại càng là vấn đề quan trọng hơn nữa Người dùng tin chính là khách hàng của thư viện mà hiện nay khách hàng lại là “thượng đế” Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại trường Đại học Điện lực”

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài của tôi tập trung nghiên cứu đặc điểm của người dùng tin, nhóm người dùng tin

1.2 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 7

Cơ sở I: 235 Hoàng Quốc Việt, Từ Liêm, Hà Nội của Trường Đại học Điện lực

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.1 Mục đích

Nghiên cứu đặc điểm của người dùng tin tại trường Đại học Điện lực,

từ đó giúp Trung tâm học liệu có cái nhìn tổng quát nhất về nhu cầu tin của người dùng tin và nhóm người dùng tin Từ đây, Trung tâm học liệu có thể

bổ sung nguồn vốn tài liệu, xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, có những chính sách thích hợp nhất để thỏa mãn tối đa mọi nhu cầu cho người dùng tin, thúc đẩy sự phát triển của Trung tâm học liệu Đưa Trung tâm học liệu trở thành cầu nối của người dùng tin với tri thức, đẩy mạnh các hoạt động học tập và nghiên cứu của toàn thể nhà trường

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

Để hoàn thành bài niên luận tôi đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau:

Phương pháp điều tra bằng phiếu

Số phiếu phát ra là 200 phiếu, số phiếu thu về là 190 phiếu đạt 95%

Các đối tượng được hỏi bao gồm: sinh viên, cán bộ quản lý, giảng dạy trong nhà trường Sinh viên chính quy với 100 phiếu (thu về 90 phiếu); sinh viên tại chức, liên thông 30 phiếu, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy 40 phiếu và cán bộ lãnh đạo quản

lý là 30 phiếu

Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp người dùng tin

6 Bố cục bài nghiên cứu

Bài niên luận được chia làm 3 chương chính:

Chương 1: Đặc điểm hoạt động thông tin thư viện và người dùng tin tại trường Đại học Điện lực

Chương 2: Nhu cầu tin của người dùng tin ta ̣i Trường Đa ̣i ho ̣c Điê ̣n

lực

Chương 3: Giải pháp tăng cường hoạt động thông tin đáp ứng nhu

cầu tin của người dùng tin

NỘI DUNGCHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN VÀ

Trang 9

NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC

1.1 Khái quát về trường Đại học Điện Lực

1.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

Chức năng, nhiệm vụ

Trường Đại học Điện lực được xây dựng trên cơ sở trường Cao đẳng Điện lực vào năm 2006 Là một trong những trường đại học hàng đầu của nước ta trong việc đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành điện, kỹ thuật Trường Đại học điện lực có những chức năng cơ bản sau đây:

Trường Đại học Điện lực là một trường đại học công lập đa cấp, đa ngành có nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao ở các bậc đào tạo cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng như phục vụ nhu cầu

xã hội, đồng thời là một trung tâm nghiên cứu khoa học – công nghệ hàng đầu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Trường Đại học Điện lực là một cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học

và bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao theo hướng công nghệ, Trường phấn đấu trở thành Trung tâm đào tạo hiện đại, năng động, hội nhập với nền giáo dục trong khu vực và thế giới

Và nhiệm vụ:

Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan

hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục và các quy

Trang 10

định khác của pháp luật

Với hệ thống cơ cấu, tổ chức:

Hiện tại, trường đang có 9 khoa chuyên môn, 1 bộ môn trực thuộc, 1 xưởng thực hành Tổ chức đào tạo 11 ngành Đại học, 9 chuyên ngành cao đẳng, 5 ngành trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề cho các doanh nghiệp trong nước có nhu cầu Để đáp ứng nhu cầu đào tạo về năng lượng, đặc biệt là năng lượng hạt nhân, nhà trường cũng đã bước đầu triển khai chương trình giảng dạy về điện hạt nhân Ngoài ra, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển hợp tác đào tạo quốc tế, nhà trường cũng đã thực hiện các hoạt động hợp tác liên kết đào tạo với các đối tác nước ngoài như Đại học Grenoble (Pháp), Viện Chisholm (Úc), CVUT (Cộng hòa Séc), Đại học Điện lực Thượng Hải và Đại học Khoa học Kỹ thuật Điện tử Quế Lâm (Trung Quốc), v.v

Hiện tại, trường có 2 cơ sở tại 2 địa điểm khác nhau trên địa bàn Thành phố Hà Nội

* Cơ sở I: 235 Hoàng Quốc Việt, Từ Liêm, Hà Nội

* Cơ sở II: Xã Tân Minh, Sóc Sơn, Hà Nội Bài khóa luận này tập trung nghiên cứu vào nhu cầu tin của người dùng tin tại cơ sở 1 của trường Đại học Điện lực

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường Đại học Điện lực

Trang 11

Hình 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường Đại học Điện lực

1.1.2 Trươ ̀ng Đại học Điện lực trước yêu cầu đổi mới giáo dục đại học

Nếu nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục phổ thông là tạo ra những công dân tốt cho đất nước, xã hội thì nhiệm vụ chính của nền giáo dục đại học là cung cấp nguồn lao động có chất lượng cho xã hội Trong nền cách mạng khoa học công nghệ như hiện nay, với xu hướng toàn cầu hóa thì giáo dục đại học lại càng giữ vai trò chủ đạo trong toàn hệ thống giáo dục của một

Trang 12

quốc gia

Trên thế giới đang diễn ra những thay đổi sâu sắc cho triết lý về giáo dục đại học, đó là lấy “học thường xuyên suốt đời” làm nền móng dựa trên các mục tiêu tổng quát cho việc học “học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người” hướng tới xây dựng một xã hội học tập

Trong bối cảnh này, nền giáo dục nước ta tuy đã có những thay đổi nhưng vẫn còn những bất cập và lạc hậu

Ban lãnh đạo trường Đại học Điện lực đã có những thay đổi to lớn trước những yêu cầu đổi mới

Hiện nay, nội dung của việc đào tạo trong trường không đặt mục tiêu cung cấp và đủ kiến thức cho người học để có thể sống và làm việc suốt đời

mà là trang bị cho người học một vốn tri thức cơ bản cộng với một năng lực

tự mình chủ động tìm kiếm những tri thức mới trong tương lai

Phương pháp giảng dạy của người giảng viên trong trường cũng có sự thay đổi, vai trò truyền thụ kiến thức một cách thụ động của giảng viên giảm

đi, giảng viên là những người giữ vai trò hướng dẫn quá trình tìm kiếm tri thức, gợi mở con đường phát triển tri thức trau dồi khả năng độc lập, tư duy

và sáng tạo cho sinh viên

Phương châm của nhà trường là lấy sinh viên là trung tâm, sinh viên được khuyến khích cao độ trong quá trình tự điều khiển việc tiếp thu kiến thức, tham khảo mở rộng kiến thức theo tài liệu tham khảo trong sách vở Giảng viên sẽ đặt vấn đề để sinh viên tự mình giải quyết những vấn đề đó

Trường đã mạnh dạn đẩy mạnh việc áp dụng máy tính điện tử, mạng truyền thông… góp phần tạo ra những phương pháp, những cách học khác nhau tạo ra hứng thú trong việc học của sinh viên tạo điều kiện để giảng viên

có thể truyền đạt hết kiến thức của mình

Trường đã tiến hành kết hợp giữa phương pháp học truyền thống với

Trang 13

hiện đại (tăng cường thảo luận, làm bài tập nhóm, thuyết trình trên lớp, tăng cường các tình huống thực tiễn để sinh viên giải quyết)

Thời gian của các chương trình đào tạo trong trường cũng được rút ngắn lại, đa số các khoa đã đào đạo theo chương trình 4 năm Trường đã điều chỉnh việc học theo kiểu tăng cường khối kiến thức cơ bản, giảm những nội dung quá chi tiết và nội dung mang tính kỹ thuật vì những thông tin này thường bị lạc hậu rất nhanh

Ngoài ra, nhà trường cũng thực hiện tăng cường kiến thức thực tiễn cho sinh viên, trong quá trình học sinh viên được thực nghiệm nhiều tại các xưởng Với sinh viên năm cuối sẽ được đi xuống cơ sở 2 tại Sóc Sơn để học thực tế Tại đó được xây dựng các trạm biến áp… sinh viên sẽ tự thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên như một người lao động thực thụ

1.2 Đặc điểm hoạt động thông tin – thư viê ̣n ta ̣i trường Đại học Điện lực

1.2.1 Trung tâm học liệu

Khác với hầu hết các thư viện của các trường đại học khác trên toàn quốc, nếu các thư viện trường đại học thuộc nhà trường thì Trung tâm học liệu của Trường Đại học Điện lực lại thuộc sự quản lý của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Xây dựng kế hoạch phát triển thư viện theo hướng hiện đại

Tổ chức quản lý theo hướng sử dụng các thiết bị hiện đại, nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ phục vụ

Trang 14

Cập nhật thông tin thường xuyên, tổ chức giới thiệu thông tin mới hoặc thông tin chuyên đề về khoa học kinh tế

Tổ chức quản lý lưu trữ và bảo quản các kho sách báo, tư liệu thông tin theo đúng qui định

Mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với cơ quan thông tin thư viện trong và ngoài nước, từng bước hiện đại hóa công tác thông tin tư liệu

Lập và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên thư viện

Thực hiện công tác tổng hợp về hoạt động của thư viện , thống kê, báo cáo kịp thời theo yêu cầu của cấp trên

Cơ cấu tổ chức

Trung tâm học liệu có dự kiến chia cơ cấu hoạt động làm 03 tổ:

1) Tổ mượn trả (giao dịch) 2) Tổ nghiệp vụ (làm biên mục) 3) Tổ kỹ thuật (phụ trách phòng internet, vận hành và quản lý thiết bị) Tuy nhiên, hiện nay, Trung tâm học liệu vận hành theo cơ cấu làm việc chia theo kho sách: kho sách tiếng Việt tại tầng 1 của trung tâm Có 2 cán bộ chủ chốt, 1 cán bộ luân chuyển và 1 cán bộ lưu thông làm việc theo ngày đã được quy định; tại kho sách tiếng nước ngoài ở tần 2 thì cũng có 2 cán bộ chủ chốt và 1 cán bộ luân chuyển

Cơ sở vật chất:

Trung tâm học liệu có hệ thống máy tính tương đối hiện đại, 40 máy trạm được kết nối internet với máy chủ Máy chủ chứa sách điện tử với hơn 10.000 đầu sách Tại đây sinh viên có thể đọc, tra cứu trên mạng hoặc đọc, tra cứu, copy sách điện tử từ máy chủ hay vào máy chủ, cơ sở dữ liệu của Tập đoàn Điện lực tra cứu thông tin

Trang 15

Tổng số cán bộ nhân viên trong thư viện là 8 người: 01 thạc sỹ chuyên ngành công nghệ thông tin, 01 kỹ sư ngành xây dựng và 06 cử nhân (trong

đó 04 cử nhân ngành thông tin thư viện, 01 cử nhân ngành luật và 01 cử nhân ngành Việt Nam học)

Một số hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm học liệu:

Hoạt động bổ sung tài liệu

Là khâu nhận được sự quan tâm nhiều nhất từ lãnh đạo của Trung tâm học liệu, trung tâm thường xuyên bổ sung những tài liệu có chất lượng, các tài liệu kỹ thuật chuyên ngành

Để có những thông tin chính xác về nhu cầu của người dùng tin, trung tâm cử cán bộ đi phỏng vấn trực tiếp người dùng tin đến với thư viện từ đây

có những biện pháp hợp lý cho việc bổ sung những tài liệu phù hợp

Hoạt động xử lý tài liệu

Trước đây, tài liệu được xử lý trên phần mềm CDS/ISIS Những tủ mục lục phiếu được đưa ra để phục vụ cho người dùng tin Từ khi chuyển thành Trung tâm học liệu thì phần mềm đã được chuyển sang sử dụng phần mềm Libol 6.0 của công ty tin học Tinh Vân Tuy nhiên, do một số trục trặc

kỹ thuật hiện nay phần mềm này vẫn chưa được đưa ra phục vụ người dùng tin

Hoạt động phục vụ người dùng tin

Cán bộ thư viện thường xuyên thay ca trực theo các ngày trong tuần

để mọi người đều có thể phục vụ cho người dùng tin một cách chuyên nghiệp

Sinh viên có thể trực tiếp hỏi cán bộ thư viện những vấn đề chưa hiểu

rõ Cán bộ thư viện sẽ tự trả lời tùy theo khả năng mức độ đơn giản hay phức tạp của câu hỏi đó

Những thông tin sinh viên cần nhưng không còn thì sẽ được cán bộ

Trang 16

thư viện gợi ý đến những nội dung có liên quan Ví dụ: sinh viên có nhu cầu mượn tài liệu “Tự học CCNA trong 10 tiếng” nhưng không may tài liệu này

đã hết trong kho thì cán bộ có thể thể gợi ý cho sinh viên mượn cuốn “Nhập môn CCNA”…

1.2.2 Nguồn lực thông tin tại Trung tâm học liệu

Hiện nay, Trung tâm đang sở hữu một nguồn tin tương đối phong phú

đã được xử lý và đưa ra phục vụ người dùng tin trong toàn trường Đặc biệt trong bối cảnh “xã hội thông tin” như hiện nay, nguồn tin của Trung tâm ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng Nguồn tin chủ yếu tập trung vào các khoa: Điện- điện tử, cơ khí, bưu chính viễn thông… Các loại hình tài liệu bao gồm: sách, báo, tạp chí, luận văn, đồ án tốt nghiệp, các công trình nghiên cứu khoa học…được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: văn bản, đĩa CD, VCD

Vốn tài liệu Trung tâm Đại học Điện lực mặc dù còn hạn chế về số lượng nhưng khá phong phú và đa dạng về các lĩnh vực Tài liệu truyền thống giữ vai trò chủ đạo trong kho sách Nguồn tin truyền thống thể hiện trên giấy bao gồm tài liệu không công bố và tài liệu công bố

+ Tài liệu công bố: chủ yếu là giáo trình, tài liệu tham khảo, báo, tạp

chí chuyên ngành, tạp chí tiếng nước ngoài

Hiện nay, vốn tài liệu của Trung tâm có khoảng 3429 tên sách, báo, tạp chí với 24075 cuốn, trong đó sách giáo trình có 300 tên tài liệu với khoảng 15000 cuốn; sách tham khảo có 3000 tên với 8000 cuốn; sách tra cứu có 62 tên với 260 cuốn, báo tạp chí và công báo có 50 tên với 655 cuốn, sách tiếng anh chuyên ngành có 17 tên với 160 đầu Số lượng tài liệu công

bố được thể hiện qua bảng thống kê sau:

Trang 17

Số thứ tự Loại hình tài liệu Số lƣợng tên tài liệu Số lƣợng cuốn

Bảng 1: Bảng thống kê tài liệu công bố

+ Tài liệu không công bố còn gọi là tài liệu “xám”: Tài liệu xám của

Trung tâm gồm: đồ án, luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu khoa học Hiện nay, Trung tâm có khoảng 268 đầu với 268 cuốn Số liệu thống kê được cụ thể như sau:

Số thứ tự Loại hình tài liệu Số lƣợng tên tài liệu Số lƣợng cuốn

Bảng 2: Bảng thống kê tài liệu không công bố

Nguồn tài liệu này chủ yếu là tiếng Việt, hàng năm bổ sung thêm tiếng nước ngoài là tiếng Anh Kho sách nước ngoài hiện nay khoảng 505 đầu với 580 cuốn (bao gồm cả sách và báo tạp chí nước ngoài) trong tổng số trên 20000 cuốn tài liệu

Trang 18

3%

Tài liệu tiếng Việt Tài liệu ngoại Văn

Hình 2: Biểu đồ thống kê tỷ lệ số lượng tài liệu theo ngôn ngữ

Nhìn vào biểu đồ, chúng ta có thể nhận thấy, tài liệu bằng tiếng Việt của Trung tâm học liệu trường Đại học Điện lực giữ vai trò chủ đạo, chiếm 97% Tài liệu ngoại văn chiếm một tỉ lệ nhỏ trong nội dung kho sách của Trung tâm Điều này cho thấy sự hạn chế về vốn ngôn ngữ của người dùng tin tại đây và ngân sách cho việc bổ sung tài liệu bằng tiếng nước ngoài vẫn còn chưa được chú trọng

1.3 Đặc điểm chung người dùng tin tại trường Đại học Điện lực

1.3.1 Đặc điểm chung

Trình độ văn hóa

Người dùng tin tại Trung tâm học liệu đều là những người dùng tin khoa học và người dùng tin làm công tác lãnh đạo quản lý Vì vậy, trình độ văn hóa của họ ở mức cao so với những nhóm người dùng tin đại chúng nói chung

Trang 19

Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu

Sinh viên

Hình 3 : Cơ cấu sinh viên và cán bộ công nhân viên tại trường Đại học Điện lực

Người dùng tin trong trường tuy có nhiều nhóm trình độ khác nhau: tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, sinh viên… Nhưng được nhìn nhận theo hai nhóm đối tượng cơ bản sau:

Nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu giảng dạy, quản lý và nhóm người dùng tin có trình độ sinh viên với vai trò và nhiệm vụ chủ yếu là học tập Trong đó, nhóm trình độ nghiên cứu giảng dạy chiếm 9% tương ứng với 374 người và nhóm sinh viên chiếm 91% tương ứng khoảng 4000 người

Do trình độ cao, cùng với sự đa dạng của các bậc trình độ nên các tài liệu của những nhóm người dùng tin này không chỉ là những tài liệu đơn thuần mang tính chất học tập, nghiên cứu mà còn phải cả những tài liệu mang tính chất phục vụ công tác ra quyết định, những thông tin cần có sự đầy đủ và chính xác cao

Với những nhóm người dùng tin khoa học và nhóm người dùng tin lãnh đạo quản lý thì việc tiếp thu thông tin rất nhanh nhạy và sắc bén

Trang 20

Họ là những người có khả năng tạo ra thông tin và lan truyền thông tin mạnh mẽ trong một khoảng không gian nhất định

Đặc điểm lứa tuổi

Khác với những nhóm người dùng tin của những thư viện công cộng, thư viện đại chúng, người dùng tin tại trường thường có độ tuổi từ 19-60 tuổi trong đó lứa tuổi từ 19-30 là chiếm tỷ lệ lớn, sau đó là những người trong độ tuổi từ 31- 50 và cuối cùng chiếm số lượng ít nhất là những người trong độ tuổi >50 tuổi

Với sự đa dạng về lứa tuổi cũng tạo nên sự đa dạng về lối sống, về mức độ thu nhập, về nhu cầu tin, về trình độ học vấn hay về mục đích khai thác thông tin Những thông tin mà họ cần trải rộng trên hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống: xã hội, chính trị, thể thao, du lịch, giải trí, sức khỏe, các lĩnh vực thuộc chuyên ngành học tập và nghiên cứu

Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì mục đích khai thác thông tin của những nhóm người dùng tin này chủ yếu là nhằm mục đích học tập, phục vụ việc học tập nghiên cứu, cập nhật thông tin, kiến thức văn hóa xã hội, mục đích phục vụ lãnh đạo quản lý hay ứng dụng vào việc sản xuất, một số ít những người khai thác thông tin nhằm mục đích giải trí

Những nhóm người dùng tin này chủ yếu là những người trẻ tuổi nên tiếp thu thông tin một cách chủ động, sáng tạo

Đời sống kinh tế

Đời sống vật chất: Là những nhóm người dùng tin có đời sống vật chất tương đối khác xa nhau Nhóm đối tượng cán bộ lãnh đạo quản lý là những người có đời sống kinh tế được coi là khá giả nhất, tiếp đến là các nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy; sinh viên hệ chính quy là những người có mức sống ở dạng tương đối thấp nhưng lại rất ổn định do họ chủ yếu còn sống phụ thuộc vào gia đình; nhóm sinh viên hệ tại chức là những người có

Trang 21

cuộc sống có thể coi là bấp bênh nhất trong tất cả các nhóm Tuy nhiên, đây

là thành phần tri thức, khoa học nên cuộc sống của họ không gọi là xa hoa, hưởng thụ nhưng họ cũng không phải là những thành phần bần cùng trong

xã hội

Đời sống tinh thần của những nhóm này khá ổn định, thời gian học tập, làm việc, nghỉ ngơi và thư giãn của họ được sắp xếp hợp lý Thời gian rãnh rỗi họ thường đi xem phim (15,8 % tương đương 30 người); tham gia các hoạt động thể thao (100 người chiếm 52,6%); đồng thời sử dụng thời gian rảnh rỗi để đọc sách (47 người chiếm 24,7%) hoặc dùng quỹ thời gian rảnh rỗi ít ỏi của bản thân để đưa gia đình đi du lịch (6,9% tương đương với

13 người)

Đời sống của mỗi nhóm tuy khác nhau nhưng họ đều chịu ảnh hưởng

từ những chính sách, những thay đổi của thị trường, xã hội

1.3.2 Đặc điểm các nhóm người dùng tin tại trường

Nhóm người dùng tin là sinh viên hệ chính quy

Nhóm người dùng tin là sinh viên chính quy chiếm tỉ lệ khá đông đảo, được coi là nhóm người dùng tin tiềm năng Đây là nhóm người có trình độ chuyên môn tương đối cao, đã sử dụng và tra tìm tài liệu khá thành thạo Mục đích của họ là tích lũy vốn kiến thức, tri thức khoa học phục vụ cho công việc học tập trong nhà trường

Ngoài việc tìm kiếm những thông tin chuyên sâu theo ngành học mà

họ theo đuổi thì sinh viên còn là những người có nhu cầu tìm hiểu nhiều về các lĩnh vực khác có tính mới mà được nhiều người quan tâm

Theo sự đổi mới trong ngành giáo dục đại học thì sinh viên là trung tâm của mọi hoạt động vì vậy công tác phục vụ nhu cầu tin cho nhóm người này khá được Trung tâm học liệu chú trọng Họ cần được cung cấp thông tin một cách thường xuyên, đầy đủ và chính xác Sinh viên của trường Đại học

Trang 22

Điện lực thì có những nhu cầu tin chủ yếu về nguồn tài liệu chuyên ngành kỹ thuật, chuyên ngành cơ khí hay chuyên ngành năng lượng… Thông tin mà

họ cần mang tính cơ sở, những lý thuyết cơ bản

Nhóm người dùng tin này luôn chiếm tỷ lệ cao khi đến với thư viện Mỗi ngày, thư viện tiếp nhận hàng trăm lượt bạn đọc nhưng bạn đọc là sinh viên chiếm tới 95% Những năm gần đây, khi thư viện chuyển sang là Trung tâm học liệu với cơ sở vật chất đầy đủ, phục vụ tốt hơn thì lượng sinh viên đến với thư viện ngày càng đông Sinh viên là những người dùng tin trẻ tuổi

vì thế họ năng động trong việc tìm kiếm thông tin, đồng thời những thông tin của họ có nội dung đa dạng không chỉ là những thông tin học tập mà còn là những thông tin mang tính chất giải trí, cập nhật thông tin

Do ký túc xá của trường đặt gần với Trung tâm học liệu nên cũng phần nào đó thu hút được một khối lượng lớn sinh viên đến với thư viện trong những thời gian rảnh dỗi Sinh viên có thể hẹn nhau đến thư viện để làm bài tập nhóm, tìm những thông tin liên quan đến bài tập trên lớp…

Độ tuổi

Độ tuổi của sinh viên nhìn chung là trong khoảng từ 18-25 tuổi chiếm

tỷ lệ cao

Trong 90 phiếu hỏi thu về thì độ tuổi của nhóm người dùng tin này có

tỉ lệ như sau: 19 (8 người chiếm 8,9%), 20 (42 người chiếm 46,7%), 21 (15 người chiếm 16,7%), 22 (12 người chiếm 13,3%), 24 (10 người chiếm 11,1%) và 25 (3 người chiếm 3,3%)

Do đặc tính về độ tuổi đa đạng nên đây là nhóm người dùng tin có nhu cầu thông tin cao so với những nhóm khác, nội dung của nguồn thông tin thì đa dạng

Trình độ học vấn của nhóm này gồm toàn bộ là sinh viên, chưa có

những người có trình độ cao như nhóm giảng dạy, nghiên cứu hay nhóm

Trang 23

lãnh đạo, quản lý

Nhóm người này thường có những hoạt động nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân, tích lũy những kinh nghiệm mềm

Trình độ ngoại ngữ của nhóm người dùng tin này chủ yếu là sử dụng tiếng Anh 77/90 người được hỏi sử dụng tiếng Anh (85,5%), 11/90 sử dụng tiếng Pháp (12,2%), còn lại một người là sử dụng ngoại ngữ khác như tiếng Nga, tiếng Trung (2,3%)

Nguồn thu nhập của đối tượng này chủ yếu là do gia đình (chiếm

90%) Cũng có một số sinh viên năng động thì họ đi làm thêm (gia sư, bán hàng bán thời gian, làm việc theo ca…), tuy nhiên những nhóm sinh viên này thường không nhiều và thời gian tìm kiếm thông tin, tham khảo thông tin xã hội của họ bị hạn chế nhiều do thời gian dành nhiều cho việc đi làm thêm kiếm tiền

Nhóm người dùng tin là sinh viên hệ tại chức, liên thông

Đây là nhóm người dùng tin có sự phong phú và đa dạng nhất từ thành phần, độ tuổi, trình độ học vấn đến đời sống cá nhân

Họ có thể là những người đã đi làm đến đây học thêm để phục vụ

Trang 24

thêm kiến thức cho công việc thực tế Họ có thể là những người đã qua một trường đại học nhưng học văn bằng hai Họ cũng có thể là những học sinh thi đại học không đỗ nên thi học hệ tại chức trong trường…

Độ tuổi của nhóm người dùng tin này cũng phong phú, dao động từ

21 - >30 tuổi, mà chủ yếu là trong khoảng từ 25-28 tuổi

Nhu cầu tin của họ trong thư viện là không cao Với 30 phiếu hỏi được đưa ra cho nhóm này thì có 10 người (33,3%) là chưa từng sử dụng thư viện, 20 người (66,7%) trong số họ nói rằng thỉnh thoảng hoặc đã từng có sử dụng thư viện

Tuy nhiên, đối tượng này lại thường xuyên thu thập thông tin trên mạng Internet Tỷ lệ cập nhật thông tin hàng ngày là 100%, mục đích của họ thường là phục vụ cho công việc, giải trí và cập nhật thông tin

Trình độ học vấn của nhóm này cũng có sự khác biệt Có những sinh

viên trong nhóm này đã từng là cử nhân trong những ngành khác, họ học thêm để phục vụ cho công việc mà họ đang làm, có những đối tượng là sinh viên các hệ trung học chuyên nghiệp hoặc cao đẳng học liên thông để nâng cao năng lực chuyên môn

Loại hình ngôn ngữ mà họ sử dụng (ngoài Tiếng Việt) là Tiếng anh cũng chiếm đến 90%, còn lại là ngôn ngữ khác: Tiếng Trung và Tiếng Nhật

Nguồn thu nhập của nhóm này chủ yếu là từ bản thân Họ thường là

những người đã và đang có việc làm, tham gia học vào các buổi tối trong tuần

Theo số liệu đã được thống kê thì 85% là thu nhập từ bản thân, 10 % vẫn còn nhận chu cấp từ gia đình và 5% là thu nhập từ gia đình cộng với những nguồn khác

Với nhóm người dùng tin này thì việc tiếp cận thông tin gặp nhiều khó khăn do thời gian làm việc không cho phép thường xuyên sử dụng các sản

Trang 25

phẩm và dịch vụ của thư viện Đây là nhóm người tương đối chịu khá nhiều ảnh hưởng của những diễn biến xã hội, họ không còn phụ thuộc vào gia đình nên đời sống vật chất và đời sống tinh thần không còn được thoải mái như nhóm người dùng tin là sinh viên chính quy

Thông tin mà họ thu nhận chủ yếu liên quan đến công việc hiện tại và những thông tin cần thiết cho chương trình mà họ đang theo học, một số những người dùng tin này lại quan tâm đến các thông tin gia đình đời sống

và sức khỏe, du lịch và thể thao

Nhóm người dùng tin là cán bộ tham gia hoạt động giảng dạy, nghiên cứu

Đội ngũ cán bộ nghiên cứu giảng dạy chính là chủ thể của hoạt động thông tin, họ thường cung cấp thông tin qua các bài giảng, bài báo, tạp chí công trình nghiên cứu khoa học được công bố, các đề xuất, kiến nghị, đồng thời họ cũng là đối tượng người dùng tin thường xuyên của trung tâm Để làm tốt công tác nghiên cứu và giảng dạy họ thường xuyên phải thu thập thông tin để làm phong phú hơn cho các bài giảng và tạo ra những đột phá trong các bài nghiên cứu

Về đặc điểm và tính chất công việc đòi hỏi những người dùng tin trong nhóm này phải luôn tiếp nhận và nghiên cứu các quy luật khách quan của tự nhiên, các thành tựu khoa học chưa được ứng dụng Họ luôn luôn đòi hỏi sự sáng tạo, tìm tòi và phát hiện các vấn đề mới, cập nhật các kiến thức thông tin từ trong nước và ngoài nước Thông tin họ cần mang tính chuyên ngành và thực tiễn, liên quan đến những thành tựu nghiên cứu trong nước và thế giới

Họ là những người có vai trò quan trọng trong việc đổi mới giáo dục đào tạo đại học trong nhà trường, là những người có ảnh hưởng to lớn tới công cuộc đổi mới giáo dục của đất nước Là những người sáng tạo thông tin

và cũng là người truyền tải tri thức thông tin cho những thế hệ sau

Trang 26

Độ tuổi

Phần lớn cán bộ nghiên cứu giảng dạy của Trường Đại học Điện lực đều có độ tuổi trung bình ở khoảng 36 – 50 tuổi, là những cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn giảng dạy, có những kiến thức sâu rộng và uyên bác Một số cán bộ nghiên cứu giảng dạy trong độ tuổi từ 30 – 35 họ là những cán bộ trẻ, năng động, nhiệt tình trong công việc ham học hỏi và đặc biệt họ là những người có khả năng tiếp thu công nghệ mới một cách nhanh chóng

Trình độ học vấn

Những cán bộ có nhiệm vụ nghiên cứu giảng dạy có trình độ học vấn tương đối cao hơn so với 2 nhóm trên Trình độ Thạc sỹ là 41.4%, cử nhân 31%, còn lại là những người đã tốt nghiệp đại học

Đa số họ là những người đã từng đoạt giải nghiên cứu khoa học cấp trường thậm chí có một số người còn đoạt giải nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp quốc gia

Loại hình ngôn ngữ mà họ sử dụng thì khá là phong phú Với 40 phiếu hỏi được đưa ra thì 20 % là sử dụng Tiếng Anh (8 người), 50% có thể sử dụng 2 thứ tiếng là tiếng Anh và tiếng Nga hoặc tiếng Pháp (20 người); 15%

sử dụng tiếng Nga (6 người), 10% sử dụng tiếng Pháp (4 người), và những người còn lại sử dụng ngôn ngữ khác như là tiếng Đức hay tiếng Trung chiếm 5% (2 người)

Mức sống

100% nhóm người này có thu nhập từ chính bản thân của họ Đa số những người được hỏi đều trả lời rằng họ có mức sống là đủ ăn (90%), 8%

số họ trả lời là dư giả và 2% trong số đó trả lời họ có cuộc sống chật vật do

lo cho cả gia đình trong tình hình giá cả leo thang như hiện nay

Với những thành công mà họ đạt được đã có những đóng góp không

Trang 27

nhỏ vào công cuộc giáo dục tại trường

Về mức độ khai thác thông tin thì 100% số người trả lời là họ sử dụng thông tin hàng ngày, trên các phương tiện thông tin khác nhau: qua mạng Internet, qua sách báo, tạp chí, qua các phương tiện thông tin đại chúng Đồng thời, họ cũng là đối tượng thường xuyên của thư viện, họ sử dụng thư viện có thể là hàng ngày hoặc hàng tuần 100% số người khi được phỏng vấn khẳng định là họ đã từng sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của Trung tâm học liệu

Nhóm người dùng tin là cán bộ làm công tác quản lý, lãnh đạo

Người cán bộ quản lý, lãnh đạo là những người thường xuyên phải đưa ra quyết định ở các cấp khác nhau , là những cán bộ xây dựng đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các Bộ và các ngành

Mặt khác, phẩm chất của những người quản lý cũng có những đặc điểm riêng: Chính trị - tư tưởng; đạo đức – lối sống và chuyên môn nghiệp

vụ, 3 yếu tố cơ bản này có mối quan hệ hữu với nhau để tạo lên phẩm chất của những người lãnh đạo, quản lý thời kỳ hiện đại

Cán bộ lãnh đạo quản lý phần lớn không có thời gian phân tích, tổng hợp thông tin Do đó, thông tin dành cho họ cần cô đọng, chính xác, kèm theo những số liệu cụ thể

Người dùng tin trong nhóm này bao gồm Hiệu trưởng trường Đại học Điện lực, các phó hiệu trưởng của trường, Giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng các phòng ban trong toàn trường, các trưởng khoa, phó khoa, trưởng

bộ môn… Số lượng người dùng tin trong nhóm này chiếm một tỷ lệ nhỏ nhưng đặc biệt quan trọng, họ vừa là người dùng tin lại vừa là chủ thể thông tin Họ thực hiện chức năng quản lý công tác giáo dục đào tạo, là những người xây dựng các chiến lược phát triển cho nhà trường Họ cần những thông tin đầy đủ, chính xác, nhanh chóng và kịp thời để tạo ra hiệu quả cao

Trang 28

trong công việc

Người dùng tin của nhóm này có độ tuổi đa dạng Những người có độ tuổi từ 40 – 60 chiếm tỷ lệ tương đối lớn Họ là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, dày dạn về kinh nghiệm thực tiễn và kinh nghiệm nghề nghiệp thì vô cùng phong phú Những cống hiến mà họ dành cho nhà trường và xã hội là rất to lớn Họ là tấm gương sáng cho lớp cán bộ quản lý trẻ tuổi học tập và noi gương

Cán bộ lãnh đạo quản lý từ 30 – 40 chiếm một tỷ lệ nhỏ, họ là những cán bộ trẻ đang trong quá trình rèn luyện tư tưởng đạo đức để trau dồi thêm kinh nghiệm, tích lũy kiến thức, họ là nguồn nhân lực tiềm năng của nhà trường

Trình độ học vấn

Cán bộ lãnh đạo quản lý là những người có trình độ học vấn cao nhất

so với 3 nhóm nêu trên Họ đã trải qua rất nhiều kinh nghiệm, tích lũy rất nhiều kiến thức để có thể trở thành những nhà lãnh đạo, đưa ra những quyết định sáng suốt cho việc phát triển giáo dục đào tạo của nhà trường

Do trình độ học vấn cao nên thông tin mà họ cần không đơn thuần là những thông tin cho việc học tập mà phải là những thông tin mang tính chiến lược hoạch định

Khả năng ngoại ngữ

Những người dùng tin trong nhóm này có khả năng ngoại ngữ vô cũng phong phú 76,7 % (23 người) trong số họ sử dụng thành thạo 2 ngoại ngữ khác nhau là tiếng Anh với tiếng Pháp, tiếng Anh với tiếng Nga, hoặc tiến Pháp với tiếng Nga; 10 % (3 người) trong số đó sử dụng tốt 3 ngoại ngữ; 6,65% chỉ sử dụng tốt Tiếng Anh (2 người), 6.65% sử dụng ngôn ngữ khác như là tiếng Trung, tiếng Nhật…

Đây là nhóm đối tượng có khả năng sử dụng tài liệu ngoại văn tốt nhất

Trang 29

nên nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu bằng tiếng nước ngoài của họ là rất cao

Nguồn thu nhập chính của nhóm người này: 100% là tự bản thân của

họ, mức sống của họ khá dư giả

Đời sống vật chất khá đầy đủ kéo theo đời sống tinh thần cũng khá phong phú và đa dạng Những thông tin mà họ tìm hiều còn được bổ sung những thông tin giải trí, thông tin sức khỏe, gia đình

Nghiên cứu đặc điểm người dùng tin sẽ giúp chúng ta tìm hiểu được nguyên nhân về sự khác nhau giữa các nhóm đối tượng

Trang 30

CHƯƠNG 2 NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRƯỜNG

ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC

2.1 Nô ̣i dung nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin

2.1.1 Nhu cầu về ca ́ c lĩnh vực tri thức trong tài liê ̣u

Thông tin là tiềm năng của mọi hoạt động khoa học Như chúng ta đã biết chất lượng của công trình nghiên cứu khoa học không chỉ dựa vào trí tuệ của người nghiên cứu mà còn dựa rất nhiều vào chất lượng của nguồn thông tin mà họ thu thập; số lượng nguồn thông tin được thể hiện trong công trình Các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên, giảng viên phải dựa vào thông tin

để có thể đánh giá, phân tích, và đưa ra những nhận xét quyết định cho bất

cứ vấn đề nào Học sinh, sinh viên phải cần có thông tin để phục vụ nhu cầu học tập nâng cao kiến thức ngoài những thứ mà được giáo viên truyền đạt, giảng viên cán bộ nghiên cứu phải có thông tin để đổi mới phương pháp dạy giúp người tiếp nhận đạt hiệu quả cao Người cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng cần có thông tin để đưa ra những quyết định sáng suốt, thúc đẩy sự phát triển

Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì và phát triển các hoạt động sống khác nhau của con người Nhu cầu tin có vai trò định hướng cho hoạt động thông tin thư viện, đồng thời luôn thay đổi và phát triển dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đặc biệt là ảnh hưởng của môi trường sống và nghề nghiệp của người dùng tin Nắm vững nhu cầu tin của người dùng tin sẽ giúp định hướng công tác xây dựng và phát triển nguồn tin, nâng cao chất lượng phục

vụ người dùng tin của thư viện, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường

Nhu cầu tin của người dùng tin trường Đại học Điện lực trải rộng trên

Trang 31

nhiều lĩnh vực, các lĩnh vực, ngành có sự liên quan mật thiết với nhau, do xu hướng liên kết giữa các ngành khoa học có sự thay đổi mà nhu cầu tin của người dùng tin cũng thay đổi theo Sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan không chỉ tồn tại biệt lập mà có sự gắn bó với nhau theo một hệ thống nhất: ví dụ như trước đây toán học và tin học là hai lĩnh vực khoa học biệt lập thì bây giờ lại xuất hiện lĩnh vực toán tin để giải quyết những vấn đề chung giữa hai lĩnh vực khoa học này Người dùng tin muốn giải quyết được vấn đề thì phải có sự am hiểu tường tận các vấn đề liên quan, phải nhìn nhận trên mọi phương diện của vấn đề từ đây mới có thể đưa ra những kết luận đúng đắn cho đề tài hay công trình nghiên cứu khoa học của mình

Sự đa dạng và khác biệt giữa nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin được thể hiện qua bảng 3 như sau:

Trang 32

Tỉ lệ (%)

Lĩnh vực

Cán bộ lãnh đạo quản lý

Cán bộ nghiên cứu giảng dạy

Trang 33

Qua số liệu thống kê nhận thấy:

Nhóm người dùng tin là cán bộ quản lý lãnh đạo

Để có những quyết định quản lý đúng đắn thì người quản lý không chỉ phải nắm được những thông tin về môi trường quản lý mà còn phải thường xuyên thu nhận thu nhận thông tin về đối tượng bị quản lý Thông tin mà người quản lý nhận được phải là những thông tin chính xác cao, tính logic,

có chiều rộng và độ sâu do yêu cầu của hoạt động quản lý

Quyết định quản lý là hành vi sáng tạo của người lãnh đạo nhằm định

ra mục tiêu, chương trình và tính chất hoạt động của hệ thống để giải quyết một vấn đề trên cơ sở hiểu biết quy luật vận động khách quan

Những thông tin mà nhóm người dùng tin này quan tâm tập trung chủ yếu: luật pháp triết học (90%), chính trị xã hội (66,7%), công nghệ thông tin (50%), những lĩnh vực thông tin khác cũng được người dùng tin này quan tâm: công nghệ thông tin; điện tử viễn thông; quản trị kinh doanh; điện, năng lượng… Lĩnh vực mà nhóm đối tượng này kém quan tâm hơn cả là khoa học xã hội Họ là những người dành phần lớn thời gian cho công việc nên những tài liệu khoa học xã hội phục vụ giúp thư giãn không được chú trọng nhiều

Nhóm người dùng tin này cũng chú trọng tới việc tìm hiểu những địa điểm du lịch để đi du lịch với gia đình trong những kỳ nghỉ ngắn ngày Số lượng người quan tâm đến lĩnh vực này chiếm 33,3%

Như vậy, các lĩnh vực tri thức mà nhóm đối tượng này quan tâm rất đa dạng và có sự phân chia theo từng lĩnh vực tri thức Vì thông tin vừa là đối tượng lao động vừa là công cụ quản lý nên thông tin là tiềm năng của hoạt động quản lý Vì vậy, không có thông tin người quản lý không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ

Nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

Trang 34

Tài liệu mà đối tượng này quan tâm vừa mang tính cơ bản lại vừa mang tính chuyên sâu, chi tiết Những lĩnh vực này là lĩnh vực mà họ nghiên cứu giảng dạy hoặc những lĩnh vực có liên quan Để có thể giúp sinh viên dễ tiếp thu với bài học họ phải thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, những thông tin mà họ mang tới cho sinh viên phải được chắt lọc để những thông tin này khi sinh viên ra trường vẫn có thể vận dụng được vào thực tiễn Nội dung trong những thông tin này đòi hỏi phải đầy đủ, kịp thời và chính xác Hiện nay, học sinh, sinh viên ở nước ta vẫn có quan niệm rằng thông tin của giảng viên đưa ra là tuyệt đối chính xác, vì vậy nếu người truyền đạt kiến thức không kiểm tra thông tin trước khi truyền đạt thì sẽ gây

ra những ảnh hưởng sai lầm đến cả một bộ phận, cả một lớp học

Qua kết quả thống kê được cho thấy, ngoài những thông tin liên quan đến chuyên ngành thì nhóm người dùng tin này còn rất chú trọng đến các quy định của pháp luật, triết học (62,5%), chính trị xã hội (50%), công nghệ thông tin (75%) Các nhà nghiên cứu, giảng dạy trước mỗi công trình nghiên cứu cần có những thông tin về pháp luật, những vấn đề liên quan đến chính trị xã hội và cả việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong từng đề tài phù hợp với yêu cầu của xã hội

Hiện nay, trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, Đảng và nhà nước đã nhận định rằng lý luận phải song hành cùng thực tiễn Nghiên cứu khoa học bây giờ không còn là những vấn đề viển vông trên giấy tờ được nữa, nó cần phải có tính khả thi khi áp dụng vào sản xuất, vào thực tế Chính vì vậy, những lĩnh vực thông tin mà người nghiên cứu giảng dạy quan tâm không còn là một ngành, một lĩnh vực nữa mà phải là những thông tin đa ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau được tổng hợp lại Các khía cạnh của bài nghiên cứu cần được giải quyết triệt để trước khi đưa ra giải pháp phát triển của một vấn đề cụ thể Chẳng hạn người cán bộ nghiên cứu,

Trang 35

giảng dạy của môn toán học không thể chỉ quan tâm tới môn toán học mà còn phải chú ý tới các lĩnh vực liên quan: vật lý, tin học để nhận thấy sự liên kết giữa các ngành khoa học Ngày nay, người ta có những đề tài “ứng dụng công nghệ thông tin trong toán học”;… để chỉ ra rằng các ngành khoa học không chỉ tồn tại độc lập mà chúng còn có sự liên kết chặt chẽ với nhau, cùng nhau tạo lên những ngành khoa học mới

Cũng như nhóm người dùng tin là lãnh đạo quản lý thì nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy cũng không có nhiều thời gian dành cho việc tiếp thu các tác phẩm khoa học xã hội, họ luôn có những công trình khoa học cần phải được kết luận, luôn có những thông tin mới mẻ, chính xác cần truyền tải cho sinh viên vì vậy mà thời gian dành cho việc đọc các tác phẩm khoa học xã hội là không có nhiều Đối tượng này cũng khá quan tâm đến những thông tin du dịch (45%) Họ là những người không có nhiều thời gian cho việc vui chơi nên những kỳ nghỉ lễ ngắn ngày là lúc họ giải trí sau những ngày làm việc vất vả

Nhóm người dùng tin là sinh viên hệ chính quy

Chiếm 91% số lượng người dùng tin của thư viện nên những người dùng tin của nhóm đối tượng này ảnh hưởng rất nhiều đến chính sách phát triển và bổ sung tài liệu của Trung tâm học liệu trường Đại học Điện lực

Có thể nói sinh viên vừa là nhóm người dùng tin tiềm năng vừa là nhóm người dùng tin thực tế của thư viện Nói sinh viên là nhóm người dùng tin tiềm năng vì hiện nay, số lượng sinh viên toàn trường đến với thư viện là không nhiều, nói cách khác là Trung tâm học liệu vẫn chưa thu hút được sinh viên và Trung tâm học liệu hoàn toàn có khả năng nâng cao hiệu suất phục vụ người dùng tin nhiều hơn nữa Tuy nhiên, sinh viên lại là nhóm người dùng tin thực tế của thư viện vì số lượng độc giả thường xuyên chính

là sinh viên chứ không phải là bất kỳ nhóm đối tượng nào khác như cán bộ

Trang 36

quản lý hay cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

Nhìn chung, đây là nhóm người dùng tin có nhu cầu thông tin đa dạng nhất Từ những thông tin phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, kinh tế xã hội đến những thông tin thư giãn, giải trí, du lịch…

Nhóm người dùng tin này tiếp thu thông tin theo chiều rộng, những thông tin mà họ cần không cần sâu sắc như những người nghiên cứu, giản dạy cũng không cần độ chính xác tuyệt đối như những thông tin phục vụ việc ra quyết định của các nhà lãnh đạo quản lý Mức độ chi tiết của nội dung thông tin mà họ cần là những nội dung cơ bản, từ đây sinh viên có thể sáng tạo, tư duy tùy theo điều kiện vốn có của bản thân

Qua số liệu thống kê, nhu cầu tin chủ yếu của nhóm người này ngoài những thông tin chuyên ngành thuộc chương trình đào tạo thì còn có: công nghệ thông tin (88,9%) và du lịch (77,8%) Những đối tượng thuộc nhóm người dùng tin này thường có độ tuổi từ 18-25 nên họ là những đối tượng cực kỳ nhanh nhạy và năng động trong việc tiếp thu công nghệ thông tin, những đổi mới trong khoa học kỹ thuật của thế giới Đồng thời, trường Đại học Điện lực nam sinh chiếm số lượng lớn hơn rất nhiều so với nữ sinh nên việc tìm tòi khám phá những điều mới lạ của công nghệ thông tin lại càng được nhiều người quan tâm Trong quá trình đổi mới đất nước đây là những tín hiệu rất tích cực cho ngành giáo dục

Trong nhóm đối tượng sinh viên thì những đối tượng có tư tưởng học

mà chơi, chơi mà học chiếm phần lớn Họ là những người có khoảng thời gian rảnh rỗi tương đối nhiều nên những thông tin thuộc lĩnh vực giải trí, du lịch được ưu tiên hàng đầu, có đến gần 80% lượng sinh viên quan tâm tới các địa điểm du lịch Có thể những người tìm hiểu thông tin liên quan đến

du lịch không có khả năng đi được những nơi mà họ mong muốn nhưng những thông tin mà họ tìm được phần nào cũng thỏa mãn sự tò mò trong tâm

Trang 37

trí Hơn nữa, những thông tin này sẽ giúp cho sinh viên có khả năng thư giãn, giải trí từ đây những sáng tạo mới được đưa ra

Đồng thời, đây cũng là nhóm người dùng tin có số lượng người quan tâm đến lĩnh vực khoa học xã hội cao nhất so với ba nhóm còn lại (38,9%) Ngoài thông tin trong lĩnh vực khoa học tự nhiên phục vụ việc học tập thì những con người trẻ tuổi này còn tìm hiểu những tác phẩm văn học kinh điển, những áng văn thơ lãng mạn để làm cuộc sống thêm phong phú Dựa trên kết quả phỏng vấn một số sinh viên thì sinh viên nữ thường là những người có nhu cầu sử dụng lĩnh vực văn học và khoa học xã hội là nhiều hơn sinh viên nam Họ thơ mộng và dịu dàng qua những lời văn cổ điển, họ cũng mạnh mẽ và tự tin qua những tác phẩm nói về phụ nữ hiện đại

Những thông tin mà nhóm đối tượng này không mấy chú ý là thông tin luật pháp, triết học (11,1%), chính trị xã hội (13,3%) Đặc điểm của các thông tin trên những lĩnh vực này thường là khô khan và mang tính triết lý cao nên kém sức hấp dẫn đối với sinh viên Tuy nhiên, những thông tin thuộc ngành, lĩnh vực này tuy không cuốn hút được những sinh viên các năm đầu nhưng nó lại cực kỳ hữu ích với các sinh viên năm cuối khi họ chuần bị ra trường Với những người chuẩn bị tìm việc làm thì thông tin về luật pháp sẽ giúp họ tránh được những rủi ro không đáng có trong khi làm hợp đồng xin việc; thông tin chuyên ngành triết học sẽ giúp họ nhìn nhận đúng đắn thế giới khách quan để có những nhận xét, quan điểm phù hợp; những tài liệu về chính trị xã hội sẽ giúp sinh viên tự định hướng được những ngành nghề đang có nhu cầu cao trong xã hội giúp họ có những quyết định đúng đắn khi nộp hồ sơ xin việc

Nhìn chung, nhóm người dùng tin này có sự phân chia khá đa dạng

Họ luôn tiếp nhận bất kỳ thông tin nào mà họ cho là có ích Với việc đổi mới nền giáo dục đại học, sinh viên là trung tâm của các chương trình phát triển,

Ngày đăng: 11/05/2017, 06:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo tổng kết hoạt động thông tin thư viện năm học 2009-2010 của trường Đại học Điện lực Khác
2. Bùi Loan Thùy. Thư viện học đại cương/ Bùi Loan Thùy.- H.: ĐHQG. TPHCM, 2011 .- 300tr Khác
3. Đào Hữu Hòa. Đổi mới giáo dục đại học là tiền đề quan trọng để thực hiện mục tiêu đào tạo với nhu cầu xã hội // Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng . – 2008, Số 5 (28) . – tr. 135 – 144 Khác
4. Đoàn Phan Tân. Thông tin học/ Đoàn Phan Tân.- H.: ĐHQGHN, 2001.-336tr Khác
5. Lê Văn Viết. Cẩm nang nghề thư viện / Lê Văn Viết . - H. : Văn hoá thông tin, 2000.- 630tr Khác
6. Nguyễn Thị Hạnh. Nghiên cứu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin cho người dùng tin tại thư viện Đại học Ngoại thương Hà Nội/ Nguyễn Thị Hạnh. – H., 2008. – 63tr Khác
7. Nguyễn Thị Kim Dung. Công tác phục vụ người dùng tin/ Tập bài giảng Khác
8. Nguyễn Thị Viên. Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu và đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ tại trung tâm thông tin thư viện trường Đại học 9. Nguyễn Văn Đồng. Tâm lý học phát triển/ Nguyễn Văn Đồng . – H. : Chính trị quốc gia, 2004 . – 750tr Khác
10. Trần Mạnh Tuấn. Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện.- H.: Trung tâm thông tin tư liệu KHCN Quốc gia, 1998.- 324tr Khác
11. Trần Thị Minh Nguyệt. Đề cương bài giảng môn người dùng tin.- H. , 2005. – 23tr Khác
12. Trần Thị Thanh Vân. Sản phẩm và dịch vụ Thông tin – thư viện/ Tập bài giảng Khác
13. Trung tâm học liệu trường Đại học Điện lực với việc ứng dụng công nghệ thông tin Khác
14. Vũ Văn Nhật. Nghiên cứu nhu cầu thông tin và đảm bảo thông tin Khoa học và Công nghệ: Giáo trình dùng cho sinh viên ngành Thông tin – Thư viện, ngành thông tin học và quản trị thông tin/ Vũ Văn Nhật.- H.:Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường Đại học Điện lực - Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại trường Đại học Điện lực
Hình 1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường Đại học Điện lực (Trang 11)
Bảng 1: Bảng thống kê tài liệu công bố - Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại trường Đại học Điện lực
Bảng 1 Bảng thống kê tài liệu công bố (Trang 17)
Bảng 2: Bảng thống kê tài liệu không công bố - Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại trường Đại học Điện lực
Bảng 2 Bảng thống kê tài liệu không công bố (Trang 17)
Hình 2: Biểu đồ thống kê tỷ lệ số lượng tài liệu theo ngôn ngữ - Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại trường Đại học Điện lực
Hình 2 Biểu đồ thống kê tỷ lệ số lượng tài liệu theo ngôn ngữ (Trang 18)
Hình 3 : Cơ cấu sinh viên và cán bộ công nhân viên tại trường Đại học Điện lực - Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại trường Đại học Điện lực
Hình 3 Cơ cấu sinh viên và cán bộ công nhân viên tại trường Đại học Điện lực (Trang 19)
Bảng 3  Nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin - Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại trường Đại học Điện lực
Bảng 3 Nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin (Trang 32)
Bảng 4: Nguồn khai thác thông tin của người dùng tin - Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại trường Đại học Điện lực
Bảng 4 Nguồn khai thác thông tin của người dùng tin (Trang 49)
Bảng 5: Tỉ lệ người dùng tin sử dụng các dịch vụ của Trung tâm học liệu - Tìm hiểu nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin tại trường Đại học Điện lực
Bảng 5 Tỉ lệ người dùng tin sử dụng các dịch vụ của Trung tâm học liệu (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w